Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,076,176

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà Văn: Xuân Thiều

Xuân Cang

  • Thứ ba, 11:48 Ngày 11/11/2008
  • XUÂN THIỀU
    ĐƯỢC SỐNG NHƯ CHÍNH MÌNH KHÔNG PHẢI DỄ

    Nhà văn Xuân Thiều sinh giờ Dần ngày 3 tháng 3 năm Canh Ngọ (1930). Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm 2 chặng đường. Chặng đường đầu là Thủy Phong Tỉnh chủ mệnh hào 5. Chặng đường về sau là Phong Địa Quán, chủ mệnh hào 2. Ngắm nghía cái cấu trúc cuộc đời ông, tôi không khỏi sững sờ.

    Quẻ chi phối 45 năm đầu đời và có ảnh hưởng đến suốt đời ông là Thủy Phong Tỉnh. Tỉnh là yên tĩnh. Tỉnh còn là Giếng. Người xưa lấy tượng cái giếng để khái quát một vận mệnh bình yên, tĩnh lặng, như chính cái giếng. Có nghĩa ông sinh ra để sống một cuộc đời như cuộc đời cái giếng, và sống theo cung cách của một cái giếng. Người xưa đã tổng kết lối sống ấy thành đạo, gọi là Đạo Giếng. Bản thể của cái giếng là ở đâu thì ở đấy, làng ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định. Câu nói ngắn gọn là làng đổi giếng không đổi. Có giếng là có nước mạch chảy vào giếng hoài, nên nước giếng không bao giờ kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên đến một mực nào đó, không khi nào tràn ra. Công dụng của giếng là ai ai cũng đến giếng để lấy nước, kẻ qua người lại luôn, người nào cũng nhờ nó mà có nước, nó giúp đỡ mọi người một cách vô tâm, vô tư. Nói về việc người đi lấy nước, đã gần tới giếng rồi, chưa kịp giòng dây gầu xuống, mà đánh vỡ bình đựng nước, hoặc thủng cái gầu múc nước thì thật uổng công; khái quát lại là làm việc gì cũng phải cẩn thận, đến nơi đến chốn để khỏi bị thất bại nửa chừng.

    Phan Bội Châu bình giảng: Chỉ có mấy câu mà suy vào triết học rất có thú vị. Đạo trời đất ở giữa vũ trụ, mặc dầu cuộc đời bể dâu, thói đời nóng lạnh, mà trời đất vẫn cứ y nhiên. Thế là làng (ấp) đổi, giếng không đổi. Làng là nhân tạo, Giếng là thiên nhiên. Biến đổi là nhân tạo, không biến đổi là thiên nhiên. Đó là nguyên lý của tạo hóa. Lại nói về chuyện múc nước giếng. Đó là cái ví dụ để nói về việc con người trong thực tế. Hễ làm một việc gì, tất phải làm cho đến thành công, vô luận thờ một chủ nghĩa gì, hay mưu một sự nghiệp gì, tất phải làm cho đến nơi mới thấy được kết quả của việc ấy. Nếu giữa đường mà vứt quách, hoặc gần tới nơi mà nghỉ bỏ, thì tuy chưa thất bại cũng gọi là thất bại. Tỷ như: người đi múc nước giếng, sắp sửa tới nơi, nhưng chưa kịp giòng dây gầu xuống, thình lình vỡ mất cái bình đựng nước, té ra công đi tới giếng hoàn toàn hỏng ráo, chẳng uổng công lắm hay sao? Chúng ta xem câu thí dụ ấy thì biết rằng, chương trình làm việc phải có ba giai đoạn: Đoạn thứ nhất là phải thăm dò cho ra giếng. Đoạn thứ hai là phải cố công đi cho tới giếng, và dụng công giòng dây xuống giếng, bao giờ múc được nước lên mới thôi. Đoạn thứ ba là trong thời gian ấy, phải hết sức giữ gìn vật liệu dụng cụ, chớ để nửa chừng đổ vỡ; nếu không vỡ bình, thì nước chắc về đến nhà, đó mới là thành công. Đau đớn thay, nước chưa kịp múc xong, mà bình đã nứt vỡ, công phu đi tới giếng, chẳng hóa ra dạ tràng xe cát biển đông. Vậy nên làm việc gì mọi người cần có gan lớn, mà cũng cần phải có tâm, để ý những việc nhỏ, đó là cái thâm ý lời quẻ Tỉnh dạy cho chúng ta vậy. Người xưa nói đạo giếng là vậy.

     Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh, Người về thăm khu Gang Thép Thái Nguyên khi ấy còn là một công trường san lấp đồi núi ngổn ngang. Biết công nhân có thắc mắc về tương lai tiền đồ, không biết xây dựng xí nghiệp thế này đến bao giờ cho xong, Người đã lấy cái giếng làm ví dụ. Người đứng trên sườn đồi hỏi xuống hàng nghìn công nhân đứng dưới:

     - Muốn uống nước thì phải làm gì?

     - Phải đào giếng ạ!

     - Khi đang đào giếng thì đã có nước chưa?

     - Chưa ạ!

     - Đào giếng có khó nhọc không?

     - Có ạ!

     - Đào giếng rồi còn phải múc nước lên, đun sôi lên thì mới có bát nước trong lành mà uống. Xây dựng xí nghiệp bây giờ cũng thế. Tiền đồ là ở các cô các chú. Xây dựng xí nghiệp nhanh thì sẽ chóng có tiền đồ. (Chúng ta có Bác Hồ. Nxb Lao động. Hà Nội - 1990. Tr. 190). Sau này nghiên cứu Kinh Dịch, tôi tự hỏi: Phải chăng lúc ấy trong đầu Người hiện lên quẻ Tỉnh? Người đã nói chuyện với công nhân bằng lời quẻ Tỉnh.

    Quẻ Tỉnh của Xuân Thiều có chủ mệnh là hào 5. Tượng hào là ở ngôi vị cao, giống như giếng đầy nước, nước mạch trong trẻo. Lời hào bảo rằng: Giếng trong sạch, suối mát lạnh, ăn. Đức sáng, trọn vẹn, công thành. Xem thế thì biết rằng người được quẻ này là người có phúc lớn, khác nào cái giếng nước mạch đã lên cao, chỉ còn múc lên ăn thôi. Là người ngay thẳng, thận trọng, chu đáo. Dù cuộc đời có bể dâu, nóng lạnh mà trời đất vẫn y nguyên. Nhưng phải yên tĩnh, động thì nguy. Làng đổi giếng không đổi là thế.

    Cái cảm giác sững sờ của tôi là thế này. Cái thời mà trời đất cho Xuân Thiều là một thời tĩnh, làng có thể đổi thay mà giếng vẫn y nguyên. Ông sinh ra là để được sống trong yên tĩnh, bình lặng, như khung cảnh giếng quê. Mười lăm năm đầu đời ông thuộc hào 5 và hào 6 quẻ Tỉnh là hai hào đẹp nhất thời Tỉnh. Khoảng thời gian ấy nước trong đã dâng đầy, hào 6 bảo rằng Nước giếng múc lên rồi, đừng che đậy, cứ mãi như vậy thì rất tốt. Có nghĩa là nước giếng đã được người múc lên, không chỉ hưởng một mình, đừng che đậy, nên ban chia cho mọi người, ân trạch dồi dào cùng hưởng, cứ mãi như vậy, quả thật không gì tốt hơn. Nhưng mệnh là thế, mà thời vận không cho phép ông như thế. Mười lăm tuổi gặp thời Cách mạng tháng Tám, người thanh niên ấy không thể ngồi yên, anh lao vào cuộc sống sôi động, gia nhập quân đội, hiến mình cho đất nước. Cách mạng, chiến tranh là phải động. Mà mệnh ông yêu cầu phải tĩnh, nên cuộc sống trong thực tế là không thuận mệnh trời, phải gian nan vất vả lắm. Cái gian nan vất vả ấy đã đi vào văn chương ông. Đã một lần ông để nhân vật của mình thốt lên: Đi gần hết cuộc đời rồi, tôi mới nhận ra rằng, được sống như chính mình cũng chẳng dễ dàng gì. (Truyện chọn lọc của Xuân Thiều. Nxb Công an Nhân dân - Hà Nội - 1998. Tr. 54)

    Ta hãy xem trong thực tế cấu trúc Hà Lạc của Xuân Thiều phản ánh trong văn chương ông thế nào. Nói cách khác, chính cái cấu trúc Hà Lạc ấy xui khiến tôi, trong danh mục nhiều tác phẩm của Xuân Thiều, chọn lấy cuốn Truyện Chọn Lọc của Xuân Thiều để đọc và suy ngẫm về văn chương người quẻ Tỉnh. Cuốn sách 720 trang gồm 17 truyện ngắn, truyện vừa, do chính ông chọn lọc, giới thiệu với bạn đọc. Xem các dòng ghi ngày tháng viết thì biết phần lớn các truyện đều viết thời kỳ sau chiến tranh, một thời kỳ bình lặng, yên tĩnh, mạch nước giếng trong trẻo rỉ rả trào dâng. Có thể nói đây là cuốn sách mệnh của Xuân Thiều. (Từ đây xuống, những đoạn trích dẫn có ghi chú Sđd - sách đã dẫn - là từ sách trên).

    Cũng phải nói thêm rằng từ năm 1975 Xuân Thiều bước sang chặng đường mới, hậu vận của ông thuộc quẻ Phong Địa Quán. Quán là Làm cho thấy. Chữ Hán tên quẻ đọc là Quán nhưng tên hào đọc là Quan. Quan là Thấy. Hào 2 chủ mệnh bảo rằng thời kỳ này cái quan sát, cái nhìn của ông giống như của một người gái trinh ngưỡng vọng nhìn lên bậc hào hoa quân tử là hào 5 phía trên. Quả thật vậy, giờ đây có thời gian yên tĩnh, bình lặng (như cái giếng) ông ngưỡng vọng hướng về cuộc chiến anh hùng và cao cả của đất nước. Thời gian này có nhiều cây viết cũng có nhu cầu nhìn lại cuộc chiến, nhưng tùy theo từng góc độ nhìn, người này thì khứa vào những vết thương nhân loại, người kia thì muốn đi sâu vào những thử thách nghiệt ngã của tính cách và số phận, người khác nữa thì muốn soi chiếu cái nhìn vào những quy mô lịch sử. Xuân Thiều, do sự xui khiến của hào 2 quẻ Quán, hướng cái nhìn trong trẻo về những tâm hồn người cao thượng, hy sinh vì nghĩa lớn, hoặc quên mình vì người.

    Tuy nhiên, bạn đọc để ý sẽ thấy trong tập Truyện chọn lọc chỉ có hai truyện ngắn viết năm 1964 mang cái nhìn của “người gái trinh”. Đó là Gieo mầm và Chuyện làng Ra Pồng. Trong Gieo mầm người chiến sĩ tên là Hiên bị giặc bắt và bị chính thằng bạn cũ của mình là cảnh sát trưởng tra tấn hành hạ. Những buổi chiều, khi chiếc cửa sổ nhỏ nhìn thấy trời xanh mà Hiên bảo là cửa sổ cuộc đời chuyển sang màu tro xám là lúc anh viết nhật ký bằng miệng, anh khe khẽ đọc những chuyện xảy ra trong ngày, tâm trạng của anh, những cảm nhận của anh đối với người thân và kẻ thù. Anh không ngờ những dòng nhật ký của anh lọt vào tai một người gác tù, và chính người này lại nhớ và ghi lại thành chữ. Thằng bạn cho anh chọn một trong ba cái chết. Anh đã chọn cái chết buộc người sau xe để nhìn xem ruộng lúa, hàng cây một chút. Cái chết ấy và những dòng nhật ký bằng chữ người gác tù đã “gieo mầm” cách mạng trong lòng bao nhiêu bà con quê hương.

    Điều thú vị là, hào 2 còn bảo rằng như người gái trinh nhìn về cái cao cả thì còn được, chứ đã là người trượng phu, quân tử thì không khỏi có điều còn tiếc nuối, xấu hổ là khác. Rõ ràng là sau năm 1975, nhà văn, cựu chiến binh đại tá Xuân Thiều, “người trượng phu” Xuân Thiều đã không bằng lòng với cái nhìn kiểu “gái trinh” như “Gieo mầm” nữa. Ông khắc họa hàng loạt nhân vật anh hùng trong chiến tranh nhưng ở mỗi người anh hùng ấy đều mang một dấu ấn không toàn vẹn, một cái gì đấy để lại sự ân hận, sự hối tiếc khôn nguôi, về một lỗi lầm nào đó, môt hành động ứng xử đáng thẹn nào đó, một cái gì đó chưa được “người” lắm. Nghĩa là những anh hùng của đời thường, cao cả hơn đời đấy, mà cũng rất gần gũi đấy, với mọi người, với bạn đọc. Có thể kể bất kỳ một truyện nào làm ví dụ. Truyền thuyết về Quán Tiên (Sđd. Tr338) kể rằng trên đường Trường Sơn bom đạn và hiểm trở, có một quán tiên thơ mộng bên một bờ suối, có ba cô thanh niên xung phong như ba nàng tiên được cử ra lập một quán xôi chè trở thành nơi hò hẹn nghỉ ngơi của biết bao đơn vị và chiến sĩ trên đường hành quân ra trận. Nhưng cũng từ khi lập quán thì cô chủ quán xinh đẹp bị một ám ảnh ghê sợ: có một chú khỉ độc có chòm lông trắng ở cổ cứ rình lúc cô xuống suối tắm thì nấp một chỗ mà nhìn ngắm với những cử chỉ tục tĩu. Cô thì ghê sợ nhưng các bạn cô thì đùa đùa bảo rằng đó là chàng hiệp sĩ mặc áo đen thắt nơ trắng. Sự ám ảnh tăng lên đến mức cô phải đề nghị trưởng binh trạm tăng cường cho quán một chiến sĩ nam. Nhưng việc chung đụng giữa nam nữ đã khiến người này phải sớm rời quán. Đến người thứ hai, cô đã yêu cầu tay súng giỏi này bắn chết con khỉ. Nhưng sau khi chàng hiệp sĩ áo đen thắt nơ trắng bị hạ sát rồi, thì cô bị một ám ảnh mới là sự cô đơn hòa cùng với cảm giác mình đã phạm vào một cái ác là giết một sinh vật khôn ngoan gần gụi với con người. Và chính cái ám ảnh ấy đã khiến cô tự mình phá bỏ cái hàng rào cô đơn ấy. Cuộc tranh chấp khắc nghiệt vô lý và vô hình cứ thế mà hành hạ những chiến sĩ dũng cảm để đến chỗ Quán Tiên bị giải thể và trở thành... truyền thuyết. Xuân Thiều không chỉ phơi bày cái nghịch lý ấy. Nhân vật trưởng binh trạm, ẩn đằng sau các sự kiện, chính là người mà nhà văn soi chiếu vào và cho thấy ông là ngườì anh hùng đấy, ông có mặt ở tất cả những nơi xung yếu, nguy hiểm, ông có sáng kiến lập ra Quán Tiên, nhưng ông cũng rất thiếu văn hóa trong việc xử lý các vụ việc thuộc về quan hệ nam nữ: Cứ ai có vấn đề không theo ý tưởng của ông là ông điều đến nơi ác liệt nhất. Các nhân vật trong truyền thuyết Quán Tiên (trừ Phượng) đều đã hy sinh trong khi thi hành những nghiêm lệnh đó.

    Truyện Xin đừng gõ cửa cũng vậy, nối tiếp một dòng hối tiếc về những lỗi trớn đã xảy ra trong quá khứ hào hùng. Trong vùng địch tạm chiếm, để bảo vệ cơ sở, người đội trưởng trinh sát an ninh ấy đã từng thi hành nhiều án tử hình chỉ bằng cách gõ cửa và mời đi học. Hễ có tiếng gõ cửa, ấy là tín hiệu cái chết. Vì nhiều lý do trong cuộc chiến, đến nay anh cũng không dám chắc tất cả những cuộc thi hành án đều đúng. Đến nỗi khi nghỉ hưu cái tiếng gõ cửa trở thành một ám ảnh tâm thần đối với chính anh. Mỗi lần có ai gõ cửa thì cơn bệnh lại nổi lên. Một người phụ nữ đã được anh tha cho vì biết rằng cô bị gõ cửa oan, nay tìm cách trở về cảm ơn, có làm cho anh dịu đi một thời gian ngắn, nhưng rồi cơn bệnh lại hoành hành, mỗi khi có tiếng gõ cửa. Không ai hiểu được cái lý do sâu xa của căn bệnh, cả anh nữa, bởi vì anh đã mắc bệnh mất rồi. Chỉ còn nhà văn “biết rõ” và kể lại nguồn cơn.

    Tôi muốn nói nhiều hơn về sắc thái quẻ Tỉnh đã đi vào văn chương của Xuân Thiều thế nào.

    Hào 1 quẻ Tỉnh bảo rằng Giếng bùn, không có nước, bỏ hoang, chim muông cũng không đến. Đó là môt thời kỳ ở dưới đáy giếng, mạch nước không đùn lên. Truyện Xin đừng gõ cửa trên kia chính là câu chuyện phản ánh một thời kỳ đáy giếng trong cuộc sống, nơi chỉ có bùn đất, sự ô nhiễm, hoang vắng. Cái “đặc nhiệm” mà người lính trinh sát thực hiện là trong đêm tối, bom đạn, bùn máu, câm lặng, bí ẩn... Ngay cả khi đã hòa bình, con người thanh thản muốn lần trở lại với sự thật, thì khu vực hồ sơ cũng vẫn còn bị bỏ hoang, đầy mặc cảm, ở “đáy giếng”.

    Sắc thái hào 1 quẻ Tỉnh còn hiện rõ trong truyện Âm vang chiến tranh. Cái đáy giếng bùn đất không mạch nước ấy giờ đây là một gia đình nhìn bề ngoài là thành đạt nhưng bên trong đầy sự ô nhiễm, nhơ bẩn vì những tham vọng về quyền chức, lợi lộc, ô dù, phe cánh ở một thị xã... Người chồng ở trong truyện, một đại úy quân đội, không đủ tài để vực cái gia đình này lên. Cuộc chia ly đau khổ là không tránh được.

    Hào 2 quẻ Tỉnh nói về một thời kỳ trong lòng giếng đã có mạch nước đùn lên, nước trong trẻo, nhưng chưa ăn được, mới chỉ đủ nuôi những con “cá giếc” mà thôi. Khác với hào 1, con người ở thời kỳ này có tài hơn, nhưng không có hoàn cảnh để vượt lên số phận. Truyện ngắn Bé An chính là như vậy. Bé An còn gọi là bé Đen, là con một người lính da đen trên đồn Tây, hãm hiếp mẹ em mà sinh ra em. Em được mẹ nuôi lớn lên trong tủi nhục. Bản thân em không có tội lỗi gì, cả mẹ em và em đáng được hưởng một tình thương của mọi người. Nhưng tình thương ấy rất hiếm. Chị Nhiên mẹ bé Đen là một cô gái hiền hậu, đã từng có mối tình đầu với một trai làng bên một giếng nước. Hai bên đường ra giếng nước có nhiều cây bông bạc lá xanh, hoa vàng kết giữa ba lá bạc màu nõn cau, trông xa như những cánh bướm rập rình. Nước giếng trong leo lẻo như mối tình đầu giữa chị và anh Huy. (Sđd. tr. 110) Họ cưới nhau. Huy đi bộ đội và hy sinh ở đường Chín, để lại cho chị một bé gái. Cái đáy giếng của đời chị là khi có thêm bé Đen. Nó càng lớn lên thì cái tủi cực trong lòng chị càng sâu thêm. Chị nhắm mắt lại, chị sợ con đường dài thăm thẳm mà sâu hun hút, đang kéo chị, chị không cưỡng lại được. Nhưng dưới đáy giếng bắt đầu có mạch nước. Đó là khi bộ đội ta về nhổ đồn, rồi đóng quân trong nhà chị. Những người lính cụ Hồ thương xót bé Đen. Trong đó có anh Thắng, chính anh đã bảo chị đổi tên bé Đen là An. Hai chú cháu quấn quýt nhau. Tình thương tự nhiên của Thắng là mạch nước trong trẻo trong đời sống hai mẹ con. Nhưng tiếc thay, mạch nước ấy chỉ đủ để làm một niềm an ủi nhỏ đối với chị. Họ chưa có hoàn cảnh để tạo nên những thay đổi lớn. Thắng còn phải đi, chưa hứa hẹn được ngày về. Trong cái đêm cuối cùng ấy, một người nằm nhà trong, một người nằm nhà ngoài. Lòng anh thắt lại, bỗng dưng hai giọt nước mắt ứa ra trên mi, lăn xuống má. Nằm bên cạnh hai con, chính chị Nhiên cũng đã khóc thầm trong lòng từ nãy đến giờ sắp bật lên thành tiếng. (Tr. 118)

    Hào 3 quẻ Tỉnh tác động (một cách vô hình) vào tâm trí Xuân Thiều hơn cả. Ông có hàng loạt truyện hay mang sắc thái hào này. Đó là những truyện Giao thừa bình yên, Tiếng đất, Có một nỗi niềm... Hào 3 bảo rằng nước mạch đã dâng lên đến giữa giếng, nước trong sạch, mà tiếc thay, không ai múc, giống như người có tài đức mà không ai dùng, hoặc không có nơi thi thố, nên lòng đau buồn. Hào 3 còn bảo rằng ở thời này gặp nguyên thủ sáng suốt thì mọi người được hưởng phúc. Phan Bội Châu bình luận: Lời hào này chú trọng ở chữ lòng đau và chữ nguyên thủ sáng suốt. Ông lấy những tấm gương lớn ra soi: Tức như có dân Ấn Độ (ủng hộ), thì thánh Găng-đi chẳng phải là người phải đi ở tù. Có quốc dân Trung Hoa (hưởng ứng), thì Tôn Trung Sơn chẳng phải là người đi làm khách chốn xa lạ. Cho nên cần có nguyên thủ sáng suốt. Tức như có Thành Thang thì Y Doãn mới làm nên công cuộc đánh Kiệt cứu dân. Có Vin-hem I thì Bits-mác mới làm nên phú cường cho nước Đức. Nếu không có nguyên thủ sáng suốt thì như hai người vừa nói, nước giếng trong có ai dùng cho? Theo lời bàn của cụ Phan, tôi hiều nguyên thủ sáng suốt ở đây còn có nghĩa là hoàn cảnh xã hội thuận lợi. Giống như trên các trang báo Lao Động, Người lao động những ngày này, bạn đọc thấy in những tấm ảnh người lao động đang cần việc làm, kèm theo những dòng tự giới thiệu ngắn. Đó là những trai gái thông minh, tươi tắn, đầy nội lực. Tôi ngắm họ và nghĩ không biết trong số này ai là mạch nước hào 3 đây: lòng đau vì không được dùng.

    Giao thừa bình yên của Xuân Thiều là như thế. Truyện kể rằng giữa rừng Trường Sơn năm ấy có một tết nguyên đán tạm ngừng cuộc chiến, trạm giao liên số 17 chắc chắn có một giao thừa bình yên, vui vẻ, mà vui vẻ nhất sẽ là thủ kho Mơ, một nữ chiến sĩ xinh đẹp, dũng cảm, hát hay, có chồng mới cưới hẹn sẽ đi qua trạm đúng tết này. Không ai biết rằng chính trong đêm ấy có một cơn bão đi qua trong đời Mơ. Chồng Mơ vừa chết vì bom nổ chậm trên đường đi đến trạm. Cả trạm chỉ có hai người trưởng và phó trạm biết việc ấy. Trưởng trạm giao cho phó trạm “làm công tác” với Mơ, nói cách nào đó cho cô chiến sĩ ấy yên lòng, khi thấy chồng không về đúng hẹn, cho trạm qua một giao thừa bình yên, có bánh chưng, thịt bò, có liên hoan văn nghệ, và có tiết mục hát của chính Mơ. Nhưng cái khó nhất đối với anh phó trạm, nhân vật Tôi trong truyện, không phải là tìm cách giữ gìn cho có vẻ như không có gì xảy ra, mà chính là cái bối rối trong tâm lý anh. Anh vốn có một tình yêu đơn phương với Mơ. Trong đời sống hàng ngày, Mơ cũng tỏ ra quan tâm đến anh khác thường. Giờ đây, tình huống cho phép anh không còn gì phải né tránh, chính anh sẽ phải là niềm an ủi lớn đối với Mơ sau này. Nhưng có một tâm lý đạo đức xui khiến anh phải giữ gìn. Anh từ chối tiết mục hát song ca với Mơ, một tiết mục tủ của trạm. Anh tránh những đụng chạm khác với Mơ. Cho đến khi qua đêm giao thừa chuyện đau đớn buộc phải nói ra. Người đọc có thể nghĩ rằng cách ứng xử như thế của anh trạm phó cũng là bình thường, đó là cách ứng xử của người có văn hóa. Rồi cái gì phải đến sẽ đến. Nhưng không phải thế. Đến đây thì cái hào 3 quẻ Tỉnh trong mệnh Xuân Thiều đã lái cây bút nhà văn. Tình yêu của anh trạm phó không được thổ lộ ra. Chính anh cũng không hiểu vì sao nữa. Số phận nó xui khiến thế. Hoặc là hoàn cảnh chiến tranh lôi cuốn mỗi người đi một ngả. Nghĩa là cái mạch nước giếng trong trẻo là cô chiến sĩ Mơ không được người xứng đáng, người sáng suốt múc lên, nước giếng không có người uống, lòng đau. Rất nhiều năm sau họ tình cờ gặp nhau trên một miền núi. Cả hai đã có gia đình. Cái phút nhận ra nhau, Mơ đã òa khóc, khóc dữ dội khác thường, đôi vai run bần bật. Tiếng khóc của những nỗi niềm chồng chất.

    Có một nỗi niềm kể chuyện một tình yêu trong chiến tranh, một tình yêu rất đẹp, mà cũng không thành. Nhưng hoàn cảnh gây nên là do phía kẻ địch gây ra: bọn chúng bịa đặt rằng Cúc, một nữ chiến sĩ rất đáng yêu của ta là người của chúng, cốt để ăn tiền thưởng, nhưng khi ta bắt được tin này thì Cúc trở thành người bị nghi ngờ, và cuộc tình lý tưởng buộc phải tan vỡ. Phải nhiều năm sau hòa bình, người tình của Cúc mới dày công khám phá ra nỗi oan của cô nhưng nấm mồ cô đã xanh cỏ từ lâu. Cúc ở đây cũng là một làn nước giếng trong, mà lòng đau không người biết đến.

    Tiếng Đất kể một câu chuyện gây chấn động với một giọng bình thản của người quẻ Tỉnh. Anh Thống một người trai nông thôn vùng Hà Tĩnh, từ bé đã là thần tượng của đám trẻ xung quanh. Anh có tài áp tai xuống đất nghe được đất nói gì. Anh học hành rất thông minh, thường đứng đầu sổ. Tai họa giáng xuống, vừa đúng tuổi trưởng thành, anh bị một bệnh hiểm nghèo, thời ấy coi là không tránh khỏi cái chết. Anh phải sống cách biệt mọi người trong một túp lều nhỏ giữa khu vườn hoang. Nhưng tâm trí anh không vì thế mà rối loạn. Anh đã chọn cho mình một cái chết đàng hoàng, để giải phóng cho mẹ già, cứu hai em gái đến tuổi sắp lấy chồng, cứu ngôi vườn hoang. Anh thuyết phục mẹ già và hai ông chú. Anh làm lễ gia tiên. Anh nhờ hai chú mua hộ cỗ áo quan. Một buổi chiều, hai ông chú khiêng cỗ áo quan ra đồng, anh đi sau. Anh chọn huyệt cho mình. Anh động viên hai chú đào huyệt, vừa uống cút rượu vừa trò chuyện về lúa má, đồng quê. Hai ông chú vừa khóc vừa đào. Xong, anh tự nằm vào áo quan và bảo hai chú đậy nắp. Chôn cất cho anh xong, hai chú về thưa chuyện với họ hàng, làng xóm, sau đó chính thức làm lễ tang. Dưới ngòi bút của Xuân Thiều, đó là một cái chết anh hùng, trở thành huyền thoại. Nhà văn miêu tả cái chết được thực hiện một cách tự nguyện, công khai, đầy dũng khí, được mọi người thừa nhận, ở giữa một nông thôn lâu đời. (Khi tôi viết đến đoạn này thì cùng lúc báo Sức khoẻ và Đời sống mở cuộc trao đổi ý kiến về “quyền được chết”. Tôi nghĩ bụng: Thì ra Xuân Thiều đã đề cập đến vấn đề này từ năm 1989).

    Tiếng đất cũng là một tiếng nói đau lòng của một mạch nước giếng trong không có hoàn cảnh được hiến cho người dùng.

    Ta sẽ thấy trong ba tác phẩm trên, nhân vật, hoàn cảnh và tính cách đều rất khác nhau, nhưng vẫn chung một âm hưởng hào 3 quẻ Tỉnh.

    Đọc Truyện chọn lọc của Xuân Thiều tôi thường tự hỏi: Không biết cái hào 4 quẻ Tỉnh nó ẩn nấp ở đâu nhỉ? Chu công xưa ghi lời hào 4 vẻn vẹn một câu ngắn: Giếng sửa lại, không lỗi. Vâng, chỉ có thế. (Còn ngắn hơn thế, bốn chữ: Tỉnh thịu, vô cữu. Thịu là chồng chất đá lên, vô cữu là không lỗi gì). Hào 4 là khi nước giếng đã dâng lên nhưng vẫn ở lưng chừng giếng, mát lành đấy, nhưng chưa dùng cho người được. Giếng này muốn dùng được còn phải sửa lại thành giếng, xếp đá xung quanh và dưới đáy. Sửa sang như thế, tuy chưa hẳn đã nuôi được người, nhưng vẫn không phải là bỏ đi, vẫn ra một cái giếng, người xưa bảo là “vẫn giữ được đạo giếng”. Vì thế nên không lỗi. Lấy tượng ấy soi vào đời người cho thấy đây là một kiểu người lòng lành, ngay thẳng, cẩn hậu (như mạch nước giếng trong) mà tài còn kém, chưa gặp cơ hội, chưa làm việc lớn được (vì còn ở lưng chừng giếng), nhưng về mặt tu dưỡng thì vẫn giữ gìn được sự trong sáng (như giếng được sửa sang), không lỗi gì. Tôi thử trò chuyện với tác giả tìm hộ xem cái âm hưởng hào 4 ấy nó ở đâu. Ông mỉm cười bảo: Cứ như ông nói, tôi linh cảm nó là cái Gió từ miền cát. Ông thử đọc coi.

    Quả thật, Gió từ miền cát (sđd. Tr 55) là như thế. Chuyện kể về một cô du kích vùng Quảng Trị tên là Thắm, hoạt động bí mật trong lòng địch. Trong một đêm nằm hầm, cô chót hiến thân cho anh Dương, xã đội trưởng, là chồng của Nụ một người bạn gái hơn tuổi đã từng cưu mang bảo vệ cô. Khi biết mình có mang, cô nhận lỗi về mình và để cho Dương khỏi tai tiếng, bảo là cái thai của người khác. Cô đẻ con trai, âm thầm nuôi con. Chẳng bao lâu Dương hy sinh. Nhà mấy anh em trai đều là liệt sĩ. Hóa ra chú bé mà Thắm sinh cho anh là người trai còn lại cuối cùng của gia đình Dương. Hòa bình, sau nhiều năm, Thắm mang chú bé đã nhớn nhao về tìm Nụ, thú thật với Nụ và xin cho bé nhận họ bên nội. Cuộc gặp gỡ giữa hai người đàn bà vào một ngày gió Lào ở thị xã Đông Hà thật là kỳ thú: có ân oán, có khoan dung, đủ vị chua chát, cay đắng, ngọt bùi... Tôi nói với Xuân Thiều: Thắm chính là hào 4 quẻ Tỉnh. Mạch nước trong của anh Dương. Nhưng ở cái vị thế không làm gì hơn được. Nhưng may cho Thắm, xung quanh Thắm có chú bé giọt máu của Dương, có Nụ biết khoan dung tha thứ, có ông già anh Dương mừng được chú bé như được vàng, có cuộc đời nhân hậu, khác nào cái thành giếng được sửa sang, bản thân Thắm cũng có một gia đình yên ấm. Không lỗi là như thế, mà đạo giếng cũng là như thế.

    Hào 5 là chủ mệnh của Xuân Thiều. Lúc này giếng đã dâng đầy, nước giếng trong mát, có thể múc lên ăn được. Trong đời sống xã hội hào 5 là người đức sáng, công thành, sự nghiệp đến đây là trọn vẹn. Trong Truyện Chọn Lọc tôi chỉ thấy truyện Mười ngày cho một đời là xứng với hào này. Truyện kể về một gia đình phúc đức, phúc đức đến trọn vẹn. Nhưng đó là cái phúc đức trong cõi tinh thần. Còn trong đời sống thì mỗi con người ấy phải trải qua biết bao nhiêu thử thách. Thím Lương trong truyện đang chờ chết trên giường bệnh ở thành phố Hồ Chí Minh. Châu, một bạn gái từ thuở tóc còn để chỏm vừa là chị em họ hàng, vội vã vào thăm. Trong khoảng mười ngày Châu dự đám cưới chạy tang con trai bạn rồi mới đến đám tang bạn. Thế là đủ để cho ký ức tuôn trào. Bởi vì chàng trai chú rể, danh nghĩa là con của vợ chồng thím Lương nhưng thực ra đó là con của thím Lương với một anh bộ đội trong một đêm ghé nghỉ nhờ nhà Lương. Những năm ấy anh Bình, chồng Lương, đi biền biệt vào nam. Còn có tin anh đã hy sinh. Bà cụ Nghĩa, mẹ chồng Lương, thương anh Bình bao nhiêu thì càng thương xót vô cùng người con dâu trẻ vò võ chờ chồng đi trận mạc hàng chục năm trời. Đó là một bà mẹ chồng phúc đức khác thường. Khi những người thân trong nhà biết tin Lương đã có mang, tỏ ý không bằng lòng, thì chính bà cụ Nghĩa đứng ra bênh vực con dâu: “...Bây giờ cả nhà nghe đây. Phải thương lấy con Lương. Về làm dâu nhà này hàng chục năm, cả làng cả xóm, cả họ Lâm ta ai cũng biết nết ăn nết ở của nó rồi. Xét cho cùng nó không có tội gì. Các cụ bảo “gà nhà ai đẻ vào ổ trứng nhà mình là trứng nhà mình”. Cả nhà mình không thương nó thì còn ai thương? Thiên hạ có mồm, mặc người ta nói đông nói tây. Còn con cháu nhà này không đứa nào được eo xèo miệt khinh nó. Tôi cấm! Đứa nào trái lời thì đừng nhìn mặt tôi.” Phúc đức đầy đặn đến thế là cùng. Đó là sự đầy đặn của hào 5 quẻ Tỉnh. Vui thay, chính nhà văn quẻ Tỉnh hào 5 đã sáng tạo ra một nhân vật mẹ chồng như thế. Phúc đức bà mẹ chồng ấy đã lan tỏa xuống người con trai của bà, anh Bình khi trở về đã tha thứ cho người vợ, và cuộc sống của họ sau đó đã sung mãn, đầy đặn cho đến mười ngày cuối cùng của cuộc đời.

    Còn hào 6, hào đẹp nhất quẻ Tỉnh, tôi thú thật không thấy sắc thái nó hiển hiện trong bất cứ truyện nào còn lại trong Truyện Chọn Lọc. Có lẽ nó chính là cả tập truyện dày dặn này. Lời hào 6 bảo rằng: Nước giếng múc lên rồi, đừng che đậy, cứ mãi như vậy thì rất tốt. Nhà văn Xuân Thiều chọn những truyện mình ưng ý nhất, nước giếng đã múc lên, xin mời bạn uống. Vâng, thưa nhà văn mệnh Giếng, tôi đã uống, và tôi thấy nó ngon hơn hết cả những gì tôi đã đọc của Xuân Thiều, từ Thôn ven đường, đến Tư Thiên gần đây. Nhưng tôi xin dừng tại đây vì sợ rằng cách nhìn từ góc độ Hà Lạc có thể làm nhòe mờ những vẻ sáng lấp lánh khác của ông chăng?

    Tháng Năm – 2001

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Xuân Thiều

    Sinh ngày 03-03-Canh Ngọ giờ Dần (01-04-1930). Âm Nam. Trong sáng (Tiết lệnh tháng 3): 5-4-1930. Giữa xuân: 21-3-1930 (Hóa công Chấn). Mệnh: Mộc (tùng bách). Trung nguyên. Sinh giờ khí dương. Do sinh trước tiết lệnh tháng 3 nên Hà Lạc tính tháng sinh là tháng 2. Can Chi: Năm Canh Ngọ, Tháng Kỷ Mão, Ngày Tân Tị, Giờ Canh Dần. Mã số Can Chi: 3, 2-7; 9, 3-8; 4, 2-7; 3, 3-8. Số dương: 35. Số âm: 24.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    1*

    0

    1

    1

    0

    39-44

    30-38

    69-74

    60-68

    51-59

    45-50

    1

    0

    1

    0

    1

    1

    1

    1

    0

    0

    0*

    0

    02-10

    93-01

    87-92

    81-86

    75-80

    11-15

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    1

    0

    0

    1

    Thủy Phong

     Tỉnh

     

     Hỏa Trạch

     Khuê

    Phong Địa

     Quán

     

    Sơn Địa

     Bác

    Trạch Lôi

     Tùy

     

    Hoá công: (Chấn) Không. Thiên nguyên khí: (Chấn) Không. Địa Nguyên khí: Ly ở Hỗ tiên thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu các hào 2, 3, 6.

     

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn. Xuân Cang. NXB Văn học, sắp xuất bản.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,076,176

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/