Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,341,349

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà Văn: Trịnh Thanh Sơn

Xuân Cang

  • Thứ năm, 13:23 Ngày 06/11/2008
  • Nhà văn Trịnh Thanh Sơn sinh ngày 12-09-1948 khoảng sau 21 giờ tức 10 tháng 8 năm Mậu Tý, giờ Hợi. Tám chữ Can Chi của anh là: Năm Mậu Tý, tháng Tân Dậu, ngày Canh Tý, giờ Đinh Hợi. Cấu trúc Hà Lạc của anh mở đầu bằng hào 2 quẻ Lôi Thiên Đại Tráng. Tượng quẻ là Sấm ở trên Trời, là Sấm rất mạnh, rất vang, tạo nên khí chuyển động, tạo ra sự sinh sôi, phát triển của mọi vật trên đất. Đại Tráng là Lớn mạnh. Đây là một vận mệnh rất tốt, quán xuyến 48 năm đầu đời cho biết anh có sức hăng mạnh để vượt qua mọi hiểm trở, phát triển tài đức, lại có ưu tiên năng lượng và nguyên khí của trời đất (Hóa công, Thiên, Địa nguyên khí) nên đường đời càng hanh thông. Người quẻ Đại tráng là người hành động, không thích ở yên, làm gì cũng phải hăng hái, mạnh mẽ, có tiếng vang. Thái độ, cử chỉ thường khảng khái, ồn ào, ít có trầm tĩnh. Giao thiệp rộng, đa phương, đa sự. Vì là sấm ở trên trời nên cảm xúc không gian mạnh hơn cảm xúc thời gian. Người quẻ Đại Tráng thuộc thời dương thịnh âm suy, nên rất nhậy cảm với cái phấn phát, cái hưng thịnh, cái khởi xướng, sự sáng tạo, sự sinh sôi nẩy nở, ít thông cảm với cái suy vong, những thân phận nghèo hèn, bĩ cực. Yêu nhiều hơn thương, ham muốn nhiều hơn ngăn hãm, quả quyết nhiều hơn do dự, thích phù thịnh hơn phù suy. Người quẻ Đại Tráng có đặc điểm là cùng một quẻ, một hào đấy nhưng tốt xấu còn tùy từng người, hễ biết theo đường chính đáng thì không gì không lợi, nhưng sử sự theo lối tiểu nhân thì thành kẻ hung hãn, tầm thường. Cái sức mạnh bên trong, sức mạnh tinh thần có giá trị rất lớn trong việc điều chỉnh hành động bản thân. Trịnh Thanh Sơn là người có sức mạnh bên trong đó. Người đọc dễ dàng nhận thấy nó trong văn chương của anh, trước hết là trong thơ.

    Tôi chơi với Sơn chủ yếu trong những ngày ở Khu gang thép Thái Nguyên, những năm tôi làm cán bộ công đoàn, còn anh làm công nhân lò luyện than cốc. Sau này về Hà Nội, anh em ít gặp nhau, chỉ biết nhau qua văn chương chữ nghĩa. Nay xem cho Sơn bài Hà Lạc thì giật mình: Người này thuộc thời Đại tráng, có chí, có tài, có sức đi rất xa. Thảo nào tuổi trẻ vừa tốt nghiệp đại học xong tình nguyện xông lên Gang thép để được sống trong thực tế sôi động. Anh làm việc ở Phòng Hóa nghiệm rồi sau đó Phòng văn hóa thông tin. Nhớ lại, thấy từ lối sống, cách ăn ở, xử sự, bao giờ cũng độc lập, quả quyết, dứt khoát, thường có ý kiến riêng không lệ thuộc vào ai, kiêu sa một tí, khiến người nể sợ. Giọng nói rất vang, đọc thơ thu hút được người, và rất thuộc thơ những người mình thích. Đó chính là những tính cách của người Đại Tráng (lớn mạnh).

     Trịnh Thanh Sơn viết truyện ngắn, làm báo và làm thơ. Anh gửi mình, đằm mình trong thơ nên chỉ cần nhìn mảng thơ thấy hiện lên cấu trúc Hà Lạc của anh. Hay nói cách khác, chính cấu trúc Hà Lạc ấy tạo nên mảng thơ anh. Sơn làm thơ rất sớm nhưng mãi đến năm 1993 nghĩa là năm gần cuối của thời Đại Tráng anh mới cho ra tập thơ đầu: Cọng rơm vàng (Nxb Văn học 1993). Tiếp nối sau đó là các tập Giậu cúc tần (Nxb Hội nhà văn 1997), Đoá tầm xuân (Văn học 1999). Cái sự muộn này cũng phản ánh trong chặng đường hào 4 quẻ Đại Tráng, những năm từ 19 đến 27 tuổi,. anh bắt đầu viết truyện, làm thơ ở khu gang thép. Hào 4 bảo rằng: Văn chương phát lên ở lúc thanh niên, muộn tuổi mới được hưởng phúc. Người Đại tráng, tượng quẻ là Sấm ở trên Trời. Nhà văn được quẻ Đại Tráng thì văn chương thuộc loại văn hành động, bao quát mạnh mẽ, dám nói mặt trái, cái ẩn ức (như thơ của Đoàn Thị Lam Luyến, cũng là người quẻ Đại Tráng) tả cái không gian vang động hay hơn tả hoa lá tươi tốt. Thơ văn của họ thường nghiêng về miêu tả những khoảng không thiên nhiên, sức vang động, sự mạnh mẽ, dạn dĩ, sự khởi động, sự kích thích sáng tạo. Dễ dàng tìm thấy trong thơ Trịnh Thanh Sơn những câu thơ hay dùng hình tượng giông bão, sấm chớp, mây trời, trăng sao...

    Em bảo thơ anh khúc khuỷu, gồ ghề

    Chân đất đầu trần dưới đám mây tích điện

    Sấm sét bão giông rồi sẽ đến

    Mình biết trốn vào đâu?

    (Lời cuối cho em)

    Ngày tàn dần và đêm sắp hiện lên

    Mặt trời lặn và sao thì chưa mọc

    Trong khoảnh khắc chênh vênh giữa trời và đất

    Trải lòng ra tôi dò xét chính mình đây

    (Tới em)

    Đời ta chớp nguồn mưa bể

    Thiêu thân tự cháy hết mình

    (Ru xa)

    Trời còn tạnh ráo em ơi

    Xin em đừng nói những lời bão dông

    (Van)

    Ngồi với người tình bên bờ hồ mà như trên trời:

    Ta đưa nhau ra Hồ Tây

    Tìm một chỗ nào trên ghế đá

    Mây bay mây bay thong thả

    Quanh chúng mình quấn quýt lứa đôi

    (Một nửa)

    Thậm chí khi ru con cũng ru bằng mây

    Có cánh mây chiều lẻ bạn

    Nhẹ nhàng đậu xuống vành nôi.

    (Ru xa)

    Cảm giác không gian rất mạnh:

    Cây gạo đỏ cuối trời như đuốc lửa

    (Gửi mẹ)

     Cảm giác không gian ấy rất tiêu biểu trong bài thơ Biển vắng. Nhà thơ Hoàng Cầm đã sửng sốt khi nghe ai chợt đọc câu thơ Anh ngồi rót biển vào chai, ông yêu thơ Trịnh Thanh Sơn bắt đầu từ câu thơ ấy. Bài thơ tả cái cô đơn của người trai ngồi đợi người tình trên bờ biển, khi nắng tắt mà người không đến. Mà đây là cái cô đơn của người có mệnh Đại tráng, tượng quẻ là Sấm ở trên Trời. Hoàng Cầm đã linh cảm sâu xa khi viết lời bình sau đây: Vậy Anh ngồi rót biển vào chai là cái cô đơn sừng sững của vũ trụ lúc ấy thu nhỏ lại đến mức sờ mó được, cầm trong tay, rót được, ai uống cũng được.... Có lẽ chưa có một nhà thơ nào viết về nỗi cô đơn trước biển na ná, hao hao như vậy. Chỉ cần một sáng tạo như thế, tôi đã gọi đó đích thực là sáng tạo của thi sĩ. Xin mời bạn đọc cả bài thơ, mà tôi gọi đây là bài thơ mệnh của Trịnh Thanh Sơn:

    Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng

    Xin đừng dõi chi chân trời

    Anh ngồi im chìm chiếc bóng

    Chén này biển với mình thôi

     

    Một cộng một thành đôi

    Anh cộng cô đơn thành biển

    Nắng tắt mà người không đến

    Anh ngồi rót biển vào chai.

    Nhà thơ thời Đại Tráng có xu hướng tự nhiên tìm đến những tứ thơ mạnh mẽ, có sức lay chuyển, vang động: Mua con, Thương Ca-pi, Bạn cũ, Về Hải Phòng nhớ Văn Cao, Thơ Phùng Quán nằm không đọc được, Và tôi đối mặt... Tượng Sấm làm cho thơ anh đầy tính hành động. Kiểu như:

    Sao tất cả đang ào lên phía trước

    Một mình anh lộn ngược về sau?

    - Để khi mọi người quay lại

    Thơ đương nhiên thành kẻ đi đầu.

     

    - Nếu lẽo đẽo đi theo đám đông

    Anh sẽ chỉ là cái đuôi ngoe nguẩy?

    - Nhưng nếu như dại dột đi đầu

    Phải lột xác là điều thơ nhìn thấy.

    (Đối thoại với thơ)

    Người ta thấy trong thơ Trịnh Thanh Sơn có những cảm xúc có thật, rất thơ mà rất khó diễn tả như trong bài Buổi sáng ta thức dậy. Chàng trai thức dậy nghe tiếng chào mào ríu ran trên cành khế - Tiếng hót vang hơn tiếng hôm nào, và... chợt thấy quần đùi ướt đầm...- Thẹn đỏ mặt - Ta chạy vù ra giếng

    Buổi sáng ta thức dậy

    Ôm sách vở cắm cổ chạy tới trường

    Bước chân khựng lại trước dậu tầm xuân

    Thấp thoáng ánh mắt nhìn lạ lắm

    Dậu tầm xuân lấm chấm những nụ xanh đầu mùa

    (Buổi sáng ta thức dậy)

    Tại sao cảm xúc tự nhiên bắt nguồn từ tượng thiên nhiên là Sấm ở trên Trời mà tên những tập thơ dường như là cây cỏ trên mặt đất: Cọng rơm vàng, Giậu cúc tần, Đóa tầm xuân? Đó là do: Quẻ Đại Tráng là quẻ thời dương thịnh âm suy. Chủ thể có nhu cầu tìm về những bản thể âm để cân bằng âm dương. Bản thể đó là Đất và những gì sinh sôi nẩy nở trên đất. Nguyễn Trọng Tạo đã có linh cảm thấy đó là hai cực của một con người. Vả lại Sấm ở trên trời có tác động kích thích sinh trưởng trên Đất.

    Ta đã sống hồn nhiên như cây cỏ

    Mặc bao nhiêu giông tố nát thân mình

    Một ngày kia về trong lòng đất

    Hóa thân thành muôn đọt non xanh.

    (Tự bạch)

    (Hai chữ in đứng là do tôi, XC)

    Tuy nhiên tôi vẫn thấy những tố chất thiên nhiên Sấm, Trời chiếm vai trò chủ yếu chi phối cảm xúc của tác giả và làm nên những bài thơ hay như Tự bạch, Hoa Kim anh, Tới em, Tình yêu, Thương Ca-pi, Thơ Phùng Quán..., Buổi sáng ta thức dậy, Phương trời xanh, Bạn thợ, Nguyệt thực...

    Đồng hành với những tín hiệu của thời Đại Tráng là dấu ấn của thời Phệ Hạp bắt đầu từ năm 1996. Phệ là Cắn. Hạp là Hợp. Phệ Hạp là cắn để hợp. Tượng quẻ là Sấm, Lửa. Quẻ nói lên sự hanh thông nhưng cũng nói đến gông xiềng, hình ngục, việc trừ cái gián cách, ngăn hãm (cắn) để tìm đến cái hòa hợp (hạp). Tập thơ Đoá tầm xuân mang đầy đủ những dấu ấn của một người đang từ giã thời Đại Tráng để bước sang thời Phệ Hạp. Ta đã thấy thơ Trịnh Thanh Sơn từ những năm 96 trở đi nói nhiều về những khoảng cách, những cách trở giữa những mối tình, sự tìm đến nhau. Cũng đã nói tới gông xiềng:

    Em hãy cứ gông xiềng ta mãi mãi

    Được tù tội cho ngày xưa trở lại

    Con dế mèn trong cát tuổi thơ...

    (Nguyệt thực)

    “Vĩnh biệt mảnh vải con con suốt thời thiếu nữ đã cầm tù em.”

    (Tình yêu)

    Khi anh nói anh chọn em và chọn cả đám mây, thì chính là tín hiệu nhà thơ sắp sửa từ giã đám mây, từ giã một thời Lôi Thiên Đại tráng, để tìm về một thời Phệ Hạp:

    Nhưng tôi có quyền chọn em - niềm say đắm khôn khuây và chọn đám mây lang thang ngoài khung cửa...

    Mây năm ngoái bay về

    Gọi em đâu thấy nữa!

    (Lựa chọn)

    Dấu ấn thời “cắn để hợp” như in trong các bài thơ sau đây: Tới em, Tình yêu, Và tôi đối mặt, Buổi sáng ta thức dậy, Sự thật, Phương trời xanh, Nguyệt thực. Và trong Lời cuối cho em

    Em ạ, chúng mình sẽ trốn vào nhau

    Trốn vào phù sa, trốn vào gốc rạ,

    Trốn vào dòng sông xuôi về phía Mẹ

    Cung đàn thơ còn một nốt Thương...

    Chữ “trốn” là chữ của nhà thơ thời Phệ Hạp. Bởi vì phải cắn thì mới hợp được.

    Có một bài thơ rất hay nói về những cắn dứt (thời Phệ Hạp) khi hai người, một khách chơi (là một nhà thơ) và một cô điếm ngồi bên nhau, trên bãi bể. Giữa họ là một khoảng cách mênh mông, hay nói cách khác một tấm chắn vô hình, khiến họ không thể hạp với nhau được, nếu không có một cái chặc lưỡi.

    Cái em cần tôi nhiều như cát bể

    Cái tôi cần em có để cho không?

    Hóa ra cái người điếm ấy, cần tiền đấy, nhưng cái họ cần hơn cả vẫn một cái gì cao hơn, sâu hơn kia, một tình thương, một niềm an ủi, mà cái đó thì... tôi nhiều như cát bể. Còn cái tôi cần, là những nỗi niềm sâu xa về cuộc đời về Nỗi khổ, Niềm vui, về những bước chân lặng lẽ của số phận, thì không biết em có để cho không. Và như thế, tôi là điếm, còn em giờ là khách. Nhà thơ với cái mệnh “phệ hạp” ẩn bên trong đã chặc lưỡi (hai lần chặc lưỡi) và cắn một cái, bằng một bài thơ với cái giọng tửng tưng, để cho con người thật sự tìm đến nhau, thành những thiên thần, thượng đế của nhau. Hai câu đề từ của bài thơ chính là sự than vãn của một nhà thơ vốn có một thời Đại tráng, như Sấm ở trên Trời, không biết gì và lại còn phao phí cái kho thơ ở dưới nhân gian, bây giờ sang thời Phệ Hạp mới bắt đầu nhìn thấy:

    Ta như gã ăn mày hậu đậu

    Có rá buồn đem đổ ở cầu ao.

    Với cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ trong tay, bây giờ tôi mới thực sự tìm thấy một Trịnh Thanh Sơn.

    9-9-2000

    XC

    Viết thêm:

    Trịnh Thanh Sơn,

    Thơ một thời nghiến nát không tan, nhả ra thấy vàng.

    Viết xong bài chân dung trên, tôi cho Trịnh Thanh Sơn xem bản thảo, anh rất tâm đắc, anh bảo chính anh cũng tìm thấy mình. Anh mất ngày 17-9-2007 (7-8 Đinh Hợi) giờ Sửu. Đây là những năm tháng vận hạn của anh. Từ năm 56 đến 64 tuổi (2002-2010) vận mệnh anh thuộc hào 6 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp, lời hào bảo rằng những năm này anh như người bị tội giời xử nặng, người xưa có câu thơ cho hào này: Lo âu bên gối quẩn quanh / Cửa nhà huyên náo, tâm tình ngẩn ngơ (Học Năng dịch). Vào năm Đinh Hợi này tình cảnh nhà anh đúng là như thế, anh bị bạo bệnh, ở cổ họng, từ tháng Tư năm nay. Năm Đinh Hợi của anh được quẻ Lôi Thủy Giải hào 3. Giải là giải quyết, giải tỏa. Hào 3 xấu lắm: Cẩn mật kẻo giặc cướp đến. Phòng bị đuổi, đầy đoạ, nhục nhã, dù có đỗ đạt. Diễn biến có tính Nhân Quả là: anh sẽ như người khách lữ hành, đường xa, lại tự mình đốt quán trọ. Tôi và Nghiêm Văn Tân bạn anh, xem xong, chỉ biết lặng lẽ thở dài: cái dữ đến một cách tập trung từ đại vận đến vận năm, cả vận tháng nữa, làm sao thoát được đây. Anh không đi hết cái hào 6 quẻ Phệ Hạp. Tôi từ thành phố Hồ Chí Minh dành cả đêm 17-9 cho Trịnh Thanh Sơn, đọc một mạch tuyển tập thơ Vàng gieo đáy nước (Nxb Hội Nhà Văn – Hà Nội – 2007), anh vừa gửi cho. Thương tiếc một tài hoa, khi vừa tìm thấy mình thì vĩnh viễn ra đi.

    Trong đêm ấy tôi bỗng nẩy tò mò coi thử dấu ấn quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp trong thơ anh, từ sau ngày anh bảo là có tôi mách bảo anh đã tìm thấy anh, nghĩa là từ sau cái ngày tôi ghi chấm hết bài trên kia, vào năm 2000. Ta đã biết, Phệ Hạp là Cắn Hợp, Cắn để Hợp. Người được quẻ này sống không yên ổn, luôn có cái gì ngăn hãm, cắn rứt, miếng ngon trong miệng không nuốt trôi, như người xưa ăn miếng thịt khô, thấy xương, phải nghiến nát nó ra, mà nó cứ lục cục trong miệng. Anh có thể ý thức được về điều đó, nhưng chính khi anh ý thức được, thì anh không có thơ. Chỉ khi nào anh quên nó đi, anh bảo nó là chuyện tầm phào, thì nó bỗng hiện lên trong thơ.

    Quả thật có một cái gì đó đi theo dai dẳng, hành hạ nhà thơ. Anh viết về tình yêu (Tự cháy – 2004, Trèo lên cây bưởi – 2006), về niềm vui đọc sách (Nhìn mưa – 2004), về nỗi niềm với con sông quê và những người thân trong nhà (Lời tiên tri – 2002, Sông Sung - 2003), tất cả là trong cái tâm trạng cắn rứt, tự đay nghiến mình, có cái gì đưa lên miệng mà không nuốt trôi đi được muốn nghiến nát nó đi. Nhìn mưa là như thế:

    Ngồi đọc sách nhìn ra mưa và nghĩ

    Ngày xưa cũng mưa thế này

    Nguyễn Trãi viết “Cáo Bình Ngô”

    Sau cơn mưa

    Ba họ bị giết!

    Ngồi đọc sách nhìn ra mưa và nghĩ

     

    Ngày xưa cũng mưa thế này

    Nguyễn Du lội đồng đi hát Phường vải

    Sau cơn mưa

    Sinh hạ một nàng Kiều…

    Cứ như thế, nhìn ra mưa và nghĩ đến Cao Bá Quát, về Tản Đà, cuối cùng là nghĩ đến em, năm ngoái cũng mưa thế này / Em còn ríu rít bên ta / Sau cơn mưa / Em lên xe hoa. … Và rồi

    Ngồi đọc sách nhìn ra mưa và nghĩ

    Sang năm cũng mưa thế này

    Sang năm cũng mưa thế này

    Sang năm cũng mưa thế này…

    Cái oan trái, ngang trái cuộc đời, nghiến mãi không tan là thế. Những chi tiết rời rạc qua hàng trăm năm, xuyên qua màn mưa, ghép lại thành bài thơ hay, nghiền ngẫm, nghiến ngẩm về đời người.

    Một bài thơ nghe vui vui mà thật ra là sự cắn rứt suốt đời người: Lời tiên tri

    Thuở nhỏ bà ngoại trao tiền cho tôi

    Bảo mua bánh đa để ông nhắm rượu

    Tôi vù ra ngay ngã ba gốc gạo

    Nơi ấy chiều chiều có hàng bánh đa

     

    Bạn bè cùng xóm ở đâu túa ra

    Ríu rít vây quanh rủ chơi trận giả

    Bánh đa tôi mua đem phân phát cả

    Mải chơi trận giả tối mịt mới về

     

    Ông bà ngoại đang đợi cơm bên hè

    Cút rượu của ông vơi chừng quá nửa

    Nhìn cút rượu vơi tôi mới sực nhớ

    Trên hai tay mình không có bánh đa

     

    Bà ngoại nhìn tôi thở dài ngao ngán

    Ông ngoại nhìn trời mỉm cười lơ đãng

    “Cái số thằng Sơn mai ngày tất nghèo

    Cẩu thả với tiền đời sẽ gieo neo!”

     

    Lời ông ngoại nói thành lời tiên tri

    Quá nửa đời người tay tôi sạch bách

    Giá như ngày ấy mua xong bánh đa

    Tôi ôm khư khư chạy tuốt về nhà!

    Xuân 2002

    Giữa đêm khuya đọc thơ để nhớ thương anh bạn trẻ mà tôi không thể ngăn được tiếng cười. Cười xong thì thấy không thể cười được nữa.

    Trong bài viết trên tôi chỉ nhấn cái ý quẻ Phệ Hạp Cắn Hợp, cắn để hợp. Nhưng người xưa còn nhấn một ý nữa: Trong thời Phệ Hạp ở hào 5, cắn miếng thịt khô có xương, nhả ra thấy vàng. Trong đấu tranh gian nan sẽ tìm ra sự hòa hợp, chẳng khác nào cắn miếng xương nhả ra thấy vàng. Chặng đường Phệ Hạp của Trịnh Thanh Sơn đã hiển hiện trước mắt tôi đây: Tuyển tập thơ Vàng Gieo Đáy Nước. Anh đã cố gắng hoàn thành nó cho in kịp trước ngày ra đi. Đúng là vàng, chỉ khác không phải vàng tiêu pha thành nhà cửa được, nhưng đây là cái ánh vàng trong suốt, rực rỡ từ nhật nguyệt trên cao soi xuống lặn xuống đáy nước, thành thơ.

    Ngày 17 - 9 – 2007

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Trịnh Thanh Sơn

    Sinh ngày 12-09-1948 (10-08-Mậu Tý, giờ Hợi). Tiết lệnh tháng 8: Nắng nhạt 08-09-1948. Giữa thu: 23-9 (HC: Ly). Sinh giờ khí âm. Dương Nam. Mệnh Hỏa (thu lôi). Trung nguyên. Can Chi: Năm Mậu Tý, tháng Tân Dậu, ngày Canh Tý, giờ Đinh Hợi. Mã số: 1, 1-6; 4, 4-9; 3, 1-6; 7, 1-6.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

     Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    0

    1

    1

    1*

    1

    81-86

    75-80

    66-74

    57-65

    48-56

    87-95

    0

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    0*

    1

    0

    0

    1

    02-10

    96-01

     

    0

    1

    0

    1

    0

    0

    0

    1

    1

    0

    0

    1

     Lôi Thiên

     Đại Tráng

     

    Trạch Thiên

    Quải

    Hỏa Lôi

     Phệ Hạp

     

    Thủy Sơn

     Kiển

    Trạch Lôi Tùy

     

    Hóa công: Ly ở Hậu thiên. Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí: Khảm ở Hỗ Hậu thiên.

    Mệnh hợp cách mức trung bình Dấu *: chỉ hào nguyên đường, chủ mệnh. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hào 2, 3, 6.

     

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung Nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,341,349

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/