Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,920,438

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn: Sơn Tùng

Xuân Cang

  • Thứ ba, 22:05 Ngày 18/11/2008
  • 1

    Nhà văn Sơn Tùng sinh giờ Thìn, ngày 8 tháng Tám năm Mậu Thìn, tức ngày 21 tháng Chín năm 1928. Tám chữ Can Chi Hà Lạc của Sơn Tùng là năm Mậu Thìn, tháng Tân Dậu, ngày Giáp Tý, giờ Mậu Thìn. Mệnh ngũ hành của anh là Mộc rừng xanh. Quẻ trời cho anh là Địa Thủy Sư với tòa nhà gốc chủ mệnh là hào 4 quẻ Sư. Diễn biến quẻ Sư từ năm sinh (1928) đến năm 1966, gồm 39 năm. Sư là Đám đông, là Quân đội. Địa Thủy Sư là quẻ Dịch nói về điều khiển đám đông, chỉ huy quân đội, cũng là quẻ nói về việc ra quân, động binh, hành xử chiến tranh. Các nhà quân sự lớn, các tướng lĩnh thường gặp quẻ này. Hay nói cách khác, những người có quẻ này là có tín hiệu trở thành các chỉ huy, các tướng lãnh trên mặt trận, một số trở thành người lãnh đạo, điều khiển đám đông. Tiếp theo quẻ Sư của Sơn Tùng là quẻ Thủy Lôi Truân, chủ mệnh hào 1, bắt đầu từ năm 1967. Truân là rối ren, gian truân. Quẻ Truân phản ánh cái gian truân, rối ren của một thời trời đất mới mở mang, âm dương chưa giao hòa, trên trời có mây (thủy) có sấm (lôi) nhưng chưa thành mưa, tuy rằng mọi vật đang sinh sôi, nẩy nở đầy khắp (truân còn có nghĩa là đầy), vận trời mới tạo dựng, còn hỗn mang mờ tối, khi ấy chưa có gì là hanh thông, nên còn khó khăn. Có thể nói quẻ Địa Thủy Sư, sau đó là quẻ Thủy Lôi Truân đã đi hết một đời người, một đời văn của Sơn Tùng trên khắp nẻo đường đất nước rồi về trụ lại ở Chiếu văn, Ngõ Văn, thuộc ngõ Văn Chương, Khâm Thiên, Hà Nội. Chiếu văn, ngõ Văn là địa chỉ anh thường ký trong các thư từ, bài báo, câu đối thư pháp, bìa sách đề tặng mọi người. Cái địa chỉ ấy dường như cũng nằm trong mệnh của đời anh.

    Chủ mệnh hào 4 quẻ Sư của Sơn Tùng chỉ có 4 chữ: Tả thứ vô cựu. Nghĩa là Lui quân không lỗi. Phan Bội Châu giảng: hào này không ở vị trí giữa (trung) nhưng là hào âm ở vị trí âm nên đắc chính, ra cầm quân thì chưa đủ tài tiến lên, nên biết lui quân để giữ gìn lực lượng, liệu sức mình nên lui thì lui, lui như thế là không lỗi. Trong phép cầm quân cũng phải biết lui quân như thế. Nhưng có lẽ Sơn Tùng đã không hành động theo chủ mệnh mách bảo, sinh giữa thời ra quân cứu nước, anh không biết lui quân là gì. Năm 1965 anh dẫn đầu một nhóm phóng viên báo Tiền Phong bám trụ ở đất lửa Nam Ngạn – Hàm Rồng (Thanh Hóa), Vĩnh Linh (Quảng Bình). Năm 1967 anh lại dẫn một số nhà báo “đi B” (vào Nam, khẩu ngữ thời đó) có nhiệm vụ xuất bản một tờ báo của Đoàn Thanh niên giải phóng.

    Những năm từ 1961 đến 1975 là 15 năm hiểm nạn của đời anh, những năm có dấu ấn từ hào 3 quẻ Địa Thủy Sư (1961-1966, 6 năm), tiếp theo là hào 1 quẻ Thủy Lôi Truân (1967-1975, 9 năm). Hào 3 quẻ Sư bảo rằng đấy là những năm cầm quân, do khinh địch mà thất bại, “ra quân mà xác chết chở đầy xe”. Hào 1 quẻ Truân bảo rằng: bắt đầu một thời truân chiên, giời đất còn hỗn mang, đang ở bước dùng dằng, có tài nhưng vị trí còn ở chỗ thấp, nên đi đứng khó khăn, chỉ lợi ở việc giữ gìn cho chính đáng (lợi cư trinh) và lợi ở việc gặp gỡ, gây dựng lực lượng giỏi giang đợi thời (lợi kiến hầu – như các nguyên thủ mở nước đời xưa, lợi ở việc gây dựng các chư hầu). Sơn Tùng đã gặp nạn và cuối cùng đã hành động theo số mệnh. Năm 1971, một trái đạn M79 do máy bay trực thăng của giặc đã phóng xuống gần chỗ anh, khi anh đang lên khỏi miệng hầm để nắm tình hình, anh bị 14 vết thương, nhiều mảnh đạn găm phía trái người, 3 mảnh vào sọ, một mảnh vào khớp vai trái (theo Vân Long, tạp chí Văn Hiến). Vậy là anh bắt buộc phải “lui quân”, ra Bắc điều trị. Vốn là con một thày thuốc đông y nhà nòi, Sơn Tùng đã từ chối phẫu thuật và kiên trì chữa bệnh bằng cây cỏ nước Nam và luyện tập khí công. Để chữa bệnh chảy máu dạ dày, trong vòng bốn tháng anh ăn hết 3 ki-lô-gam nghệ tươi với mật ong. Hàng chục năm trời khổ luyện các phương pháp khí công, thiền định, anh dần dần phục hồi được trí nhớ, trí khôn, dẫn khí vào cơ thể tạo năng lượng cho cánh tay, bàn tay, ngón tay trở lại các tư thế, các cử động, để có thể viết được bằng cách kẹp ngón tay vào bút. Anh đã viết tiểu thuyết “Búp sen xanh” bằng cách kẹp bút vào 3 ngón tay. Chỉ có những cơn co giật thần kinh bất thần và những khi trái nắng trở trời thì anh không chống đỡ nổi và đành chịu cực hình. Sau này Nhà văn hóa Phạm Văn Đồng có một câu nói rất hay miêu tả trận chiến đấu này: “Nhà văn còn có ba ngón tay mà vẫn bấu vào cuộc đời để làm việc bằng óc, dẫu bộ óc ấy còn găm ba mảnh đạn” (theo Vân Long, bài báo trên).

    Dấu ấn quẻ Sư và quẻ Truân trong cuộc sống của nhà văn là như thế, còn sau đây là trong văn chương.

    Được trời cho quẻ Địa Thủy Sư, Sơn Tùng không chỉ huy chiến trận nhưng hầu hết tác phẩm của anh thể hiện các nhân vật là người chỉ huy, người trưởng thành trong chiến tranh, các danh nhân trong cuộc đấu tranh vì đất nước. Trong đó có Trần Phú trong Ánh sao băng (truyện ký), Nguyễn Hữu Tiến, người vẽ cờ đỏ sao vàng (truyện ký), Đặng Quỳnh Anh (bà o của nhà văn Đặng Thai Mai) trong truyện ký “Con người và con đường”, người theo cách mạng từ thuở tóc xanh, sang Thái Lan lập làng nuôi trẻ (sau này các trẻ ấy trở thành nhiều chiến sĩ cách mạng trung kiên), làm cơ sở lui tới, nơi bảo vệ Nguyễn Ái Quốc và nhiều nhà lãnh đạo cách mạng khác. Nhưng “nhân vật” mà Sơn Tùng dày công theo đuổi suốt đời văn là Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh. Tiểu thuyết sử thi Búp sen xanh mà nhân vật chính là Nguyễn Tất Thành (tên thời trẻ của Bác Hồ) ra đời năm 1982. Sau Búp sen xanh, đến một tiểu thuyết sử thi khác Trái tim quả đất, kể chuyện Hồ Chí Minh ra mặt trận trong chiến dịch Cao Bắc Lạng năm 1950. Theo tôi đó là hai tác phẩm “mệnh” của Sơn Tùng. Anh đã đặt vào đó cả cuộc đời anh, nói cách khác đã trả giá cho hai tác phẩm đó bằng những năm đau đớn vật vã theo cả hai nghĩa: đau đớn về thương tật bom đạn và đau đớn trong tinh thần, trong tâm hồn.

    2

    Trước hết xin nói về Búp sen xanh (Sơn Tùng. Búp sen xanh. NXB Kim Đồng. In lần thứ bảy-2001).

    Sơn Tùng quê ở Diễn Châu, Nghệ An, sát cạnh huyện Nam Đàn quê nội quê ngoại Bác Hồ. Ngay từ thời còn trẻ anh đã được sang chơi Nam Đàn nhiều lần và có dịp tiếp xúc với ông Khiêm, bà Thanh, anh chị ruột của Bác Hồ, với các ông, bà là bạn thời thơ ấu của Bác, dần dần trong kho tư liệu của nhà văn tương lai đầy ắp những “mẩu chuyện” về cụ Hồ mà anh không tìm thấy trong “Những mẩu chuyện về cuộc đời Hồ chủ tịch” (Trần Dân Tiên). Kho tư liệu ấy (hay chính quẻ Địa Thủy Sư trong mệnh anh?) đã hun đúc ý chí anh, nuôi trong anh ước nguyện trở thành người viết chuyện Bác Hồ. Năm 1975, thương tật đầy mình, anh được người bạn đời là chị Phan Hồng Mai dìu dắt, giúp đỡ đi khắp đất nước theo bước chân Nguyễn Tất Thành từ Huế vào Phan Thiết, vào thành phố Hồ Chí Minh, đến bến Nhà rồng, vào Sa Đéc, Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến tận nơi có mộ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ Nguyễn Tất Thành. Một Búp sen xanh bắt đầu một cách đầy hào hứng và khó nhọc, như một trận đánh lớn. Trước hết là phải chiến đấu với chính mình, phải vượt qua những cơn sốc thần kinh của một cơ thể thương tật tới 81 phần trăm, phải tập luyện để có thể kẹp bút vào ba ngón tay phải còn lại để thay cho cái tay trái vụng về trong viết lách. Thứ hai là cuộc chiến đấu để tìm ra sự thật và nói lên sự thật về một nhân vật lịch sử mà mọi người đương thời đều biết và còn nhiều điều chưa biết về Nguyễn Tất Thành. Cuộc lùng lội sưu tầm tư liệu trong điều kiện đất nước mới giải phóng được vài tháng, vào những vùng còn nhiều nhạy cảm về “ý thức hệ” và mặc cảm về xã hội, mọi chuyện không dễ dàng. Nhà thơ Vân Long kể: Tìm mãi mới gặp được một cụ bà từng là bạn học chữ nho, rồi chữ quốc ngữ với Bác Hồ hồi ở Huế. Nhưng Sơn Tùng đến thăm cụ đến lần thứ 15 mới được nghe kể một số chuyện về Bác Hồ, sau đó còn được căn dặn: “Ông phải hứa với tôi là trong lúc tôi còn sống, ông không được công bố những kỷ vật, những câu chuyện tôi kể với ông. Làm vậy người ta tưởng tôi hám danh lợi, muốn được chính quyền cách mạng ban thưởng.”. Mới gặp một nhân vật có liên quan đến Bác, nhà văn còn khổ công như vậy, còn bao nhân vật nữa thì sao? (Bài báo trên). Búp sen xanh được viết trong những năm Sơn Tùng vào hào 2 quẻ Thủy Lôi Truân (1976-1981). Hào 2 bảo rằng sẽ khốn đốn đấy, khó tiến lên lắm đấy, nhưng trước mắt không phải kẻ uy hiếp mình đâu, chính là người cầu thân với mình đấy. Lại bảo rằng mọi việc trong tình trạng tiến lên thì sợ phiền lụy, nhưng vẫn có đường tốt để theo. Lại bảo rằng trước cô đơn sau không, trước khốn đốn sau không. Trong xóm làng là người hiền sĩ. Nơi hang núi (ở đây nên hiểu là nơi cao sâu, vắng vẻ) vẫn giữ được tiết nghĩa của kẻ sĩ nghèo. Cũng sẽ rơi vào tình huống “quên nơi gần, nhớ nơi xa, tránh người thân, tin người sơ, dù được nơi tin tưởng thu dùng cũng bị kẻ dưới ngờ ghét” (Những chữ in nghiêng là trong lời hào 2 quẻ Truân, sách này). Tất cả những dự đoán trên đều ẩn hiện trong quá trình viết Búp sen xanh.

    Cũng có thể nói toàn bộ quẻ Thủy Lôi Truân trong “mệnh” Sơn Tùng đã chi phối Búp sen xanh và tạo nên một Búp sen xanh mang dáng dấp quẻ Thủy Lôi Truân một cách tài tình.

    Như trên đã phân tích sơ lược, quẻ Thủy Lôi Truân phản ánh những gian truân trong thuở trời đất mới mở mang. Người xưa mô tả thời này là: vạn vật sinh sôi nẩy nở đầy khắp, nhưng trời đất còn đen tối hỗn mang, âm dương chưa giao hòa, trời đầy sấm sét, mây kéo mù, nhưng chưa thành mưa, không gian bức bối, mọi diễn tiến sinh trưởng còn khó khăn. Đây cũng chính là cái thời Việt Nam mà Sơn Tùng mô tả trong Búp sen xanh: Nguyễn Tất Thành sinh ra trong cảnh làng quê Nam Đàn sen nở đầy khắp, ao sen, cồn sen, đầm sen, nhưng xã hội bức bối trong thời thực dân Tây phương thống trị, nghĩa quân nổi dậy khắp nơi, nhưng đều thất bại, ngay ở Nam Đàn những Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Sắc các cha chú bồn chồn tìm đường cứu nước. Thời Truân đó là truân chiên của một thời mở mang trời đất, không phải truân chiên khốn khó của bế tắc. Đã có sấm, có mây chuyển động, tất rồi sẽ có mưa. Thời cơ sẽ đến. Cơ trời còn đang lúc sắp đặt hun đúc. Để thoát khỏi cái gian truân đó, cần có nhân vật anh hùng (quân tử) của thời Truân. Lời tượng quẻ Truân có câu: Quân tử dĩ kinh luân, đây là lúc người anh hùng thời Truân giương vây cánh của mình, đem tài đức của mình ra mà sắp đặt sửa sang việc thiên hạ. (Kinh luân là sắp đặt sửa sang. Kinh là phân chia ra từng sợi. Luân là dệt ra thành tấm). Việc sắp đặt sửa sang giống như việc dệt tơ, “chỉnh lý ra đường ngang sợi dọc, kết hợp tất thảy sợi tơ, mà tổ chức ra thành một tấm”, “tỷ như tổ chức cho thành một đoàn thể, kiến thiết cho được một quốc gia, xã hội, tuy lớn nhỏ có khác nhau, mà tất thảy là có tài kinh luân mới làm được” (Phan Bội Châu). Nhân vật đó chính là Nguyễn Tất Thành, người có thông minh bẩm sinh, ngay từ nhỏ đã rút tỉa, sắp xếp những đường tơ, những đường tơ của tinh thần cứu nước, để đan dệt thành một tấm tơ, tấm tơ ấy là con đường cứu nước. Sơn Tùng đã mô tả sự hình thành những “đường tơ” ấy từ những câu ca dao, câu hát xẩm, những mẩu chuyện dân gian, những nghĩa lý trong văn sách, từ cuộc tiễn biệt chú Giải San (Phan Bội Châu) lên đường đến một trời xa xôi nào đó học cái hay của người, từ những chuyến theo cha vào kinh, lần đầu tiên thấy biển và trông thấy con thuyền lại tưởng là con bò trên biển… Rồi đến sự sắp xếp “đan dệt những tấm tơ” qua các trường tiểu học Đông Ba lần đầu tiên biết thế nào là quốc ngữ, lần đầu tiên vào trường Quốc học Huế với những thày dạy người Pháp, biết rằng bên cạnh những tên thực dân Tây dương cũng còn những người Pháp của một nền tự do, bình đẳng nào đó… Những “tấm tơ” ấy cứ dài ra sau một cuộc hòa mình với những người bà con nghèo khổ xung quanh thành phố Huế (năm 1908) kéo về trước cổng tòa Khâm đòi bỏ xâu, giảm thuế mà anh hiểu là họ “đòi quyền sống”, trên đường lập nghiệp ở trường Dục Thanh – Phan Thiết, giảng những bài học về lòng yêu nước, và trên đường vào Sài Gòn làm ăn trong các xóm người phu bến tàu, với những tiếng còi tàu gọi đi xa trên bến Nhà rồng… Để đến phút cuối cùng là cuộc thổ lộ và chia tay với Út Huệ, người con gái có gương mặt như búp sen quê, khi những tín hiệu của trái tim bắt đầu rung lên cũng là lúc Nguyễn Tất Thành quyết định phải đi sang phía trời Tây xa xôi để tìm một con đường cứu nước hãy còn mơ hồ, mơ hồ nhưng đã sáng lên một niềm tin và một mục đích đã hết sức rõ ràng: phải xóa bỏ kiếp nô lệ cho nước cho dân. Anh bước ra bến với gói cơm nắm Út Huệ trao cho và lời chúc của ông già đờn “chúc cháu đi được trơn bọt lọt lạch, chân cứng đá mềm”, trong tiếng còi tàu “nhọn hoắt khoan vào không gian nhức nhối”.

    Quẻ Thủy Lôi Truân đi suốt với Búp sen xanh từ trang đầu đến những trang cuối. Đây là những dòng mở đầu: “Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của dãy Dăng Màn, Thiên Nhẫn… đã ngập chìm vào mây đen đục. Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đã ngả màu sẫm. Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nhìn về xa xa như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt. Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời chì. Tiếp theo roi chớp là tiếng trời gầm…”. Còn đây là mấy dòng ở một trang cuối sách: “Sáng ngày Năm, tháng Sáu, năm Một ngàn chín trăm mười một. Sương sớm phủ nóc Nhà Rồng. Dòng sông Sài Gòn cong vòng như lưng người già đã trải qua nhiều khúc đường đời khổ ải. Trời ngả màu chì. Cơn mưa đen tháng Sáu dấy lên.” Thật là thú vị. Đầu sách là Mây Sấm. Cuối sách là Mưa. Bao trùm lên là bầu trời màu chì của thời Truân. Trên cái nền màu chì ấy sáng lên hình ảnh nhân vật người quân tử thời Truân mở nước Nguyễn Tất Thành: Anh đi thuận gió xuôi buồm / hỡi những phương trời xa lạ.

    Quẻ Thủy Lôi Truân có 6 hào. Mỗi hào là một thời Truân, một cảnh Truân, đòi hỏi người quân tử thời Truân phải biết cách ứng xử cho hợp với thời thế. Cả sáu hào đều thể hiện trong từng đoạn đời tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành. Hào 1 bảo rằng tuy là người chân chính, có chí cao (hào dương), nhưng vị trí còn thấp, muốn tiến lên nhưng còn dùng dằng (chần chờ). Tốt hơn cả là giữ gìn sự chính đáng và xây dựng lực lượng, gây dựng hiền tài, đợi thời cơ. Hào này ứng với chặng đường cha con Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Tất Thành ở quê Nam Đàn, biết dân nước mình bị Tây dương ức hiếp, chí lớn muốn noi theo các bậc đàn anh như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, nhưng thấy mình phận mỏng, tài thấp, chỉ còn cách ra sức học hành, liên kết với những người giỏi giang cùng chí hướng như Phan Văn San (Phan Bội Châu, hơn Nguyễn Sinh Sắc vài tuổi), Vương Thúc Quý nuôi cho nhau tài chí, tìm và đợi thời cơ.

    Hào 2 quẻ Truân bảo rằng tuy có đức trung chính đấy nhưng ở thời Truân còn chưa đủ cơ hội tiến lên, còn dùng dằng chưa biết thân với ai, dựa vào ai, đặc điểm thời này là người mình coi là thần tượng thì còn xa và cách trở (hào 5 dương), người gần bên mình tưởng xấu, lại chính là người cầu thân với mình (hào 1 dương), cái tỉnh táo thời này là ở chỗ biết phân biệt tốt xấu (phỉ khấu hôn cấu: không phải kẻ cướp, là người cầu hôn) để nương dựa và đi theo. Búp sen xanh có những chương, những đoạn thật hay tả những tình huống này của anh hùng thời Truân. Bà Hà Thị Hy thân mẫu của Nguyễn Sinh Sắc là cô gái xinh đẹp, múa đèn dẻo, hát hay, bị trai làng hùa nhau bài báng đến nỗi ế chồng, nhưng chính lại là những người ham muốn kết hôn với mình, sau thông cảm mở đường cho người họ Nguyễn Sinh làng bên sang cưới hỏi (Búp sen xanh, SĐD trang 30-34). Khi Nguyễn Tất Thành đã lớn, theo cha đi Huế lần thứ hai, gặp thày Lê Văn Miến giáo sư trường Quốc học tận tình giúp đỡ. Nhưng lúc đầu còn vô cùng e ngại vì thày Miến đã từng đi du học ở chính nơi có kẻ Tây dương áp bức nước mình, trong số những bạn học của thày Miến có những kẻ trung thành với thực dân, như Hoàng Trọng Phu, Thân Trọng Huề. Khi thày Miến ngỏ ý muốn giúp đỡ Nguyễn Tất Thành vào học trường Quốc học Huế một nơi được coi như thiên đường trường học, Nguyễn Tất Thành đã nói thẳng nếu luật lệ bắt buộc học ra phải làm thày thông thày phán thì Thành xin học trường khác. Thày Miến phải nói lên tâm sự của mình quả thật có lòng yêu nước nhưng “tam bất” (bất trí, bất trung, bất dũng), nên “xấu hổ với quốc dân” tìm đến với cha con Thành như tìm kẻ tri âm. “Nguyễn Tất Thành đã bẽn lẽn bước theo cha tiễn chân thầy Lê Văn Miến ra tận cửa thành” (SĐD, trang195). Thày Lê Văn Miến chính là một hiện tượng “phỉ khấu hôn cấu” của hào 2 quẻ Truân. Lại đến “chú” Đặng Thái Thân vâng lệnh Ông Giải San (Phan Bội Châu) từ Nhật về thuyết phục cháu Nguyễn Tất Thành sang “nước Nhật hùng cường” học cái hay của người đem về cứu nước. Cuộc mời gọi hấp dẫn xiết bao, của chính những con người lý tưởng ngay kề bên mình (hào 1 dương ngay sát hào 2 âm). Nhưng tiếng gọi của những chân trời xa phương Tây qua những tiểu thuyết Không gia đình, Những kẻ khốn nạn, qua chính những bài giảng của những thày người Pháp trong trường Quốc học có sức hút mãnh liệt hơn, đó là hào 5 dương quẻ Truân chính ứng với hào 2. Nguyễn Tất Thành đã từ chối chú Đặng Thái Thân. (SĐD, trang 207), đúng như lời hào 2: …nữ tử, trinh, bất tự, thập niên tải tự. Như người con gái (nữ tử), giữ tấm lòng trinh (trinh), khăng khăng giữ mực, (bất tự) chờ người chính ứng với mình là hào 5 dương. Cũng chẳng bao lâu nữa, mười năm là cùng (thập niên tải tự). Con số 10 chẳng qua là ước lệ, nhưng điều kỳ diệu là khoảng 10 năm sau, Nguyễn Tất Thành đi Pháp. Phan Bội Châu sau này về Huế (bị giam lỏng ở đây) tổng kết đời mình trong Kinh Dịch, giảng hào 2 quẻ Truân: “Hào này chỉ là thủ tượng bằng nam nữ tương cầu. Suy ra thày trò, bạn hữu kiết hợp với nhau cũng thấy như thế” (Phan Bội Châu – Chu Dịch – Nxb Văn Hóa Thông Tin – Hà Nội – 1996 – trang 110).

    Hào 3 bảo rằng “đuổi hươu mà không người dẫn đường chỉ lạc giữa rừng. Người quân tử biết thời cơ ấy, chi bằng bỏ đi, tiến nữa sẽ hối thẹn.”. Cảnh huống này ứng với chuyện gia đình Nguyễn Sinh Sắc bỏ quê vào Huế để có dịp được quan Đào Tấn –vừa là người bạn- giúp đỡ cho vào dự các buổi bình văn trường Quốc Tử Giám. Chẳng khác gì “vào rừng đuổi hươu”, Đào Tấn ân cần giúp đỡ nhưng chưa phải “người dẫn đường”, chính Đào Tấn cũng phải về quê phụng dưỡng mẹ già. Vậy là “lạc giữa rừng”. Nguyễn Sinh Sắc phải đi ở trọ, cách xa kinh thành, dạy học thêm nuôi vợ và hai con. Khi ông cử Sắc phải vâng mệnh vua đi chấm thi ở Thanh Hóa, bà Hoàng Thị Loan ở trong thành nội Huế, bụng mang dạ chửa, đẻ em Nhuận, bị hậu sản, chết vào ngày 22 tết. Một mình Côn (tức Nguyễn Tất Thành), sau khi nhờ bà con chôn cất mẹ, ôm em nhỏ sống cầm hơi, em cũng chết vào đúng đêm giao thừa. Ông Cử Sắc xong việc vua trở về kinh thành chỉ còn nhìn thấy mộ vợ và con. Thời cơ ấy chỉ còn cách “chi bằng bỏ đi, tiến nữa sẽ hối thẹn”, cha con đành lại dắt nhau về quê. Cái đêm Nguyễn Tất Thành ôm em bệnh, nhìn bàn thờ mẹ mà khóc, ứng với hào 6 quẻ Truân: ‘Thừa mã ban như, khấp huyết liên như”, cưỡi ngựa dùng dằng, khóc ra máu mắt.

    Hào 4 bảo rằng: “Cưỡi ngựa dùng dằng ư? Quay xuống cầu kết bạn thì tốt, không gì là không lợi”. Đây là thời buổi gian truân lội sông đã sát gần tới bờ bến rồi, cưỡi ngựa lên dốc trông thấy đỉnh rồi, (hào 4 kề bên hào 5) nhưng chưa đủ tài tiến lên nữa, phải quay xuống kết bạn với bên dưới, kết bạn như thế tạo thành thế lực, “không gì không lợi”. Là thời buổi đi cầu người hiền tài để ra tay cứu buổi gian truân và được hài lòng. Hào này ứng với chuyện Nguyễn Tất Thành rời bỏ trường quốc học Huế, chia tay anh Khiêm, vào sâu miền Trung đi tìm cha đang làm quan huyện ở Bình Khê (Bình Định), rồi lại chia tay cha vào Phan Thiết nhờ cậy các bạn đang kinh doanh mở trường Dục Thanh đào tạo các con em tìm nhân tài. Rồi lại bí mật chia tay các thày các em trường Dục Thanh trôi nổi vào nam, dựa vào các bạn phu thợ như chú Tư Lê, các người hiền như ông thày đờn ở Bến tàu, cô Út Huệ có gương mặt như “búp sen xanh”, người bạn xưa ở trường Quốc học Diệp Văn Kỳ, cả người cha từ chối lòng hiếu thảo của con trai yêu quý, mà quả quyết tìm thấy con đường làm chân phụ bếp tàu trên con tàu định mệnh mang tên Đô đốc Latusơ Tơrêvin, đậu dưới bến Nhà Rồng.

    Hào 5 quẻ Truân là hào trên đỉnh cao thời Truân, có câu: “Thời Truân, đến sự ban ơn huệ cũng vướng, không làm nổi, dù ở vị trí cao cả. Chỉnh đốn việc nhỏ thì được. Việc lớn thì xấu (…tiểu trinh cát, đại trinh hung). Anh Ba (Nguyễn Tất Thành), lúc này đúng là ở vị trí cao cả trong tâm trí mọi người, nhưng cũng đúng là “đến sự ban ơn huệ cũng không làm nổi”. Anh phải bỏ việc dạy chữ cho các phu thợ, từ chối tình yêu thầm kín và cao quý của Út Huệ, đến việc chăm sóc cha tuổi cao không không làm nổi. Việc nhỏ như nhận làm phụ bếp tàu với lương thấp thì được. Việc lớn là đặt chân tới bến bờ mong đợi thì còn… chờ.

    Và bản thân tiểu thuyết Búp sen xanh cũng có số phận gian truân. Ngày 15-3-1982 phát hành lần đầu được bạn đọc cả nước chào đón. Nhưng đến lần tái bản đầu tiên vào tháng 6-1983, thì ngay khi đang in đã có sự cố, các nhà văn gọi là “tai nạn nghề nghiệp”. Một tờ báo lớn đăng bài phê bình tác giả dám kể chuyện Bác Hồ thời trẻ tuổi “khác với chính sử”. Sách phải ngừng in, mặc dầu lần tái bản này có cả lời tựa của thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong đó ông viết: “Cuốn sách Búp sen xanh nêu một vấn đề: Ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Về vấn đề này các đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật và nói chung tất cả chúng ta, cần suy nghĩ và có thái độ. Song ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân”. Vậy mà cũng phải đến năm 1984 sách tái bản trên mới được phát hành, không có lời tựa nói trên. Sơn Tùng cũng không một lời bộc bạch ý kiến của mình. Cuốn sách cứ thế lặng lẽ chinh phục bạn đọc, từ năm 1990 đến năm 2001 in thêm sáu lần nữa, với gần ba trăm nghìn bản, và không phải sửa một chữ so với bản đầu tiên.

    3

    Nếu tinh thần quẻ Thủy Lôi Truân thấm vào từng đoạn từng chương trong Búp sen xanh, thì đến tiểu thuyết Trái tim quả đất, chúng tôi còn “đọc” thấy cả một quẻ Địa Thủy Sư – mệnh trời cho của tác giả Sơn Tùng – hiện lên đến từng chi tiết.

    Trái tim quả đất in lần đầu vào năm 1988, in lần thứ hai năm 1999, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ. Tôi có trong tay bản in này (Nxb Thanh niên –Hà Nội – 2000), Sơn Tùng gửi cho tôi kèm một bức thư ngắn: … “Cuốn sách này tôi xin lại của một người quen, nhà họ lại bị dột, ẩm mốc, anh chịu khó đọc vậy. Vì mới xin về tôi chưa kịp đọc lại, rất nhiều lỗi sai từ khâu nhà xuất bản, khi phát hành tôi không được đọc bông cuối cùng. Cuốn sách Trái tim quả đất chỉ còn mỗi cuốn lưu, anh đọc biết thêm rồi tôi xin lại, anh nhé. Tuy mới tái bản, nhưng sách ra là hết ngay. Tôi viết cuốn này giữa khi trong lòng xúc động về Tổng tư lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp của chúng ta. Tay tôi cầm bút bị rung dữ vì vết thương đang tái phát. Thân quý. 14-9-01.” Dưới là chữ ký quen thuộc gồm hình tượng vòm lá thông (Tùng) có một nét đứng sổ thẳng xuống mạnh mẽ, dưới gốc là một dấu hỏi. Làm nền cho gốc tùng là một nét dựng từ dưới bay lên chúc xuống thành đỉnh núi nhọn hoắt (Sơn), lượn lên làm đỉnh núi thứ hai thấp hơn, tạo dãy núi chập chùng.

    Nhân vật trung tâm của Trái tim quả đất là Bác Hồ. Bác cùng đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mặt trận chỉ huy chiến dịch Cao Bắc Lạng năm 1950. Đồng hành cùng nguyên thủ và tướng quân là lớp lớp “anh bộ đội Cụ Hồ” và dân công người các dân tộc miền núi thuộc chiến khu Việt Bắc. Trong đó nổi bật lên một mối tình lãng mạn kỳ diệu giữa một hàng binh Âu Phi và một cô gái Tày. Những sự việc lớn cùng các nhân vật chính yếu với tên tuổi thật, được miêu tả trong tiểu thuyết là những sự thật lịch sử, đã được ghi nhận trong các tư liệu lịch sử và báo chí. Với cấu trúc một cuốn tiểu thuyết sử thi, Sơn Tùng là người kể chuyện, đi xuyên suốt một chiến dịch lịch sử đã tạo nên một bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chín năm của Việt Nam. Nhà báo Đào Phan trong bài viết in lại ở cuối sách nhân dịp tái bản có nhận xét tài tình: “Đặt tên cho tác phẩm của mình là: “Trái tim – Quả đất”, có lẽ nhà văn Sơn Tùng mong một hiệu quả ít ai nghĩ tới: Tái hiện một chiến dịch quân sự mà qua đó lại khắc họa một diện mạo văn hóa”. “Bậc danh nhân văn hóa hiện lên giữa một chiến dịch quân sự”.

    Tôi chỉ xin có thêm một nhận xét: Sơn Tùng đã tái hiện một chiến dịch quân sự ở Việt nam giữa thế kỷ Hai Mươi hoàn toàn gắn kết với những suy luận và chỉ dẫn về chiến tranh trong một quẻ Kinh Dịch xuất hiện từ hàng ngàn năm trước, là quẻ Địa Thủy Sư. Mà là một sự gắn kết trong “vô thức”, bắt nguồn từ cái mệnh của tác giả. Một cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa người nay và người xưa trong nghệ thuật chiến tranh.

    Trong 64 quẻ Kinh Dịch có một quẻ nói về nghệ thuật làm tướng, nghệ thuật cầm quân trong chiến trận, khái quát hết sức ngắn gọn về những quy luật trong chiến tranh. Ngắn gọn bằng những hình tượng cô đọng. Đó là quẻ Địa Thủy Sư, gọi tắt là quẻ Sư. Địa là Đất. Thủy là Nước. Như trên đầu bài đã nói: Sư là Quân đội, còn là Đám đông quần chúng. Đất là tượng của quẻ Khôn, có tính thuận. Nước là tượng của quẻ Khảm. Không gì hiểm bằng nước sâu, nên Khảm có tính hiểm. Cấu trúc tượng quẻ là trong Đất có Nước, cái hiểm ở bên trong, cái thuận ở bên ngoài. Ngô Tất Tố dịch lời giảng của Trình Di bảo rằng đi đường hiểm bằng cách xuôi thuận, đó là nghĩa “trẩy quân”. Phan Bội Châu giảng thêm: Đó là tượng đem quân đi đánh giặc. Vậy quẻ Sư nói về việc binh.

    Trước hết quẻ Sư nêu ra quy luật chung về chiến tranh, chỉ gồm có 7 chữ: Sư, trinh, trượng nhân, cát, vô cựu. Sư là xuất quân. Trinh là chính đáng. Việc ra quân trước hết phải xuất phát từ chính nghĩa, mục đích là trừ bạo an dân, nhờ thế mà được nhân dân theo ủng hộ. Trượng nhân là bậc tôn nghiêm, người có tài đức, mưu trí, được quân dân uy phục (chữ trượng trong cặp từ trượng phu). Việc xuất quân đòi hỏi có vị tướng súy chỉ huy (trượng nhân) có đủ các yếu tố trên. Được như vậy việc ra quân mới “tốt lành” (cát) và cuối cùng là “không lỗi” (vô cựu). Giảng quẻ Địa Thủy Sư, Phan Bội Châu nhấn mạnh: Trong lời các quẻ Dịch, thông thường là “không lỗi”, rồi mới đến “tốt lành”, riêng quẻ Sư, nói trước là “tốt lành” (cát), rồi mới đến “không lỗi” (vô cựu) là vì sao? Vì chiến tranh bao giờ cũng là việc đổ máu, việc dụng binh là vạn bất đắc dĩ, tính mệnh của dân chúng, vận mệnh của quốc gia gửi vào tay nguyên súy, trách nhiệm quá chừng nặng, nghĩa vụ quá chừng lớn, nếu chẳng thành công, tức là tội lỗi. Vậy nên, tất phải “cát” mới được “vô cựu”. Cát, nghĩa là thành công, duy việc hành Sư mới như thế. Còn những việc khác thời phần nhiều giữ khỏi tội lỗi, tức là Cát. (Phan Bội Châu – Chu Dịch – Nxb Văn Hóa Thông tin – Hà Nội - Tr. 166). Tượng quẻ Sư là trong Đất có Nước, đất trũng xuống cho nước tụ vào, đất càng sâu, bờ càng chắc thì nước càng nhiều. Người quân tử xem tượng ấy mà học cái độ lượng, cái bao dung, chứa chất của Đất mà quy tụ nhân dân như đất tụ nước. Bởi dân ấy nước ấy là sức mạnh, thời bình là dân, thời chiến là binh.

    Những ý tưởng ấy khởi đầu mạnh mẽ ngay trên những trang vào truyện giống như một bài phóng sự kể chuyện La Văn Kiều người anh hùng trong trận đánh Đông Khê hòa mình trong lớp lớp người chào đón trên sân ga Vác-sa-va và bất chợt gặp lại người hàng binh An-giê-ri đã cùng chiến đấu trên mặt trận năm xưa, chính là người em rể của mình. Nước trong biển lớn của tình nhân loại và bờ không biên giới.

    Chương Một kể chuyện anh lính Mikhamét không tuân lệnh tên chỉ huy đốt nhà dân và bị hình phạt, được bạn cứu đã trốn khỏi khu cứ điểm thành cổ Cao Bằng ra hàng quân đội Việt Nam. Một ông già vô tình gặp trong rừng đã che chở, bao bọc, giúp anh thoát khỏi cái nguy khốn ban đầu rơi vào bàn tay đối phương. Chương Hai kể chuyện các tướng lĩnh Pháp họp bàn cách đối phó với cuộc kháng chiến của Việt Nam và âm mưu trên chiến trường Cao Bằng, cả cuộc họp diễn ra trong không khí thất vọng vì tình hình chiến sự không lợi cho Pháp, nhưng vì “mũi tên đã lao đi, dừng lại không phải dễ” và “số phận chúng ta đang bị cái mũi lao kéo theo”. Chữ “Trinh” trong quẻ Sư hiện lên: một bên là cuộc chiến tranh chính nghĩa trừ bạo an dân, một bên là xâm chiếm, cướp bóc, “ăn dân” (chữ của Sơn Tùng). Chương Hai không dừng lại ở các tướng lĩnh Pháp, bắt ngay vào cuộc xuất trận của đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một đoàn người ngựa sáu người đi trong mây núi, vào sâu trận địa tìm đến một điểm cao để đại tướng trực tiếp quan sát cứ điểm Thành cổ Cao Bằng, nơi dự tính là mục tiêu số một trong chiến dịch. Bây giờ đến chữ “Trượng nhân”. Đám tướng lĩnh Pháp có phải “trượng nhân” không? Sơn Tùng để cho các tư liệu lịch sử tự nó phơi bày một cách khách quan. Tướng Rơve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, ngay trong ngày đầu tiên đến Bắc bộ đã tự mình đi máy bay rà soát vùng biên giới phía Bắc. Rơve đã hủy bỏ tiệc chiêu đãi lớn của viên tướng tư lệnh Bắc Việt, vào ngay cuộc họp đặc biệt với các tướng lĩnh chỉ huy chiến trường. Tại đây, họ bàn đến thực trạng, không che giấu, không huyênh hoang quá lời, được nói những ý tưởng và nhận xét khác nhau. Họ đã thực sự phê phán lẫn nhau: “Chúng ta đã mắc phải cái bệnh tự cao, tự tôn: “tướng lĩnh nhà nòi”, “quân đội nhà nghề”, coi thường đối phương là “tướng du kích”, “lính dân cày”. Họ đã thực sự bàn đến công tác tham mưu: kế hoạch bao vây chia cắt Bắc Việt, khép kín vành đai Việt Bắc, phong tỏa biên giới Việt –Hoa bằng hệ thống chốt chặt quốc lộ Bốn, … tung lực lượng cơ động Lơpa, Sáctông, rút thêm một số tiểu đoàn dự bị chiến lược ở đồng bằng lên, phối hợp lùng diệt hệ thống bộ máy đầu não. Họ nói đến cái ý đồ thực sự: Chúng ta không thể để mất Việt Nam. “Hình thể nước Pháp chúng ta sẽ teo lại như một quả khế khô nếu chúng ta bị đẩy ra khỏi Việt Nam”. Như vậy họ có các yếu tố của “trượng nhân”: có uy nghiêm, có mưu trí, có tài thao lược. Chỉ thiếu một chữ Trinh: “Mũi lao đã lao đi”, họ không biết cách nào dừng lại.

    Cái chỗ khác với các tướng lĩnh Pháp của “trượng nhân” Võ Nguyên Giáp là ở chỗ này. Khi đã tận mắt thấy thành lũy kiên cố của cứ điểm Thành cổ Cao Bằng, ông nghĩ đến thực lực quân mình và xương máu của chiến sĩ, ông có một đêm không ngủ. Ông soi giọt sáng đèn pin lên tấm bản đồ: thị xã Cao Bằng, sông ba bề bao bọc, núi bốn phía dăng thành. Pháo đài, chiến lũy, hỏa lực, binh lực của địch. Đèn pin tắt. “Mắt Đại tướng, con mắt thiên nhãn xuyên qua màn đêm”. Sau cái đêm không ngủ ấy, ông đi đến một quyết định: không tiến công thành cổ Cao Bằng. Đánh vào một điểm huyệt khác trên quốc lộ Bốn làm rung động hệ thống bao vây và chia cắt của đối phương. Ông nghĩ đến Đông Khê. Những giây phút quyết định ấy cũng hiển hiện 3 chữ cuối trong 7 chữ Lời quẻ Sư: “Cát, vô cựu”. Đánh nhất định phải thắng. Chưa chắc thắng chưa đánh. Đó là Cát (tốt lành). “Cát” rồi thì mới “vô cựu” (không lỗi). “Không lỗi” là lời khen cuối cùng với nhà cầm binh. Chỉ với 7 chữ, lời quẻ Sư không bỏ sót một ý tưởng quan trọng nào. Sơn Tùng trong 2 chương dẫn truyện cũng không bỏ sót một chữ nào trong lời quẻ, đó là điều kỳ lạ.

    Quẻ Sư có sáu hào. Người xưa căn cứ vào tượng quẻ, tượng hào và vị trí các hào, vạch ra những chỉ dẫn khái quát về việc dùng binh. Có một sự trùng hợp thú vị giữa các hào quẻ Sư với những diễn biến chủ yếu của chiến dịch được miêu tả trong cuốn tiểu thuyết sử thi. Một sự gặp gỡ giữa xưa và nay, giữa quy luật muôn đời và hành trình sống động của cuộc chiến giữa thế kỷ Hai Mươi.

    Hào 1 quẻ Sư nói về việc xuất quân. Cũng chỉ có mấy chữ: “Sư xuất dĩ luật, phủ tàng, hung” (Việc xuất quân phải theo đúng luật, không khéo, hung). Luật đây là danh nghĩa xuất quân, mệnh lệnh ra quân, kỷ luật hành quân (phương hướng, tốc độ, tàng ẩn, nghi binh, sức khỏe, vũ khí, quan hệ quân dân…). Ra quân nghiêm chỉnh đúng luật, còn phải khéo léo. Khéo ở đây là phải linh hoạt, biến thông, mưu trí, tâm thiện, lòng lành, tiến quân vì dân vì nước. Không khéo thì gặp dữ (hung). Chương Ba tiểu thuyết tả cuộc xuất quân đó, qua hành trình ra mặt trận của Bác Hồ. Nguyên thủ ra trận là một sự kiện lịch sử mở đầu một kỷ nguyên mới của đất nước, bước chân hải hồ đã đi khắp thế giới đông tây, giờ đây ra chiến trường trong tư thế một “lão đồng chí” mặc bộ đồ quân phục bạc màu, bộ râu được hóa trang giấu kỹ. Có lúc bộ đội tưởng đó là một “ông già quân bưu”. Bác Hồ từ chối đi cáng, đi ngựa và có khi đi lẫn vào đoàn dân công người các dân tộc, vào nghỉ quán “tự giác” với họ, trò chuyện với họ về đời sống, về kháng chiến, về chính những lời của Bác Hồ. Có một chi tiết thú vị: Bác gặp một cụ già người Tày trước kia đã từng được Bác tặng bốn câu thơ. Cụ già đã đọc cho “lão đồng chí” nghe bốn câu thơ đã thuộc lòng mà không biết đang đọc thơ cho chính là người đã tặng thơ. Lớp lớp quân dân đi trùng điệp, hào hùng mà bí mật. Trên đường hành quân với bộ đội, Bác Hồ đã làm thơ tả quân đi trong cảnh “Canh thâm lộ cấp như thu vũ / Thần tảo sương mùng tự hải vân” (Đêm khuya móc tựa mưa thu trút / sương sớm dày như mây biển dăng). Bác làm thơ tự vịnh “Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán / So với ông Bành vẫn thiếu niên / Ăn khỏe ngủ ngon làm việc khỏe / Trần mà như thế kém gì tiên” và để cho một chú “anh nuôi” phê bình bài thơ xin sửa “một chữ rưỡi”. Đó là chữ “ăn khỏe, ngủ ngon” không tả thực về tình trạng của Bác, chú ta nhận thấy Bác ăn mỗi bữa chỉ có hai bát và ngủ thì đêm nào cũng thao thức và lo nghĩ. Ba chữ “phủ tàng, hung” (không khéo, dữ) hiện lên khi Bác Hồ ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong, Bác thấy đoạn dây cháy chậm để nổ mìn bị ngắn mất một gang tay, hỏi thì hóa ra các cháu “thực hành tiết kiệm”. Bác phê bình ngay, tiết kiệm thế nguy đến tính mạng. Một đêm kia đi đến chín giờ đêm thì gặp một con sông, có người muốn bơi qua sông lấy thuyền chở Bác qua. Bác ngăn lại bảo đi bộ suốt ngày lội sông lạnh dễ bị chuột rút, đằng nào cũng nghỉ, nghỉ ngay bên này sông.

    Hào 2 quẻ Sư nói về vai trò chỉ huy của tướng lĩnh trên mặt trận. Cũng chỉ có mấy chữ: “Tại sư trung, cát, vô cựu, vương tam tích mạng” (Ở giữa đám quân, tốt, không lỗi, được trên ba lần khen). Trong Trái tim quả đất, đó là chương 4 và những trang đặc tả Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên núi cao trực tiếp quan sát cứ điểm địch, Bác Hồ và Đại tướng chụm đầu trước bản đồ chiến dịch xem lại lần cuối kế hoạch không đánh vào thị xã Cao Bằng, chọn đánh vào điểm huyệt Đông Khê để nhử quân giặc rút từ Cao Bằng ra, chọn những đoạn đường hiểm phục kích tiêu diệt sinh lực địch. Sơn Tùng viết về chiến dịch Cao Bắc Lạng nhưng không có trang nào tả bộ đội hành quân chiếm lĩnh trận địa hoặc phục kích đợi giặc, hoặc xông pha trong bom đạn. Những trang hay nhất cuốn sách tả Bác Hồ trên đài quan sát nhìn vào chiến trận đang diễn ra và liên lạc bằng điện thoại với Đại tướng trên đài chỉ huy. Tác giả không quên tả cảnh một nhà nhiếp ảnh đã ghi được bức ảnh lịch sử của Bác trên đài quan sát và đứng gần Bác lúc đó còn có một nhà văn. “Ở giữa đám quân” (tại sư trung) chính là những hình ảnh này. Ngòi bút Sơn Tùng trong bàn tay ba ngón của anh bỗng thanh thoát lên khi anh kể chuyện Bác Hồ sau khi khen đại tướng và quân dân sau đợt một trận tiến công Đông Khê, đã đọc cho Đại tướng nghe ba câu thơ vừa nẩy ra và còn thiếu một câu. Ba câu ấy là: “Huề trượng đăng sơn quan trận địa / Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân / Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đẩu” (Chống gậy lên núi xem chiến trận / Vạn trùng núi đội vạn trùng mây / Quân ta khí thế mạnh nuốt sao Ngưu, sao Đẩu). “Vương tam tích mạng” (được trên ba lần khen) là chỗ này. Phan Bội Châu bình giảng: Chẳng phải nguyên thủ chỉ làm ơn cho riêng nguyên súy. Vì nguyên súy đem một thân mà gánh việc an nguy cho cả nước, bây giờ ưu thưởng cho một người là ưu thưởng cho vạn nhà đó vậy. Ngay tối hôm đó, đại tướng báo cáo với Bác là đã thông báo cho toàn mặt trận biết Bác Hồ đang ở bên cạnh chúng ta. Bác Hồ đọc cho đại tướng nghe câu thơ thứ tư trong bài tứ tuyệt: “ Thệ diệt sài lang xâm lược quân” (thề diệt xâm lăng lũ sói cầy).

    Giảng hào 2 này, Phan Bội Châu nhấn mạnh hai chữ cương trung. Vì là hào dương nên có tính kiên cường, sáng suốt. Vì ở giữa quẻ Khảm nên có đức trung. Trung là ngay thẳng, bền vững, không thay đổi, không lay chuyển. Trung còn bao hàm đức nhân nghĩa, vì sứ mạng trừ bạo an dân mà hành động. Cương phải đi với Trung. Cương mà không trung thì dễ thành bạo liệt, dân chẳng tin theo. Đọc những trang đặc tả Đại tướng tại sở chỉ huy, chúng tôi thấy Sơn Tùng chú trọng làm nổi bật tính cương trung của người chỉ huy. Khi quân ta đã hạ được Đông Khê mà quân địch còn gan lì chưa rút khỏi Cao Bằng, có người chỉ huy đề nghị cho quân được nghỉ ngơi vài ngày, “lấy lại sức vì vừa mới đánh một trận lớn, thắng to, địch đang hoang mang chưa dám ứng cứu ngay”. Đại tướng đã yêu cầu không dừng lại, nắm vững tình hình địch (mật khẩu gọi là “cái ấy”) trong từng giờ, kiên cường sẵn sàng giáng đòn quyết định, “kiên trì diệt viện”, khi thời cơ đến. Chọn điểm quyết chiến của chiến dịch là đoạn đường Đông Khê – Lũng Phầy. Quả nhiên, cái giờ phút ấy đã đến: Tướng Cácpăngchiê đã quyết định cho Sáctông rút khỏi Cao Bằng. Một binh đoàn do Lơpa chỉ huy sẽ từ Thất Khê lên ứng cứu. Hai cánh quân sẽ gặp nhau tại một điểm trên đường số 4 và hỗ trợ nhau rút về Thất Khê. Quân ta đã vượt qua những đỉnh núi đá tai mèo, đánh một đòn bất ngờ từ trên cao xuống. Ngay cả khi truy kích địch, bộ ta hy sinh hàng trung đội, sau khi bắt sống tên quan năm Lơpa, có người chỉ huy quân ta đã đề nghị cho chiến sĩ nghỉ một ngày. “Hai giọt lệ trong khóe mắt long lanh. Một thần khí truyền ra tiếng nói: - Đồng chí hãy nghe tôi nói. Cái giờ phút thời gian là lực lượng sao lại xin cho bộ đội nghỉ một ngày? Không! Tiếp tục truy kích địch đến cùng. Bắt sống bằng được Sáctông!”.

    Hào 3 quẻ Sư nói về tình huống thất bại trong chiến tranh. Cũng chỉ có mấy chữ: “Sư, hoặc dư thi, hung”. “Sư” là ra quân, “hoặc” là đến nỗi, “dư” là xe cũng có nghĩa là chở, “thi” là thây xác, “hung” là xấu. Ra quân mà đến nỗi xe chở thây về, xấu. Hào 3 có tượng là hào âm, bất tài. Hào 3 không ở giữa quẻ nội, vậy là bất trung. Ra quân mà bất tài bất trung thì thường là sợ địch, khinh địch, kém về mưu trí, dũng khí, nhân hòa, mất thời cơ, xe chở thây về là điều không tránh khỏi. Sơn Tùng không kể chuyện các diễn biến chiến dịch theo một chiều. Bác Hồ và đại tướng tư lệnh đã phải làm rất nhiều việc để khắc phục tư tưởng đánh giá địch thấp, “muốn có một trận thư hùng cho oai phong đánh thẳng vào cứ điểm lớn của địch”. Tác giả với ngòi bút lạnh lùng, khách quan để cho sự việc tự nó nói ra về cách đánh giá, xử lý tình tình và thời cơ của các tướng lĩnh địch, “để đến nỗi xe chở thây về”, chỉ huy trưởng đồn Đông Khê ra hàng, Lơpa và Sáctông bị bắt sống.

    Hào 4 quẻ Sư nói về một tình huống trận mạc rất phổ biến trong lịch sử chiến tranh. Có 4 chữ: “Tả thứ, vô cựu”, (Lui quân, không lỗi). Khi thấy đối phương mạnh hơn thì lui quân để bảo tồn lực lượng. Cả quẻ Dịch chỉ có 6 hào mà người xưa để hẳn ra một hào nói về lui quân, đủ biết vấn đề này quan trọng dường nào trong học thuyết về quân sự. Trong cuộc đời chỉ huy chiến trận của đại tướng Võ Nguyên Giáp ít nhất có hai lần quyết định lui quân đều thành công. Lần thứ nhất được miêu tả trong tiểu thuyết sử thi của Sơn Tùng (và đã được ghi nhận trong lịch sử chiến tranh hiện đại của Việt Nam) là đại tướng ra mặt trận, lên núi cao tận mắt quan sát cứ điểm Thành cổ Cao Bằng, sau một đêm suy nghĩ quyết định “lui quân” chuyển hướng chủ công sang cứ điểm Đông Khê. Đại tướng báo cáo với Bác Hồ tại chỉ huy sở và được Bác Hồ đồng ý. Lần thứ hai là ở Điện Biên Phủ, đối với đại tướng thì khó khăn hơn rất nhiều, bởi vì quân ta đã “kéo pháo vào” nay lại “kéo pháo ra” (Võ Nguyên Giáp – Điểm hẹn Điện Biên Phủ - Nxb Quân Đội Nhân Dân – tái bản 2002).

    Sơn Tùng mệnh quẻ Sư, chủ mệnh hào 4 “lui quân, không lỗi”. Hình như trong cuộc đời trận mạc của mình, anh không hề biết lui quân và sẵn sàng trả giá cho hành động của mình. Nhưng trong cuốn sách “mệnh” của mình, anh viết rất kỹ và đầy cảm hứng về đoạn quyết định “lui quân” của nhân vật. Anh kể về cái đêm không ngủ của đại tướng, sau một buổi trực tiếp quan sát mục tiêu cứ điểm. Ông nhớ về những lời dặn của Bác Hồ khi tiễn ông lên đường ra mặt trận rồi lan man nhớ về những năm tháng cùng hoạt động với Bác Hồ, những kỷ niệm khi Bác Hồ giao nhiệm vụ thành lập đội quân vũ trang đầu tiên, khi Bác Hồ phong hàm đại tướng cho ông. Ông nhớ khi thành lập trung đội quân giải phóng, bàn đến khẩu lệnh trong hàng quân, người biết tiếng Pháp thì thích hô: “Agốt, aroát, ắcđơ, ắcđơ…”, người biết tiếng Hoa thì “Lập chính” (nghiêm), “tả hướng”, “hữu hướng” (bên trái, bên phải, quay), mọi người đều muốn cho “oai”. Việc đến tai Bác, Bác bảo: Quân đội Việt Nam thì nhất cử nhất động phải là Việt Nam…. Khẩu lệnh của ta phải bằng tiếng ta. Hô “nghiêm, bên trái, bên phải, quay” bảo rằng không “oai” là sai. Trong buổi lễ phong tướng, Bác đọc câu thơ của người xưa: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Bác bảo: Thắng to mà phải ít tốn xương máu. Tiết kiệm máu xương là hàng đầu của mọi sự tiết kiệm trong chiến tranh. Vậy là Bác lo cho quân đội ta từ bước đi ban đầu, nghiêm nghỉ phải trái, đến đạo làm tướng. Giờ đây Bác lại đang trên đường ra mặt trận. Những ý nghĩ, những tình cảm thoạt tiên tưởng chừng như không liên quan gì đến việc cân nhắc lợi hại địch ta, tính toán tình thế, thời cơ, mưu lược, “bát quái trận đồ” của người làm tướng. Nhưng chính những ý tưởng ấy đã dẫn đến quyết định cuối cùng trước khi mở màn chiến dịch. Trước là đạo làm tướng, sau mới đến mưu cơ. Tôi thú thực, từ góc nhìn Kinh Dịch, đọc những trang này, tôi nhấm nháp từng câu.

    Hào 5 quẻ Sư nói về vai trò của nguyên thủ, vai trò của nhà lãnh đạo quốc gia đối với chiến tranh và các vấn đề quân sự. Về chiến tranh, hào 5 nói Điền hữu cầm, lợi chấp ngôn. Điền hữu cầm là vườn có chim thú vào xâm phạm. Việc ra quân chẳng qua do vườn có chim thú vào phải cất công đuổi bắt mà thôi. Lợi chấp ngôn. Việc này chỉ có lợi khi bắt được chim thú và khi phát ngôn. Chấp là bắt. Phải bắt được, ý nói phải trừ hẳn được họa xâm phạm vào vườn nhà, mới được gọi là thắng lợi. Việc này chỉ có lợi khi tuyên ngôn đàng hoàng. Ngôn là lời nói. Việc tiến hành chiến tranh phải danh chính ngôn thuận. Về các vấn đề quân sự, hào 5 nói tiếp: Trưởng tử xuất sư, vô cựu, đệ tử dư thi, trinh, hung. Việc ra quân phải giao cho người có tài đức, có uy phục, cương trung vào bậc anh cả như hào 2 quẻ Sư. Trưởng tử là con trưởng. Có được như vậy thì mới vô cựu, không lỗi. Nếu giao quân cho người thấp kém ở bậc đệ tử, con thứ, ý nói người chưa đủ sự trưởng thành, bất tài, bất trung, bất chính như hào 3 quẻ Sư, thì sẽ thất bại. Dư thi là xe chở thây về. Trường hợp như thế dù chiến tranh có chính nghĩa cũng vẫn xấu. Trinh là chính đáng, hung là xấu. Tất cả chỉ có 18 chữ: Điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, trưởng tử xuất sư, vô cựu, đệ tử dư thi, trinh, hung. Nhưng toàn là những vấn đề trọng đại của quốc gia chỉ có bậc nguyên thủ cao cả như thánh nhân mới giải quyết được. Hồ Chí Minh trong Trái tim quả đất, chính là một nhân vật như thế. Ngay từ khi phát động cuộc kháng chiến toàn quốc, Bác Hồ nói: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.”. Có nghĩa cuộc ra quân của chúng ta chẳng qua là “điền hữu cầm” mà thôi. Nhưng phải “bắt” được chim thú, thì mới lợi. Khi tiễn đại tướng Võ Nguyên Giáp lên mặt trận Cao Bằng, Bác Hồ nói: Quyết đánh thắng trận này. Chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại. Lại nói: Bác rất tin tưởng chú là Tổng tư lệnh, nay giao thêm trọng trách chỉ huy trưởng kiêm chính ủy của chiến dịch Cao Bắc Lạng, trực tiếp lãnh đạo quân, dân, chính, đảng, thực hiện mục đích chiến dịch. Cho nên chú có toàn quyền định đoạt chiến dịch Cao Bắc Lạng (trang 85). Vậy là đủ cả: Lợi chấp ngôn, trưởng tử xuất sư, vô cựu.

    Hào 6 quẻ Sư nói về chiến thắng khải hoàn. Lời hào nói: Đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng. Nguyễn Hiến Lê dịch: Khi đã khải hoàn thành công, làm người nguyên thủ, hễ việc gì quan hệ đến việc mở nước, trị nhà thì chớ dùng kẻ tiểu nhân, dù họ có chiến công. Hào này nhấn mạnh một ý mà nguyên thủ nào cũng phải trải qua khi kết thúc chiến tranh, nhớ rằng trong chiến tranh người bình thường cũng có thể lập công, khi khải hoàn hãy khen thưởng họ cho xứng đáng, nhưng trong việc trị nước thì chớ giao địa vị trọng yếu cho họ, công việc kiến thiết quốc gia phải những người tài đức mới gánh vác nổi.

    Cuốn sách đã khép lại với việc khen thưởng những người bình thường có chiến công mang dấu ấn Bác Hồ: Bác đến thăm bộ đội vừa chiến thắng và trả lời những câu hỏi của bộ đội với tình cha con, không có vẻ gì của một nguyên thủ đến cổ súy chiến công. Bác đến thăm gia đình ông Khầu cha của La Văn Kiều đã chặt cánh tay bị thương để ôm bộc phá lên diệt đồn Đông Khê, đúng lúc cả xóm bản đang làm lễ cưới –một đám cưới có một không hai thời ấy- cho cô gái Tày con ông Khầu với anh hàng binh Mikhamét người Angiêri. Mối tình của họ bắt đầu từ đầu cuốn tiểu thuyết khi anh Mikhamét từ chối không đốt nhà ông Khầu, bị hình phạt trốn khỏi trại lính, lại gặp chính ông Khầu che chở, trở thành chiến binh Hồ Chí Việt, gặp cô dân công người Tày giữa hỏa tuyến. Chính Hồ Chí Việt đã giúp cho cơ quan tham mưu chiến dịch biết rõ về chiến lũy Thành cổ. Một mối tình đi xuyên suốt chiến dịch và kết thúc bằng việc Bác Hồ quàng tấm khăn quàng lên cổ hai người. Không gì đẹp hơn.

    Đọc Trái tim quả đất tôi nghĩ rằng Sơn Tùng chỉ kể chuyện chiến dịch lịch sử Cao Bắc Lạng nên không có phần “mở nước trị nhà”. Nhưng ngờ đâu vẫn có. Khi Bác Hồ đóng vai một cụ già người Nùng Giang ghé thăm một lán trại các tù binh bị thương, một viên sĩ quan già thấy trước mặt mình hiện lên một người trí tuệ, nhân ái khác thường, đã mạnh dạn hỏi:

    -Thưa cụ, cả nước Việt Nam còn có người nào được như cụ nữa không?

    Bác cười, giọng Người hơi khôi hài:

    -Chính phủ chúng tôi còn bận kháng chiến, chưa có hoàn cảnh để mở một cuộc điều tra số người hiền tài trong cả nước, hoặc tổ chức cho nhân dân tiến cử người tài ra gánh vác việc nước để có con số thống kê mà trả lời câu hỏi của ông. (Trang 305).

    Vậy là trọn vẹn một quẻ Dịch Địa Thủy Sư đi vào tâm thức tác giả Sơn Tùng biến hóa vào tác phẩm. Tôi chỉ băn khoăn một điểm này: Do trong một giây phút xúc động nào đó khi xuất hiện những ý tưởng thiêng liêng về Bác Hồ, Sơn Tùng đã đặt tên cho tác phẩm của mình là Trái tim Quả đất, muốn tôn vinh Bác Hồ lên một đỉnh cao có tầm vũ trụ. Tuy nhiên ý tưởng cao cả và rất thơ đó đã được thể hiện trong tác phẩm, còn tên tác phẩm thì nên giản dị hơn, đúng với tính cách của nhân vật hơn, và cũng khêu gợi bạn đọc hơn. Từ góc độ quẻ Địa Thủy Sư tôi nghĩ giá như tác giả đặt tên tác phẩm là Bác Hồ ra trận. Một cái tên như thế sẽ đưa Bác Hồ về với đời thường hơn, và cũng chính vì thế cao cả hơn. Và cũng thú vị hơn đối với tác giả ngồi trên chiếu văn, trong ngõ văn của ngõ Văn Chương, Hà Nội, với bạn đọc chúng tôi nữa. 10-2006


    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Sơn Tùng

    Sinh ngày 08 – 8 - Mậu Thìn, giờ Thìn. (21-09-1928). Dương Nam. Nắng nhạt (Bạch Lộ - Tiết lệnh tháng 8): 08-09-1928. Giữa thu: 23-9-1928 (Hóa công Ly). Mệnh: Mộc (rừng xanh). Trung nguyên. Sinh giờ khí dương. Can Chi: Năm Mậu Thìn, Tháng Tân Dậu, Ngày Giáp Tý, Giờ Mậu Thìn. Mã số Can Chi: 1, 5-10; 4, 4-9; 6, 1-6; 1, 5-10. Số dương: 22. Số âm: 40.

    Tiên thiên

    Tiền vận

    Đại vận

    (Năm)

     Hỗ

    Tiên thiên

    Hậu thiên

    Hậu vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    0

    0*

    0

    1

    0

    40 – 45

    34 - 39

    28 - 33

    61 - 66

    52 - 60

    46 – 51

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    0

    0

    1*

    03 - 08

    94 - 02

    88 - 93

    82 - 87

    76 - 81

    67 – 75

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    0

    0

    Địa Thủy

     

     

    Địa Lôi

     Phục

     Thủy Lôi

     Truân

     

     

    Sơn Địa

     Bác

    Hỏa Sơn

     Lữ

     

    Hóa công: (Ly) Không. Thiên Nguyên khí: Khảm ở Tiên thiên, Hậu thiên. Địa Nguyên Khí: (Tốn) Không. Mệnh hợp cách mức trung bình. Dấu *: Hào nguyên đường chỉ chủ mệnh. Hỗ nhân quả: Đổi dấu các hào 1, 2, 5.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,920,438

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/