Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,920,137

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn: Victor Hugo

Xuân Cang

  • Thứ bảy, 18:10 Ngày 29/11/2008
  • VICHTO HUYGÔ NGỌN NÚI CAO TRONG LÒNG ĐẤT THẤP

    Victor Hugo đi vào đời sống tâm hồn của tôi từ rất sớm với tác phẩm Những kẻ khốn nạn, bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), sau này những người khác dịch là Những người khốn khổ. Nhưng phải đến năm 1988, tôi mới được biết thật đầy đủ về nhà văn yêu quý qua tác phẩm chân dung mang tên Víchto Huygô của Viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp Alanh Đờcô. Sách dày 1036 trang, do nhà Libreri Acađêmích Peranh - Pari xuất bản, in xong vào tháng 10 năm 1988. (Alain Decaux, de L’Académie francaise: Victor Hugo. Librairie Académique Perrin - Paris). Năm ấy Alanh Đờcô sang thăm Việt Nam nhân danh Bộ trưởng phụ trách vấn đề các nước nói tiếng Pháp. Tôi ở trong số những người được Đại sứ quán Pháp tặng sách. Nhân đây tôi xin cảm ơn tác giả và Đại sứ quán Pháp. Vậy là tôi ở trong số các bạn đọc Việt Nam đầu tiên của cuốn sách dày dặn, mang tính khoa học và nghệ thuật cao, được biên soạn hết sức công phu, về nhà văn vĩ đại Víchto Huygô của Alanh Đờcô. Đọc lôi cuốn, hấp dẫn như một cuốn tiểu thuyết. Năm ấy, tôi chưa có dịp nghiên cứu Kinh Dịch và Hà Lạc nên những dẫn liệu về ngày giờ sinh của nhà văn cũng chỉ có ý nghĩa như một tư liệu lịch sử. Nhưng một khi đã được trang bị một cái nhìn của người phương Đông, tôi bèn thử biến ngày giờ sinh của nhà văn theo lịch mặt trời thành lịch Can Chi (có tính đến múi giờ) và tìm đến một cấu trúc Hà Lạc trời đất dành cho Víchto Huygô. Thì bỗng thấy Víchto Huygô (V. H.) hiện lên trước mắt mình với những ấn tượng khác lạ như chưa bao giờ thấy. Lại dành thời gian đọc lại hai tác phẩm lớn của V. H. Nhà thờ Đức Bà Pari và Những người khốn khổ, một viết thời trẻ (tiên thiên) và một viết thời có tuổi (hậu thiên), thì cũng thấy cảm quan của mình đối với tác phẩm bỗng như được nâng thêm một bậc. Vì thế mà có bài viết này để chia sẻ với bạn đọc yêu V.H. Bài được phác thảo tháng 8 năm 1999 tại Lâu đài Sênép (Bỉ) thuộc Trại sáng tác văn học Châu Âu của Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp. Nhân đây tôi cảm ơn Cộng đồng nói trên và bà Giám đốc trại sáng tác Phrăngxoa Uynma đã tận tình giúp đỡ tôi nhiều mặt, nhất là về tư liệu.

    1

    Nhà văn Víchto Huygô sinh lúc 10 giờ rưỡi tối, ngày 26 tháng Hai năm 1802, tại tỉnh Bơdăngxông cách thủ đô Pari (Pháp) khoảng 406 ki-lô-mét đường xe lửa về phía Đông Nam. Tính theo lịch Can Chi thì năm, tháng, ngày, giờ trên tương ứng với năm Nhâm Tuất, tháng Nhâm Dần, ngày Bính Thân, giờ Kỷ Hợi. Để bạn đọc biết toán Hà Lạc có thể kiểm soát được độ chính xác của bài toán này, tôi sẽ dành phần đầu bài này điểm một số bước đường đời của nhà văn vĩ đại, đối chiếu với quỹ đạo Hà Lạc mà trời đất dành cho ông, âu cũng là một cách đem lại niềm vui cho bạn. Những thời điểm cuộc đời nhà văn trích dẫn theo cuốn Vichto Huygô, của nhà Hàn lâm Alanh Đờcô*

    Cấu trúc Hà Lạc của Víchto Huygô, gồm quẻ tiên thiên là Địa Sơn Khiêm, hỗ tiên thiên là Lôi Thủy Giải, quẻ hậu thiên là Thuần Khôn, hỗ hậu thiên cũng là Thuần Khôn. Ông có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hóa công) ở quẻ Khảm thuộc Hỗ Tiên thiên.

    Quẻ tiên thiên Địa Sơn Khiêm phản ánh chặng đường 39 năm đầu đời của ông. Tượng quẻ Địa là Đất, Sơn là Núi. Đất ở trên, Núi ở dưới, Núi cao mà phải lún mình trong Đất, đây là tượng sự khiêm nhường, nên tên quẻ là Khiêm. Khiêm là khiêm tốn, nhún nhường. Người được quẻ này có cái mệnh là người có chí lớn, tài năng cao như núi, nhưng càng cao thì càng nhún. Đặc điểm quẻ Khiêm là nhún nhường không phải để lùi bước, chịu thua người, mà là để qua sông lớn. Phan Bội Châu lấy ví dụ như người lên đò, nhường cho mọi người lên trước mình lên sau cùng, nhưng khi đò quay mũi ra sông thì mình là người lên bờ trước mọi người. Hào nguyên đường, chủ mệnh chi phối các chặng đường đời là hào 3 dương duy nhất trong quẻ, bảo rằng người này có tài năng, có công lao lớn, khó nhọc nhưng vẫn nhún nhường. Khi có công lao thì nhường công góp mặt với thiên hạ. Trong mệnh của V. H. có 4 quẻ bát quái là Khôn, Cấn, Chấn, Khảm (Khôn, Cấn ở Địa Sơn Khiêm, Chấn, Khảm ở Lôi Thủy Giải – xem Phụ lục bài này). Mệnh Thủy gặp quẻ Khôn thì nhu thuận, quẻ Cấn thì có khó khăn hiểm trở, gặp quẻ Chấn thì cuộc đời sẽ xuôi dòng nhưng chẳng mấy khi nhàn hạ, còn gặp quẻ Khảm thì gặp hãm, hiểm, lành dữ không biết trước được.

    Sang đến những chặng đường về sau (hậu vận) được quẻ Thuần Khôn (Hỗ Hậu thiên cũng là Thuần Khôn). Tượng quẻ là Đất, Thuần Khôn là đất bao bọc đất, đất liền đất bao la mênh mông, là tượng của sự nhu thuận, bao bọc, bao dung, sinh sôi nảy nở, nuôi nấng, chứa tải muôn vật, như trái đất trong vũ trụ này. Hậu vận của V. H. có đến 4 quẻ Khôn, tốt cực kỳ. Nhưng chủ mệnh chi phối hậu vận đời ông là hào 6 quẻ Thuần Khôn cho biết đã đến giai đoạn âm cực thịnh, dương bắt đầu sinh, âm dương chưa giao hòa ngay được mà phải trải qua đấu tranh đến mức máu chảy đen vàng, tai họa chưa lường trước được. Làm tướng lãnh được hào này ra trận thì lập công lớn nhưng quân sĩ hy sinh nhiều, hoặc chức vị cao thì hay vượt quyền chiếm vị, hoặc địa vị xã hội ở thế chênh vênh thì tác oai tác quái. Tuy vậy, bao trùm lên tất cả vẫn có tín hiệu Hóa Công, ưu tiên năng lượng của trời đất, nhờ vậy mà có nội lực to lớn để vượt lên mọi nguy nan, gặp nhiều may mắn. Ta sẽ thấy ông đã sử dụng cái nội lực ấy trên bước đường đời như thế nào để vượt qua các hiểm họa, trở thành một nhà văn vĩ đại. Nhìn tổng thể, cuộc đời V. H. ứng nghiệm với tất cả những tín hiệu nói trên. Ông là người có chí lớn tài cao, như trái núi nằm trong lòng đất, núi trong đất nên khí chất khiêm nhường là chủ đạo. Khiêm nhường đấy nhưng đó chính là bản lĩnh vượt sông lớn. Ông đã thành công trong khó nhọc (suốt đời ông đứng viết), nhưng càng khó nhọc càng nhường nhịn, coi công lao không để hưởng vinh hoa mà để góp mặt với đời. Ông đã lâm vào những hiểm họa khôn lường, đến mức phải trốn ra khỏi nước Pháp quê hương, bị đầy ra một hòn đảo nước Anh, và tác phẩm lớn Những người khốn khổ hoàn thành ở đấy. Phải đến cuối đời mới trở về nước Pháp trong vinh quang, đoạn này ứng với hào 5 quẻ Khôn: Xiêm vàng tốt nhất.

    Căn cứ vào Cấu trúc Hà Lạc nói trên, ta hãy coi một số chặng đường của nhà văn xem ứng nghiệm đến đâu.

    Chín năm đầu đời (1802-1810) của cậu bé V. H. diễn ra trong thời vận rất thuận lợi thuộc hào 3 quẻ Khiêm: Khó nhọc mà vẫn nhún nhường, người quân tử giữ được trọn vẹn, tốt. Nhường công, góp mặt với đời. Câu này thuộc hào nguyên đường là để nói cả chặng đường dài, đối với một em bé chỉ nên hiểu là sống trong cảnh gia đình có khó nhọc, vất vả, nhưng ngoan ngoãn, nhường nhịn và sớm bộc lộ một tương lai tươi đẹp. Cậu là con thứ ba và là út. Cha là Lêôpôn Huygô, sĩ quan dưới thời đế chế Napôlêông. Năm cậu bé lên hai tuổi, ông được phong làm thống đốc một tỉnh ở Italia. Năm lên sáu tuổi, theo mẹ là bà Xôphi Tơrêbuysê sang Italia với bố, sống trong một tòa lâu đài bằng đá trắng, "cuộc sống như dệt bằng ánh sáng mặt trời". Năm lên bảy tuổi, khi cha sang công cán tại Tây ban nha thì cậu theo mẹ trở về Pari. Đó là những cuộc di chuyển vất vả của người lớn, nhưng trẻ nhỏ không phải không khốn khổ. Mà khốn khổ nhất của tuổi thơ là bắt đầu phải chứng kiến những bất hòa của cha mẹ. Những cảnh này phải đợi đến cuốn Víchto Huygô của Alanh Đờcô mới phát hiện ra, những cuốn tiểu sử trước đó bị bưng bít. Gần mẹ gần cha nhưng các chú bé sống như trong một cơn bão, “mẹ thì đau đớn, cha thì giận dữ. Khi có cha họ không có mẹ, không bao giờ cả hai.” “Mãi mãi là một mảnh của gia đình, một ý nghĩ vừa thành liền bị dập tắt, cái này xua đuổi cái kia”. Alanh Đờcô bình luận: Cực điểm của nỗi khổ đau nhân loại, ông đã có thể cảm thấy nó ngay từ thuở bé. (V.H. – Sđd. Bản tiếng Pháp. Tr. 12). “Khó nhọc” là ở chỗ này.

    Năm Kỷ Tị 1809 mệnh V. H. được quẻ Thuần Đoài hào 2. Thuần Đoài là hai lần vui vẻ. Hào 2: Thành thực vui vẻ, tốt, khỏi ăn năn gì. Thành thực nhưng không nịnh bợ, nên không lầm lỗi. Về Pari cậu được sống trong một căn nhà có ngôi vườn Phơiăngtin, một khu vườn rộng lớn, một cảnh vườn thần tiên.

    Ngôi vườn lớn, sâu và bí ẩn

    Tường cao chắn những cái nhìn hiếu kỳ

    Lối đầy hoa khép mở những hàng mi

    Và lũ bọ tía bò trên thềm đá cũ

    Và những tiếng rì rào xôn xao của gió

    Ở giữa như cánh đồng, vào sâu như cánh rừng

    (Tia sáng và bóng tối. V. H. - Sđd. Tr. 83)

    Diễn biến Nhân Quả của Thuần Đoài hào 2 là Trạch Thiên Quải hào 2 bảo: Lo lắng mà kêu gọi, đề phòng. Có chuyện gì thế nhỉ? Ở giữa khu vườn Phơiăngtin có một ngôi nhà thờ nhỏ. Năm ấy, các em nhỏ thấy ngôi nhà được chính bà Xôphi sửa sang và xuất hiện một người đàn ông đến ở. Đó là Víchto Laôri, bạn thân của gia đình, người đã từng là cha đỡ đầu của chú bé Víchto Huygô (tên Vích-to là tên lấy từ tên cha đỡ đầu), sĩ quan của Napôlêông, nhưng lúc đó đang ở nhóm chống đối đế chế, và đang phải ẩn tránh dưới sự che chở của bà Xôphi, mẹ của Víchto Huygô. Cậu bé đâu biết đến điều đó, chỉ biết đó là một người tử tế, vui vẻ thân mật, có tên là Đơ Cuốcnoai, thường chỉ bảo cho cậu nhiều câu trong sách Latinh (ở Pháp những năm ấy, trẻ con 8 tuổi đã phải học tiếng Latinh). Sau đó ít lâu, mật thám lần mò được chỗ ở của Laôri và ông bị bắt. (Lo lắng, đề phòng là ở chỗ này). Ông ở trong số 12 người bị hành hình, và phải nhiều năm sau, V. H. mới biết đó là một quý nhân của đời mình. Người bị hành hình Víchto Laôri và chú Đơ Cuốcnoai chỉ là một.

    Chặng đường từ 10 đến 15 tuổi (1811-1816), thuộc hào 4 quẻ Địa Sơn Khiêm: Làm đến đâu được đến đấy mà vẫn nhũn nhặn. Đấy là những năm Lêôpôn Huygô được phong thống đốc, cai quản mấy tỉnh ở Tây ban nha, bà Xôphi và các con có một chuyến sang Tây ban nha sống trong những lâu đài lộng lẫy và xa lạ. Đấy cũng là hai năm (1811-1812) đầy ấn tượng của tuổi ấu thơ - trong đó có sự xuất hiện sao chổi ở Tây ban nha - sau này để lại nhiều dấu vết trong nhiều tác phẩm của nhà văn. Nhưng rồi cha mẹ bất hòa, ba mẹ con lại trở về quê Pháp, để người anh cả là Aben 15 tuổi ở lại với cha. Ngôi vườn Phơiăngtin và những bạn bè cũ, trong đó có cô bé Ađen 10 tuổi, sau này sẽ là phu nhân của V. H. lại thân mật đón tiếp họ. Năm Nhâm Thân 1812 mệnh năm của V. H. là quẻ Trạch Sơn Hàm hào 5. Hàm là Cảm, quẻ nói về đời sống tình cảm. Hào 5: Không cảm với vật nào nên không hệ lụy gì. Thân với cô bé Ađen, nhưng mới là tình bạn tuổi thơ bé bỏng. Năm Quý Dậu 1813 cậu bé gặp quẻ Thiên Sơn Độn. Độn là ẩn trốn. Hào 6 quẻ Độn bảo: Ẩn trốn mà ung dung đàng hoàng, không gì không lợi. Víchto đã ẩn trốn vào thú ham mê đọc sách. Cậu bé 12 tuổi sục sạo đủ loại sách, sách nổi tiếng đương thời, sách cho trẻ em cũng như sách cho người lớn, và bập bẹ làm thơ. Hai câu thơ đầu tiên:

    Ông lớn Napôlêông

    Đánh nhau như một ông sư tử.

    (Le grand Napoléon / Combat comme un lion)

    (VH - Sđd Tr. 121)

    Hai câu thơ đó chỉ để thử tập gieo vần, nhưng cũng đã tiềm ẩn một ý chí làm lớn. Cậu cũng không đem khoe với ai. Mãi sau người ta mới phát hiện ra trong một cuốn sổ tay năm đó. Ba năm cuối của chặng đường hào 4 quẻ Khiêm (1814-1816) Ơgien cùng Víchto học ở trường nội trú với những điều kiện khắc nghiệt. Cha mẹ đã làm giấy ly dị chỉ chờ tòa án giải quyết, trong khi đó người cha giành quyền nuôi các con.

    Sau đây ta thử xem riêng năm Bính Tý 1816.

    Năm này, cậu bé V. H. vừa tròn 15 tuổi Hà Lạc, cậu được quẻ Thiên Trạch Lý h3. Lý là Lễ. Quẻ nói về sự lễ phép, trật tự, trên ra trên, dưới ra dưới, người dưới phải biết tôn trọng người trên. Hào 3 bảo rằng: Dẫm lên đuôi cọp, bị nó cắn. Kẻ vũ phu (tầm thường) mà đòi làm việc của ông vua lớn. Hà Lạc dự đoán năm này: Tự ý, tự tôn, coi đời như chẳng có ai, mưu kế không thành, lại có tính cường bạo, rước họa đến. Diễn biến Nhân Quả (hào 3 quẻ Thuần Càn) thì bảo: Người thức thời suốt ngày trí não căng thẳng như nơm nớp lo sợ ở thế nguy, nhưng không bị lỗi gì. V.H. học làm thơ “mầy mò tìm hiểu thế nào là khổ thơ, nhịp, vần”, “dần dần cậu đã thử hết mọi thể loại văn học, tụng ca, đoản ca, thơ châm biếm, anh hùng ca...” Cậu nóng lòng làm được một cái gì đó to lớn. Sau này người ta bắt gặp cậu ghi câu sau đây vào nhật ký ngày 10 tháng 7 năm 1816: Là Satôbriăng* hoặc không là gì cả. (Je veux être Chateaubriand ou rien). Nhà nghiên cứu khen câu nhật ký là ẩn giấu ý chí thiên tài, nhưng Hà Lạc bảo “Dẫm lên đuôi cọp” chính là câu này. Năm này cha mẹ cậu bé chuẩn bị cuộc ly dị, người cha, ông Lêôpôn một sĩ quan cao cấp đang thất thế, dành quyền nuôi ba con trai, cho hai anh em Ơgien và Víchto học nội trú trong một ngôi trường chật hẹp, u ám, với số tiền sống khắc khổ dưới sự cai quản của một bà cô nghiệt ngã. Hai anh em viết thư cho cha ngày 24 tháng 10 -1816: “Một ngày 4 lần chúng con đến trường dưới mưa và tuyết, cha biết đấy chúng con phải mất bao nhiêu thời giờ hong khô quần áo, làm thế nào được, chúng con không có cái để thay.” Ngày 26 tháng 12 - 1816, sau ngày Nô-en, hai em viết thư cho cha rằng “họ phải rất tủi thân trong ngày lễ của cả một năm giời, như mọi ngày khác, có nghĩa là suốt hai năm không được gặp cha mẹ”. Một ngày kia, tai hoạ đã đến. V. H. tham gia cuộc dạo chơi "bắt buộc" trong rừng, đã diễn ra một cuộc chiến đấu giữa Cừu và Sói, một hòn đá của một chú cừu hung dữ đã ném trúng đầu gối sói Vích-to, cậu bị thương nặng, đầu gối sưng to, lên cơn sốt (cường bạo, rước họa đến). Thày thuốc bắt phải nghỉ học nhiều ngày.

    Chặng đường từ năm 16 đến 21 tuổi (1817-1822) thuộc hào 5 quẻ Địa Sơn Khiêm. Đây là những năm tuyệt đẹp thuộc hào "vua" của cả một thời tiền vận 39 năm, lại đúng vào những năm sức trai đang lên, tài năng đang nảy nở. Hà Lạc bảo rằng đây là những năm: Chẳng cần có thế lực mà thu phục được nhiều người theo, nhưng phải có chút uy để chinh phục kẻ nào chưa phục mình, thì mới không gì không lợi. Đức Khiêm ứng xử với bên ngoài dù lớn cũng cần biến hóa. Có phúc dày, có vẻ đẹp tinh thần của đất mẹ bao dung, dày dặn, sức mang chở rất lớn.

    Ngay trong năm đầu của chặng đường, cậu bé 16 tuổi vào năm Đinh Sửu 1817 đã quyết định dự cuộc thi thơ hàng năm của Viện Hàn Lâm Pháp với đề tài: Niềm vui học tập (Le bonheur que procure l' étude). Chính từ cái quyết định dự thi này mà cậu con trai của Lêôpôn và Xôphi trở thành một Víchto Huygô. Cậu đã làm 334 câu thơ. Ngày thứ hai làm xong thì ngày thứ năm hết hạn cuộc thi, mà học trò nội trú chỉ được ra phố vào ngày chủ nhật, có ra phố thì mới đến được Viện Hàn Lâm gửi bài. Phải nhờ đến mẹo của anh giám thị trẻ, tốt bụng Bixcara, (anh này cũng là một "quý nhân" của cậu bé, rất yêu thơ và nhiều lần che chở cho cậu) đưa học trò đi dạo ngay trước cổng viện Hàn Lâm để có dịp lẻn vào nộp bài thi trước giờ hết hạn. Và cậu đã trúng giải khuyến khích. Một tờ báo đưa tin, bình luận về một chú bé 15 tuổi (tính tuổi dương lịch) đã làm được những câu thơ mà "rồi đây mọi người sẽ coi như một tài sản của thơ ca" (V. H. - Sđd. tr. 161). Đó là năm quẻ Thủy Sơn Kiển hào 5. Kiển là gian nan, vất vả. Hào 5: Cực kỳ gian nan, nhưng có bạn tới giúp. Quẻ Quả là Thủy Địa Tỷ hào 5: Có đức, để cả thiên hạ gần gũi với mình.

    Năm Mậu Dần 1818 cậu được quẻ Phong Sơn Tiệm, hào 6. Tiệm là tiến dần. Hào 6: Vượt ra ngoài sự thường tình. Làm người tiêu biểu, gương sáng một thời. Cậu được giải Bông Huệ vàng do viện Hàn Lâm tỉnh Tuludơ (Toulouse) tặng.

    Năm Kỷ Mão 1819 cậu được quẻ Phong Hỏa Gia Nhân, hào 1. Gia Nhân là Người nhà. Hào 1: Giữ chính được đạo nhà thì chẳng khiếm khuyết gì. Tài đức quảng đại, không những lập được nghiệp nhà, mà dựng được quốc thể, hưởng phú quý. V. H. cùng hai người anh là Aben và Ơgien (đúng là Người nhà) ra tạp chí Người bảo thủ văn học. Cái tên "Người bảo thủ..." là để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với tờ báo Người bảo thủ của Satôbriăng. Tạp chí số đầu ra ngày 11-12-1819.

    Năm Canh Thìn 1820 V. H. được quẻ Phong Thiên Tiểu Súc hào 2. Tiểu Súc là Ngăn trở nhỏ. Ngăn trở nhỏ thì vẫn tốt lành. Thánh nhân bình luận quẻ Tiểu Súc bảo rằng: Thời thế chưa cho giương đôi cánh lớn thì quay về rèn đức luyện văn, tích nhỏ thành lớn. Hào 2: Dắt nhau trở lại đạo lý thì tốt. Cùng một đường cùng đi. Quẻ Quả là Trung Phu hào 2: Cùng đức, giúp nhau nên việc. Trong toà soạn “người nhà” ấy, cậu bé V. H. là cây bút chủ lực, trong suốt năm 1820 sang đầu năm 1821, đã viết 120 bài cho tạp chí với 11 tên người viết khác nhau (V. H. - Sđd. tr. 193).

    Những năm này Víchto Huygô thành một chàng trai đầy ý chí và năng lực, cuộc sống bị lôi cuốn vào hai mục tiêu song song: nghề nghiệp văn chương và mối tình với nàng Ađen.

    Cái năm Tân Tị 1821 ấy là năm Phong Trạch Trung Phu hào 3 của V. H.. Trung phu là tin tưởng, chí thành. Quẻ tốt nhưng hào 3 xấu lắm, bảo rằng: Năm nay, không có chủ định. Không cha anh, không thày bạn, đức nghiệp chẳng thành, cử chỉ bất định. Quẻ Quả là Tiểu Súc hào 3: Vợ chồng trái mắt nhau. Vì cương quá, nên bị có kẻ ghìm lại. Tờ tạp chí chỉ sống được 16 tháng. Kết thúc tờ tạp chí đầu tiên trong đời. Tập sự viết cuốn tiểu thuyết đầu tay, và ra tập thơ đầu "Thơ ngắn và những bài thơ khác" (Odes et autres poésies). Đây cũng là năm bà Xô-phi lâm bệnh và chết vào ngày 27-6. Không biết có phải là tiếng nói của số phận hay không. Sinh thời, bà là người không tác thành cho mối tình của Víchto và Ađen, chỉ vì hai người còn chưa trưởng thành, sự nghiệp và tài sản của V. H. còn mỏng mảnh, của hồi môn của Ađen chẳng có là bao... Khi bà chết, chỉ có hai anh em Ơgien và Víchto ở bên cạnh. Hai người con đưa đám mẹ xong, Vích-to buồn rầu đến gia đình Ađen báo tin. Thì lại đúng vào ngày sinh nhật của cha Ađen. Qua cửa kính, Víchto thấy Ađen đang trong vũ điệu vui mừng. Víchto lặng lẽ ra về. Hôm sau hai trẻ gặp nhau, Víchto báo tin mẹ mất. Ađen xúc động nói: "Còn em thì đang nhảy múa". Chính cái chết của người mẹ và sự tương phản của cảnh ngộ làm cho hai bạn trẻ xích lại gần nhau hơn nữa.

    Cuối năm 1822 họ làm lễ thành hôn. Đây cũng là năm cực tốt của chàng trai, được quẻ Thiên Trạch Lý h4: Tôn kính người trên, được toại ý.

    Chúng tôi điểm một số sự kiện khác có dấu ấn trong cấu trúc Hà Lạc của nhà văn.

    Năm Canh Dần 1830 là năm Địa Thiên Thái của V. H. chủ mệnh hào 2. Thái là hanh thông, yêu thích, hòa thuận. Tượng quẻ là âm dương, trời đất giao cảm. Hào 2 bảo rằng: Bao dung cả sự hoang phế (những tệ hại cũ), dùng cách cương quyết mạo hiểm như lội qua sông, không bỏ sót việc (hoặc người) xa, không nghĩ đến bè đảng, mà phải hợp với đạo trung. Năm 1830 đã diễn ra với V. H. đúng như thế. Lúc này V. H. đã trở thành chủ soái của của trường phái văn học lãng mạn, chủ trương thoát ly khỏi nền văn học cổ điển khô cứng, cầu kỳ, xây dựng một nền văn học mới, tươi trẻ, cách tân về hình thức, gắn với thực tế cuộc sống. Vở kịch Hécnani của V. H. mang tất cả hơi thở tươi mát của chủ nghĩa lãng mạn, hoàn thành kịch bản năm 1929, đưa công diễn vào đêm 25-2-1830. Đêm sân khấu đã diễn ra như một cuộc chiến đấu giữa hai trường phái cổ điển và lãng mạn, một bên là khán giả quý tộc đầu hói, quần áo sang trọng toàn màu đen, huýt sáo ầm ĩ, với một bên khán giả cổ động viên là các trai trẻ mặc quần áo sặc sỡ, la hét như điên, vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt.

    Năm Canh Dần 1830 cũng là năm V. H. bắt tay viết cuốn tiểu thuyết lớn Nhà thờ Đức bà Pari, bắt đầu viết ngày 1-9-1830 đến ngày 15-1-1831 thì hoàn thành (Ngày này vẫn nằm trong năm âm lịch Canh Dần). Tác phẩm đã hình thành trong tâm trí, hợp đồng đã ký với Nhà xuất bản và đã hoãn nhiều lần. Tất cả chỉ còn 5 tháng rưỡi. Một ngày trôi qua là mất đi một ngày. V. H. mua một bình mực to và một áo khoác dài trùm kín từ đầu đến chân bằng len xám, bọn trẻ trong nhà lập tức gọi là bộ da gấu của bố. Bạn bè sau này bảo ông đi vào nhà thờ Đức bà Pari như đi vào nhà tù. Ông đã viết một mạch, ngày và đêm, đúng 4 tháng rưỡi, vừa hết bình mực thì xong cuốn tiểu thuyết vĩ đại (Cương quyết, mạo hiểm, lội qua sông). (V. H. - Sđd. Tr. 394).

    Sang năm Tân Mão 1831 ông được quẻ Địa Trạch Lâm hào 3. Lâm là tới, đến, thành đạt. Hào 3 nói về một tình huống quẻ Lâm Ngọt ngào mà tới. Còn quẻ Quả là Địa Thiên Thái hào 3: Không có gì bằng mãi mà không nghiêng. Năm này có một tai họa đã đến với V. H. một cách êm thấm, ngọt ngào, đúng như hào 3 quẻ Lâm đã báo trước. Sự việc bắt đầu từ nhà phê bình trẻ, đầy tài năng, rất yêu quý và đánh giá cao V. H., từ lâu đã trở thành bạn thân của gia đình. Đó là Xanhtơ Bơvơ. Trong khi người chồng thiên tài lao vào công việc hoàn thành các tác phẩm thơ ca, sân khấu và cuốn tiểu thuyết Nhà thờ đức Bà Pari, thì giữa Ađen và Xanhtơ Bơvơ nảy nở mối tình sâu kín. Và khi V. H. kết thúc tác phẩm cũng là lúc vết thương toé máu. Một ngày kia, Xanhtơ Bơvơ không giữ nổi đau khổ, ăn năn vì tình huống đã xảy ra, đến gõ cửa V. H. và thú nhận: Huy-gô, tôi yêu vợ anh! Lời lẽ thật là ngọt ngào, nhưng đã thành một cơn bão lòng. Niềm kiêu hãnh chảy máu. Cũng rất đúng là không có gì bằng mãi mà không nghiêng. Người đã có tất cả tình yêu của ông không còn yêu ông nữa.

    V. H. đã xử sự thế nào? Tinh thần quẻ Khiêm đã chi phối ông trong hoàn cảnh quyết liệt này. Ông đánh giá thái độ thú nhận của Xanhtơ Bơvơ là cao thượng, ông không tránh được đau khổ, nhưng ông không trách móc thù hận đối với Ađen; ông hiểu được những gì đã xảy ra đối với Ađen khi ông đam mê quên mình vì nghệ thuật, khi ông trùm kín chiếc áo len dài màu xám như bộ da gấu (V. H. viết đứng) và đi vào Nhà thờ Đức bà Pari như "đi vào nhà tù". Là một người chồng có cái nhìn tinh tế, ông hiểu những gì đã xảy ra trong đời sống cụ thể của Ađen trong khi rối bận săn sóc một đàn con, và lại bị một Xanhtơ Bơvơ trong hoàn cảnh đơn côi tìm đến với Ađen như một cứu cánh tuyệt vọng. Và họ đã sa ngã. Và chính trong giây phút cơn bão ập đến, Víchto cũng tỏ ra không kém hào hiệp, ông yêu cầu hai người đàn ông sẽ nói chuyện thẳng thắn với Ađen để nàng lựa chọn. Xanhtơ Bơvơ thừa hiểu điều đó chỉ dẫn đến thất bại của mình trong lúc này. Nhà phê bình trẻ dám nói ra câu đó (Tôi yêu vợ anh) chỉ để nói rằng tôi sẽ không lui tới nhà bạn nữa mà thôi. V. H. trái lại bảo rằng anh sẽ cứ tiếp tục đến thăm chúng tôi. Sở dĩ biết V. H. nói câu ấy vì sau này người ta được đọc bức thư của Xanhtơ Bơvơ gửi Vích-to ngày 7-12-1830 có câu: "Anh đã có lòng tốt bảo tôi hãy đến luôn như ngày trước." Ta sẽ hết sức kinh ngạc khi biết rằng năm Canh Dần 1830 của V. H. là Địa Thiên Thái hào 2 (xem Phục lục bài này). Hào 2 có câu: Bao dung cả sự hoang phế!

    Năm 1851 (Tân Hợi) là một năm đầy những sự kiện chấn động trong đời sống V. H.. Ta thử coi Hà Lạc ghi nhận ông thuộc quẻ nào trong Kinh Dịch. Đó là quẻ Trạch Thiên Quải, chủ mệnh hào 5. Quẻ Quả là Thuần Đoài hào 5. Quải là quả quyết. Quẻ nói về tinh thần của những người quân tử quả quyết diệt tiểu nhân. Kinh Dịch bảo rằng diệt tiểu nhân là rất khó, phải có quyết tâm và mưu trí, phải đúng thời cơ, phải có dũng khí tấn công bên ngoài, lại có trợ thủ khôn khéo tình báo bên trong. Năm này, V.H. đã là nghị sĩ Viện lập pháp từ năm 1849. Những năm đầu ông ủng hộ vua Lu-y Bônapác trị vì trên cơ sở hiến pháp nền cộng hòa, nhưng dần dần ông nhận thấy nhà vua càng ngày càng chuyên chế, thẳng tay đàn áp những lực lượng dân chủ, ông lên tiếng bênh vực những người nghèo khổ và rời bỏ phái hữu ủng hộ nhà vua. Nhiều lần ông công kích thẳng vào nhà vua và bị những người phái hữu chỉ trích, miệt thị. Trong một cuộc trò chuyện, giữa công chúng, ông gọi Lu-y Bônapác là Napôlêông tiểu đế để đối lại với cái tên ông ta vẫn xưng là đại đế. Năm 1851 là năm đỉnh cao của cuộc đấu tranh giữa chuyên chế và dân chủ, V. H. thường xuyên bị theo rõi, ngăn trở, phải đối phó trong nhiều tình huống bất trắc. Vì ông là nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm, nên chúng chưa làm gì được ông. Chúng tìm cách khác để hại ông. Lấy cớ do Sáclơ Huygô, con trai ông, viết một bài báo chống nhà vua, chúng ra lệnh đình chỉ tờ báo và tống giam con trai ông.

    Trong bối cảnh đó V. H. còn phải ứng xử rất khéo giữa hai người tình, một bên là nàng Giuyliét đã mười chín năm nay gắn bó, trung thành với ông, đi bên ông qua bao thử thách sau những đổ vỡ với Ađen; một bên là nàng Lêôni xinh đẹp, tươi trẻ, đầy hấp dẫn làm cho đời ông tươi thắm lại sau những gian lao, mệt nhọc. (Xin hãy nhớ: Quải là quyết diệt tiểu nhân, còn Thuần Đoài là hai niềm vui, song hỷ, hai người tình).

    Ngày thứ bảy 28 - 6 - 1851 là một ngày định mệnh. Bưu điện chuyển đến cho Giuyliét một gói nhỏ kèm một bức thư. Đó chính là thư của Lêôni. Bức thư cho Giuyliét biết rằng đã bảy năm nay, V. H. và Lêôni đi lại với nhau, hai người này đã gắn bó bền chặt, rằng họ không có bất cứ lý do nào để chấm dứt bởi vì lúc nào họ cũng yêu nhau như ngày đầu tiên, vả lại mối tình đó được mọi người tôn trọng vì nó đã diễn ra ngay trong ngôi nhà của chàng. Rằng nếu như V. H. chưa chấm dứt mối tình với bà Giuyliét thì chẳng qua đó chỉ là do thương hại và bởi vì chàng chưa biết cách nào cắt đứt một sợi dây thắt chặt đã lâu. Rằng nếu như bà thực yêu chàng thì bà nên để cho chàng được tự do và trước tiên hãy gỡ bỏ những liên lạc mà chàng không muốn có nữa, và rằng "lẽo đẽo kéo lê thà rằng không mang theo nữa"...

    Choáng váng, Giuyliét run rẩy mở cái gói: Đó là những bức thư buộc trong dải băng có đóng dấu riêng của V. H., ngay lập tức nàng nhận ra đó chính là thư của chàng. Nàng đọc và kinh sợ nhận ra cái phong cách và nhất là cái công thức thư tình không phải diễn ra chỉ một lần dưới bàn tay yêu dấu của chàng: Em là một thiên thần, anh hôn bàn chân em, anh hôn dòng nước mắt em... Tâm hồn anh đầy ắp bóng hình em, anh tôn thờ em, em là ánh sáng trong mắt anh, em là cuộc đời anh, là trái tim anh. Với tình yêu dành cho em, anh như là người duy nhất trên thế gian này phát hiện ra vẻ thiên nhiên thánh thiện của em...

    Đầu trần, họng nghẹn ngào thổn thức, Giuyliét rời căn nhà, đi lang thang trong thành phố, trên bờ sông Xen và chỉ về nhà khi chiều tối với những quyết định dứt khoát. Để cho Víchto được tự do. Còn nàng sẽ sang Anh ở với người chị.

    Những bức thư còn ngổn ngang trên bàn khi Víchto mở khóa vào phòng. Thoáng nhìn, ông đã hiểu tất cả. Alanh Đờcô kể rằng: Chúng ta không biết gì về cuộc gặp gỡ sau đó. Chỉ biết trong bức thư Giuyliét viết vào hôm sau còn giữ được, nàng nói: "Hạnh phúc của đời tôi bị tiêu diệt vào cái hôm 28 tháng 6, lúc ba giờ chiều. Tôi đặt nó vào trong nấm mồ, hôm nay..."

    Còn V. H. thì thế nào? Ông say mê Lêôni tươi trẻ, nhưng ông không thể bỏ Giuyliét. Phải xa Giuyliét là điều ông không thể chịu đựng được. Ông thật lòng thú nhận và phân trần với Giuyliét. Ông viện đến tình hình sức khoẻ xấu đi, đến những đêm mất ngủ, cả về gia cảnh, các con ông bị chính quyền ám hại, trong đó một người đã bị bắt. (V. H. - Sđd. Tr. 742-743). Cuối cùng thì Giuyliét tạm thời lui bước: nàng yêu cầu một thời gian thử thách bốn tháng cho cả ba người: Víchto Huygô, Giuyliét và Lêôni. Thời hạn thử thách đi qua rất nhanh mà xem ra cả ba người vẫn đang ở ngã ba đường. Lêôni nhắc chàng không nên quên cái quyền mà nàng đã có với chàng trong bảy năm qua. Víchto đã vụng về nói về cái quyền đó với Giuyliét. Ngày 9 tháng Chín, Giuyliét viết cho chàng:... "Em không biết một cái thứ quyền bính gì đối với anh, và suốt mười chín năm anh hưởng trọn cái phần tươi tắn nhất của đời em, chẳng đáng giá một nguyên tử nào trong cái cân của đời anh, trong sự bình yên và hạnh phúc của anh...". Ưu thế thuộc về Giuyliét. Nhưng Víchto vẫn trong cơn giằng xé: Rời bỏ nàng Giuyliét tuổi tác với bao ân tình và kỷ niệm cháy bỏng, khác nào chặt đứt một cánh tay. Rời bỏ nàng Lêôni trẻ trung, tươi mát và đầy ham muốn khác nào chặt đứt một cánh tay nữa.

    Sau Sáclơ Huygô, đến lượt Phơrăngxoa Víchto, một người con trai nữa của V. H. cũng do viết báo công kích nhà vua bị tống giam, cùng với mấy người bạn nữa. Chính trong những lúc ấy, V. H. vẫn phải bận tâm chuẩn bị những bài diễn thuyết trước nghị viện, đánh những cú đau vào chính Napôlêông "tiểu đế" hoặc đối mặt với một bầy nghị sĩ thề quyết thủ tiêu ông. Ai biết rằng giữa những nghị sĩ bên thì bêu riếu, bên thì hoan hô, diễn giả mệt nhoài còn có buổi chiều bàn bạc một bên với Giuyliét, bên kia với Lêôni, bên nào cũng đề cao chỗ hay của mình hòng đè bẹp đối phương. Năm quẻ Quải là Nhân, quẻ Thuần Đoài là Quả của ông là vậy mà.

    Ngày 2 tháng 12 - 1851 nhà vua cho dán thông cáo khắp Pari tuyên bố giải tán nghị viện, tổ chức bầu cử lại, giới nghiêm quân sự, thực chất là đảo chính, từ bỏ nền quân chủ lập hiến. Nhà V. H. bị khám xét, bản thân ông phải ẩn tránh trong các nhà bạn bè. Nhà vua thưởng 25.000 phrăng cho ai bắt hoặc giết được V. H. Ông vẫn xuất hiện trong các cuộc họp với các nhóm nghị sĩ đấu tranh cho lý tưởng dân chủ, trong các cuộc tiếp xúc với dân chúng chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa. Nhưng có nhiều tín hiệu cho biết cuộc khởi nghĩa khó thành. Những tốp lính vũ trang đi tuần tra khắp các đường phố. Nhà vua thì xảo quyệt. Nghị sĩ Bôđanh, con người nhiệt huyết đứng đầu một cuộc đấu tranh, bị bắn chết. V. H. trông thấy thi thể Bôđanh bên một hàng rào chiến luỹ bị phá. Trong những giờ phút ấy, chỉ còn Giuyliét luôn bên ông, chỉ cho ông những nguy hiểm rình rập, lo cho ông miếng bánh, tìm nhà ẩn qua đêm, thậm chí nhiều trường hợp cứu nguy, vượt hiểm trong gang tấc. Cuối cùng vẫn là Giuyliét mang đến cho ông một giấy thông hành mang tên Lăngvanh, một nhân viên tạp vụ ở một tòa báo, để ông trốn sang Bỉ. Giuyliét vẫn giữ cho ông một chiếc hòm bản thảo, trong đó có bản thảo tiểu thuyết "Những cảnh cùng khổ" khởi thảo từ năm 1845 đang viết dở cùng rất nhiều bài thơ chưa in. Nàng bí mật đưa hòm bản thảo ra khỏi nhà, giấu một chỗ để sẵn sàng đưa theo ông. Ngày 11 tháng Mười hai năm đó, một chiếc xe ngựa đưa Víchto Huygô và Giuyliét đi ra ga phía Bắc. Ông sẽ đi chuyến tàu tám giờ tối sang Bờruýchxen thủ đô nước Bỉ ngay kề cận, đến ở trọ nhà ông bà Luythơrô, bạn của Lăngvanh. Ông bà đã nhận được thư giới thiệu của Lăngvanh từ trước. Bà Luythơrô cũng chẳng phải ai xa lạ, chính là một người bạn lớn thời trẻ của Giuyliét. Vậy là cuộc "thử thách" đã kết thúc, từ đây Giuyliét vĩnh viễn thuộc về ông cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. V. H. rời xe đi về phía ga, còn Giuyliét ở lại trên xe, sẽ đi chuyến sau với hòm bản thảo. Lời hào 5 quẻ Quải nói rằng: quyết quyết theo đạo trung mà đi thì không lỗi gì. Bậc nguyên thủ phải quyết tâm đối phó kẻ tiểu nhân. Hãy quyết tâm rời bỏ nước Pháp, đừng lưu luyến bọn tiểu nhân, hãy khôn khéo đối phó với chúng. Còn lời hào 5 quẻ Thuần Đoài nói rằng: (Vui thì cứ vui nhưng) Dùng nhầm kẻ gian tà thì nguy đó. Chớ đi với Lêôni, nguy đó, hãy trở về với Giuyliét. Những ý kiến ấy tiềm ẩn trong mệnh và xui khiến ông trong đường đi nước bước.

    2

    Sau đây chúng ta coi mệnh trời đã chèo lái con thuyền sáng tác của V. H. ra sao, nói cách khác, ta đem những quẻ Dịch của đời ông soi vào tác phẩm, tìm ra những dấu ấn bắt nguồn từ thiên mệnh, khí chất, tính cách và đời sống tâm hồn, tâm linh của tác giả, nhờ đó may ra có giúp ích cho bạn đọc thêm chút nào chăng.

    Như trên đã nói, quẻ Dịch phản ánh 39 năm đầu đời (1802-1840) và có vai trò xuyên suốt đời ông là Địa Sơn Khiêm. Quẻ có biểu tượng thiên nhiên là Núi trong Đất, tượng quẻ là quả núi nằm trong lòng đất. Nên tên quẻ, mang theo nghĩa quẻ là Khiêm (nhún nhường). Quẻ Hỗ là Lôi Thủy Giải. Giải là giải quyết, giải tỏa, giải tán. Tượng quẻ là Sấm trên Nước. Bốn biểu tượng thiên nhiên Đất, Núi, Sấm, Nước tạo nên khí chất của cuộc đời ông và thẩm thấu vào tính cách, vận mệnh các nhân vật chính của tác phẩm.

    Tác phẩm của ông, thơ ca, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, rất nhiều, ở đây chỉ xin "đọc" bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ (NNKK), công trình lao động sáng tạo công phu nhất, dày dặn nhất, ngay từ khi mới ra đời đã được coi là tiêu biểu nhất của của ông.

    Ông bắt đầu khởi thảo Những người khốn khổ vào năm 1845 (Ất Tị), khi này đã sang thời hậu vận Thuần Khôn, chủ mệnh hào 6. Cái hào 6 này chi phối những năm hậu vận cho đến cuối đời: Rồng chiến ngoài nội, máu chảy đen vàng. Ngôi âm thịnh đến cực điểm, xảy tai họa. Như vậy, NNKK được khởi thảo trong bối cảnh vô cùng phức tạp của đời ông. Một mặt V. H. nhờ tài năng đã lên tới đỉnh cao, khó nhọc mà khiêm cung: được bầu vào Viện Hàn lâm, được phong tước vị Bá tước ngồi bên cạnh các hoàng thân, tướng soái, được dân chúng ngưỡng mộ. Mặt khác, bên cạnh mối tình chung thủy với Giuyliét, ông lại ngã vào cánh tay nàng Lêôni tươi trẻ. Chính mối tình đằm thắm này đã gây lại những cảm hứng để ông bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đã có ý tưởng từ lâu, lúc đầu mang tên Những cảnh cùng khổ (Les misères), sau này đổi thành Những người khốn khổ (Les misérables). Cũng chính mối tình này đã gây nên tai tiếng thành bi kịch cái giường! Cùng lúc báo chí châm biếm vẽ hình bá tước Vích-to bợ đỡ chính quyền, chế diễu ông đọc diễn văn về hòa bình, khác nào thổi bong bóng xà phòng... Ngày nay xem lại thấy vào năm 1845 hào 4 quẻ Đại Hữu đã chỉ ra bối cảnh phức tạp đó: Ở chức vị lớn mà không trung chính, thì nguy họa đến nơi. Người thức thời ở vào hoàn cảnh này, muốn tốt lành thì giàu phải coi như nghèo, thịnh phải làm như suy. V. H. đã cảm nhận được như thế. Bản thảo viết đến đâu giao cho Giuyliét chép lại đến đó và cất vào trong một cái hòm. Nhưng chỉ được vài năm, đến năm 1848, ông phải dừng, đến hàng chục năm sau mới viết tiếp NNKK, khi bị đi đầy, trôi dạt ra đảo Ghécnơdi, thuộc Anh.

    Bản thảo được mở ra và làm lại vào hai năm 1860 – 1861. Những năm này thuộc đại vận hào 3 quẻ Thuần Khôn của tác giả. Hào 3 nói rằng: Hàm súc điều tốt đẹp thì có thể bền được. Người được hào này có đức hàm súc điều hay vẻ đẹp. Hoặc đi theo việc nước, không cốt thành công cho riêng mình thì sau sẽ có kết quả mỹ mãn. Vậy là đã rõ: Tác phẩm khởi thảo vào những năm hào 6 quẻ Thuần Khôn xảy cuộc chiến với rồng, máu chảy đen vàng, tai hoạ, kết quả phải ngừng lại, bỏ vào hòm. Phải đợi đến những năm hào 3 này cảm xúc tràn ngập, điều hay vẻ đẹp hiện lên tưng bừng.

    Ta sẽ thấy những biểu tượng Đất, Núi, Sấm, Nước, cùng những thuộc tính của chúng sẽ đi vào cuộc sống và văn chương của tác giả NNKK và bản thân tác phẩm NNKK như thế nào.

    V. H. dành hẳn quyển đầu (trong số 48 quyển toàn tập) khắc họa nhân vật đức cha Biêngvơnuy Mirien, một nhân vật có ảnh hưởng xuyên suốt đối với cuộc đời nhân vật chính là Giăng Vangiăng từ sau khi gặp Mirien. Nói cách khác Mirien là nhân vật lý tưởng của Giăng Vangiăng cũng là nhân vật lý tưởng của toàn bộ tác phẩm. Nhân vật này cũng tiêu biểu cho đức Khiêm trong mệnh Địa Sơn Khiêm của tác giả. Đọc NNKK mà không đọc kỹ quyển I thì cũng coi như chưa đọc NNKK. V. H. đặt tên cho quyển I là: Một chính nhân quân tử. Người quân tử này, đức cha Mirien, có đầy đủ đức của quẻ Khôn, của tượng Đất. Trước hết là đức nhu thuận, khiêm nhường, thương người. Vừa đến nhậm chức giám mục ở thành phố Đinhơ được ít ngày, ông quyết định đổi ngôi nhà sang trọng gọi là Dinh giám mục, gồm toà nhà biệt thự bằng đá, nhiều phòng ở, phòng khách, phòng ăn, tất cả đều uy nghi, rộng rãi, vườn thênh thang có nhiều cây cổ thụ, nhiều lối dạo chơi, lấy ngôi nhà thương hai tầng, thấp và chật hẹp, với một mảnh vườn nhỏ. Biến dinh giám mục thành nhà thương, biến nhà thương thành nhà giám mục. Ông nói với ông giám đốc nhà thương: Theo tôi thì có lẽ có sự nhầm lẫn gì đây. Các ông đến hăm sáu người mà xếp vào năm sáu căn buồng con. Còn chúng tôi ở đây có ba người mà chiếm cả một ngôi nhà có thể chứa sáu chục. Đúng là người ta nhầm. Các ông đã chiếm nhà tôi, còn tôi thì lại ở nhà các ông. Xin ông trả lại nhà cho tôi. Nhà của các ông là ở bên này đây. (NNKK tập I - Nxb Văn học - Hà Nội 2001, in lần thứ VI, tr. 25. *). Đến nhà mới, ông giám mục sai tháo hết những then sắt, khoá sắt chằng chịt. Ông ghi bên rìa một trang kinh thánh: "Chỉ khác nhau tí này thôi: cửa nhà thày thuốc thì không bao giờ được đóng, còn cửa nhà tu hành thì bao giờ cũng phải để ngỏ". Khách của thày thuốc là những người ốm đau, còn "khách của riêng ta mà ta gọi là những người khốn khổ". Ông ghi vào một cuốn sách khác: Đừng nên hỏi tên họ kẻ đến xin ngủ nhờ nhà ta, phần nhiều kẻ lúng túng về cái tên của mình mới cần có chỗ trọ. (NNKK - Sđd tr. 53). Ông nói một cách khá thích thú: "Có sự dũng cảm của nhà tu hành cũng như có sự dũng cảm của người chỉ huy kỵ binh”. Có điều, ông nói thêm: "Sự dũng cảm của ta phải lặng lẽ". Lương giám mục là Mười lăm nghìn phrăng, phần chi tiêu cho riêng ông chỉ có Một nghìn phrăng, số còn lại chia làm 16 khoản cấp cho các cơ sở giáo hội nghèo, cho việc cải thiện nhà lao, các thày giáo ít lương, trường con gái nghèo, cho "kẻ khó". (NNKK - Sđd tr. 26)

    Ông giám mục là người siêng năng việc đọc và viết sách, nhưng cũng là người yêu đất, yêu việc làm vườn. Hai công việc nhưng ông chỉ dùng một tên gọi: làm vườn. "Trí óc cũng là một cái vườn", ông nói. (NNKK - Sđd tr. 44). Mảnh vườn nhỏ, chật hẹp, cũng là nơi ban đêm ông ngồi trầm ngâm, suy tưởng trước những cảnh tượng hùng vĩ của bầu trời ban đêm. Đối với ông, thế là quá đủ. Dưới chân là những cái có thể trồng trọt và thu hoạch, trên đầu là những cái có thể nghiên cứu và suy tưởng; một ít hoa dưới đất và tất cả sao trên bầu trời. (NNKK - Sđd. Tập I. Tr. 105). Có những người cày cục khai thác vàng; ông thì ông chuyên chú khai thác lòng thương. Nỗi khốn khổ bao la của thế gian là hầm mỏ của ông. Bất kỳ ở đâu, đau khổ cũng chỉ là một cơ hội cho từ tâm. Các người hãy thương yêu nhau: ông cho lời nói ấy là đầy đủ, cũng không mong ước gì hơn; và đó là tất cả học thuyết của ông.

    Đã có người bảo là trong cái thế giới đầy những cảnh tượng chém giết nhau này, mà kẻ mạnh bạo nhất là kẻ tài trí nhất, thì cái thương yêu nhau của ông chẳng qua là sự nhảm nhí.

    -Thế thì, Đức cha Biêngvơnuy đáp lại một cách ôn tồn- nếu đó là sự nhảm nhí, thì linh hồn cần náu mình trong đó như hạt ngọc trong con trai vậy.

    Chương Cơravát kể về tính khoan dung, độ lượng của ông Mirien. Có một bọn cướp dữ tợn khống chế cả một vùng núi, đứng đầu là tên Cơravát táo tợn đã từng cướp cả một kho đồ quý giá của một nhà thờ. Ai cũng sợ, không dám bén mảng đến vùng núi ấy. Ông giám mục quyết định một mình đi đến đấy, không cần người hộ tống. Mọi người lo cho ông, khuyên can ông, nhưng ông cứ đi. Ông đã đến với những người chăn dê nghèo khổ, giảng kinh, dạy chữ, trong nửa tháng. Bọn cướp đã không động gì đến ông, trái lại còn cho người chở đến tặng lại ông tất cả kho đồ chúng lấy của nhà thờ.

    Ta thấy ngay từ trang đầu tiên của tác phẩm, V. H. đã phác họa chân dung đức giám mục bằng chính quẻ Khôn của đời mình, nói cách khác, tượng quẻ Khôn đã qua ngày giờ sinh mà thâm nhập vào đời sống tâm linh của nhà văn, chi phối ngòi bút V. H.. Khôn có tượng là Đất. Trong Kinh Dịch, Đất tượng cho tính nhu thuận, lớn lao, dày dặn, sinh trưởng, bao bọc, cưu mang, hanh thông, chính đáng, bền bỉ. Đất cũng lớn lao như Trời, chỉ khác với Trời ở chỗ Trời thì mở đầu khởi xướng cho muôn vật, còn Đất thì thuận theo. Dưới ngòi bút nhà văn, ông giám mục hiện lên như một người công bằng, chân thật, phải chăng, thông minh, khiêm tốn và đúng đắn: hay làm điều lành và độ lượng, mà độ lượng cũng là một kiểu làm điều lành. (NNKK - Sđd. Tập I. Tr. 94). Lời chữ có khác, nhưng cùng một ý tưởng.

    Nhân vật Phăngtin (dùng làm tên cho Phần I) cũng là Đất, như đức cha Mirien. “Phăng tin là một bông hoa mọc lên từ trong quần chúng. Ở trong bóng tối dày đặc nơi đáy sâu xã hội nhô lên, nàng quả thật là một người không tên tuổi, không ai biết... Nàng hứng lấy một cái tên cũng như hứng nước mưa trên trời rơi xuống. Người ta gọi nàng là con bé Phăngtin. Chẳng có ai biết gì hơn nữa. Ấy một sinh mệnh con người đã bước vào đường đời như thế đấy. (NNKK - Sđd. Tập I. Tr. 206).

    Nhưng mảnh đất đức cha Mirien là mảnh đất ấm áp hào 2 quẻ Thuần Khôn trung chính, đầy đặn, độ lượng. Mảnh đất Phăngtin là thuộc hào 1 quẻ Thuần Khôn: sương mỏng còn phủ đầy, đi trên sương mỏng phải nhớ ngay rằng trời lạnh, giá đông cũng sắp tới. Thấy điều ác nhỏ phải nghĩ rằng sẽ thành điều ác lớn.

    V. H. đã tả một Phăngtin không biết thân phận mình, đi trên sương mỏng cứ xéo lên giá lạnh mà đi, chơi với bọn ác, và hiến thân cho một kẻ ác tên là Tôlômiét, ngay sau đó sinh ra Côdét. Lại thiếu cẩn trọng xem xét, dễ tin người, gửi Côdét cho vợ chồng tên chủ quán Tênácđiê lưu manh nanh nọc, lừa người, khác nào “gửi trứng cho ác”. Về sau Phăngtin phải bẻ hàm răng đẹp bán đi lấy tiền gửi Tênácđiê để nhờ nó nuôi con, nhưng nó vặt đi hết, nó chỉ nuôi Côdét cho đủ sống để mà khai thác tiền. Phăngtin chết trong thê thảm. V. H. viết: Chúng ta ai cũng có một bà mẹ: Đất. Người ta trả lại Phăng tin cho bà mẹ ấy (Sđd. Tập I. Tr. 168). May mà Phăngtin đã gặp được Giăng và nhận được ở ông một mối đồng cảm. Tôi hiểu là mối đồng cảm của ngọn núi biết mình mọc lên từ đất. Phăngtin đã nhận được lời hứa của Giăng, sẽ đi tìm Côdét.

    Côdét cũng là một biểu tượng của đất nhu thuận, hồn hậu, hình ảnh của hào 3 quẻ Thuần Khôn. Hàm súc điều tốt đẹp thì có thể bền được. Cuộc tiếp súc đầu tiên giữa ông già Giăng Vangiăng ở ven rừng gần quán trọ Tênácđiê với cô bé trên đường ra suối lấy nước đã cho ông một cảm tưởng tốt lành.

    Nếu Mirien là Đất thì Giăng Vangiăng là Núi. Hòn núi lớn nằm trong lòng đất. Cuộc đời Giăng Vangiăng chính là hình ảnh một trái núi khiêm nhường. Giăng Vangiăng vốn là một người thợ xén cây. Hàng ngày anh xén cây, gặt thuê, chăn bò, khuân vác kiếm tiền giúp bà chị góa nuôi 7 đứa cháu nhỏ, 7 miệng ăn. Chỉ vì một buổi tối chót đập miếng kính cửa sổ nhà hàng bán bánh mì, lấy trộm bánh nuôi các cháu, anh bị bắt và bị kết án năm năm tù khổ sai. Qua mấy lần vượt ngục không thành, bị bắt và kết án cả thảy 19 năm khổ sai. Ta hãy nghe V. H. kể: “... Anh cảm thấy mơ hồ như có một vật gì cổ quái đang đè lên người mình. Anh đang bò giữa vùng tranh tối tranh sáng ấy, và mỗi bận ngoái cổ lại, thử vươn tầm mắt lên cao, anh lại vừa hoảng sợ, vừa căm giận mà thấy tầng tầng lớp lớp đáng sợ nào là sự vật, nào là luật pháp, thành kiến, nào là người và việc, tất cả đều dựng sững, chồng chất đến tận mây xanh, chỗ lồi chỗ lõm một cách ghê rợn, tất cả đều mơ hồ không rõ đường nét, nhưng khối to như núi làm anh hốt hoảng” (Sđd. Tr. 161). “Khối to như núi”, tác giả đã nghĩ ra cái hình ảnh ấy từ mệnh của mình chăng?

    Với tượng Núi trong mệnh, V. H. tả Giăng Vangiăng như người trèo núi, qua đèo dốc, thác ghềnh. Đến khi được thả ra, lang thang suốt một ngày không quán trọ nào chứa chấp một kẻ rách rưới mới ở tù ra, Giăng Van Giăng lạc đến cửa nhà đức Giám mục Mirien. Anh được nghe nói những lời an ủi thương xót, được ăn no, được chỗ ngủ êm ấm. Người trèo núi đã nằm trong hang đất ấm áp. Trong Kinh Dịch, tượng Núi có nghĩa trước hết là Ngừng, là ngăn trở, như đèo dốc, như vực sâu. Cái vực sâu đã hiện lên. Nửa đêm anh thức dạy và bỗng nẩy ra hành động xấu xa: ăn cắp bộ đồ ăn bằng bạc, trèo tuờng trốn ra ngoài. Nhưng anh không thoát, bị bọn lính sen đầm tóm cổ lôi về chỗ ông giám mục. Một việc bất ngờ diễn ra trước mặt anh. Ông giám mục làm như không có chuyện gì xảy ra, không có cái vực sâu nào hết, ông bảo:

    -A anh đấy à! Thấy anh tôi mừng làm sao! Nhưng mà này, tôi còn cho anh cả đôi chân đèn nữa kia mà, cũng bằng bạc đấy, có thể bán được hai trăm phrăng. Sao anh không mang đi một thể với bộ đồ ăn?

    Ánh sáng chói lòa. Sự bao dung lớn của trái đất. Giăng Vangiăng như người sắp ngất. Nhưng chưa hết, trước khi trèo lên đến đỉnh dưới ánh sáng mặt trời anh còn phải vượt qua một tảng đá cuối cùng nữa. Ngay buổi chiều hôm ấy, khi Giăng Vangiăng ngồi nghỉ sau một bụi cây, có chú bé Giécve chơi tung đồng xu. Một đồng xu lăn đến bên chân Giăng Vangiăng. Anh đã dẫm chân lên đồng xu đó và khi chú bé đến đòi thì anh quắc mắt lên đuổi chú bé đi. Khi chú bé đã đi xa rồi, anh mệt mỏi nhấc chân lên thì đồng xu hiện lên dưới chân. Anh bàng hoàng thấy ra chính mình là một tên ăn cướp, một kẻ khốn nạn. Lần đầu tiên sau mười chín năm tù đầy, Giăng Vangiăng khóc. Anh đã biến thành một con người khác.

    Từ đây anh đã thành một một trái núi trong cuộc đời, có đỉnh cao nhô lên khỏi lòng đất, hoành tráng, sừng sững nơi trần thế. Giăng Vangiăng nhờ có nghề thủy tinh đen, biến thành ông Mađơlen thị trưởng, tỏa bóng nhân từ xuống một thành phố.

    Phẩm chất Núi cao lún mình trong lòng đất thấp thể hiện rất rõ trong nhân vật Mađơlen, thị trưởng. Ông Mađơlen sống giản dị trong gian phòng nhỏ, giường ghế bằng gỗ thường, thương người nghèo khổ, dạy dân làm ăn, hay cho tiền trẻ em...

    Nhưng rồi cái gì phải đến sẽ đến, ứng với hào 5 quẻ Khiêm. Đức Khiêm lớn nhưng đối với bên ngoài cũng phải biến hóa, phải có một chút uy thì mới chinh phục được kẻ chưa phục mình. Đến một chặng đường mới, ông Mađơlen bộc lộ cái gót chân Asin của mình: tên thanh tra cảnh sát Giave bắt đầu để ý và nhận ra ông Mađơlen chính là Giăng tên tù khổ sai mà hắn đã từng biết. Tác giả phải cho nhân vật của mình chọn lựa, một là hết sức giữ gìn, bảo vệ bí mật quá khứ, tiếp tục giữ vai trò thị trưởng bằng bất cứ giá nào, kể cả phải ra oai, gây chấn động, gây uy thế; hai là tiếp tục hành động theo cái đạo làm người dù phải trả giá đắt bằng sinh mệnh, bằng những năm tháng tù đầy mà chính mình đã nếm trải. Giăng đã chọn theo cách thứ hai: chui vào gầm xe lấy thân mình gồng lên cứu ông già bị nạn, dù việc ấy để lộ ra trước mắt tên Giave chính mình là tên tù khổ sai có sức khỏe phi thường năm xưa. Hơn nữa sẵn sàng ra trước tòa nhận mình chính là tù khổ sai Giăng Vangiăng để cứu một người bị vu oan là Giăng Vangiăng và sắp bị kết án. Vậy là mất chức thị trưởng và đi tù. Nhưng cái lợi to lớn là làm một con người chân chính, Giăng Vangiăng vẫn sừng sững như trái núi, điều này càng về cuối cuốn tiểu thuyết càng rõ ra. Giăng không có điều gì phải hối hận.

    Trước khi tự nguyện vào tù, Giăng Vangiăng còn trổ tài vượt ngục để làm một việc quan trọng: rút tiền ngân hàng lo cho hậu vận. Xong lại vào tù để tiếp tục đi nốt hào 6 quẻ Khiêm: Nổi tiếng khiêm nhường, nhưng dùng tài có giới hạn thôi (Xem hào 6 quẻ Khiêm).

    Trong mệnh V. H. còn có tượng Nước ở quẻ Khảm, thuộc quẻ hỗ Lôi Thủy Giải. Không gì hiểm bằng nước sâu, nên tượng Nước là hãm, hiểm. Cuộc đời V. H. cũng trùng trùng hiểm nguy liên quan đến nước. Ông đã từng có cô con gái chết đuối trên sông. Cuối cuộc đời ông bị đầy ra một hòn đảo trên biển nước Anh. Những người khốn khổ được hoàn thành trên đảo đó, trong một phòng kính trên gác cao ông gọi là đài quan sát, hàng ngày nhìn ra sóng gió.

    Nhân vật Giăng Vangiăng của ông vừa là Núi, vừa là Nước.

    Tượng nước hiểm tác động vào cuộc đời Giăng ngay sau cuộc vào tù lần hai. Trên một chiếc tàu thủy tên là Ôriông đang sửa chữa bên bờ cảng Tulông gần một binh công xưởng thủy quân, một thủy thủ mất thăng bằng ngã lộn cổ xuống, tay chỉ còn kịp nắm được thanh sắt bậc thang giả, người cứ đu đưa trong không gian. Không ai dám cứu anh ta. Vì người cứu cũng dễ xảy chân mất mạng như không. Giữa lúc ấy xuất hiện một cứu tinh, một người tù trong đám tù nhân lao động khổ sai trên tàu. Anh ta lấy búa đập gãy chiếc xiềng dưới chân rồi leo lên trục buồm, leo lên sàn tàu, buộc dây thừng, rồi bám thừng tụt xuống gần người bị nạn. Anh ta quắp lấy người bị nạn, buộc vào dây thừng, rồi leo lên sàn tàu kéo người bị nạn lên theo. Xong việc cứu nạn ấy, giữa tiếng hoan hô của mọi người, anh ta bỗng lảo đảo rơi xuống biển. Người ta không thể tìm thấy xác anh và cho rằng anh đã bị chết đuối dưới bụng tàu, sóng cuốn đi mất. Nhưng anh không chết, và thoát tù ngay trước mắt mọi người. Và đó là Giăng Vangiăng.

    Cuộc thoát tù ngoạn mục đó đã biến Giăng thành một ông già bề ngoài nghèo khổ nhưng thực ra rất giàu có, cả về tiền cả về nhân nghĩa. Ông già đã đến nhà tên lưu manh Tênácđiê đang đày đọa bé Côdét, cứu lấy Côdét, theo lời hứa với Phăngtin, mẹ của Côdét.

    Cứu được Côdét rồi, nhưng hai ông cháu vẫn không thoát khỏi tên thanh tra cảnh sát Giave. Nó vẫn nhận ra ông và đuổi bắt ông. Tượng Nước hiểm theo đuổi ông. Ông mang Côdét trốn chạy và sau một đêm kinh hoàng trèo tường, vượt rào, liều chết, bám, leo, ông và Côdét lọt vào một khu vườn nhà tu, may mắn lại gặp ông già Phôsơlơvăng, người làm vườn cho nhà tu, người đã được ông cứu thoát dưới gầm xe năm trước. Tượng “nước hiểm” bây giờ là cảnh nhà tu di họa của thời trung cổ, được so sánh với nhà tù. “Sau nhà tù khổ sai, bây giờ ông gặp nhà tu kín (Sđd. Tập I. Tr. 842). “Ông nhớ lại những người bạn tù ngày xưa. Họ khốn khổ quá chừng, vừa tinh mơ đã dậy, làm đến tối mịt mới về... Họ không có tên nữa, cứ số mà gọi, họ hầu như chỉ còn là những con số. Họ sống, mắt nhìn xuống, tiếng nói se sẽ, đầu trọc lốc, sống trong tủi thẹn, dưới đòn roi.”

    Còn đây là nhà tu: “Những con người ấy cũng đầu trọc, mắt cúi gằm, tiếng nói se sẽ. Họ không sống trong tủi thẹn, nhưng sống giữa những lời nhạo báng của người đời, lưng họ không lằn vết gậy đòn, nhưng vai họ chín rạn những kỷ luật nặng nề. Đối với mọi người, tên tuổi họ cũng không còn nữa, chỉ còn những tên gọi khắc khổ... Giường họ không trải nệm mong manh mà trải rơm. Ngủ không được ngủ: đêm đêm, sau một ngày mệt nhọc, vừa đặt mình, chưa ấm chỗ, vừa chập chờn thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề, thì đã phải dậy, rồi vào nhà nguyện lạnh lẽo, âm u, cầu kinh, hai chân quỳ trên nền đá...

    Hạng trên toàn là đàn ông; hạng dưới toàn đàn bà. (Sđd. Tập I. Tr. 843).

    ... Một bên giết người cướp của, gian lận, xảo trá, hung bạo, dâm dục, nghĩa là tất cả các tội ác, tất cả những hành động hại người; một bên là trong trắng, chỉ có trong trắng mà thôi.

    ... một bên thì thầm với nhau những mưu mô tội lỗi, một bên mạnh dạn thú nhận những lầm lạc.

    ... Hai nơi ấy thật giống nhau mà cũng thật khác nhau; hai hạng người khác nhau một vực một trời lại cùng chung một nhiệm vụ là chuộc tội. Một bên là chuộc tội cho chính mình. Một bên là chuộc tội cho con người”. (Tr. 845).

    Tượng Nước hiểm trong quẻ Lôi Thủy Giải của V. H. còn đi với Giăng Vangiăng đến chiến lũy của dân quân Pari trong một cuộc nổi dậy khởi nghĩa oanh liệt. Ông đã hành động cứu hiểm với tinh thần quẻ Giải (giải quyết, giải toả, giải cứu, giải tán, giải hòa) trong mệnh của V. H.. Đúng là như thế, ông xuất hiện ở chiến lũy với hành động cởi bộ trang phục quốc dân quân cho người thoát ra khỏi chiến lũy một cách bình an. Khi được lệnh bắn quân địch, ông không bắn chết nó mà bắn cho rơi chỏm mũ để nó sợ mà chạy đi. Khi tình nguyện giết tên thanh tra cảnh sát Giave, kẻ thù của chính ông, đang bị trói nằm trên bàn, ông cắt dây trói cho nó và bảo nó chạy đi, chỉ bắn một phát chỉ thiên cho đồng đội tưởng nó bị bắn rồi. Khi các nghĩa quân trên chiến lũy đã hy sinh hết, Giăng một mình xốc trên vai Mariuytx tử thương - cũng là một đối thủ của riêng ông, vì chính người này đã cướp mất Côdét của đời ông - lặn lội dưới cống ngầm Pari và bãi bùn hiểm độc nhất của cống ngầm, lại khéo léo vượt qua tên lưu manh giảo quyệt Tênácđiê lấy ông và Mariúytx làm vật thế chân cho rơi vào bẫy của Giave đang giăng ngoài cửa cống ngầm. Hành động trước đấy thả Giave trong chiến lũy, giờ đã cứu ông và Mariuytx. Giave đã giúp ông đưa Mariuytx về nhà ông ngoại, và khi đưa ông về nhà đã chủ động bỏ đi cho ông tự do. Sau đó tên chó săn này đã không trốn khỏi ăn năn thiếu trung thành với chủ, gieo mình xuống sông tự vẫn. Những trang tả cống ngầm Pari được bạn đọc coi là những trang văn chương hiện thực đến tuyệt đỉnh. Nhưng chúng tôi, các bạn đọc phương Đông còn thấy cái đẹp của những trang văn viết từ tượng quẻ Khảm (Nước) trong mệnh của nhà văn.

    Bạn đọc có thể hỏi: Nếu Mirien, Phăngtin, Côdét là Đất, Giăng Vangiăng là Núi và Nước, vậy tượng Sấm trong mệnh nhà văn thể hiện ở nhân vật nào? Xin thưa đó là Mariúytx và chú bé Gavrốt.

    Trong Kinh Dịch, quẻ Chấn có tượng là Sấm. Sấm là tượng của sự chấn động, sấm động thì khí dương sinh, âm dương giao hòa, cây cỏ tốt tươi. Người có quẻ Chấn trong mệnh là con người hành động, dám nghĩ dám làm, xông xáo đi lên. Nhưng người quẻ Chấn đi dưới trời sấm chớp cũng phải là người biết sợ, biết sợ thì mới biết giữ mình, tránh được tai nạn.

    Ngay từ nhỏ Mariúytx đã là đứa con trai duy nhất của một mối tình tuyệt đẹp giữa chàng quân nhân Gorgiơ Pôngmécxi và cô con gái xinh đẹp, đảm đang của lão tư sản bảo hoàng Gilơnormăng. Cha anh đã từng là kỵ binh, bộ binh xông pha lửa đạn dưới lá cờ Napôlêông, bị mấy chục vết thương, gươm xé ngang mặt. Mẹ mất sớm. Cha tuy là cựu chiến binh dưới thời Napôlêông, đã từng là đại tá, hưởng tước Nam, tước hiệu cao quý, nhưng sang thời quân chủ phục hưng thì mất giá trị, trở thành sĩ quan nghèo thất thế, lại bị bố vợ bảo hoàng khinh rẻ, đành bấm bụng gửi đứa con yêu quý cho ông ngoại nuôi để con sẽ được hưởng tài sản thừa kế của ông ngoại. Nhớ con quá chỉ có thể đến nhà thờ nấp nhìn trộm con khi con được bà dì đưa đi lễ. Nhưng viên sĩ quan thời Cách mạng đâu có biết gửi con trai cho ông ngoại khác nào như hào 4 dương quẻ Thuần Chấn chìm ngập giữa bốn hào âm bao vây, lời hào là sấm chìm trong bùn. Đại diện cho các hào âm đó chính là “ông ngoại”. “Lúc nào nói chuyện với đứa bé, lão cũng lớn tiếng nghiêm nghị, hoặc giơ cao cái gậy. “Đến đây ông nhỏ!”. “Lại đây thằng nhãi, thằng oắt!”. “Nói đi thằng khỉ!”. “Đứng đây đồ khốn!”.... “Nhưng mà lão rất yêu đứa bé”. Mariuytx đã lớn lên trong khung cảnh đó.

    Chỉ mỗi câu: “Nhưng mà lão rất yêu đứa bé” cũng đủ thấy chú bé là một trong hai hào dương trong quẻ Thuần Chấn. Hào dương đó vẫn là chỗ dựa của các hào âm còn lại. Mariuytx lớn lên là “một chàng trai đẹp, người tầm thước, tóc dày và đen nhánh, trán cao thông minh, hai lỗ mũi rộng, say sưa, vẻ chân thật và bình tĩnh, tất cả diện mạo tỏa ra một tinh thần tự cao, trầm tưởng và ngây thơ”.

    Cơ hội để chấm dứt quá trình “sấm chìm trong bùn” là khi chàng trai được phép ông ngoại về nhà chịu tang cha, đứng trước người cha “lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng” nhận được mảnh giấy di chúc “Hãy xứng đáng với cha và hãy trả ơn cho người đã cứu mạng ta ở Oatéclô, người ấy tên là Tênácđiê”. Nguyên câu trả ơn ấy cũng là một di sản nhân nghĩa của người cha. Pôngmécxi đâu có biết rằng ân nhân Tênácđiê ấy chính là tên lưu manh đến bãi chiến trường chỉ để tước đoạt của cải trên những xác chết, nhờ nó lật cơ thể bị thương của ông lên khiến ông thở được, ông đã hỏi tên nó để trả ơn, sau đó ông được quân y cứu thoát.

    Từ đây bắt đầu một quá trình âm thầm tìm hiểu lịch sử, tìm hiểu năm 1789, năm 1793 những năm hào hùng của cách mạng Pháp, biết thế nào là cộng hòa, là Rôbetxpie, rồi đến Napôlêông và trận Oatéclô... Những hiểu biết bị lấp kín ở nhà Gilơnormăng. Bây giờ Mariuytx không còn là hào 4 dương sấm chìm trong bùn nữa. V. H. đã tạo nên một hình ảnh nhân vật, thấy rất rõ thuộc hào 5 quẻ Lôi Thủy Giải: Người quân tử phải giải tán bọn tiểu nhân đi thì mới tốt. Cứ xem bọn tiểu nhân có lui đi không thì mới biết chắc rằng mình có là quân tử hay không. Lời hào hãy còn là một thử thách, chưa đoan chắc điều gì. Nhưng anh đã hành động. Anh tách khỏi nhà ông ngoại bảo hoàng, hòa mình với các bạn trẻ, với lý tưởng nhân ái. Khi cuộc nổi dậy của quần chúng tự phát nổ ra, anh dấn thân lên chiến lũy, mang theo cả mối tình si cùng Côdét lên theo và ngay lập tức cùng với những hành động anh hùng, trở thành một trong những người chỉ huy nghĩa quân trên chiến lũy.

    Còn chú bé Gavrốt nhân vật mà V. H. đã khắc họa rất công phu, chính là hình ảnh của hào 1 dương quẻ Thuần Chấn: Lúc sấm nổ ầm ầm mà nơm nớp lo sợ thì sau đó sẽ cười ha hả. Tốt. Chú bé là như thế. Chú có bố mẹ là vợ chồng Tênácđiê. Nhưng vợ chồng nhà này chỉ ưa hai đứa con gái, bỏ mặc chú lang thang ngoài phố, tự kiếm lấy cái ăn. Vậy là “chú bé có cha có mẹ mà lại mồ côi”. “Em bé ấy không ở đâu khoan khoái bằng ở ngoài đường”. “Với một cái đá, bố mẹ em đã vứt em vào cuộc đời và thế là em bay đi” (Sđd. Tập I. Tr. 879). “Chú không có nhà ở, không có bánh ăn, không có lửa sưởi, không có ai yêu, nhưng chú vui sướng, vì chú tự do.” (Tr. 880). Chú thuộc lòng các quy luật của đường phố, của mưa gió sấm chớp ngoài trời. Chú kiếm được chỗ trú ngụ ban đêm là cái tượng con voi khổng lồ bị bỏ quên qua các thời gian lịch sử, có cái bụng rỗng đủ chứa mấy đứa trẻ, có chỗ trải đệm rơm và mắc màn hẳn hoi. Chú thuộc lòng những tiếng lóng của đường phố, nhà gọi là xó, cảnh sát gọi là cớm, cháy gọi là om, ăn gọi là tọng, con chuột gọi là con tí... Chú có những bài hát riêng, thoạt nghe không ai hiểu gì nhưng đều có dấu vết của lịch sử đường phố. Sự tận tâm với mọi người thì không ai bằng chú. Một buổi tối, gặp hai em nhỏ lang thang đói và không biết ngủ ở đâu, chú mua bánh bằng đồng xu cuối cùng trong túi cho ăn, đem về bụng voi cho ngủ. Sáng ra giữa mưa rét, có người gọi đi cứu một người trốn tù, một việc chỉ có chú mới làm được là luồn theo một ống khói chật hẹp đưa một đầu thừng lên mép tường buộc cho người tù kia leo xuống. Hóa ra hai chú bé được cứu tối qua là hai em của chú vừa bị hất ra đường và người tù trốn sáng nay là cha của chú. Gavrốt đã nhập vào chiến lũy một cách tự nhiên, và ở đây chú đã sánh vai với những người lớn. Đó là Ănggiônrátx và các bạn anh, đó là Giăng Vangiăng, Mariúytx... “Gavrốt nhẹ nhàng hào hứng tự nhận lấy nhiệm vụ thúc đẩy công việc. Chú đi, chú lại, chú chạy lên, chú chạy xuống, chú xoa xuýt, chú tươi cười.... Chú đứng chật cả không gian vì đâu cũng có chú. Chú là cái ám ảnh gần như khó chịu vì không thể nào dừng lại một phút với chú. Cái chiến lũy to tướng cảm thấy có chú cưỡi trên lưng.” (Sđd. Tập II. Tr. 537).

    Nói tiếp về Giăng Vangiăng. Từ sau khi ra khỏi chiến lũy, cứu được Mariúytx, ông sang hào 6 quẻ Lôi Thủy Giải của nhà văn. Lời hào nói rằng: Nhằm bắn được con chim dữ đậu trên bức tường cao. Bắn được, không gì là không lợi. Mariuytx được cứu sống. Lão Gilơnormăng hòa giải với chàng. Giăng Vangiăng đưa Côdét đến gặp chàng. Đôi tình nhân gặp nhau. Cái tất yếu đến theo là đám cưới. Ông vào rừng đào tiền đưa cho Côdét làm của hồi môn 60 vạn phrăng, chỉ giữ cho mình 500 phrăng. Ông lại làm các thủ tục cho nàng có một lý lịch hợp pháp không ai có thể nghi ngờ được. “Côdét và Mariúytx bỗng nhiên từ dưới mồ bay lên thiên đường.” (Tr. 876).

    Chỉ có Giăng Vangiăng là đau khổ. “Ông đã đến giao điểm cuối cùng của thiện và ác” (Tr. 923). Mất Côdét là ông mất tất cả. Ông đã yêu Côdét với mối tình cha con, mẹ con, ông cháu, bạn bè, thậm chí cả mối tình nam nữ, tuy chưa bao giờ ông đi sang giới hạn của mối tình ấy. Ông tìm cách không có mặt trong đám cưới của đôi trẻ. Nhưng đã xong đâu, ông còn phải đối diện với những giằng xé của lương tâm. Sau nhiều ngày đấu tranh trong bão táp của tâm tư, ông quyết định đến nói với Mariúytx rằng ông chính là Giăng Vangiăng, tên tù khổ sai, người đang sống ngoài vòng pháp luật. “Thưa ông tôi đã ở ngoài rìa cuộc đời rồi” (Tr. 941) Là vì Giăng bị dằn vặt trước một vấn đề: ông không thể sống giả dối trước mặt mọi người với một cái tên giả, một lý lịch giả. “Khi người ta mang một nỗi nhục nhã ghê gớm như vậy, người ta không có quyền bắt những người khác vô tình phải chung chịu... không có quyền mang cái đau khổ của mình lén lút luồn vào cái hạnh phúc của người khác. Đến bên những người lành mạnh, mang cái ung nhọt vô hình của mình mà cọ xát vào người họ, thật là ghê tởm. Phôsơlơvăng có cho tôi mượn tên nhưng tôi không có quyền dùng cái tên ấy, hắn cho nhưng tôi không có quyền nhận. Một cái tên là một con người... Thật thế, lấy một cái tên, giấu mình dưới cái tên ấy, là một điều bất lương; những chữ cái, người ta cũng ăn cắp được như ăn cắp một ví tiền hay một chiếc đồng hồ. Là một chữ ký giả mạo bằng xương, bằng thịt, là một cái chìa khóa giả biết nói biết đi, giả mạo chìa khóa để vào nhà một người lương thiện, không bao giờ dám nhìn thẳng, chỉ nhìn nghiêng thôi, trong thâm tâm mình là một điều đê nhục, không! Không! Không! Không thể được! Thà chịu đau khổ đổ máu, đổ nước mắt, thà tự tay mình cấu xé da thịt mình, thà quằn quại thâu đêm, thà tự giày vò tim óc mình. Đó vì sao tôi đến kể hết với ông, tự nguyện nói tất cả với ông, như ông đã bảo.” Tuy nói hết với Mariúytx như thế, nhưng ông vẫn không thể xa Côdét, ông yêu cầu Mariuýtx giữ kín những sự thật trên và vẫn thu xếp cho ông gặp Côdét hàng ngày. Ông hoàn toàn chưa thể thanh thản, bởi vì sau này bỗng có người nhận ra ông không phải là Phôsơlơvăng, ông chính là Giăng Vangiăng, tù khổ sai, thì câu chuyện sẽ đến đâu? Còn Mariúytx, cái việc biết sự thật đối với anh lại đặt ra bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu câu hỏi mới anh không thể giải đáp được. Thật là trớ trêu, thật là phức tạp. Và những chuyến đi hàng ngày của ông lão đến ngôi nhà thiên đường của đôi bạn trẻ cứ ngắn dần lại. “Ngày nào ông lão ở nhà ra cũng đúng giờ, cũng vẫn đi con đường ấy, nhưng không đi đến nơi, và như cố tình mỗi ngày một rút ngắn nó lại. Tất cả nét mặt ông như nói lên một ý nghĩ duy nhất: “Thôi, ích gì?”. Con ngươi đã tắt, không còn ánh sáng nữa. Giọt nước mắt cũng ráo, không còn đọng ở khóe nữa, con mắt tư lự ấy đã khô lệ rồi.”

    Đọc đến đây tôi tự hỏi: Có cái gì trong mệnh đã dẫn dắt ngòi bút V. H. đến cái tâm lý phức tạp này của nhân vật Giăng Vangiăng? Thì ra thế này. Cái năm Tân Dậu 1861 đó, khi V. H. kết thúc bộ truyện, ông đang ở quẻ Trạch Sơn Hàm, chủ mệnh hào 5. Hàm là Cảm, quẻ nói về đời sống tình cảm. Hào 5 chủ mệnh bảo rằng đến đây, cảm thì có cảm đấy, nhưng cảm ở lưng mà thôi, lưng là chỗ tương ứng với tim nhưng không phải là tim, cảm mà vô cảm! Chủ thể ở vào thời điểm này, cảm mà vô cảm, tách ra, biệt lập, tự lập, lấy cái cao thượng, cái cô đơn để an ủi mình. Nhân vật Giăng đã đến cái đoạn cuối của đời mình, cái còn lại là tình cảm sâu đậm của ông với Côdét. Nhưng Côdét đã thuộc về người khác mất rồi. “Con ngươi đã tắt, không còn ánh sáng nữa. Giọt nước mắt cũng ráo, không còn đọng ở khoé nữa, con mắt tư lự ấy cũng khô lệ rồi.” Tuy nhiên, nhân là Hàm hào 5, nhưng quả là Tụy hào 5: đã đến lúc tụ họp được cả thiên hạ, hãy giữ tư cách nguyên thủ, cẩn trọng, tôn kính, giữ chính để xứng với ngôi vị mình. Với tác giả kết quả sẽ là cuộc tụ họp thiên hạ trên tư cách nguyên thủ, với nhân vật Giăng Vangiăng là đỉnh cao của Núi, quy tụ thiện cảm của bạn đọc, bằng cách nói hết sự thật với Mariúytx cho lòng mình thanh thản. Cuối cùng thì sự thật về con người cao cả Giăng Vangiăng cũng hiện ra đầy đủ trong đầu chàng Mariúytx tội nghiệp, nhưng tất cả đã muộn rồi. “Cỏ che, mưa xóa” là chương cuối cùng của cuốn tiểu thuyết vĩ đại. Cỏ che mưa xóa nhưng nhân vật Giăng Vangiăng còn sừng sững trong lòng bạn đọc.

    Khi các nhà phê bình văn học nói Huygô luôn luôn là nhân vật trung tâm của các tác phẩm của ông, người ta thường đối chiếu cuộc đời và hành trình tư tưởng, tâm lý của nhà văn với hành trình sáng tác, tìm ra những điểm tương đồng. Chúng tôi thử tìm ra một cách làm mới đối chiếu số mệnh của nhà văn thể hiện trong cấu trúc Hà Lạc với tác phẩm. Cần nói rằng Cấu trúc Hà Lạc của V. H. còn phản ánh trên một bình diện lớn các tác phẩm thơ, sân khấu, văn xuôi. Trên đây chúng tôi mới chỉ sử dụng một tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn. Xin để bạn đọc phán xét cách làm này của chúng tôi.

    Lâu đài Sênép (Bỉ) 1999

    TP. Hồ Chí Minh 2007

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Victo Huygô

    Sinh 24-1-Nhâm Tuất (26-02-1802 lúc 10 giờ rưỡi tối). Dương Nam. Đầu xuân (tiết lệnh tháng 1): 5-6 – 2 -1802. Giữa xuân: 21-22 - 03-1802 (Hóa công Khảm). Mệnh: Thủy (biển lớn). Hạ nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Nhâm Tuất, Tháng Nhâm Dần, Ngày Bính Thân, Giờ Kỷ Hợi. Mã số Can Chi: 6, 5-10; 6, 3-8; 8, 4-9; 9, 1-6. Số Dương: 27. Số Âm: 48.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

    (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

    (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    0

    0

    1*

    0

    0

    23-28

    17-22

    11-16

    02-10

    35-40

    29-34

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    0*

    0

    0

    0

    0

    0

    41-46

    71-76

    65-70

    59-64

    53-58

    47-52

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    1

    1

    0

    1

    1

     Địa Sơn

    Khiêm

     

     Lôi Thủy

    Giải

    Thuần

    Khôn

     

    Thuần Khôn

    Thiên Trạch

     

    Hoá công: Khảm ở Hỗ Tiên thiên. Thiên nguyên khí: (Càn) Không. Địa Nguyên khí: (Càn) Không. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu hào 3.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn. Xuân Cang. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Trieuxuan.info kính mời quý bạn đọc gửi bài cộng tác và thường xuyên góp ý phê bình để trang web của nhà văn Triệu Xuân ngày càng hoàn thiện. Chân thành cám ơn! Thư và bài gửi theo: xuantrieuwriter@gmail.com  



    * Từ đây, các ghi chú V.H. - Sđd - Sách đã dẫn - là sách trên.

    * Một nhà thơ nổi tiếng đương thời.

    * Từ đây những trích dẫn ghi NNKK - Sđd - sách đã dẫn - là trong sách trên.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,920,137

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/