Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,074,053

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn: Vũ Khiêu

Xuân Cang

  • Thứ tư, 00:20 Ngày 12/11/2008
  • 1

    Năm 1986, nhà văn Vũ Khiêu viết đôi câu đối tự vịnh nhân dịp ông bước sang tuổi bẩy mươi.

    Ly rượu bẩy mươi

    Mai trúc như quên đầu ấy bạc

    Chút lòng muôn dặm

    Hải hồ những nhớ mắt ai xanh.

    Mọi người đều khen đôi câu đối hay về nhiều vẻ. Người làm toán Hà Lạc còn thấy thêm một vẻ: nó phản ánh thật hay cái mệnh đời của ông.

    Nhà văn Vũ Khiêu, có họ Vũ là bên nội, họ Đặng là bên ngoại, lấy tên khai sinh là Đặng Vũ Khiêu, sinh ngày 19-9-1916 tức 22 tháng Tám năm Bính Thìn giờ Hợi. Cấu trúc Hà Lạc của ông mở đầu bằng quẻ Thuần Khảm, chủ mệnh hào 5 dương, có quẻ hỗ trợ là Sơn Lôi Di; do ông sinh vào tháng âm lệnh (từ Giữa Hè đến Giữa Đông) mệnh ông có hào 5 quẻ Thuần Khảm, nên hậu vận ông là quẻ Địa Thủy Sư chủ mệnh hào 5 âm, quẻ hỗ là Địa Lôi Phục (xem phụ lục). Thuần Khảm là hai quẻ Khảm liên kết với nhau. Trong Dịch học, Khảm có tượng là Nước. Nước có tính hiểm. Lời tượng quẻ Thuần Khảm có câu: Nguy hiểm không gì bằng nước sâu, nên bảo Nước là hiểm. Vậy Thuần Khảm là hai lần hiểm, trùng trùng hiểm. Thuần Khảm còn gọi là Tập Khảm. Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới là quẻ Tập Khảm. Người nào rơi vào quẻ Tập Khảm trước hết là người phải trải qua muôn trùng hiểm nạn. Nhưng quẻ Tập Khảm chỉ thực là hiểm nạn đối với người chịu bó tay không biết ứng phó với cái hiểm. Người quẻ Tập Khảm mà chủ mệnh là hào 5 dương như trường hợp Vũ Khiêu thì cũng là trùng trùng hiểm nạn đấy, nhưng lại chính là người có sứ mạng, có phẩm chất của người cứu hiểm. Phan Bội Châu giảng: Người xử vào thời hiểm chồng chất là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra cách xử hiểm thì vẫn không sợ gì hiểm. Vì quẻ Khảm có một hào dương ở giữa. Hào dương đại diện cho tính thành thực, niềm tin, sự chí thành. Còn đại diện cho trí tuệ minh mẫn, sự khôn ngoan. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, nên hành động được đúng đắn, vượt qua được hiểm. Bởi vì hiểm có thời, lại có dụng. Tỷ như trong nước có họa loạn, trong nhà có tai biến, là vào thời hiểm. Nhưng việc binh, việc hình, việc dạy dân để ngăn ngừa họa loạn, việc chuẩn bị tiền, gạo thuốc thang... để phòng tai nạn thảy đều là Dụng trong thời Hiểm. Tóm lại, hiểm thuộc về thời, là cảnh ngộ không bình thường; hiểm thuộc về dụng là công việc thường làm. Thời hiểm chắc không bao giờ không, dụng hiểm chắc lúc nào cũng phải có. Bình luận về chữ Tập, Phan Bội Châu nói thêm: Chữ Tập trên chữ Khảm, có nghĩa rất hay. Tập có hai nghĩa. Một là tập rèn, ôn tập không ngừng, không quên. Người quân tử dùng nghĩa này mà trau dồi đức hạnh. Một nghĩa là tập quán, là ngày ngày đêm đêm thực hành, khiến cho tai quen, mắt luyện, mà thành ra tập quán (thói quen). Ví như nước từ một dòng suối mà chảy hoài thời có ngày thành sông biển, người ta từ một việc tốt mà làm hoài thời có ngày thành người hiền. Nghĩa chữ Tập của thánh hiền sâu xa thế. Một chuyên gia khác về Dịch học bảo rằng người quẻ Tập Khảm thường là người có tài trí, vị tha, can đảm. Họ sẵn sàng dấn thân, nhưng biết cẩn trọng khi nhập cuộc. Lúc gặp gian nguy, biết giữ tâm trí cho ngay thẳng, tìm thời cơ vượt qua. Giữa chốn gian nguy, người quẻ Tập Khảm biết thông biến linh hoạt. Nếu có thể di chuyển nơi chốn (động như dòng nước chảy) thì tốt. Họ thường là người thông cảm với những hoàn cảnh nguy khốn, thích phù suy hơn phù thịnh. Hào chủ mệnh chi phối cuộc đời tập khảm của Vũ Khiêu là hào 5 dương. Hào này trung chính, ở vị thế cao nhất thời Khảm. Lời hào cho biết: Ông đã ở vào già nửa thời hiểm, và ông chính là người cứu hiểm, ông có cách cứu hiểm dắt dân ra khỏi nơi hoạn nạn. Sẽ là người đổi nguy ra an, cứu được dân, sự nghiệp không nhỏ.

    Cuộc đời Vũ Khiêu đã trải qua hiểm nạn thế nào, có đúng với cấu trúc Hà Lạc mở đầu bằng quẻ Tập Khảm hay không, tự ông chưa bao giờ nói ra. Có chăng, tiến sĩ Đặng Cảnh Khanh, người con trai trưởng của ông hé ra đôi chút trong bài Một mình đi ngàn dặm (Vũ Khiêu và bè bạn - Nxb Khoa học xã hội - Hà Nội - 1996 - Tr. 481) viết về người cha mình. Vũ Khiêu sinh ra trong một gia đình nghèo túng, trong một xã hội tối tăm thuộc những năm thập niên thứ hai của thế kỷ này (1916). Ông không được học hành theo quy củ và có hệ thống. Ông chỉ được thừa hưởng truyền thống ham học của tổ tiên, mà di sản là một bức hoành phi có bốn chữ ông coi như định hướng của đời ông: Học giả chỉ nam (Sđd. Tr.481) (lấy các nhà học thuật uyên thâm -học giả- làm kim chỉ nam. XC). Tính ham học của ông được mô tả qua ví dụ học tiếng Pháp: “Ông học thuộc lòng tất cả những từ được ghi lại trong một cuốn từ điển dày cộp, rồi mang cả cái khối chữ đồ sộ ấy vào cuộc đời. Vậy mà nếu chỉ xem khả năng sử dụng tiếng Pháp của ông ít ai lại có thể tin rằng ông chẳng hề học qua một lớp ngoại ngữ nào” (Sđd. Tr.483) Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông đưa vợ con lên chiến khu Việt Bắc, tại đây ông lần lượt được phân công lãnh đạo công tác thông tin tuyên truyền kháng chiến thuộc Liên khu Mười, Liên khu Việt Bắc, sau đó là Khu Tây Bắc. “Khi cưỡi ngựa, khi đạp xe, ông đi lại khắp các vùng chiến khu với dao súng, sách đèn, phông màn và son phấn của các đoàn văn công hỏa tuyến” (Sđd. Tr.486). Chính trong hoàn cảnh đó, ông bắt đầu nghiên cứu triết học. Nhưng cũng chỉ sau kháng chiến chống Pháp ông mới đi vào nghiên cứu khoa học một cách hệ thống hơn. Lúc này đã vào tuổi bốn mươi. Suốt đời ông sống và làm việc trong những ngôi nhà chật hẹp, ngay cả khi đã trở thành nhân vật rường cột của quốc gia. Tập tiểu luận nổi tiếng Đẹp viết về cái đẹp và sự ứng xử với cái đẹp gây tranh cãi một thời được viết trong những ngày mưa tầm tã. Nhà dột tứ tung. “Mẹ tôi cùng đám trẻ cứ phải bưng bê đủ thứ, từ sô, chậu đến nồi soong chạy hứng khắp nơi mà vẫn không sao tránh được việc để cho nhà cứ ngập đầy nước. Không ít những trang viết của ông cho đến lúc chuyển tới nhà in, vẫn còn mang đầy dấu vết của những vệt nước xám xịt từ mái nhà mờ bụi nhỏ xuống” (Sđd. Tr.487) Khi ngoài sáu mươi tuổi, ông bắt đầu ham mê một ngành khoa học còn rất mới mẻ, ngành xã hội học. Ông là viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học và thực sự là người đặt nền móng cho sự phát triển xã hội học ở nước ta. Bảy mươi tuổi, ông vẫn dẫn đầu những đoàn điều tra nghiên cứu xã hội học thực tế ở các vùng đồng bằng Bắc bộ như Thái Bình, Nam Hà, Hà Bắc..., chủ trì khảo sát thực tế về tình hình nhà ở tại đô thị. Đã tám mươi tuổi nhưng vẫn chẳng mấy khi ông rời chiếc máy chữ xách tay cũ kỹ của mình. Gần đây ông đã thay thế nó bằng một dàn máy vi tính. Thật lạ lùng khi chúng ta nhìn thấy tình cảnh của ông, một ông già tám mươi đang cặm cụi tính toán để cất giữ những lời của ông Khổng Tử đã già hai mươi thế kỷ vào một phai (file) trong bộ nhớ của chương trình vi tính Micrôsôp hiện đại nhất. (Sđd. Tr.489)

    Theo Đặng Cảnh Khanh, cha anh rất thích câu thơ của Cao Bá Quát: Nhập thế chích thân thiên lý mã. (Vào đời một thân như ngựa ngàn dặm). Và anh đặt tên cho bài viết về cha mình là Một mình đi ngàn dặm. Quả thật đó chính là phẩm chất người quẻ Tập khảm, dấn thân, xông pha, ra tay cứu hiểm. Cách cứu hiểm của ông là ra sức học, theo phương châm học giả chỉ nam. Chỉ có một ít vốn liếng ban đầu mà dám một thân xông pha ngàn dặm trong biển học mênh mông, khai phá con đường liên kết Đông Tây trong triết học, xã hội học, mỹ học, để đến hôm nay có hàng trăm tác phẩm có giá trị mà tiêu biểu nhất là Bàn về Văn hiến Việt Nam, 1484 trang (Nxb Khoa học xã hội - Hà Nội 1996).

    Cấu trúc Hà Lạc của Vũ Khiêu từ năm 43 tuổi (1958) là quẻ Địa Thủy Sư. Địa là Đất. Thủy là Nước. Sư là Quân đội, là Đám đông. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, hoặc làm lính, trở thành người chỉ huy quân đội. Người được quẻ này thường là trước gian nan, sau thành công. Quẻ có tượng quần chúng tụ họp thành đám đông. Người quân tử coi quẻ này mà chăm lo việc nuôi dân, nhớ rằng nước vững nhờ có đất, binh mạnh nhờ có dân. Chủ mệnh hào 5 quẻ Sư cho biết những năm hậu vận ông sẽ trở thành nhà lãnh đạo, chỉ huy đám đông, đứng ở vị trí nguyên thủ mà xem xét về nghĩa cầm quân và đạo làm tướng.

    Thú vị thay cho người làm toán Hà Lạc, đây là những năm ông vừa làm viện trưởng Viện Xã hội học (vị trí nguyên thủ) vừa biên soạn và cho ra đời bộ Bàn về văn hiến Việt Nam (BVVHVN - 1996) như đã nói trên kia. Đây thực sự là một tác phẩm xem xét về nghĩa cầm quân và đạo làm tướng của các danh nhân Việt Nam qua đó mà bàn về văn hiến Việt Nam. Điều thú vị nữa là năm 1996 năm ra mắt bạn đọc cuốn BVVHVN là năm ông được quẻ Thiên Hỏa Đồng nhân, mà diễn biến nhân quả là quẻ Thuần Ly (xem phụ lục). Đồng nhân là Cùng người, quẻ nói về sự liên kết vận động giữa người với người. Thuần Ly là Hai lần sáng, quẻ nói về sự sáng suốt thông minh của các bậc đại nhân tỏa ánh sáng trong thiên hạ. Cùng trong năm Đồng nhân và Thuần Ly này, các bạn ông còn tập hợp và biên soạn cho ra mắt cuốn sách Vũ Khiêu và bè bạn (Nxb Khoa học xã hội - Hà Nội 1996) tập hợp những ý kiến của bạn bè về Vũ Khiêu và rất nhiều văn thơ, câu đối của Vũ Khiêu tặng bạn bè. Vũ Khiêu không nghiên cứu Hà Lạc nhưng dường như ông ý thức được vận mệnh mình qua đôi câu đối ông tự làm cho mình năm ông 70 tuổi đã nêu ở đầu bài này. Trong đó muôn dặm hải hồ chính là muôn dặm gian nan, hiểm trở như nước sâu biển và hồ, những nhớ mắt ai xanh chính là những con mắt xanh đã nhận ra con người này, đã cùng nhau đi suốt trên đường dài vượt hiểm và cứu hiểm. Đẹp thay một số phận con người, đẹp thay một con người đã làm chủ số phận của mình cho đến đỉnh cao nhất.

    2

    Đọc Bàn về Văn Hiến Việt Nam (Ba tập I, II, III. Nxb KHXH - HN - 1996) ta sẽ thấy người tập khảm Vũ Khiêu chọn toàn những vấn đề hóc búa để đi sâu, để vượt qua và lý giải. Tiêu biểu nhất là vấn đề Nho giáo trong văn hiến Việt Nam. Nho giáo đã hình thành và tồn tại trong lịch sử tư tưởng Việt Nam như thế nào? Nho giáo ở Việt Nam xưa và nay. Xưa Khổng Tử bảo trung với vua, hiếu với cha mẹ. Nay vẫn là hai chữ trung hiếu, Hồ Chí Minh bảo trung với nước, hiếu với dân. Không phải Đảng ta là người đầu tiên mà chính là Nho giáo đã coi “nhân dân là gốc”, “nhân dân (như nước) có thể đẩy thuyền mà cũng có thể lật thuyền”. Chỉ có điều khác là Nho giáo không coi nhân dân như lực lượng chính làm nên lịch sử, mà coi nhân dân như những người nghèo hèn cần được bề trên chăn dắt. Hồ Chí Minh thì đòi hỏi người cán bộ phải là “đầy tớ của dân”. Nêu kinh nghiệm các nước châu Á đã khai thác Nho giáo như thế nào, ông kể chuyện nước Nhật. Cách đây hàng trăm năm Sbusa-oa (Shbusawa) một tác giả người Nhật đã viết cuốn Luận Ngữ và Bàn tính. “Chỉ nhan đề của cuốn sách đã nói lên tính sáng tạo của người Nhật. Đó là sự kết hợp giữa những tư tưởng Nho giáo trong cuốn kinh điển cơ bản nhất của Nho giáo là Luận Ngữ (của Khổng Tử) với xu hướng đương thời là đi buôn, xây dựng nhà máy, tính toán lỗ lãi (trên bàn tính) và làm giàu”. (Sđd tập I Tr.232)

    Cuốn sách nghiên cứu về mỹ học mang tên Đẹp (Sđd. tập III, Tr.315) là đột phá khẩu trong cuộc dấn thân khám phá của Vũ Khiêu. Cuốn sách viết năm 1963 khi ông đã sang thời Sư (Nước trong Đất, đám đông, quân đội) được 6 năm, nhưng chính nó cũng là âm vang và là một đỉnh cao trên chặng đường tập khảm của ông. Bạn không thể trốn tránh được cái đẹp. Tập tiểu luận mở đầu như thế. Như một lời tuyên chiến. Cái đẹp ở đây được phân tích từ tất cả những góc cạnh triết học. Không thiếu những va chạm với những quan niệm thô thiển về cái đẹp trong đời sống và trong một số tác phẩm mỹ học đương thời. Vũ Khiêu ý thức được như thế, nên ông đã chọn một cách viết bình dân, đề cập những vấn đề mỹ học bằng những lời trò chuyện thân mật với bạn đọc trẻ, bằng những trích dẫn lấy ngay trong báo chí, bằng ca dao, tục ngữ, giai thoại, chuyện tiếu lâm... Bình dân đấy mà cũng bác học đấy. Người xưa nói giữa thời trùng hiểm người tập khảm biết biến thông linh hoạt, khi cần thì cũng biết “đưa lời giao ước qua cửa sổ”. Phan Bội Châu giải thích câu “đưa lời giao ước qua cửa sổ” như sau: “Đương giữa thời hiểm, lòng người còn bế tắc, nếu mình cứ ngay thẳng nhè vào giữa chốn bế tắc của người mà công kích hoài, tất nhiên lời nói khó vào, mà việc cũng hỏng. Chi bằng chịu khó mất công, rình chờ đến khi xuất hiện điểm sáng của người, mà thừa cơ mở đường, tượng như nạp giao ước làm tin, mà không nạp ở cửa chính, lại đưa qua cửa sổ vào. Tuy làm thế không đường hoàng, nhưng cốt cho lời mình lọt vào tai người nghe, thì dầu có uốn đường, tắt lối chút đỉnh cũng không ngại gì. Đó chỉ là thủ đoạn ứng xử về thời Khảm hiểm, thánh nhân vạn bất đắc dĩ mà phải ủy khúc chu toàn như thế”. Tôi ngờ rằng cái văn phong độc đáo khi viết Đẹp cũng chính là một cách “nạp lời giao ước qua cửa sổ” của Vũ Khiêu với bạn đọc. Bởi vì, ngay sau khi cuốn sách được xuất bản, tác giả đã trải đủ búa rìu dư luận. Người ta không thừa nhận một cuốn sách mỹ học lại viết theo lối như đùa như thế. Thêm nữa, giữa lúc nhân dân còn đang trải qua muôn vàn gian khổ và sắp bước vào cuộc chống Mỹ xâm lược, sao lại đề cập cái đẹp vào giữa lúc này? Cuối cùng thì chính đông đảo bạn đọc đã thầm lặng “nhận lời giao ước qua cửa sổ” mà công nhận cái đúng cái hay của tác phẩm. Thầm lặng thừa nhận rằng họ không thể trốn tránh cái đẹp. Về sau người ta biết rằng trong ba lô của nhiều chiến sĩ xuyên Trường Sơn đi cứu nước có những quyển Kiều. Đẹp vẫn đẹp nguyên vẹn trong Bàn về văn hiến Việt Nam. Tuy cuốn sách mang tên Đẹp bàn về cái đẹp, nhưng tổng thể cuốn sách là bàn về Chân, Thiện, Mỹ.

    Sắc thái thời Tập Khảm nhất là thời Sư của Vũ Khiêu hiện lên rất rõ nét trong tập II BVHVN dành cho việc khắc họa những gương mặt trí thức Việt Nam. Tất cả có 12 nhân vật, những gương mặt mà ông tâm đắc nhất, chọn trong số rất đông đảo các hiền tài của đất nước. Có thể chia làm 3 nhóm.

    Nhóm thứ nhất ở đây chỉ giới thiệu có một người là Lê Quý Đôn. Đây chính là một gương mặt tiêu biểu ông chọn làm “học giả chỉ nam”. Vũ Khiêu trích lời đánh giá của hai người bạn của học giả Lê Quý Đôn. Một của Trần Danh Lãm: “Không sách gì không đọc, không việc gì không suy nghĩ đến cùng, ngày thường ngẫm nghĩ được điều gì đều viết ngay thành sách, sách chất đầy bàn, đầy tủ, kể ra không xiết”. Một của Ngô Thì Sĩ: “Sách này (Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn) chép về xứ Thuận Hóa và Quảng Nam; ghi rõ núi sông thành ấp, rạch kinh, thuế má, nhân tài, vật sản... rõ ràng để thấy như nhìn ngón tay trên bàn tay”. Vũ Khiêu tổng kết thành hai đặc điểm của Lê Quý Đôn: Không sách gì không đọc để vươn tới đỉnh cao của kiến thức, đó là đặc điểm đầu tiên của người trí thức chân chính. Nhìn đất nước mình “như nhìn ngón tay trên bàn tay”, đó cũng là đặc điểm thứ hai nổi bật ở người trí thức chân chính. Cuốn sách trong kho và “cuốn sách cuộc đời” là hai điều kiện đã hun đúc nên tài năng kiệt xuất Lê Quý Đôn. (Sđd. tập II- Tr. 69-70)

    Nhóm thứ hai gồm những người can đảm, dấn thân, vượt hiểm nạn của bản thân và hiểm nạn cuộc đời để cứu dân, cứu nước. Đó là Cao Bá Quát, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Quang Bích, Đặng Xuân Thiều... Hiểm nạn trong đời Cao Bá Quát là trong một kỳ chấm thi sơ khảo ở Thừa Thiên, thấy có những quyển khá nhưng lại có chỗ sai phạm vào tên húy của nhà vua, ông đã cùng người bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn chữa những quyển ấy cho khỏi bị hỏng. Việc bị lộ, ông bị tội trảm quyết sau giảm xuống thành giảo giam hậu (đáng bị thắt cổ chết nhưng hoãn thi hành, giam lại đợi lệnh) Đó là bước ngoặt lớn nhất trong đời Cao Bá Quát. Ông bị giam và bị tra tấn. Vũ Khiêu viết: “Trong trường hợp đó, có những người mất hết tinh thần, gục đầu đợi tội hoặc chờ chết. Nhưng ở Cao những ngày trong tù là những ngày sống mãnh liệt. Sức mạnh tinh thần đó vẫn tràn ngập trong những bài thơ làm trong lúc đó”. (Sđd. tập II- Tr.143) Hiểm nạn trong đời Đặng Huy Chú là năm 22 tuổi, ông đi thi hội với lòng đầy tin tưởng ở tài học của mình, bài văn hay đáng lẽ đã đỗ tiến sĩ nhưng không may phạm húy nên ông bị đánh hỏng. Không những thế, ông còn bị tước luôn cả học vị cử nhân và bị phat 100 roi nữa. Hiểm nạn của Nguyễn Đình Chiểu là trên đường từ Huế về quê ở Nam bộ chịu tang mẹ, ông thương khóc mẹ ngày đêm đến nỗi sinh ốm đau mà mù cả hai mắt, lúc ấy ông mới 27 tuổi. Hiểm nạn của Nguyễn Quang Bích là trong thời kỳ theo phong trào Cần Vương, ông được phân công lên Tây Bắc hoạt động, đã từng sống trong cảnh tuyệt lương, tuyệt mệnh của nhiều bạn chiến đấu, bản thân ông cũng chịu chết trong tâm trạng: “Thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn tuế”. Hiểm nạn của Đặng Xuân Thiều nhà trí thức cách mạng những năm Ba mươi của thế kỷ này là tù đầy gian khổ. Vũ Khiêu đã tìm đến những người anh hùng cứu hiểm ấy với tâm trạng đồng cảm. Ông khám phá thấy ở họ những đóng góp đặc sắc vào văn hiến Việt Nam. Ở Cao Bá Quát là cái cốt cách hiên ngang như cây tùng cây bách và tâm hồn trinh trắng mảnh dẻ như cành mai trên núi, tinh thần chiến đấu đến cùng vì tự do hạnh phúc của nhân dân. Ở Đặng Huy Trứ là sự sáng tạo trước những vấn đề mới của dân tộc và thời đại, ở Nguyễn Quang Bích là cái bi tráng trên bước đường cùng... Ông dành một tiểu luận dài gần 100 trang để khám phá vì sao những vần thơ mộc mạc của Nguyễn Đình Chiểu được người dân Nam bộ yêu quý đến lạ lùng. Đó là vì trong thơ của nhà thơ mù lòa “đã tỏa sáng những tính cách của người dân Nam bộ đã vượt qua bao gian khổ khai phá vùng đất mới, qua đó nổi bật lên tính thẳng thắn, bộc trực, dứt khoát, nhất là tinh thần nghĩa hiệp, thấy việc nghĩa đáng làm thì không ngần ngại hy sinh” (Sđd. tập II- Tr.212). Còn trong ngôn ngữ văn học thì lời ăn tiếng nói của quần chúng biểu hiện trong ca dao tục ngữ, và các truyện cổ dân gian đã đi vào tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu một cách rất tự nhiên” (Sđd. tập II- Tr.219).

    Nhóm thứ ba gồm những người trí thức biết thời biết thế, trong gian nguy biết thông biến linh hoạt, tiến lui ẩn hiện đều sáng suốt vì đại nghĩa mà hiến thân, bất chấp những ý kiến đánh giá ngang ngửa của sĩ phu đương thời. Đó là Ngô Thì Nhậm, trước ngã ba lịch sử, đã từng bỏ Lê phò Trịnh, sau lại bỏ cả Lê, Trịnh mà theo nghĩa quân Tây Sơn. Người ta bảo ông là bất hiếu, bất trung, là xu thời. Trước tất cả nhưng lời đả kích ấy, Ngô Thì Nhậm đã kiên quyết đi con đường của mình. Ta hãy yên tĩnh lòng ta, giữ điều ẩn ước của ta. Khi việc làm của ta thuận với mệnh trời, thì đem cả thiên hạ bắc lên cân, cũng không cho là lớn. Ta hãy giữ gìn thân ta, đi theo con đường rộng lớn của ta. Khi bước đi của ta hợp với lý trời, thì dù có xéo lên đuôi hổ cũng không sao cả. (dịch nghĩa bài phú: Vị chi phú) (Sđd. tập II-Tr.93)

    Ta hãy coi người quẻ Tập Khảm Vũ Khiêu viết về Ngô Thì Nhậm tâm đắc đến thế nào, và trong đoạn văn này ta sẽ thấy thấp thoáng cả cái tín hiệu “đưa lời giao ước qua cửa sổ” chính giữa gian nguy.

    Cuộc gặp gỡ giữa Quang Trung và Ngô Thì Nhậm là một cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa người trí thức lỗi lạc với người anh hùng kiệt xuất. Có thể nói Ngô Thì Nhậm là người duy nhất đã hiểu rõ Quang Trung, và Quang Trung cũng là người duy nhất hiểu hết được tài năng và phẩm chất của Ngô Thì Nhậm. Quang Trung tuyên bố “Ngô Thì Nhậm vừa là bầy tôi vừa là khách” coi ông như người đáng tin cậy nhất và giao ngay những công việc rất quan trọng. Ngay buổi đầu, Quang Trung đã phong Ngô Thì Nhậm là Tả thị lang bộ Lại, nghĩa là phụ trách toàn bộ công việc tổ chức và cán bộ trong nội bộ của mình. Ngay buổi đầu đó, Ngô Thì Nhậm đã lập tức gọi em rể là Phan Huy Ích, viết thư cho bạn là Trần Bá Lãm, giới thiệu một loạt trí thức có tài, có đức về với Quang Trung. (Sđd. tập II-Tr.106)

     Ngô Thì Nhậm viết thư cho Trần Bá Lãm đỗ tiến sĩ năm Đinh Tị, người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm. Ông cũng từ đạo lý cuộc sống mà giải thích cho người trí thức ấy: “Đường đi chỉ có hai ngả mà thôi. Đáng ra làm quan thì ra, đáng nghỉ thì nghỉ. Nên tìm xem đâu hợp với chính nghĩa thì theo. Bậc sĩ quân tử ở vào thời Đại Quá (nghĩa là thời có biến cố lớn - VK) trên nghĩa lý cần phải cân nhắc cho đúng” (Sđd. tập II-Tr.111).

    Ngô Thì Nhậm đã từng nói tới tâm trạng của mình khi vào Phú Xuân gặp Nguyễn Huệ:

    Còn nhớ năm trước từng giong cờ quạt tới đất này

    Ngờ đâu ngày nay lại gươm đàn mang xách vào...

    Ta không có ý sớm gõ cửa này, tối đến thành kia

    (Lãng ngâm)

    Ta đọc bài Tư lạc của Phùng Đạo mà khinh hắn đã luồn lọt để kiếm được cái tước Doanh quốc công. Nhưng ta lại nghĩ rằng nếu có tài ngang với những bề tôi hiếm có của Chu thì việc gì lại bắt chước Di Tề đi ở ẩn! Ta đã muốn vào chùa để tu, nhưng không tu được bởi cái bàn tay búp măng kia cứ gõ cửa nhau hoài!” (Họa thơ Phan Huy Ích) (Sđd. tập II-Tr. 107)

    Thơ văn của Ngô Thì Nhậm đã nói nhiều về Quang Trung với tấm lòng yêu quý và kính phục rất sâu sắc. Ông kể lại những buổi vào triều gặp Quang Trung. Nhà vua đã ra làm việc không có cờ, quạt, chiêng, trống và một chút nghi thức nào. Người đã đến làm việc rất sớm, dáng đi thoăn thoắt, lại luôn luôn tươi cười và hay châm biếm. Nhưng con người giản dị ấy lại là một vị anh hùng vĩ đại:

    Muôn đội con rồng đang lượn lờ ôm quanh ngọc hoàng

    Gặp khi uy thế tràn khắp bốn biển, bỗng cùng tung bay

    Quét sạch mù khói dày đặc làm tươi sáng màu thu

    Giữa trời lại rạng đỏ vầng thái dương như trước.

    Cuộc rút quân về Tam Điệp là một sách lược kiệt xuất nói lên trình độ mưu trí và cực kỳ sáng tạo của Ngô Thì Nhậm. Lúc đó các tướng võ như Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân chỉ biết có đánh, còn Nguyễn Văn Dụng thì chỉ muốn lặp lại kinh nghiệm của Lê Lợi ngày xưa là mai phục. Ngô Thì Nhậm đã bác bỏ cả hai ý kiến đó, so sánh lực lượng của hai bên, vạch ra sự khác nhau cơ bản của hoàn cảnh bấy giờ và hoàn cảnh thời Lê Lợi khi xưa, nêu lên ý nghĩa của “toàn quân rút lui không bị mất một mũi tên, cho nó ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi”. (Hoàng Lê nhất thống chí). Sách lược rút lui này hoàn toàn phù hợp với ý của Quang Trung và đã tạo điều kiện hết sức quan trọng để Quang Trung đại phá quân Thanh. (Sđd. tập II- Tr.107-108)

    Trong số những trí thức thông biến linh hoạt như thế, Vũ Khiêu còn tâm đắc viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Khuyến. Nguyễn Bỉnh Khiêm người trí thức có tài năng xuất chúng nhưng nhất định không đem tài ra phục vụ triều Lê lúc đó đã tỏ ra hủ bại, đợi đến triều Mạc thực sự có những đổi mới thì mới xuất hiện, dù lúc đó đã 45 tuổi. Vũ Khiêu viết: Không phải dễ dàng mà phải có một bản lĩnh đặc biệt mới gạt bỏ được các quan điểm ngu trung, các lời chê bai, các sự cám dỗ để từ chối nhà Lê và lựa chọn nhà Mạc. Phải có một bản lĩnh nhất định mới làm chủ được mình trong mọi trường hợp khi xuất khi xử, khi ẩn khi tàng.... Ông quyết định ra phục vụ nhà Mạc, coi đó là sự lựa chọn đúng đắn của bậc trượng phu và người quân tử. (Sđd. tập II-Tr. 58)

    Quân tử mới hay nơi xuất xử

    Trượng phu cũng có chí anh hùng.

    (Sđd. tập II- Tr.52)

    Những tấm gương xuất xử ấy, Vũ Khiêu còn tìm thấy ở Nguyễn Gia Thiều. Ông viết: Con người là sản phẩm của thời đại nhưng cũng là sản phẩm của chính bản thân mình. Tính tất yếu kinh tế chỉ quyết định sự phát triển của con người về mặt đại thể. Nó vẫn dành cho con người một mảnh đất còn khá rộng để anh ta tự do quyết định lấy vận mệnh mình. (Sđd. tập II-Tr.122)

    ...Xét về hoàn cảnh gia đình và xã hội, Nguyễn Gia Thiều từ khi còn là cậu bé lên năm đã sống trong cung thất ông ngoại là chúa Trịnh Cương tuyệt đỉnh giàu sang và quyền lực.... Từ trong khung cảnh ấy, Nguyễn Gia Thiều lớn lên, trở thành người tài hoa trên các mặt cầm, kỳ, thi, tửu... Được giữ chức hiệu uý từ năm 18 tuổi, Nguyễn Gia Thiều tiếp tục được giao nhiều công việc quan trọng khác và được phong Hầu.... Địa vị quý tộc, bối cảnh cung đình, cuộc sống phong lưu và trách nhiệm triều thần đã không thể nhào nặn ông trong một khuôn định sẵn. (Sđd. Tr. 123-124)

    Từng chứng kiến số phận gian truân của những người cung nữ, từng tiếp xúc với những cảnh thương tâm ngoài xã hội, ông càng nhận ra những sự bất công và phi lý đã diễn ra trong xã hội từ triều đình đến thôn dã.

    Cuộc sống như một chiều gió muốn cuốn ông đi. Nhưng trải qua thử thách ông đã vượt lên trên bản thân mình để trở thành một nhân cách đặc biệt. Trong thanh bình ông nhìn thấy tang thương. Từ cái nhất thời ông nghĩ về vĩnh cửu. Ở má đào của người cung nữ, ông nhận ra mệnh bạc của con người trước sự hẩm hưu của những cá nhân, ông xót xa cho nỗi đau thương của cả nhân loại. (Sđd. tập II-Tr.125)

    Tác phẩm Cung oán ngâm khúc và thơ của Nguyễn Gia Thiều là sự kết đọng đẹp nhất của một tâm hồn thẩm mỹ. Tài năng của ông trong âm nhạc, trong hội họa, trong kiến trúc kết hợp với bộ óc vô cùng uyên bác đã giúp ông tạo nên những lời thơ như hoa như ngọc. Mỗi chứ trong câu thơ đều được gọt rũa công phu và tế nhị. Âm thanh và màu sắc cùng vẻ đẹp của ngôn từ đã tạo cho thơ ông một phong cách đặc biệt, chẳng giống bất cứ ai. (Sđd. tập II-Tr.130)

    Vũ Khiêu nhắc lại lời Cao Bá Quát từng chia những người trí thức thành ba loại người giống như 3 loài chim. Loại thứ nhất là những con chim hồng hộc bay bổng trên trời xanh. Loại thứ hai là những con huyền hạc (hạc đen) đi ẩn bên sườn núi. Loại thứ ba là những con chim hoàng yến quanh quẩn tìm chỗ kiếm ăn ở nơi quyền quý.

    Hồng Hộc cao phi thanh vân trượng

    Huyền hạc độc túc thanh sơn bạng.

    Hoàng điểu hoàng điểu qui thực trường

    Ông viết về Nguyễn Khuyến như con huyền hạc cao quý, đã từng đỗ đầu cả thi hương, thi hội, thi đình nhưng đã bỏ làm quan nơi lầu son gác tía để về với làng quê, chia sẻ với nhân dân những nỗi gian nan khi mất mùa đói kém.

    Mấy năm cày cấy vẫn chân thua,

    Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa

    (Sđd. tập II-Tr.192)

    Vũ Khiêu nhận xét thơ Nguyễn Khuyến:

    “Chúng ta hiểu vì sao hầu như mọi nhân vật của xóm làng đều được nhắc tới trong thơ ông: từ ông Bảng Lọng, mụ Hậu Cẩm, cô Tư Hồng cho đến cụ Tổng, thày Nhang, ông Lý, ông lang, ông sư, bà vãi, thày bói, cô đồng, chú tiểu, anh hàng gà, hàng thịt, thợ rèn, thợ nhuộm, người thổi kèn, người hoạn lợn, người thầu khoán, chị gái già, anh góa vợ... Chúng ta hiểu vì sao trong thơ ông ít thấy những cây ngô đồng, cây hải đường, cây trà mi, cây quỳnh, cây giao, mà chỉ thấy tràn ngập những rau muống, rau cải, rau mùng tơi, quả na, quả vải, quả cau, quả bầu, hoa mướp, hoa cà, hoa lau, hoa dâm bụt.. (Sđd. tập II-Tr.192-193).

    Tách khỏi 3 nhóm nhân vật trên kia, Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh được Vũ Khiêu mô tả khái quát như những nhân vật vượt hiểm và cứu hiểm tiêu biểu cho mỗi thời đại, lại có những nét bao quát xuyên suốt các hiền tài của nhiều thời đại, có lẽ vì thế mà cấu trúc tác phẩm bắt đầu bằng bài về Nguyễn Trãi và kết thúc bằng bài về Hồ Chí Minh.

    Mở đầu tiểu luận về Nguyễn Trãi, ông viết: Là trí thức đó là niềm vinh dự và đó cũng là nỗi khổ đau đã theo đuổi Nguyễn Trãi suốt cả cuộc đời. Ông đã từng xót xa cho thân phận người trí thức: “Xưa nay người biết chữ thường lắm lo âu và hoạn nạn. Ông già Tô Đông Pha đã nói thế và tôi cũng nói như thế”.

    Cổ lai thức tự đa ưu hoạn

    Pha lão tầng vân, ngã diệc vân.

    (Sđd. tập II-Tr.13)

    Nhưng ở Nguyễn Trãi thì ưu hoạn của ông lại chẳng giống ưu hoạn của Tô Đông Pha. Ưu hoạn của Nguyễn Trãi là ưu hoạn của người gắn bó với nhân dân, là ưu hoạn của bản thân nhân dân, là ưu hoạn đã tạo nên chính sự nghiệp của người trí thức. Vũ Khiêu viết:...Ưu hoạn của người trí thức chính là định mệnh của anh ta. (Tr. 16)

    Bui một tấm lòng ưu ái cũ

    Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng

    (Tr. 43)

    Vũ Khiêu nêu bật tấm lòng ưu hoạn cuồn cuộn như nước triều dâng đó, và phác thảo gương mặt Nguyễn Trãi như gương mặt của một cuộc đời vượt hiểm và cứu hiểm. Bài Cáo bình Ngô là bản tổng kết vĩ đại cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống giặc Minh ngoại xâm, theo Vũ Khiêu cũng là bản tổng kết vĩ đại cuộc đời vượt hiểm và cứu hiểm của Nguyễn Trãi. Theo ông, Nguyễn Trãi có ba cách cứu hiểm. Cách cứu hiểm thứ nhất của Nguyễn Trãi là bắt nguồn từ đỉnh cao trí tuệ đương thời. Cách thứ hai là phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc. Thứ ba là dựa vào sức mạnh của nhân dân. Có lẽ không gì cô đúc hơn và sáng rõ hơn.

    Nhưng cuối cùng thì Nguyễn Trãi không vượt được cái hiểm của chính cuộc đời ông. Vũ Khiêu viết: Trong xã hội phong kiến, nhân dân chưa thể là chủ vận mệnh của mình thì bi kịch của người trí thức là tất yếu. Đó là số phận chung của tất cả những người trí thức trong xã hội phong kiến đã trót mang tâm hồn cao cả như Chu Văn An, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát. Mọi nẻo đường đều dẫn họ đến bi kịch.... Việc tất yếu phải xảy ra, đã xảy ra. Bi kịch của ông đã kết thúc bằng vụ án trại Vải. (Sđd. tập II-Tr.43)

    Đối với Hồ Chí Minh, Vũ Khiêu chỉ mới làm một việc khiêm tốn là phác thảo một gương mặt văn hóa của Người. Ngay cả với bài viết này, cái mệnh tập khảm của Vũ Khiêu cũng xui khiến ông chọn cách mô tả một con người vượt hiểm và cứu hiểm.

    Vũ Khiêu phác thảo chân dung văn hóa của Hồ Chí Minh bắt đầu từ những năm thơ ấu. Sống bên cạnh cha làm nghề dạy học, Người được cha giảng dạy những sách kinh điển của Khổng giáo. Người cũng được nghe cha và bè bạn của cha bàn luận về những tư tưởng triết học và đạo đức trong các sách vở thời xưa. Cũng trong thời gian ấy, người nắm được những quan điểm cơ bản của Phật giáo và Lão giáo. Người am hiểu và thuộc lòng những bài thơ hay của Lý Bạch, Đỗ Phủ (Trung Quốc) của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du (Việt Nam). Người tìm đọc lịch sử Việt Nam và xúc động trước những hành động cứu nước vẻ vang của các anh hùng dân tộc.... Không dễ dàng kết luận rằng chính hoàn cảnh gia đình đã sớm đem lại cho Hồ Chí Minh những tinh hoa của văn hóa dân tộc. (Sđd. tập II-Tr.394). Vũ Khiêu đã lập luận sau đây: Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh (sau này) luôn luôn nói Trung Hiếu với một nội dung hoàn toàn mới: Trung với Nước Hiếu với Dân. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh trong cuộc đời mình đã luôn luôn nhắc nhở một danh ngôn của Khổng giáo là “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Không phải ngẫu nhiên mà Người sáng tác một cách dễ dàng thơ văn bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Việt Nam. Cũng không phải ngẫu nhiên mà về sau Người đã luôn luôn nhắc lại những tấm gương yêu nước trong lịch sử dân tộc để giáo dục thanh niên và cổ vũ đồng bào. (Sđd. tập II-Tr.394-395) Thời thơ ấu, Hồ Chí Minh còn có 10 năm sống ở kinh đô Huế và 3 năm theo học ở trường tiểu học Pháp và trường Quốc học Huế. Hồ Chí Minh đã có dịp tiếp xúc với nền văn hóa mới, đọc được một số sách phương Tây, và bắt đầu làm quen với tên tuổi của Điđơrô, Môngtetxkiơ, Vonterơ, Rutxsô. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra với người thanh niên yêu nước lúc ấy.

    Tình hình trên đây càng thúc đẩy Hồ Chí Minh phải tìm lời giải đáp không phải từ vốn kiến thức cũ của nền văn hóa dân tộc mà từ những thành tựu mới của nền văn hóa nhân loại. Nhưng không thể ngồi ở Việt Nam để nắm được những thành tựu ấy.

    Để làm quen với nền văn minh Pháp và để tìm xem những gì ẩn đằng sau nền văn minh này, Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách để ra đi và cuối cùng đã rời tổ quốc vào năm 1911, trên một chiếc tàu buôn của Pháp. Ngày ra đi cũng là ngày mở đầu cho một giai đoạn mới của cuộc đời Hồ Chí Minh, đó là giai đoạn học tập, rèn luyện và trưởng thành. (Tr.396). Đoạn tường thuật trên đây không có gì mới về diễn biến sự kiện, nhưng nó là cái trình tự cần thiết, hợp lý để dẫn đến một nhận định khái quát về một nhân vật hiền tài trong lịch sử nền văn hiến nước ta: Hồ Chí Minh đã đi từ đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc, tiếp thu những thành tựu văn hóa nhân loại. Rồi từ nền văn hóa nhân loại, Người trở về đánh giá lại di sản của dân tộc mình, gạt bỏ đi những mặt hạn chế, làm hồi sinh những truyền thống tốt đẹp và bổ sung cho văn hóa dân tộc những nhân tố mới. (tr. 397) Từ đây người tập khảm Vũ Khiêu đã dành những trang viết thấm đẫm cảm xúc của người dấn thân, vượt hiểm, khám phá con đường cứu dân cứu nước. Những trang văn được viết trong một tâm trạng sảng khoái đồng cảm. Tôi thử chép lại một đoạn kể và bình luận về Hồ Chí Minh nỗ lực và kiên trì học tập ngoại ngữ, trước hết là tiếng Pháp và tiếng Anh. Ngoại ngữ đã tạo điều kiện cho Người nhanh chóng mở rộng và nâng cao trình độ hiểu biết: từ lịch sử phát triển của nhân lại cho đến các đặc điểm xã hội ngày nay, từ quan điểm triết học và chính trị của những nhà Khai Sáng đến tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong kho tàng văn học thế giới. Với những ngoại ngữ đó, Người sớm đạt tới trình dộ uyên bác về cả Cổ, Kim, Đông, Tây và từ đó kết bạn được với những nhà văn hóa lỗi lạc đương thời. Sau này người ta phát hiện ra rằng Hồ Chí Minh không chỉ thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc mà còn biết tất cả 28 thứ tiếng.

    Người đọc Sekxpia, Đicken bằng tiếng Anh, đọc Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Quốc, đọc Huygô, Zôla bằng tiếng Pháp. Trong những cuộc gặp gỡ bạn bè trí thức và văn nghệ sĩ, Người thường bàn luận về Hăngri Bacbuýt, về Rômanh Rôlăng, về Gioócgiơ Đuyhamen, về các nhà văn nổi lên trong thời gian đó... (Sđd. Tập II Tr. 397-398).

    Vũ Khiêu đã phác họa với lòng kính yêu và đồng cảm sâu sắc con người ưu hoạn Hồ Chí Minh trong suốt 20 năm ở nước ngoài khi bôn ba du lịch khắp các châu lục và đại dương; khi liên kết với bè bạn năm châu trên đường đi tìm sự thật bên trong những khẩu hiệu đẹp đẽ về bình đẳng, tự do, bác ái; khi viết báo Người cùng khổ, Đời sống công nhân, khi viết Bản án chế độ thực dân Pháp, cuối cùng là tiếng reo vui của Người khi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề thuộc địa và dân tộc.

    Và đây là tiếng reo vui của Vũ Khiêu:

    Như trong thần thoại ngày xưa, sau gần 20 năm tầm sư học đạo, Hồ Chí Minh trở về mang theo những bảo bối diệu kỳ để cứu dân cứu nước.

    Sau gần 20 năm tiếp thu văn hóa của nhân loại, làm quen với cuộc sống hàng ngày của phương Tây, Người trở về, lại hòa nhập vào mọi tầng lớp xã hội của phương Đông, lại như những người gần gũi và quen thuộc nhất.

    Ở Trung Quốc, Người ăn mặc, nói năng như người Trung Quốc. Vào nông thôn, người là người nông dân lâu đời. Gặp gỡ công nhân, Người am hiểu từng chi tiết mọi sinh hoạt của họ trong nhà máy, trong gia đình. Với trí thức, Người bình luận với họ về những sự việc kim cổ đông tây.

    Sang Thái Lan hoạt động, Người hòa mình vào cuộc sống của Việt kiều và nhân dân Thái Lan. Có lúc đóng vai nhà sư ở trong chùa, Người cũng đọc kinh và gõ mõ như nhà sư.

    Trở về Việt Nam sống giữa đồng bào dân tộc thiểu số, Người như một ông già miền núi, cũng mặc quần áo và đi guốc như đồng bào địa phương, cũng cuốc đất trồng rau như họ. Nhân dân địa phương từ cụ già đến em nhỏ cùng nam nữ thanh niên đều thân thiết quý trọng người.

    ... Trong việc phổ biến chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng, Hồ Chí Minh tránh dùng những từ ngữ khó khăn. Người đã giải thích những điều sâu sắc nhất bằng những lời lẽ dễ hiểu nhất. Người chỉ trích dẫn Mác, Ăngghen, Lênin trong những trường hợp cần thiết nhất. Trong lời nói và bài viết của Người, thường có những câu ca dao, tục ngữ của Việt Nam và cả những khái niệm Khổng giáo mà nhân dân vốn quen thuộc. (Tr.407-409)

    Cứ như vậy mà hình thành một nhân cách Hồ Chí Minh. Bất cứ từ góc độ nào, nhân cách của Người cũng nổi lên như một biểu tượng đẹp đẽ và hoàn chỉnh. Bởi nhân cách ấy là sự kết đọng tinh hoa văn hóa của cả dân tộc và nhân loại, trên con đường tiến đến tự do. (Tr.410)

    Bàn về văn hiến Việt Nam, Vũ Khiêu phác thảo 12 gương mặt hiền tài, bởi vì sự phong phú về nhân tài là nhân tố quan trọng của văn hiến nói chung (Sđd. Tập I Tr.20).. Tại sao lại chỉ có 12 gương mặt, và việc tập hợp 12 gương mặt ấy được thực hiện một cách ngẫu hứng hay đã trải qua lựa chọn có thẩm định khoa học, và tại sao lại là 12 người này chứ không phải những người khác cũng đã từng làm rạng rỡ cho văn hiến Việt Nam? Bài viết này không nhằm trả lời những câu hỏi đó, mà chỉ muốn làm sáng tỏ cái dấu ấn Vũ Khiêu trong tập sách. Vũ Khiêu muốn qua việc phác thảo một số gương mặt hiền tài của đất nước mà góp phần làm sáng tỏ cái đặc sắc của văn hiến Việt Nam, nhưng tác giả cũng không ngờ rằng trong khi phác thảo chân dung họ thì chính ông cũng soi chiếu cuộc đời mình trong mỗi con người ấy. Giỏ nhà ai, quai nhà nấy. Tất cả đều là những cuộc đời đầy hiểm nạn, vượt qua trùng trùng gian nan, qua thử thách tập rèn mà có bản lĩnh xuất chúng. Cũng qua phác thảo 12 gương mặt ấy Vũ Khiêu đã thực hiện cái chủ mệnh hào 5 quẻ Địa Thủy Sư xem xét về nghĩa cầm quân và đạo làm tướng.

    3

    Trong một bài tính Hà Lạc trước đây tôi theo công thức “biến hào đảo quẻ” tìm ra hậu vận của Vũ Khiêu là quẻ Thủy Địa Tỷ, chủ mệnh hào 2. Tỷ là sánh vai, gần gũi. Đây là thời sánh vai cùng bè bạn mà làm nên sự nghiệp. Chủ mệnh là hào 2 bảo rằng những năm này từ lòng chí thành mà tìm đến gần gũi với ngoài, lời nói và việc làm đều có thực tâm. Tôi đã sử dụng tác phẩm Vũ Khiêu và bè bạn để làm sáng tỏ vận mệnh này. Nhưng sau đó, một hôm tình cờ đọc trên mạng, tôi biết ông Đinh Văn Tân đã đọc sách Hà Lạc của tôi và góp thêm một công thức tìm quẻ Hậu thiên - Hậu vận dành riêng cho những người được ba quẻ Thuần Khảm, Thủy Lôi Truân, Thủy Sơn Kiển mà nguyên đường thuộc hào 5 dương và 6 âm (chỉ riêng hai hào thuộc ba quẻ này thôi). Có một tình huống rơi đúng vào mệnh Vũ Khiêu là sinh vào tháng âm lệnh (từ Giữa hè đến Giữa đông) mà Tiên thiên là Thuần Khảm hào 5 dương thì cách tìm Hậu thiên chỉ cần biến hào chứ không đảo quẻ. Có nghĩa Hậu thiên – Hậu vận của Vũ Khiêu là Địa Thủy Sư, chứ không phải Thủy Địa Tỷ. Sư là Quân đội, là Đám đông. Đây là thời chỉ huy quân đội, điều khiển đám đông, qua đấu tranh mà lập thành sự nghiệp. Chủ mệnh là hào 5 bảo rằng những năm này ở vị trí “nguyên thủ”, sử dụng nhân tài, cầm quân, chỉ động binh khi bị xâm hại, xem xét về nghĩa cầm quân và đạo làm tướng. Đối chiếu với thực tế cuộc đời và tác phẩm tôi thấy quả nhiên đối với nhà văn Vũ Khiêu hậu vận quẻ Địa Thủy Sư đúng hơn là Thủy Địa Tỷ. Đây là những năm ông đứng vào vị trí “nguyên thủ” (tuy không phải nguyên thủ quốc gia) xem xét những vấn đề minh triết về trị nước, xây nền văn hiến, đạo làm người, đạo làm tướng, vai trò của người trị nước đối với nhân dân. Đạo bè bạn là một nét nổi bật trong tính cách Vũ Khiêu, nhưng ông vẫn xử lý đạo bè bạn ấy trong tư thế người dùng binh, dụng hiền, là chính. Tác phẩm BVVHVN chủ yếu được viết trong thời hậu vận của Vũ Khiêu từ năm 1958 trở đi.

    Cuốn Vũ Khiêu và bè bạn (viết tắt: Sách đã dẫn Sđd1), và gần đây cuốn Vũ Khiêu 90 năm tình bạn (Nxb Hội Nhà văn 2006 – viết tắt Sđd2) ghi lại hàng trăm ý kiến của bạn bầu nói về ông. Tôi ghi lại một số ý kiến đôi khi là ngẫu hứng, chỉ cốt để làm sáng tỏ một phần thế nào là một nhà văn, một nhà nghiên cứu người quẻ Sư hào 5. Giáo sư Trần Văn Giàu nói: Con người của Vũ Khiêu thoạt trông thấy đã mến rồi, đã tin được rồi. Vũ Khiêu có cái trán cao, hai mắt sáng, trán và mắt của trí giả, có cái miệng bao giờ cũng như mỉm cười, ấy là con người cởi mở, bao dung mà dễ hầu chuyện, thâm mà không hiểm. Tôi và Vũ Khiêu là bạn tri âm từ khá lâu, từ đầu năm 1950 kia, khi tôi ở mặt trận Biển Hồ -Cămpuchia về Việt Bắc, còn Vũ Khiêu thì phụ trách thông tin tuyên truyền khu 10. Ngày 6 tháng Giêng, tại Vũ ẻn, Thanh Cù tôi ứng khẩu trong một cuộc mít tinh nói về Đảng Cộng sản đảng của trí tuệ Việt Nam, anh giám đốc Vũ Khiêu cho tốc ký và in ấn bài đó và phát hành rộng. Từ đó tôi và Vũ Khiêu chung sức đấu tranh trên trận tuyến tư tưởng Mác Lênin Hồ Chí Minh. Bao nhiêu nước chảy dưới cầu Long Biên, Chương Dương là bấy nhiêu kỷ niệm tốt đẹp giữa Khiêu, Giàu.(Sđd1 Tr. 26).

    Giáo sư Đặng Xuân Kỳ: Giáo sư Vũ Khiêu là một nhà khoa học hàng đầu uyên bác cả văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây, đã có những đóng góp lớn trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam,… là những khái quát khoa học từ tầm cao tư tưởng và chiều sâu về lý luận. (Sđd2. Tr.41). (Dấu ấn hào 5 quẻ Thuần Khảm và hào 5 quẻ Sư. XC).

    Giáo sư sử học Chương Thâu: Trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, anh đã tập hợp xung quanh mình hầu hết các nhà khoa bảng còn sót lại (một cụ tiến sĩ và gần hai chục cụ cử nhân, tú tài và các cụ uyên thâm về Hán học) vào thời điểm đó, để sưu tầm, sao chép, tuyển chọn và dịch chú hàng chục ngàn trang tư liệu lịch sử tư tưởng từ hàng trăm cuốn sách Hán Nôm trong kho tàng văn hiến do các thế hệ tiền bối để lại từ các thời Lý, Trần, Lê và Nguyễn... Những tài liệu, trước tác của các bậc đại nho, các danh nhân văn hóa xưa, thực ra chỉ có các vị túc nho, Hán học uyên thâm, các cụ nghè, cụ cử (là cộng tác viên của viện Triết học vào đầu những năm 60 đó) mới có thể hiểu, dịch và chú thích nổi. (Sđd1. Tr. 68). (Dấu ấn hào 5 quẻ Sư: Cầm quân phải biết sử dụng các bậc trưởng lão, lão thành, tướng giỏi, như người anh cả (trưởng tử) trong quân. XC).

    Ông Nguyễn Hồng Trang, một người tri kỷ với Vũ Khiêu từ những ngày ở Sở Thông tin Liên khu 10 kể: Tôi còn nhớ -không biết có thật không- trong bạn bè thân đã truyền nhau câu khẩu hiệu của Vũ Khiêu đối với những ai đến với anh: “Giầy dép và địa vị xin để ngoài cửa”. Tôi hiểu như vậy là anh chỉ muốn tiếp những ai đến với anh với một tấm lòng, một sự trung thực, như một tri kỷ, như một con người thật đến với một con người thật...Tôi nhớ Nguyễn Trãi đã viết: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ/ Cúi ngửa theo người quyết chẳng theo”. Tư cách, nhân cách Vũ Khiêu là như vậy. (Sđd1. Tr. 245). Tư chất khác thường của Vũ Khiêu là trí nhớ và óc thông minh. Đây cũng là tư chất người hào 5 quẻ Sư bởi vì thiếu những cái đó thì không thể thu hút, thu phục được người. Cũng ông Nguyến Hồng Trang kể một chuyện vui: Hồi còn ở Liên khu 10, nhân một buổi ngồi bên đống lửa sưởi, anh em muốn thử trí nhớ của anh. Mỗi người nói lên chừng mươi từ gì đó tùy ý bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp, dễ có đến bốn năm chục từ, rồi yêu cầu anh nhắc lại tất cả những từ ấy. Chỉ độ một phút sau, anh đã theo trật tự những từ mà bè bạn đã đọc từ từ số một đến từ số bốn mươi. Rồi ngay sau đó, lạ hơn, anh lại đọc ngược lại từ số bốn mươi trở về từ thứ nhất.

    Phó giáo sư triết học Nguyễn Tài Thư: Có lẽ anh chưa trải qua bậc đại học trên ghế nhà trường, nhưng anh đã tự học với một tinh thần kiên cường, nên không những có đầy đủ kiến thức đại học mà còn đạt được trình độ cao hơn đại học và giảng dạy được ở bậc trên đại học. Một ấn tượng khác mà tôi cảm được ở anh là con người thông minh. Anh nắm bắt vấn đề rất nhanh. Tài liệu đưa đến anh, anh đọc rất nhanh và đánh dấu đúng chỗ quan trọng. Có khi trong hội nghị khoa học, nhiều bản tham luận trình bày vấn đề mới, anh nhanh chóng nắm bắt được nội dung, tóm tắt chính xác, không những thế còn tự mình có thể đưa ra được những nhận thức mới và sau hội nghị không lâu anh đã có ngay một bài viết về vấn đề mới đặt ra. Thông minh có phần là nét bẩm sinh ở anh, nhưng chắc rằng đó còn là kết quả của một tinh thần, một ý thức vươn lên mạnh mẽ và một phong cách làm việc hết mình của anh.

    Giáo sư dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn: Tôi còn nhớ lần đầu tiên gây một ấn tượng khó quên, là khi được anh gọi đến Viện Triết học, nơi anh công tác. “Này cậu viết được đấy”. Thực sự tôi bối rối về lời khen chân tình. Nhưng bối rối hơn là thái độ cởi mở, làm cho người được tiếp xúc lần đầu không còn một khoảng cách thường có giữa một người đáng bậc thầy về khoa học, lại là một người thủ trưởng, với một cán bộ khoa học mới vào nghề chưa ai biết đến và lại đáng tuổi đàn em... Sự không cách biệt cuốn hút người mới vào nghề đến với mình. Hàng rào thế hệ được xóa bỏ, gây nên sự tin cậy của hai thế hệ nối tiếp... Sau này tôi mới được biết anh Vũ Khiêu có đủ các loại già, trẻ, mới, cũ mà anh luôn coi là “bè bạn”. Và với từng loại người anh luôn có sức tập hợp, cuốn hút làm cho ai cũng thấy dễ gần. (Sđd1. Tr. 125-126) (Dấu ấn hào 5 quẻ Sư: Dùng người hiền tài).

    Cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng: Ông là người lãnh đạo ngành khoa học xã hội - nhân văn cấp Nhà nước, tôi là người nghiên cứu bình thường. Trong cơ chế quan liêu bao cấp, khó mà có thể xác lập được một tình bạn vô tư, vong niên, giữa cấp Trên - cấp Dưới. Ông là một trường hợp quý hiếm. Bạn bè cấp dưới quý ông và chơi với ông, không xu nịnh, nhờ vả, “kiếm chác” gì ở ông. Ông lấy sự quý mến, liên tài, mà đối đãi lại với chúng tôi. Ông không ưa nịnh. Tôi luôn luôn nói thẳng với ông nhiều việc, vụ. Ông chú ý nghe và cho ý kiến. Năm 1979, trong hội thảo khoa học về Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa, tôi đọc bản tham luận, được ông viện trưởng viện Triết bảo là “có hơi hướng Tâm phân học Phrớt”. Thay đổi chủ tọa, ông cho tôi lên “nói lại” 15 phút! (Sđd1. Tr. 237). (Dấu ấn người Thuần Khảm: phù suy hơn phù thịnh. XC).

    Giáo sư Tương Lai: Ở đâu tôi cũng thấy cái chất nghệ sĩ quyện chặt trong phong thái nhà khoa học Vũ Khiêu, vì thế mà anh thật gần gũi, nhập cuộc, chan hoà với những con người của vương quốc “Cái đẹp”. Tôi thầm nghĩ, có lẽ cái chất nghệ sĩ ấy làm cho nhà khoa học Vũ Khiêu trẻ mãi và luôn ung dung thư thái. Sự uyên bác làm nên nét độc đáo và có duyên của chất nghệ sĩ và dường như lúc nào cái chất nghệ sĩ ấy trỗi mạnh hơn lên thì tôi lại thấy thích anh hơn, gần anh hơn và trọng anh hơn. Ấy là tôi cảm thấy thế, cảm thôi, chứ không giải thích được. (Sđd2. Tr.85) (Dấu ấn hào 6 quẻ Sư: lập được công nhưng không màng danh lợi. XC).

    Vũ Khiêu có một đam mê riêng đối với các thể loại văn tế, phú, câu đối, đòi hỏi niêm luật rất chặt chẽ, nhưng đối với người có tài năng thì hoàn toàn có thể tung hoành, ngặt nghèo đấy mà phóng túng đấy. Người ta ước tính ông đã làm hàng vài trăm câu đối tài hoa tặng bạn bè, mừng và phúng viếng, hiện tản mát khắp nơi trong nước. Điều tôi nhấn mạnh ở đây là hầu hết những tác phẩm văn tế, câu đối (mà tôi đã được đọc) của Vũ Khiêu thảy đều man mác tinh thần quẻ Khảm và quẻ Sư (dấn thân, trí tuệ khôn ngoan, cứu hiểm, cứu dân, dụng hiền, phù suy, thông biến linh hoạt…).

    Tiến sĩ mỹ học Thu Linh kể: Tôi thích giữ lại những mảnh giấy nhỏ có bút tích của thày. Có khi chỉ là đôi dòng thày để lại nhân vào bệnh viện thăm tôi không gặp. Một lần biết tin mẹ tôi mới mất, tôi lại vắng mặt vì công tác xa không về được, thày hỏi thăm tỉ mỉ rồi đứng dậy đi vào phòng làm việc. Chú lái xe bảo nhỏ tôi: Bác hỏi như vậy thì thể nào lúc trở ra cũng cho chị đôi câu đối để viếng mẹ đấy. Sự việc đã diễn ra đúng như vậy. Tôi rất xúc động khi thày trao cho tôi đôi câu đối:

    Tưởng lại hình cha, đỉnh Dĩ âm thầm mây rủ thấp

    Tìm đâu bóng mẹ, vườn đào thăm thẳm hạc bay cao.

    Câu đối thể hiện đúng cảnh ngộ gia đình tôi. Khi mẹ tôi ra đi chắc ở trên đỉnh núi Dĩ mây mờ sẽ còn thương cảm cảnh ngộ của cha tôi từ đây vắng vẻ, và nỗi buồn của người con khi về mẹ đã đi xa theo cánh hạc trên bầu trời thăm thẳm. (Sđd1. Tr. 145).

    Giáo sư Trần Quốc Vượng kể: Năm Kỷ Tị 1989, nhà tôi mất vì bệnh hiểm nghèo, nhanh và có phần đột ngột, chẳng kịp đưa tin lên báo. Ông cùng các bạn hữu đem trướng đến viếng, đi đưa đám... Ông lại cài trên bàn thờ vợ tôi đôi câu đối nôm:

    Chị ra đi, bát ngát Đông Tây, một cánh buồm son, làn gió cuốn

    Anh ở lại ngậm ngùi Kim Cổ, nửa bình rượu trắng, ánh trăng soi.

    (Sđd1. Tr. 237)

    Đôi câu đối thật hay, hai vế đối nhau từng từ, từng âm sắc, kể cả âm điệu, màu sắc. Có chiều sâu về tình cảm, nổi bật về tình cảnh. Chị Loan, người quá cố là nhà giáo dạy Trung văn và Anh văn, còn giáo sư Trần Quốc Vượng là nhà sử học, là người có tiếng tăm cách tân và cả về uống rượu. Người trong cuộc đọc lên khóc được và cũng mỉm cười được vì được an ủi.

    Còn đây là những câu đối mừng. Mừng giáo sư Nguyễn Văn Trương, ông là giáo sư khoa học nông, lâm nghiệp, sau này là Tổng biên tập Từ điển bách khoa:

    Trồng cây cùng với trồng người

    đôi khóm anh hoa mừng tổ quốc

    Làm thày chẳng tày làm sách

    trăm bồ chữ nghĩa hiến nhân dân.

    (Sđd1. Tr. 363)

    Tặng nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh:

    Nửa mắt nhìn đời, thu cả tinh hoa trời đất lại

    Tám tuần thưởng tết, bày đầy cảnh sắc cổ kim chơi.

    (VK&BB. Sđd1. Tr. 394)

    Mừng tạp chí Cờ (của những người chơi Cờ) ra số 1:

    Cuộc đua tài có tiến có lui

    Tiến cũng cần lui, lui để tiến

    Trò giải trí vừa chơi vừa học

    Chơi mà hóa học, học mà chơi

    (VK&BB. Sđd1. Tr. 379)

    Một hôm Vũ Khiêu ngồi cắt tóc trong một cửa hiệu có treo đôi câu đối không được hay. Vũ Khiêu bảo: “Ông bỏ câu này đi, tôi sẽ thay cho ông đôi câu đối khác.” Qua hỏi thăm, Vũ Khiêu biết ông cắt tóc có hai con, người con trai làm công an xã, người con gái dạy học. Cắt tóc xong, Vũ Khiêu lấy bút viết:

    Xem xét tóc tơ người lớn bé

    Sửa sang mày mặt khách đông tây

    Cả hai câu đều nói về người thợ cắt tóc. Nhưng câu trên còn nói về người công an, câu dưới nói về người dạy học.

    Vũ Khiêu đến chơi nhà một người bạn cũ là cán bộ, nay về nghỉ, làm thợ chữa đồng hồ. Nhân ngày tết, ông bạn muốn xin một đôi câu đối. Ông Khiêu viết:

    Bảy mươi xuân, quay ngược thời gian, từng giờ từng khắc,

    Từng phút từng giây, nghĩ mình chẳng thẹn.

    Mồng một tết, nhìn ngang thế lộ, ai chậm ai nhanh

    Ai sai ai đúng, rót rượu cùng say.

    (VK&BB. Sđd1. Tr. 346-347)

    Tuy nhiên nếu trong mảng sáng tác của Vũ Khiêu chỉ có những câu đối tài hoa thì dù muốn dù không, chúng cũng vẫn là “công cụ của người quẻ Tỷ” mà trong một bài viết năm 2001 về Vũ Khiêu tôi đã viết. (Bài này các bạn của Vũ Khiêu đã công bố trong Vũ Khiêu 90 năm Tình bạn. Sđd2. Tr. 494). Phải kể đến mảng Phú, Văn tế mới thật làm rõ và nổi bật một nhà văn quẻ Sư, chủ mệnh hào 5. Đó là Văn tế Giỗ Tổ Hùng Vương, Phù Đổng thiên vương phú, Bia tưởng niệm Lý Thái Tổ ở Hoa Lư, Truy điệu những lương dân chết đói, Văn tế anh hùng liệt sĩ của Cách mạng tháng Tám… Tại những bài văn biền ngẫu bi tráng đó, nổi bật lên một giọng hào sảng của tinh thần quẻ Sư: Người quân tử coi quẻ này mà chăm lo việc nuôi dân, nhớ rẳng nước vững nhờ có đất, binh mạnh nhờ có dân. Nổi bật lên tinh thần hào 5 quẻ Sư: xem xét nghĩa cầm quân và đạo làm tướng. Ra quân phải đúng luật (hào 1), tướng giữa quân phải trung trinh, phải tốt mới là không lỗi (cát, vô cựu) (hào 2), cầm quân mà bất chính, khinh địch thì thất bại, xe chở thây về (hào 3), khi cần cũng phải biết lui quân (hào 4), buộc phải xuất quân chẳng qua như cầm thú vào vườn phải xua đuổi, cầm quân phải dựa vào lão thành, tướng giỏi (hào 5), khi thành công ca khúc khải hoàn, tuy lập công to mà không màng danh lợi, trị nước phải giao cho bậc hiền tài (hào 6).

    Trước ngày giỗ tổ Hùng Vương năm Canh Thìn (2000), năm “mở đầu Thiên niên kỷ mới”, bộ Văn hoá, Thông tin đã cử người viết bài Chúc văn, nhưng thấy chưa vừa ý, Bộ trưởng viết thư gấp mời ông viết cho bài Chúc văn khác “đúng với tầm vóc buổi Lễ (quốc lễ. XC) và để lại mẫu mực lâu dài.”. Mặc dầu ngày lễ hội gần tới, công việc rất bận lại tuổi cao, nhưng nhà văn đã nhận lời, và đã dành 5 ngày 5 đêm trắng viết xong bài Chúc văn. Ngay tại buổi lễ và sau đó công bố trên báo chí, bài Chúc văn được cả nước hoan nghênh. “Tác giả đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa thể loại phú cổ kính với một thứ ngôn ngữ mới mẻ, văn từ hiện đại, khiến độc giả dù trẻ tuổi cũng dễ tiếp nhận, tiếp thu”. “Một (trong những) đứa con tinh thần rứt ruột của ông”. “Hàng loạt câu biền ngẫu thật thanh tao, thật sang trọng, khiến mỗi khi đọc lên ta thấy cực sảng khoái trong lòng”. “Dường như “ông Trời’ đã phú cho Giáo sư Vũ Khiêu những điều kiện, những phẩm chất để gánh vác giúp chúng ta trọng trách soạn thảo bài văn tế đó, để rồi được đọc một cách xúc động, đầy hào khí tại Quốc lễ ngày 10 tháng Ba năm Canh Thìn (2000) trước ngôi đền thiêng của dân tộc – Đền Hùng.” (Nguyễn Minh Tường, một nhà nghiên cứu cổ văn. Sđd2. Tr. 737).

    Bừng lên nhật nguyệt

    Mây xanh hạc trắng, bát ngát trường thiên

    Rực sáng sơn hà

    Cờ đỏ sao vàng thênh thang thánh địa

    Thuyền xuôi sóng vỗ,

    Sông ba dòng tưới mát muôn phương

    Hổ lượn rồng bay

    Núi trăm ngọn chầu về một phía

    Từ đỉnh cao muôn trượng cơ đồ

    Cùng nhìn lại bốn mươi thế kỷ

    Núi mây sừng sững công cha

    Sông nước dạt dào nghĩa mẹ.

    Hàng loạt bài văn phú, văn bia khác cũng cuồn cuộn một dòng sông chữ nghĩa như thế, nhưng Văn tế Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn là bài hay nhất. Đó cũng là những tác phẩm “mệnh” của nhà văn Vũ Khiêu.

    Ông rất xứng đáng với đôi câu đối rất hay sau đây của Giáo sư Hoàng Như Mai mừng thọ ông sang tuổi Tám mươi. Đôi câu đối này còn hay ở chỗ nó đúng là câu đối mừng thọ một nhà văn quẻ Khảm và quẻ Sư:

    Đánh giặc họ Đinh, Anh chẳng phải họ Đinh, nhưng mài bút thành bảo kiếm viết một thiên điếu tụng anh hùng liệt sĩ, chống áp bức, chống bạo quyền, lâm li nhường ấy, khảng khái nhường ấy, hào khí ngút trời. Há không đánh giặc?

    Làm quan họ Đặng, Anh vốn dòng họ Đặng mà quay lưng lại công danh, tìm cái đẹp điểm tô vũ trụ nhân sinh, vui văn chương, vui nghệ thuật, uyên bác xiết bao, tài hoa xiết bao, tri âm khắp nước. Bằng mấy làm quan!

    Viết: 2001. Sửa: 2007

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Vũ Khiêu

    Sinh ngày 22-08-Bính Thìn, giờ Hợi (19-09-1916). Dương Nam. Nắng nhạt (Bạch Lộ. Tiết lệnh tháng 8): 8-9-1916. Giữa thu: 23-9-1916 (Hóa công Ly). Mệnh: Thổ (trong cát). Thượng nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Bính Thìn, Tháng Đinh Dậu, ngày Kỷ Mùi, giờ Ất Hợi. Tháng âm lệnh (xác định quẻ Hậu thiên đối với nguyên đường hào 5 quẻ Thuần Khảm chỉ biến hào không đảo quẻ). Thượng nguyên. Sinh giờ khí dương. Mã số Can Chi: 8, 5-10; 7, 4-9; 9, 5-10; 2,1-6. Số dương: 36. Số âm: 40.

    Tiên thiên

    Tiền vận

    Đại vận

    (Năm)

     Hỗ

    Tiên thiên

    Hậu thiên

    Hậu vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    1*

    0

    0

    1

    0

    25 - 30

    16 - 24

    52 - 57

    46 - 51

    37 - 45

    31 - 36

    1

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    0*

    0

    0

    1

    0

    64 – 69

    58 - 63

    91 - 96

    85 - 90

    76 - 84

    70 – 75

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    1

    0

    1

    1

    1

    1

     Thuần

     Khảm

     

     Sơn Lôi

     Di

     Địa Thủy

     

     

     Địa Lôi

     Phục

    Hoả Thiên

    Đại Hữu

     

    Hóa công: (Ly) Không. Thiên nguyên khí: Cấn ở Hỗ Tiên thiên. Địa nguyên khí: (Tốn) Không. Mệnh hợp cách mức trung bình. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hào 5.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,074,054

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/