Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,073,512

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn: Nguyễn Hiến Lê

Xuân Cang

  • Thứ năm, 13:47 Ngày 13/11/2008
  • NGUYỄN HIẾN LÊ
    LÀN GIÓ ĐI TRÊN MẶT ĐẤT

    Tôi biết tiếng Kinh Dịch đã lâu. Nhưng phải đến cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê Kinh Dịch, đạo của người quân tử, tôi mới thật hiểu thế nào là Kinh Dịch. Từ đó, tôi đọc thêm của Phan Bội Châu, Nguyễn Mạnh Bảo, Nguyễn Duy Cần, Ngô Tất Tố, mỗi người một vẻ, tôi càng hiểu sâu thêm. Nhưng trước hết phải nhờ có Nguyễn Hiến Lê. Tôi biết ơn ông và để ý tìm hiểu ông. Trong cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, ông cho mọi người biết ngày giờ sinh và tám chữ Can Chi của đời ông. Tôi thử phác thảo cấu trúc Hà Lạc của ông, và đọc một mạch cuốn hồi ký 567 trang (13 x 19 cm) của ông để so sánh thì có vẻ như ông không biết gì mấy về phép toán Hà Lạc, mặc dù ông coi Học Năng (tác giả cuốn Bát Tự Hà Lạc lược khảo) như một người bạn, và nhờ ông kể mà tôi biết thêm chút ít về Học Năng. Tôi thầm tiếc giá như ông thật sự nghiên cứu Hà Lạc chắc chắn ông sẽ cống hiến cho mọi người một cuốn hồi ký khác hẳn cuốn này. Bởi vì cái cấu trúc Hà Lạc của ông đã soi tỏ và cắt nghĩa rất nhiều điều về ông, kể cả dấu ấn những năm vui buồn trong đời ông. Tôi nêu một ví dụ: năm Canh Thân 1920 ông được quẻ Thuần Khảm, hào 6, năm cực hiểm của ông, lời hào có câu: Cốt nhục khó yên. Diễn biến Nhân Quả là quẻ Sơn Hỏa Bí, hào 6: Có tang phục (bên ngoại). Chỉ khác một chi tiết, hào 6 bảo có tang bên ngoại, trong thực tế là năm này cha ông mất vào tháng Tám.

    Nguyễn Hiến Lê sinh giờ Dậu, ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi (08-01-1912). Năm đó tiết Chớm rét (Tiểu hàn), tiết lệnh tháng 12, vào ngày 07-01-1912, nên Hà Lạc tính ông sinh vào tháng 12. Tám chữ Can Chi của đời ông là: Năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quý Mùi, giờ Tân Dậu. Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm 4 quẻ: Phong Địa Quán, nguyên đường chủ mệnh hào 4, quẻ Hỗ là Sơn Địa Bác, quẻ Hậu thiên là ĐiạThiên Thái, chủ mệnh hào 1, Hỗ Hậu thiên là Lôi Trạch Quy Muội. Ông có Thiên nguyên khí ở quẻ Tốn (Tiên thiên), Địa nguyên khí ở quẻ Càn (Hậu thiên). Mệnh hợp cách trung bình cao.

    Một điều thú vị: Cấu trúc Hà Lạc của ông giống hệt của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Chỉ khác một điều Trần Đăng Khoa có Hoá công mà ông thì không. Còn ông thì có Thiên nguyên khí mà Trần Đăng Khoa thì không. Mệnh hợp cách của Trần Đăng Khoa thấp còn của ông mức trung bình cao. Một điều nữa theo toán tứ trụ, Trần Đăng Khoa có tín hiệu Từ Quán trong thời trẻ, cho thấy anh nổi danh rất sớm, và đó là tín hiệu thần đồng, còn Nguyễn Hiến Lê thì không.

    Tượng quẻ Phong Địa Quán là làn gió đi trên mặt đất (xem bài về Trần Đăng Khoa). Nguyễn Hiến Lê sinh ra với sứ mạng làm người quan sát và suy ngẫm, xem xét dân tình, để định ra phép tắc, giáo hoá nhân dân. Hào 4 âm chủ mệnh, lời hào là xem vẻ sáng của đất nước mà lợi dụng địa vị thân cận với nguyên thủ. Mệnh hợp cách là tài đức đầy đủ, làm giường cột quốc gia, có quyền giám sát. Cuộc đời ông đã diễn ra đúng như thế: 23 tuổi tốt nghiệp Cao đẳng công chánh ở Hà Nội, ngay sau đó vào Nam, có hai năm thực tập ngành thuỷ lợi được đi đo mực đất khắp các sông rạch miền Tây Nam Bộ. Tha hồ mà quan sát, mà suy ngẫm. Hai năm lênh đênh trên sông rạch, tôi được biết gần khắp miền Tây, mấy năm sau nhờ đi kinh lý bằng xe hơi, khi bằng tàu thuỷ, tôi lại biết thêm ít nhiều về miền Đông nữa. Tôi nhận thấy Nam Việt không bằng phẳng, đơn điệu, buồn tẻ như ta tưởng lầm khi nhìn bản in trong sách địa lý. Nó chỉ rộng bằng nửa Bắc Việt mà có nhiều khác nhau về địa hình, phong cảnh, phong tục, lối sống. (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hoc, 1993 tr.14). Tuy lênh đênh trên sông rạch, nhưng ông không có duyên với sông nước, đúng như trong mệnh của ông đã chỉ ra. Tượng thiên nhiên đi vào cấu trúc Hà Lạc của ông là Gió, Đất, Núi. Y như Trần Đăng Khoa, chặng đường 10 năm đi với ngành thuỷ lợi của ông là 10 năm đi chệch đường hành lang số phận. Ông cũng nhận ra điều đó: Kết quả là 3 năm học nghề công chánh, tôi chỉ dùng được hơn mười năm để mưu sinh, mà vài năm học chữ Hán (tính số giờ thì vài năm đó, chỉ bằng sáu tháng liên tiếp chuyên học) lại dùng được suốt đời...(Sđd tr.124). Cái thời gian 6 tháng ấy chính là con đường thanh tu (lời hào 6 quẻ Quán) mà ông phải đi qua: Nhờ đó một phần lớn mà tôi đã sống trong sạch và phong lưu lại hiểu biết thêm nhiều, làm quen được một số bạn văn và khá nhiều độc giả, gây được một chút thanh danh cho nhà, đền đáp được một phần nào công của tổ tiên mấy đời (Sđd.tr.124).

    Cảm hứng về Gió, Đất, Núi, Trời thường chiếm ưu thế trong khi ông mô tả thiên nhiên: Trong gió mát, phảng phất hương xoài, hương mù u. Và chỗ nào cũng nghe tiếng đàn kìm từ trong nhà sàn bên đường, đưa ra các điệu Vọng cổ, Tây thi, Tứ đại oán...cứ tiếng đàn sau lưng nhỏ dần thì đã văng vẳng tiếng đàn phía trước. Trời trong, nước trong. Trăng nhấp nhô trên mặt nước, lấp lánh trên đường cái, nhảy múa trên tàu dừa, chảy trên tóc, trên vai thiếu nữ...Mười một giờ khuya, buổi lễ mới vãn, trăng lúc này mới thật là đẹp. Tôi đi một mình, xuôi ra ngoài vàm, nghe tiếng lá xào xạc trong cảnh tĩnh mịch, tiếng nước bập bềnh vỗ vào bờ. Trong một bụi chuối cách đường vài thước, có những cặp tình tự với nhau. Xa xa vẳng lên một khúc xuân tình...

    Đây là cảnh Đèo Cả ban đêm:... Tôi đương ngắm cảnh biển mênh mông nhấp nhô dưới ánh trăng thì xe lửa ngoẹo vào một khúc quẹo, và những làn sóng bạc bỗng biến đâu mất, mà trước mặt tôi hiện lên một dãy núi đen tím với một cái vũng lốm đốm mươi ngọn đèn chài, đỏ như than hồng trên một làn nước phẳng lặng, cảnh biến đổi thật huyền ảo và trong một phút, tôi có cảm giác là mọc cánh mà lên tiên.

    Đây là cảnh xe lửa chạy qua đèo Hải Vân: Ở đây cũng như ở Đèo Cả, xe chạy ở giữa, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là biển thẳm mênh mông. Nhưng cảnh rừng ở đây thay đổi luôn luôn, nhiều vẻ đẹp hơn Đèo Cả, chỗ thì cây cối thưa thớt, thoái mái và chỉnh tề; chỗ thì chen chúc nhau, cố bíu lấy nhau trên một sườn núi cho khỏi tuột xuống thung lũng. Có nơi rừng bị một giống dây leo lá tròn trùm kín hàng mấy chục mẫu, trông xa như một tấm mền xanh, căng ở sườn núi, có cột chống ở dưới.

    Thỉnh thoảng xe qua những chiếc cầu nho nhỏ bắc qua suối. Dòng nước trong leo lẻo, xô đẩy nhau trên những phiến đá nhẵn, rồi chui vào một cửa tò vò chuối màu xanh non, sau cùng thoát ra ở một bãi cát vàng ở xa xa. Đẹp nhất là những thảm cỏ điểm hoa tím và vàng rung rinh như cánh bướm.

    Xe vẫn phì phì uốn khúc gắng lên kịp con đường quốc lộ số 1, nó đã vờn mây ở dãy núi bên kia. Xe chui vào hầm - quãng đường này có bảy tám cái hầm – và mỗi lần ở hầm ra thì cả một trời cao biển rộng hiện ra trước mắt, trời xanh lơ, biển xanh ngọc thạch như Đèo Cả... Biển ôm những cù lao ở ngoài khơi, liếm những bãi cát vàng cánh cung ở bờ, vỗ vào những gốc si bám vào chân vách đá. Nó gần tới bờ rồi lại lùi ra, để lại một viền bọt trắng... Xe vẫn phì phì leo dốc. Càng lên, núi càng cao, ngọn núi càng xích lại gần nhau. Núi đã mờ mờ. Xe đã chui vào mây. Lạ thay tôi có cảm giác biển cũng dâng lên để dược gần trời. Mây lờn vờn ở ngoài khơi, bóng mây làm cho mặt biển lốm đốm như mai con đồi mồi.

    Đây là phong cảnh được soi chiếu bằng một cái nhìn...từ trời xuống: Cánh đồng Nha Trang từ trên cao nhìn xuống rõ là một hình tam giác, đỉnh A hướng về dãy núi Trường Sơn; hai cạnh AB, AC màu xám nhạt là hai dãy núi chạy dài ra tới biển; đáy BC là bờ biển, một đầu là Hải Học Viện, một đầu là nhà tu công giáo. Sông Nha Trang, lấp lánh uốn khúc từ A ra tới bờ biển qua một cánh đồng xanh mởn, nằm từ cạnh này tới cạnh kia, rồi qua một dải cát trắng rộng độ hai cây số sát bờ biển. Ở giữa dải cát đó, tại cửa sông Nha Trang là thành phố gồm hai khu vực: khu nhà lá thưa thớt, màu xám ở bên mặt (khi nhìn ra biển), và khu công sở, biệt thự ở bên trái, y như bàn cờ mà quân cờ tròn là những đám cây xanh, xen với những nóc đỏ, tường vàng như những mảnh giấy hình chữ nhật. Đây đó nhô lên vài ngọn đồi đá trên có một ngôi chùa cổ, và vài hòn nhỏ ở ngoài cửa biển như những đốm đen trên mặt nước xanh biếc. Dưới mắt ta, đủ cả cảnh rừng núi, sông biển, đồng ruộng, thành thị, thôn quê, với đủ các màu sắc thiên nhiên rực rỡ không nơi nào bằng.

    Chính cái cảm hứng từ trên cao nhìn xuống đã chi phối Nguyễn Hiến Lê suốt những năm Địa Thiên Thái trên đường mở mang sự nghiệp giáo hoá. Với ưu thế Địa nguyên khí ở quẻ nội Càn bắt đầu từ năm 43 tuổi (1952), Nguyễn Hiến Lê bắt đầu rời bỏ nghề dạy học đi hẳn vào nghề viết sách. Hoá ra những năm Phong Địa Quán là những năm chuẩn bị. Những năm Địa Thiên Thái đối với ông mới thực sự là những năm cất cánh. Trong những năm 1949- 1953, tôi làm việc rất nhiều, vừa học vừa dạy học, lại vừa viết sách. Hễ miệng thôi giảng là tay cầm cuốn sách lên, đặt cuốn sách xuống tay lại cầm cây bút lên. Hấp tấp tới trường rồi hấp tấp về nhà. Mỗi tuần tôi chỉ nghỉ buổi chiều chủ nhật, để qua khu chợ (cách nhà tôi khoảng một cây số), để thăm bác tôi và một hai người bạn...Trong gia đình tôi muốn vợ con hiền lương, con học được và thích đọc sách chứ không ham sang giàu. Nhà ở, tôi không ham muốn sang trọng lộng lẫy, ít đồ đạc thôi, nhưng nhiều sách. Chỗ làm việc phải rộng rãi sáng sủa và trông ra một khu vườn có lá, có hoa. Hoa thì tôi muốn loại dễ trồng, mà có hương thơm, có bóng mát để chim chóc, ong bướm tới. Tôi ngại nhất loại hoa bắt người ta phải hầu hạ như hải đường, phong lan...

    Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Hiến Lê rất thích Nhà văn hoá Tô Đông Pha. Ông đã viết riêng một cuốn sách về Tô Đông Pha, và chép đoạn văn sau đây vào cuốn Hồi ký của mình: Tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt; tự ở nơi không biến đổi mà xem muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả... Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy, nếu không phải của ta thì dẫu một li ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông, cùng vầng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy của ai không cấm, dùng không bao giờ hết, đó là cái kho vô tận của tạo hoá mà là cái vui chung của bác với tôi. Ông bảo là trong văn học phương Tây ông chưa gặp bài nào vừa tao nhã vừa du dương như bài đó.

    Yêu thích như thế, làm lụng như thế, nên suốt ba mươi năm ở quẻ Thái, ông cống hiến cho đời hơn trăm đầu sách. Mà toàn loại sách đòi hỏi một cái nhìn bao quát, xuyên suốt, phóng khoáng, cao cả, tích cực, nghĩa là một cái nhìn rộng từ trên cao nhìn xuống. Về văn học có Hương sắc trong vườn văn, Đại cương văn học sử Trung Quốc, Tô Đông Pha...; về ngôn ngữ học có Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Chúng tôi tập viết tiếng Việt...; về triết học có Đại cương triết học Trung Quốc, Nho giáo, một triết lý chính trị, Liệt Tử và Dương Tử, Kinh Dịch đạo của người quân tử...; Về gương danh nhân có Gương hy sinh, Gương kiên nhẫn, Những cuộc đời ngoại hạng..; Về giáo dục có Thế hệ ngày mai, Tìm hiểu con chúng ta, Tự học một nhu cầu thời đại... Đặc biệt về dịch thụât ông tỏ ra có một khả năng sung mãn, ông đã dịch: Chiến tranh và hoà bình, Kiếp người, Cổ văn Trung Quốc, và nhiều sách khác...(theo Nguyễn Q Thắng. Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Sđd., tr.11)

    Cuộc đời Nguyễn Hiến Lê được tổng kết một cách phong phú và sinh động trong cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê có thể là một bài học những ai muốn đi sâu vào nghiên cứu quẻ Quán. Nói cách khác, ai muốn giảng về quẻ Quán thì chỉ việc đưa tác phẩm trên ra đối chiếu và so sánh là có đầy đủ những khía cạnh đáng kể nhất của quẻ Quán. Do có ưu tiên Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí giải đều ở cả tiên thiên và hậu thiên, nên có thể nói Nguyễn Hiến Lê là người phát huy đến mức cao những ưu thế của quẻ Quán, để đi đến những thành đạt mà người khác cũng được quẻ Quán lại không có được. Tôi thử đưa ra mấy nhận xét sau đây:

    Người quẻ Quán mà tượng là Làn gió đi trên mặt đất mà nghĩa quẻ là Quan, là quan sát, là thấy và suy ngẫm (khác với quẻ Cấu là Làn gió đi dưới Trời nên nghĩa quẻ là gặp, là gặp gỡ bất ngờ), trước hết là người giàu khả năng quan sát, nhạy cảm với những diễn biến của thiên nhiên và sự sống xảy ra xung quanh, dễ thấy ra những đặc điểm của nó để mà so sánh và suy ngẫm. Đọc hồi ký của ông, ta thấy ông là người rất giàu khả năng quan sát. Mà khả năng quan sát này ở hào 4 là xem vẻ sáng của đất nước, nên ông thiên về quan sát phong cảnh và dân tình. Thuở bé, nhà ở ngõ Phất Lộc mà đi học trên Yên Phụ (Hà Nội), hằng ngày phải đi về trên chặng đường sáu cây số dọc bờ Hồ Tây và bờ đê sông Hồng, ông đã quan sát thấy bao nhiêu vẻ đẹp, thành những ấn tượng sâu sắc đầu tiên trong đời. Khi trở thành chuyên viên ngành công chính, được đi khắp sông rạch miền Tây Nam Bộ, ngay thời trẻ, ông đã ham muốn viết hồi ký để ghi lại những gì đã quan sát đụơc, rất tiếc tập hồi ký đó đã không giữ được. Những trích dẫn trên kia cho thấy ông giàu khả năng quan sát đến thế nào. Sau này tập hồi ký in khi ông đã mất, trở thành một tác phẩm có giá trị cho những ai muốn tu rèn khả năng quan sát và học làm người. Tập hồi ký đó là tấm gương toàn vẹn của một người hào 4 quẻ Quán mà khi viết ra, tôi có cảm tưởng là ông cũng không ý thức được mình là người quẻ Quán.

    Người quẻ Quán là người có một sức mạnh tự thân rất lớn. Dựa vào cấu trúc Hà Lạc dưới đây (xem phụ lục) mà chiết ra tìm các vận Năm của chủ thể, ta sẽ thấy Nguyễn Hiến Lê có đến 4 quẻ Đại Tráng trong suốt thời Quán của ông. Tất cả các đại vận hào âm quẻ Quán, đều kết thúc bằng quẻ Lôi thiên Đại Tráng, nghĩa là cứ sáu năm có một năm Đại Tráng. Tượng quẻ là Sấm ở trên Giời. nghĩa quẻ là Đại Tráng, là lớn mạnh. Người có thiên nguyên khí ở ngay đầu đời quẻ Quán, lại có mệnh hợp cách, thì cái sức mạnh tự thân Đại Tráng ấy lớn đến chừng nào. Hồi ký Nguyễn Hiến Lê cho biết ông có khả năng tự học rất lớn. Ông đã có một tổng kết giá trị trong đời ông là: Khi muốn học một vấn đề nào thì cứ viết sách về vấn đề ấy. Muốn học một cách kỹ lưỡng thì không gì bằng viết sách về điều mình học. Viết sách là tự ra bài cho mình làm (Sđd, tr.294). Học mà không làm bài thì mới chỉ đọc qua chứ không phải học. Ông nói thêm: Song tôi xin dặn bạn: khi viết nên nhớ là mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải để cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới. Cầu nó, nó sẽ trốn và sự học của ta hoá ra nông nổi (tr. 295)

    Sức mạnh tự thân của Nguyễn Hiến Lê thể hiện trong quyết tâm rời bỏ nghề công chính để theo nghề dạy học, rời bỏ nghề dạy học để theo nghề văn, lấy nghề văn và làm xuất bản để nuôi mình và nuôi người.

    Một đời miệt mài làm việc để cho ra hàng trăm đầu sách, quả là sức Đại tráng phát triển đến phi thường.

    Hào 4 âm quẻ Quán (hào chủ mệnh của Nguyễn Hiến Lê) ở gần sát hào 5, vị chí tôn, nên lời hào sau vế câu: Xem vẻ sáng của Nước, còn vế câu: mà lợi dụng địa vị thân cận với nguyên thủ. Vậy nguyên thủ của chủ thể là những ai? Đọc Hồi ký Ngưyễn Hiến Lê, chúng ta thấy ông kể ra một số người lần lượt ở những địa vị chí tôn trong cuộc đời ông. Cha, người duy nhất mất sớm nhưng gây dựng cho việc học hành ban đầu; mẹ, người đã ở vậy nuôi các con ăn học; bà ngoại, người có lời khuyên rất quan trọng là học chữ Hán để xem được gia phả, nhờ lời khuyên đó mà sau này chàng trai Nguyễn Hiến Lê có cái vốn chữ Hán đủ để lập nghiệp lớn; ông bác cả, người đã gây dựng cho chàng trai cái vốn chữ Hán đầu tiên; ông bác hai, người hoạt động cách mạng trong Đông Kinh Nghĩa Thục, nêu tấm gương hy sinh vì tiết nghĩa cho chàng trai; ông bác ba, người của Đông Kinh Nghĩa Thục, trốn tránh vào Nam, sau trở thành chỗ dựa cho chàng trai những năm đầu lập nghiệp trong Nam... (có thể kể một số người khác nữa, đã giữ vai trò nguyên thủ trong đời ông). Theo Hồi ký, ông đã tận dụng tất cả những lợi thế ảnh hưởng to lớn của những người gần gũi ấy, sau này ông kể lại trong những cuốn sách như: Cháu bà nội, tội bà ngoại; Đông Kinh Nghĩa Thục; Hồi ký Nguyễn Hiến Lê và nhắc đến họ trong nhiều cuốn sách khác. Cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục chính là một biểu thị của sự tận dụng cái lợi thế ở gần nguyên thủ. Nguyễn Hiến Lê kể: Hồi tản cư ở gần Tân Thạnh (1946-1947) tôi được bác Ba tôi, hiệu là Phương Sơn, giáo sư trong Đông Kinh Nghĩa Thục cũng là rể cụ Lương Văn Can, kể cho nghe các hoạt động của trường.

    Hồi cư về Sài Gòn, tôi tìm đọc trên hai chục cuốn về các nhà cách mạng thời đó, cả cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất (Mai Lĩnh 1938), vừa để kiếm thêm tài liệu để soát lại những lời bác tôi kể, rồi viết cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục, xuất bản 1956. Đông Kinh Nghĩa Thục ghi được không khí thời đó (1907), chép được tinh thần các nhà cách mạng vừa hăng hái, vừa ngây thơ, nhất là tình đoàn kết, bình đẳng trong anh em, lại có nhiều giai thoại, nhiều tình tiết lý thú, cho nên sách bán khá chạy... In xong cuốn sách đó – cũng như cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười và bộ Đại Cương văn học sử Trung Quốc – tôi gửi ngay về Long Xuyên tặng bác tôi một bản để đọc lại những hồi ký cùng bài thơ cảm khái của người ở cuốn sách:

    Tuổi xanh kết bạn xoay trời đất

    Năm chục năm nay thoả ước mong

    Độc lập xa gần cờ phất phới

    Anh hồn cố hữu khoái hay không?

    Bài thơ đó người làm đầu mùa đông năm Ất Mùi (1955) khi Việt Nam không còn bóng một quân Pháp nào cả, ít tháng trước khi Đông Kinh Nghĩa Thục đưa cho nhà in sắp chữ... Sách in rồi tôi vẫn tiếp tục kiếm thêm tài liệu, đọc ở đâu hoặc được bạn bè (Nguyễn Hữu Ngư...) cho biết thêm điều gì tôi đều ghi lại, cho vào hồ sơ riêng để khi tái bản sẽ sửa chữa. Nhờ vậy mà lần in thứ nhì 1968, sách dày thêm được khoảng 30 trang, lần thứ ba thêm được hai chục trang nữa, tất cả là 200 trang...Từ năm 1974 đến nay, tôi lại kiếm thêm được ít tài liệu nữa, mà tôi sẽ chép trong phần phụ lục; nhưng chắc sẽ không có lần in thứ tư. Độc giả ai cũng cho đó là một trong những cuốn có giá trị của tôi; chính tôi cũng thích nó một phần vì ghi lại được hành động của các bác, cha, chú tôi.

    Tôi chỉ nói thêm một câu: Ông không hề biết rằng hào 4 quẻ Quán chủ mệnh của đời ông đã báo trước rằng trên hành lang đường đời, ông luôn luôn được gần các nguyên thủ. Lời hào khuyên rằng hãy biết tận dụng cái vị thế ấy rất có lợi. Và ông đã lợi dụng theo cách người quân tử: Viết sách về những... nguyên thủ ấy.

    Bắt đầu từ năm 61 tuổi (1971), Nguyễn Hiến Lê cố gắng đi hết hào 3 dương quẻ Thái. Lời hào 3 báo động rằng thời Thái của ông đã đến chỗ thịnh cực rồi, sắp suy đấy, trong gian nan hãy giữ lấy điều chính thì không lỗi.

    Năm 1973, ông được quẻ Sơn Thiên Đại Súc, chủ mệnh ở hào 3. Lời hào bảo rằng: Như hai con ngựa tốt chạy đua nhau. Chịu khó giữ đạo chính thì lợi... Hà Lạc giải: Cùng đi lên, cùng có cách thỏa đáng. Có thừa học vấn, tài đức để làm việc lớn. Đó là năm ông cùng mấy người nữa được đề xuất nhận giải thưởng của chính quyền Ngụy Sài Gòn, giải mang tên tuyên dương sự nghiệp văn học nghệ thuật năm 1973. Giải thưởng là một triệu đồng, mà giá vàng hồi đó 40.000 đồng một lượng. Ông đã từ chối không nhận giải thuởng, có lẽ đó là cách thỏa đáng (chịu khó giữ đạo chính) đã báo trước trong lời giải Hà Lạc và lời hào?

    Năm 1979, ông làm cuốn sách cuối cùng trong bộ triết học Tiên Tần, cuốn Kinh Dịch đạo của người quân tử. Đó là năm quẻ Trạch Địa Tụy, chủ mệnh hào 3, nằm trong đại vận hào 3 quẻ Thái (năm đầu của đại vận là năm 1971, Tân Hợi, năm can chi âm). Tụy là tụ họp, thi thố, tụ họp thì hanh thông nhưng vui buồn phức tạp, cần biết phòng thân. Hào 3 bảo rằng năm nay tụ họp chẳng chính đâu, có than thở đấy, nhưng cứ phải đi thôi, chỉ hối thẹn chút thôi. Mệnh hợp cách là toại chí, bốn bể là nhà... Công việc lớn của đời ông đã diễn ra đúng như lời hào 3 quẻ Tuỵ. Tụ ở đây là tụ về sách vở, tài liệu. Nguyễn Hiến Lê kể trong cuốn Hồi ký của mình: Tôi đã thu thập tài liệu Hoa, Việt, Pháp, Anh về Kinh Dịch từ non 20 năm trước, được 15 cuốn. Tôi đọc lại hết, ghi chép mất bốn năm tháng, rồi viết 6 tháng nữa, được khoảng 500 trang. Chủ trương của tôi khác hẳn các học giả của mình. Gần đây tôi chỉ nhằm mục đích hướng dẫn những bạn trẻ muốn tìm hiểu triết lý trong Kinh Dịch, nghĩa là vũ trụ quan, nhất là nhân sinh quan, cách xử thế, tu thân trong Kinh Dịch, đạo của bậc chính nhân quân tử ngày xưa. Vì vậy tôi bỏ hết phần bói toán huyền bí, nhất là phần tướng số, và ráng trình bày một cách có hệ thống, sáng sủa tư tưởng của cổ nhân... Ông nhận xét: Triết lý trong Dịch thực tế: Việc đời không bao giờ hết được, xong việc rồi (ký tế) thì phải bắt tay vào việc khác (sau Ký tế tới Vị tế); lạc quan: Tuy biết rằng không bao giờ diệt được cái ác, được tiểu nhân; thiện ác, quân tử, tiểu nhân, cũng như dương, âm vẫn thay đổi nhau lên lên xuống xuống, nhưng Dịch vẫn khuyến thiện, vẫn thiên vị với quân tử, chỉ cho quân tử cách đợi thời ra sao, hành động ra sao; Dịch lại rất thực tiễn: 64 quẻ đều xét những việc thường ngày, từ việc ăn uống, cưới xin, kiện cáo, xuất quân, dạy con, tới những việc trị dân, làm cách mạng, tu thân, tiến lui... Cả những cách giữ thân khi gặp nguy khốn, khi ở đậu đất khách; mà như vậy chỉ dùng có hai vạch liền và đứt thay đổi nhau, chồng chất lên nhau. Tôi nhấn mạnh vào phần nhân sinh quan đó trong phần giới thiệu và cả trong phần dịch 64 quẻ.

    ....Càng suy nghĩ tôi càng thấy Dịch là một kỳ thư.

    Nếu ta hình dung rằng ông viết bộ sách này vào năm Kỷ Mùi 1979, bốn năm sau khi thống nhất nước nhà, đọc những dòng trên, ta thấy vừa cảm phục vừa thương ông. Đúng tinh thần hào 3 quẻ Tụy: Làm bộ sách để quy tụ, cho toại chí mình, cho thỏa ý bốn bể là nhà nhưng cũng biết “loại sách này của chúng tôi không thể xuất bản trong mươi năm sắp tới được” (Kinh Dịch, đạo của người quân tử. Sđd. tr. 505). Ông không biết rằng Nhân là Tụy, mà Quả là Đại Hữu, hào 3. Đại Hữu là Có lớn. Hào 3: Như bậc công hầu mở tiệc mời thiên tử. Hạng tiểu nhân không đương nổi việc đó. Ông không khỏi có lời than thở ghi vào những dòng cuối cùng của bộ sách vào ngày giỗ của Mẹ 15-3 – Kỷ Mùi (11-4-1979) khi ông nhớ lời khuyên của bà nên học chữ Hán, chính nhờ vậy mà ông làm được bộ sách quý này: Hôm nay là ngày giỗ của người, không khí chung quanh bàn thờ thật lạnh lẽo: về hàng con chỉ có hai vợ chồng tôi, về hàng cháu và chắt không có một ai. Nhưng mừng rằng còn được một nén hương trầm, một bình trà ngon của một bạn văn và một độc giả. (Kinh Dịch, đạo của người quân tử. Sđd. tr. 506). Cho đến năm 1980, kết thúc tập hồi ký, vẫn còn những dòng mặc cảm: Bộ Kinh Dịch, đạo của người quân tử viết xong, tôi đưa cho bạn đọc, bạn nào cũng khen; một bạn chịu khó chép tay để giữ, (vì không biết bao giờ mới in được), một bạn khác nhờ đánh máy 6 bản để tặng người thân. (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Sđd. tr. 548).

    Ông không biết rằng hơn mười năm sau, vào những năm chín mươi này, cuốn sách tâm đắc của ông đã được in, giới thiệu với bạn đọc trên toàn quốc, đúng như lời hào 3 quẻ Tụy và hào 3 quẻ Đại Hữu đã nói trên kia.

    12-1999

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Nguyễn Hiến Lê

    Sinh 20-11-Tân Hợi giờ Dậu (08-01-1912). Âm Nam. Chớm rét (Tiểu hàn) (tiết lệnh tháng 12): 07-01-1912. Giữa đông: 22-12-1911 (Hóa công Khảm). Mệnh: Kim (trâm thoa). Thượng nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Tân Hợi, Tháng Tân Sửu, Ngày Quý Mùi, Giờ Tân Dậu. Mã số Can Chi: 4,1-6, 4,5-10, 2,5-10, 4,4-9, â/d.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

    (Năm)

    Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

    (Năm)

    Hỗ

    Hậu Thiên

    Hỗ

    Nhân Quả

    1

    1

    0*

    0

    0

    0

    26-34

    17-25

    12-16

    47-52

    41-46

    35-40

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    1

    1*

    92-97

    86-91

    80-85

    71-79

    62-70

    53-61

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    0

    0

    1

    0

    0

    0

    Phong Địa

    Quán

    Sơn Địa

    Bác

    Địa Thiên

    Thái

    Lôi Trạch

    Quy Muội

    Lôi Địa

    Dự

    Hoá công: (Khảm) Không. Thiên nguyên khí: Tốn ở Tiên thiên. Địa Nguyên khí: Càn ở Hậu thiên, Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách mức trung bình cao. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu các hào 1, 2, 3, 5, 6). Chú ý: Do chủ thể sinh ngày cuối năm âm lịch đồng thời là ngày đầu năm dương lịch, nên đại vận đầu tiên vẫn tính đủ 6 năm âm lịch, nhưng dương lịch chỉ tính 5 năm, để có năm âm - dương lịch tương ứng.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,073,512

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/