Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,039,723

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tản Đà - Ánh chớp trong đêm thế kỷ

Xuân Cang

  • Chủ nhật, 23:11 Ngày 26/10/2008
  • Trong lịch sử toán Hà Lạc ở nước ta, Tản Đà là người mở mang đầu tiên. Vào khoảng năm 1938 – 1939 trên đường phố Bạch Mai, Hà Nội, xuất hiện một cửa hàng với dòng chữ đỏ đàng hoàng: Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà Hà Lạc lý số. Trên báo Ngày Nay lúc bấy giờ đăng quảng cáo cho cửa hàng trên nhiều số báo: Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà / Nay mai sắp ở Hà / Hà Lạc đoán lý số / Đàn ông và đàn bà / Ai gần xin đến hỏi / Thư gửi người ở xa / Biên rõ năm cùng tháng / Ngày giờ nào đẻ ta / Một cữ ước tuần lễ / Có thư mời khách qua / Quyển số lấy đã rõ / Xin cứ nói thật thà / Hán văn âm quốc ngữ / Quốc văn bầy nghĩa ra / Còn như tiền đặt quả / Nhiều năm ít có ba* / Nhiều ít tùy ở khách / Hậu bạc kể chi mà / Kính cáo. (* Năm đồng và ba đồng Đông Dương lúc đó. XC). Thời nhỏ nghe cha tôi kể chuyện, ông cũng có lân la đến quán Hà Lạc của thi sĩ Tản Đà xem cho tôi một quẻ. Nhà tôi ở một làng ven đô Hà thành. Tôi không hề biết lá số của tôi thế nào, chỉ nhớ nó bằng quyển vở học trò có chữ quốc ngữ viết tay bằng thơ lục bát. Và nhớ cha tôi kể: “Ta có ra quán thi sĩ Tản Đà xem cho con lá số. Ta hỏi đặt tên cho con là Cang có đúng không? Ông bảo được đấy.” Chỉ có thế. Lớn lên, tôi mê văn thơ Tản Đà, thường giấu những Giấc mộng lớn, Giấc mộng con, Thề non nước trong hộc bàn học, cùng nhiều sách khác, vừa nghe thày giáo giảng bài vừa lén đọc. Bây giờ nghiên cứu Hà Lạc, tôi vẫn thường mong ước làm sao soạn được một chân dung Tản Đà bằng Hà Lạc. Để trả ơn ông. Để thắp một nén nhang tưởng nhớ ông tổ Hà Lạc ở nước ta.

    Trong việc này khó nhất là không biết giờ sinh của Tản Đà. Tôi ngờ rằng chính ông cũng không biết, do các bậc cha mẹ không quan tâm, hoặc dữ kiện bị chìm lấp trong việc sinh nở nhiều con cái, hoặc chính nhà thơ khi chú ý giờ sinh của mình thì không còn hỏi được các cụ nữa. Có lẽ đó cũng là lý do ngày nay không tìm thấy bài toán Hà Lạc ông soạn cho chính ông.

    Nhưng tôi có cách tìm ra giờ sinh của Tản Đà.

    Trước hết là vấn đề ngày sinh. Mỗi sách chép một dữ liệu. Sách của Tầm Dương (Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn. NXB Khoa học Hà Nội, 1964) chép là 28-4 năm Mậu Tý (1888). Sách của Văn Tâm, cũng chính là Tầm Dương (Góp lời thiên cổ sự. NXB Văn Học, Hà Nội, 1991) chép là 31-5-1889. Ngay cái ngày sinh chính thức công bố vào lễ kỷ niệm gần đây nhất trang trọng đặt ở giữa bàn thờ: 25-5-1889 đến 25-5-1999 cuối cùng cũng không được người nhà ông công nhận. Chị Nguyễn Phượng Tường, con gái ông bảo tôi: Sở Văn hoá Hà Tây, cùng với gia đình mầy mò điều tra, cuối cùng kết luận ngày sinh của cụ đúng thực là 19-5-1889 cơ. Tôi nói: Để tôi dùng dữ liệu này, nếu quẻ Hà Lạc ứng nghiệm với từng bước đường đời của nhà thơ thì có nghĩa là các anh chị đã tìm ra đúng ngày sinh của cụ. Và chỉ vài giờ sau tôi đã có thể reo lên: Thế là chúng ta đã tìm ra đúng ngày giờ sinh của Tản Đà.

    Cách làm của tôi đơn giản như sau. Tôi thử dựa vào dữ liệu tin cậy nhất là ngày 19-5-1889. Nhờ bảng tìm Can Chi căn cứ vào ngày dương lịch của nhà lịch học Lê Thành Lân xác định Can Chi ngày 19-5-1889 là ngày Ất Mùi (Nguyễn Hoàng Phương – Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai – NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr. 247). Lần lượt tìm 12 quẻ ứng với 12 giờ trong ngày Ất Mùi. Một trong 12 quẻ đó sẽ là quẻ tiên thiên của Tản Đà. Việc này không khó lắm nhờ có máy vi tính. Và khi cả 12 quẻ đã lần lượt hiện lên thì trước mắt tôi sừng sững một quẻ mà tôi tin chắc đó là mệnh văn chương của Tản Đà. Linh tính báo cho tôi biết không thể có một quẻ thứ hai nào khác. Đó là quẻ Sơn Thủy Mông với giờ sinh là giờ Bính Tý. Một chân dung Tản Đà hiện lên rõ mồn một, từng nét như sơn khắc, lại huyền ảo ẩn hiện như sơn mài, mà càng mài càng hiện. Như trời cho, như định mệnh. Sơn là núi, Thủy là nước. Mông là mông muội, là thời mà trời đất còn mông lung, đen tối, con người cần được mở mang dạy dỗ cho sáng dần. Tượng quẻ là dòng suối nhỏ hình thành trên đỉnh núi len lách chảy dần xuống thành suối, thành sông. Trước nay người ta chỉ biết quê ông ở miền Khê Thượng, Ba Vì, làng quê như cái nôi nằm giữa núi Tản sông Đà nên ông lấy tên là Tản Đà. Ai hay đâu cái tên ấy bắt nguồn từ mệnh văn chương Sơn Thủy. Tản là núi Tản, là Sơn, Đà là sông Đà, là Thủy. Mà không phải chỉ có cái tên, nhắc đến Tản Đà là nhớ ngay đến Thề Non Nước, bài thơ in dấu son lên cuộc đời văn chương của Tản Đà, cảm hứng bắt nguồn từ tố chất thiên nhiên Núi non, Sông nước:

    Nước non nặng một lời thề

    Nước đi đi mãi không về cùng non

    Nhớ lời nguyện nước thề non

    Nước đi chưa lại non còn đứng không

    Non cao những ngóng cùng trông

    Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

    Các nhà Dịch học dành quẻ Mông để nói về sứ mạng giáo hóa dân trong thời mông muội. Có thể nói những triết lý cô đọng nhất, tổng kết về sự nghiệp giáo dục được thể hiện ở 6 vạch âm dương quẻ này. Còn các nhà Hà Lạc dự đoán học thì dành quẻ Mông để nói về hành lang số phận các nhà giáo, các nhà ngôn luận, làm sử, làm triết, làm văn cũng với sứ mạng giáo hóa dân từ cõi mờ mịt, hỗn mang, tăm tối... Tản Đà sinh trong thời khắc nào, mà sao trời đất đã xui ông sớm viết những tác phẩm dạy dỗ trẻ em như Lên Sáu, Lên Tám, về sau là Đài Gương Kính, Quốc Sử Huấn Mông. Ông gọi những tác phẩm Lên Sáu, Lên Tám là Tản Đà Nhi Quý Sửu văn tập, nghĩa là Tập văn năm Quý sửu của đứa trẻ Tản Đà. Không nghi ngờ gì nữa, Sơn Thủy Mông chính là thân phận và sứ mạng của Tản Đà. Như vậy Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh năm Kỷ Sửu, tháng Kỷ Tị, ngày Ất Mùi, giờ Bính Tý. Quẻ Tiên Thiên phản ánh tiền vận của đời ông là Sơn Thủy Mông, hào nguyên đường chủ mệnh là hào 2: Là bậc hiền tài lớn, đại lượng, bao dung được mọi việc, giữ hòa khí với mọi người, trung hiếu vẹn toàn. Dù có là mệnh không hợp cách thì cũng mở mang lập nghiệp nhà, vợ đảm con quý. Lời hào của Chu Công Đán chép rằng: Bao dung kẻ mờ tối, tốt. Dung nạp hạng người nhu ám, tốt. Phận con mà sửa trị việc nhà. (Xem hào 2 quẻ Sơn Thủy Mông). Số phận tốt đến như thế. Lại có Hóa công, ưu tiên năng lượng của trời đất, có Địa nguyên khí. Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào 2 dương cương, đắc trung, nên bảo là có đức bao dung; nó làm chủ quẻ nội, thống trị cả 4 hào âm, cho nên bảo nó dung nạp được các hào âm (có thể hiểu các hào âm như đàn bà); nó ở dưới thấp mà lại là hào quan trọng nhất nên ví nó như người con mà cai quản được nghiệp nhà. Đuợc hào này là tốt. Phan Bội Châu chỉ rõ thêm: Hào 5 ở địa vị tôn quý trong quẻ, tức như cha trong nhà, hào 2 ở duới, như con. Cha nhu nhược vì là âm, con cương cường, sáng suốt, vì là dương, cảm hóa được cha, làm cho cha hết hôn ám, như vậy là con sửa trị được việc nhà. Thực tế vị thế và cuộc sống trong gia đình Tản Đà đã diễn ra đúng như thế. Nhà văn Nguyễn Văn Phúc, cháu gọi Tản Đà là ông trẻ, đã kể trong hồi ký Tôi với Tản Đà: Tuy trước kia ông cụ thân sinh ra Tản Đà cũng làm đến quan tỉnh (Nguyễn Danh Kế, án sát Hà Nam. N V P chú thích), nhưng khi đang tại chức, ngài rất cương trực và thanh liêm nên gia tư rất là thanh bạch, ruộng nương không có đến một mẫu, nhà cửa không có đến một ngôi... Bà mẹ sinh Tản Đà vốn là một cô đào hát tài sắc vẹn toàn. Nhưng chẳng may ông án mất khi cậu bé Hiếu mới lên ba tuổi. Bà mẹ trẻ tái giá, thế là cậu sống với “mẹ già” và anh cả, theo ông anh đi đây đi đó, học hành và tính bề lập nghiệp theo con đường khoa cử. Sống trong cảnh bần hàn thanh bạch, Tản Đà lúc đó đã ôm ấp một cao vọng mà người chỉ chờ thời thế... (Tôi với Tản Đà. NXB Văn Học – Hà Nội - 1994). Khi thơ văn Tản Đà còn chưa đăng báo mà nhiều người đã biết tiếng tăm. Một hôm Tản Đà nhận được thư của Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy đang làm chủ nhiệm tờ Trung Bắc Tân Văn, mời viết bài cộng tác, hứa sẽ trả tính số tiền đến trăm đồng mỗi tháng. Một trăm đồng lúc ấy là to lắm. Nhưng Tản Đà đã từ chối vì:...Tôi đã có ý định, nếu khi mình ra góp mặt với đời thì tự mình phải đứng chủ trương một cơ quan ngôn luận. Cơ quan ngôn luận đó sẽ hoàn toàn thực hành những quan niệm về văn chương, sẽ trình bày những lý tưởng của mình noi theo với quốc dân... Đi theo một người khác để nhờ người tiến cử hộ thời một nhà văn biết tự trọng không bao giờ chịu làm. (Tôi với Tản Đà. Sđd). Tính dương cương, đắc trung là như thế. Cái vị thế làm người dưới mà phải gánh vác việc lớn của cha mẹ là như thế. Nhưng cái vị thế này ta không nên hiểu trong một gia đình. Tản Đà là một tài năng sinh giữa buổi giao thời của hai thế kỷ, lúc thơ cổ tàn, và thơ kim đang phôi thai. Tản Đà bắt đầu ca lên những điệu mới, đầy rẫy hồn thơ. (Xuân Diệu. Ngày Nay số 166 ngày 17-6-1939). Cái vị thế hào 2 dương bây giờ được xem xét ở tầm của thời đại, ta sẽ thấy Tản Đà là như thế nào.

    2

    Xin bỏ qua chân dung thời nhỏ của ông, tuy mảng này cũng rất lý thú. Ta bắt đầu từ Đại vận hào 4 quẻ Sơn Thủy Mông, từ năm ông 16-21 tuổi (1904-1909). Đây là chặng đường đời khốn khó vào loại nhất của nhà thơ: Tài năng đã bộc lộ nhưng thân phận còn bị khốn trong vòng tối tăm, không gặp được người giỏi để học, cứ thui thủi giữ tiết lấy một mình, uổng tài ở nơi hẻo lánh (Xem Lời hào 4 quẻ Mông). Những năm này, Nguyễn Khắc Hiếu theo ông anh là Phó bảng Nguyễn Tái Tích nay Nam Định, mai Sơn Tây, Vĩnh Yên... chuyên tâm vào lối học khoa cử. Gia đình ông anh đông người, sinh hoạt khó khăn, ngoài cơm ăn áo mặc, kiếm một ngòi bút, một tờ giấy cho việc học hành đối với ông cũng đã là một chuyện không dễ dàng. (Tầm Dương - Tản Đà khối mâu thuẫn lớn. NXB Khoa học Hà Nội, 1964. Sđd). Năm Giáp Thìn (1904) ông thuộc quẻ Vị Tế: Dở dang, chưa qua sông. Năm Ất Tị (1905) là quẻ Tụng: có xung đột, tranh chấp, kiện tụng. Đến năm Đinh Mùi (1907) vừa 19 tuổi sáng lên một quẻ Thuần Đoài: Hai lần vui. Đúng năm này tình yêu đầu chớm nở. Mỗi buổi chiều tan học, ở Gia Ngư về phố Hàng Nón, Nguyễn Khắc Hiếu thường phải mua đường đi vòng qua phố Hàng Bồ là nơi có một bóng dáng đã thu hút mất hồn. Nhờ ông anh rể là Nguyễn Thiện Kế thăm hỏi mới biết nàng là con gái ông Đỗ Thận (cũng là một nhân vật nổi tiếng thời đó), tiêu chuẩn kén chồng của nàng là cái ấn quan huyện. Bèn quyết chí học để vào trường Hậu bổ, học làm quan. Năm Mậu Thân (1908) là quẻ Tùy, hào 2: ràng buộc với người thấp kém thì mất kẻ trượng phu. Năm Kỷ Dậu (1909) là năm quẻ Cách, năm quyết định, cách mạng, cải cách, nhưng phải cái hào 3 xấu lắm: Tiến liều thì hỏng, phải tính toán sắp đặt thế nào, phải biết thận trọng, lo lắng, học trò phải thi lại... Quả nhiên năm này, thi vào trường vấp phải kỳ o-ran (đối thoại), “lại đến o-ran là bước khó” không thể vượt qua.

    Đại vận hào 5 quẻ Mông (1910-1915), cuộc đời bắt đầu khởi sắc sau những năm trăn trở. Đây là chặng đường nhà thơ có địa vị tôn quý, được chọn đảm nhiệm việc lớn, biết dựa vào người hiền, nên công việc trôi chảy (Lời hào 5 quẻ Mông). Vẫn còn là những thời Hoán (vào năm Canh Tuất-1910) thời ly tán, chia lìa; thời Thuần Khảm (Tân hợi-1911) hai lần hiểm trở; thời Tiết (Nhâm Tý-1912, quẻ Thủy Trạch Tiết) đòi hỏi điều chỉnh, tiết chế bản thân, rồi đến thời Truân (Quý Sửu-1913, quẻ Thủy Lôi Truân) gian truân mở đường. Rồi mới đến hai năm cuối cùng của đại vận là năm Giáp Dần-1914, năm Thủy Hỏa Ký Tế, đã sang sông (đã xong việc lớn), tiếp đến năm Ất Mão, năm của thời Cách, quẻ Trạch Hỏa Cách với hào 4 tuyệt vời, khác hẳn với hào 3 quẻ Cách năm nào.

    Dựa theo tài liệu của Văn Tâm (Tầm Dương) ta sẽ thấy hoạt động của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đi theo cái hành lang số phận của mình chặt chẽ biết chừng nào. Có thể thấy những năm Hoán (chia lìa), Khảm (hiểm hãm), Tiết (tiết chế) là những năm tan vỡ mối tình đầu đơn phương, kết thúc bằng cuộc thất bại kỳ thi học làm quan với bài hỏi mẹo về văn sách. Về sau chàng sĩ tử trong trắng đã ghi lại cuộc thất bại đó như một lời nguyền: các sự bẩn thỉu trong đời không cái gì bẩn bằng văn sách hỏi mẹo (Theo Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn. Sđd). Chàng từ bỏ con đường khoa cử làm quan, tiếp xúc với các sách Tây phương, các tư tưởng tân tiến trên báo chí Trung Quốc thâm nhập vào trong nước, dựa vào những người hiền là nhà thơ Nguyễn Thiện Kế, nhà kinh doanh Bạch Thái Bưởi. Dấu ấn quẻ Tiết để lại trong đời sống Tản Đà thật là khó quên. Sau những gian truân, hiểm hãm, đến quẻ Tiết, hào 1, hướng con người vào việc tự điều chỉnh, tự tiết chế mình. Lẽ trời thế mà lẽ đời cũng thế. Tự tiết chế cho cân bằng, cho chừng mực vừa phải thì không sao, như người không ra khỏi cổng, sân, không lỗi gì (Lời hào 1 quẻ Tiết). Nhưng ở Tản Đà, bên cạnh quẻ Mông, hay đúng hơn trong lòng quẻ Mông, có quẻ Địa Lôi Phục. Lôi là Sấm, tượng của cái động, mạnh mẽ, chấn động, với ưu tiên năng lượng dồi dào của trời đất, nên đã tiết là tiết ghê tiết gớm, tiết quá chừng. Chu Văn Vương cũng đã nhắc trong lời Thoán quẻ Tiết rằng: Tiết chế đến mức cực khổ thì không ai chịu được lâu (xem quẻ Tiết). Tản Đà đã tiết đúng như thế. Ông đã trôi nổi về ấp Cổ Đằng (nơi khai hoang của Nguyễn Thiện Kế), ở đây, tâm bệnh ngày càng tăng, đến một cơn khủng hoảng tinh thần, “cái bụng chán đời đến cực điểm” (Giấc mộng lớn), nhà thơ đã thử thách mình bằng một cuộc “tịch cốc” (nhịn ăn cơm). Ông đã kể lại trong Giấc mộng lớn: sau ba hôm nhịn ăn, khát không chịu được thì còn phải uống nước. “Ba hôm như thế, sầu khổ không thể chịu được nữa, thời lại phải uống rượu. Rượu cũng uống suông, mà uống đến thật say, nguyên đã ba hôm không ăn, trong bụng hư không, lại một phen say rượu mê ly, thành ra từ đấy về sau khác hẳn từ đấy về trước. Bụng không biết no, không biết đói, người không biết vui, không biết buồn, chỉ cứ mỗi ngày một bữa rượu, hoặc uống suông, hoặc ăn một đĩa rau dưa nhỏ con, xong rồi đem chõng ra nằm dưới gốc cây ngọc lan, nghe những con chim kêu trên cành cây, hoặc là xem những đám mây đi trên không, xem kết cục đến đâu là hết... (Theo Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn. Sđd). Sau ba tháng ở ấp Cổ Đằng, Tản Đà về quê. Ở Cổ Đằng ăn toàn rau, thì bây giờ ông lại ăn toàn thịt. Ba tháng sống một cách dị thường nữa trôi qua. Sau đó, Nguyễn Khắc Hiếu sang phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Yên), ở với Nguyễn Tái Tích, một người anh, và bắt đầu “tập ăn cơm”. Quẻ Tiết chỉ đến với Nguyễn Khắc Hiếu một lần như thế trong đời. Nó có tác dụng gì không biết, chỉ biết những năm tháng ấy đã ra đời hai tập bản thảo mà hai phần ba thế kỷ sau đó, lại lưu lạc đến tay người con cả của ông: nhà “Tản Đà học” Nguyễn Khắc Xương. Tập thứ nhất có tên Quý Sửu niên, Tản Đà văn tập nghĩa là Tập văn Tản Đà năm Quý Sửu (1913), dày 40 trang, chép 33 bài văn xuôi và 9 bài thơ. Tập thứ hai có tên Tản Đà Nhi Giáp Dần văn tập, nghĩa là Tập văn của đứa trẻ Tản Đà năm Giáp Dần (1914), dày 104 trang, chép 30 bài văn xuôi và 5 bài thơ. (Nhân tiện nói thêm: Tập Quý Sửu, bìa trong cũng có 3 chữ Tản Đà Nhi). Có nghĩa là mặc dầu trải qua những hoán tán, khảm hiểm, rồi là truân nạn, nhưng rõ ràng là công việc sáng tác văn thơ vẫn trôi chảy, như lời hào 5 quẻ Mông nói về cả chặng đường.

    Và với tài năng Tản Đà, cái gì phải đến đã đến, như tín hiệu Hà Lạc năm Ất Mão (1915) hào 4 quẻ Cách: Mưu cao chí lớn, làm được cuộc cách mệnh, hợp lý hợp tình, được tiến cử, đổi được cái mệnh của mình. Năm này Đông Dương tạp chí đăng những bài văn xuôi đầu tay của Tản Đà, khen: Nguyễn Khắc Hiếu là một bậc văn sĩ có biệt tài, có lý tưởng riêng, ngắm cảnh vật một cách kỳ khôi, lạ thay cho một bậc thiếu niên. Thoạt tiên mở riêng mục Một lối văn xuôi (specimen de prose) sau đổi thành Tản Đà văn tập. (Theo Văn Tâm: Góp lời thiên cổ sự. Sđd). Đúng là ông đã đổi được cái mệnh của mình. Cũng trong năm quẻ Cách này ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Tùng, con gái của Cử nhân Nguyễn Mạnh Hướng.

    15 năm tiếp theo gồm hai chặng đường 9 năm và 6 năm là đỉnh cao trong cuộc đời văn chương, báo chí của Tản Đà, sáng rực rỡ như một “ánh chớp trong đêm thế kỷ”.

    Lời hào 6 dương quẻ Mông (đại vận 9 năm) báo trước rằng đây là một chặng đường đặc biệt, chủ thể sẽ quan tâm rất nhiều về phương pháp giáo hóa dân (lời hào: phép đánh bật cái ngu tối đi), có nghĩa là ở Tản Đà sẽ quan tâm nhiều về phép tắc, cách thức, hình thức, làm sao tác động mạnh mẽ tới người dân thường, trong điều kiện thời thế còn tăm tối, dân chưa thức tỉnh, có một bộ phận dân còn khó bảo, Dịch học gọi là “loạn dân”. Đối với những “loạn dân” ấy, phải biết từ tốn, đừng ức chế dân, làm cho dân thành giặc. Hà Lạc bảo đây là những năm có danh vị, lợi lộc, hoặc lập chiến công, đầy chí khí, không sợ đảm nhiệm việc lớn. (Những chữ in nghiêng ở trên là lời hào 6 quẻ Mông). Trên đây là tín hiệu chung của cả chặng đường. Ta hãy xem từng năm. Năm Bính Thìn (1916) năm đầu tiên của đại vận là năm dương, cũng chính là năm thể hiện hào 6 quẻ Mông đã nói trên kia: Tản Đà đã khước từ ân huệ của Vay-rắc, giám đốc trường Hậu bổ lúc đó, cho vào thẳng trường, không phải qua o-ran, có nghĩa là từ bỏ mộng làm quan, dứt khoát đi vào văn nghiệp, không sợ đảm nhiệm những việc lớn. Ông xuống Hải Phòng viết những vở tuồng như Tây Thi, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai cho rạp Nguyễn Đình Kao. Năm Đinh Tị (1917) hào 3 quẻ Sơn Phong Cổ nói về sự sửa sang cái đổ nát của cha mẹ, (cũng có nghĩa là của thế hệ trước), hào 3 bảo rằng: Sửa sang sự đổ nát của cha, có chút hối hận, nhưng không có lỗi lớn. Là kẻ sĩ cương quyết, sửa trị không kiêng nể, có sai, nhưng rồi được sửa. Tản Đà viết truyện dài đầu tiên của văn xuôi Việt Nam: Giấc mộng con I, xu thế văn tả hiện thực “cái tôi” rất mạnh mẽ. Đến nỗi sang năm 1918, viên thượng thư tương lai của triều đình Huế, Phạm Quỳnh, chủ bút tạp chí Nam Phong phê phán hết sức nặng lời về xu thế ấy trong Giấc mộng con I:... “Người ta phi người cuồng, không ai trần truồng mà đi ngoài phố. Nhà làm sách cũng vậy, không ai đem thân thế mình mà làm truyện cho người đời xem”. Nhưng cũng trong năm 1918 ấy, nhà văn Dương Bá Trạc (1884-1944) viết: “Mới mươi mười lăm năm nay, sĩ phu trong nước mới có khuynh hướng về văn quốc âm... Ông Nguyễn Khắc Hiếu chính là một tay kiện tướng trên trường hãn mặc ấy”. (Hãn mặc: bút mực). Cương quyết, sửa trị không kiêng nể, nhưng không có lỗi lớn, có phải là vậy chăng?

     Năm Mậu Ngọ (1918) quẻ Địa Phong Thăng, hào 6 bảo rằng cầu lên nữa là mờ ám, nên tu tỉnh. Bình luận hào này, Phan Bội Châu bảo rằng: Không cầu lên về địa vị, nhưng hướng về tu đức lại rất hay. Chắc chắn Tản Đà hướng về tu đức, ta sẽ thấy sau đây. Năm Kỷ Mùi (1919) quẻ Địa Thiên Thái, hào 1: Có một cuộc tiến hành lớn, quang minh, chính đại, cùng bạn đồng hành, có ngày vượt lên. Hai năm này Tản Đà viết truyện Thần Tiền. Nhân vật là đồng tiền kể chuyện mình: khi ở trong tay người nông dân, khi vào cửa quan, khi là bình dân, khi trở thành thần, qua tâm trạng và tính cách thần tiền, mà làm bật lên các nhân vật xung quanh thần tiền. Cũng trong năm Kỷ Mùi, với khí thế cuộc tiến hành lớn của hào 1 quẻ Thái, Tản Đà viết Lên Sáu, cuốn sách giáo dục trẻ em, viết xong in ngay, sau đó là Lên Tám.

    Năm Canh Thân (1920) được quẻ Địa Hỏa Minh Di. Minh là Sáng, Di là Đau. Minh Di là ánh sáng bị tổn thương. Hào 2 âm quẻ Minh Di bảo rằng năm nay ánh sáng bị tổn hại, nhưng rồi sẽ vượt lên như con ngựa mạnh. Riêng với kẻ sĩ sẽ có cái mừng chiếm được công đầu. Năm Canh Thân đã diễn ra với Tản Đà đúng như thế. Tháng Giêng, được sự giúp đỡ của một nhà doanh nghiệp, ông Bùi Huy Tín, chủ nhà in Đắc Lập, Huế, ông đi thăm Huế. Và Tản Đà đã rời gia đình vào đúng ngày 30 tết năm Kỷ Mùi, hôm sau đã là mồng một tết năm Canh Thân. Canh Thân ăn tết Thăng Long / Sáng ngày mồng bốn vào trong Trung Kỳ. Tản Đà lúc này danh tiếng đã nổi như cồn, nhưng chuyến đi thăm Huế ấy không khỏi làm cho ánh sáng bị tổn thương bởi lời phê phán nghiệt ngã của Phạm Quỳnh còn đó và ở ngay trên đất Huế. Nhưng, với khí chất thiên nhiên là Sơn Thủy, chuyến đi thăm Huế ấy cũng đã làm thức dậy những cảm xúc mãnh liệt, sau này Tản Đà ghi lại trong Giấc Mộng Lớn: “Rộng mắt nhìn sơn hải, mà nặng lòng chủng tộc giang sơn. Trèo lên đỉnh Hoành Sơn mà trông quanh ngoài bể trong non, có hơn như phục dưới đèn xanh đọc một thiên luận thuyết tự tôn vậy”. Chính trong năm ấy, nhà thơ viết truyện ngắn Thề Non Nước, kể chuyện mối tình chia ly thương nhớ, trong đó có bài thơ Thề Non Nước nổi tiếng, bài thơ mệnh của Tản Đà. Cảm xúc Huế vận vào quẻ Sơn Thuỷ Mông mang dấu ấn quẻ Minh Di (tổn thương) đã làm nên những câu thơ đẹp sống mãi trong lòng người đọc:

    Nước non nặng một lời thề

    Nước đi đi mãi không về cùng non

    ...............

    Dù cho sông cạn đá mòn

    Còn non còn nước hãy còn thề xưa

    Non cao đã biết hay chưa

    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

    Nước non hội ngộ còn luôn

    Bảo cho non chớ có buồn làm chi

    Nước kia dù hãy còn đi

    Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

    Năm Tân Dậu (1921) Tản Đà được quẻ Địa Lôi Phục. Phục là trở lại, trong quẻ này là trở lại với cái tốt lành. Hào 3 chủ mệnh bảo rằng: Trở lại theo điều thiện nhiều lần, chưa được là quý nhân, lúc tiến lúc thoái, dễ sinh miệng tiếng, nhưng không hối thẹn. Mệnh năm kẻ sĩ sẽ đứng đầu sổ, thành danh (xem Lời hào 3 quẻ Phục). Sự tình trong thực tế đã diễn ra như sau: Ông được mời làm chủ bút báo Hữu Thanh. Hữu Thanh là Tiếng Bạn. Báo Hữu Thanh là tờ báo cất tiếng gọi đàn, cơ quan của Hội Ái hữu Trung Bắc kỳ nông công thương tương tế, do nhóm các ông Nguyễn Huy Hợi và Nguyễn Mạnh Bổng chủ trương. Làm chủ bút báo Hữu Thanh, Tản Đà liền có ngay những chủ trương cách tân. Ví dụ: số 3 Hữu Thanh ra ngày 1-9-1921, đăng vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long với lời giới thiệu khen ngợi của Tản Đà. Sau này quả nhiên vở kịch được công chúng nhiệt liệt hoan nghênh, ông Vũ Đình Long, cùng với nhiều hoạt động khác, trở thành một nhà văn hóa lớn. Làm chủ bút Hữu Thanh được sáu tháng, không biết chuyện gì đã xảy ra, ông phải từ chức. Xem lời hào và quẻ tôi ngờ rằng ông mắc lỗi gì đó, phải sửa trở lại nhiều lần, lúc tiến lúc thoái, sinh miệng tiếng, nên họa sinh từ đây. Nhưng lời hào còn bảo rằng không hối thẹn. Tản Đà là người rất biết cái mệnh và khí chất của mình, nên cuộc chia tay với Hữu Thanh diễn ra rất chủ động, không có gì phải ăn năn, như bốn câu thơ từ biệt bạn đọc sau đây:

    Mới nửa năm trời báo Hữu Thanh

    Biệt ly lai láng xiết bao tình

    Chút tình hữu ái không ly biệt

    Tiếng gọi đàn xa núi Tản xanh.

    (Theo Nguyễn Văn Phúc: Tôi với Tản Đà. Sđd)

    Năm Nhâm Tuất (1922) được quẻ Thuần Chấn. Tượng quẻ là hai lần sấm động. Sấm động thì vạn vật nẩy nở nên hanh thông. Mệnh Tản Đà có Hóa công ở Chấn nên có ưu tiên năng lượng của giời đất. Lời quẻ bảo rằng sấm động thì hanh thông nhưng người quân tử phải biết lo sợ và tĩnh tâm thì mới khỏi tai nạn. Quẻ tốt nhưng hào chủ mệnh là hào 4 thì xấu. Lời hào 4 bảo rằng: Sấm chìm xuống bùn. Hãy tiết chế dục vọng, tuy sự nghiệp không khởi sắc nhưng cũng duy trì được tư thế. Kẻ sĩ phòng ruồng bỏ đình đốn. Tản Đà về quê với vợ trẻ con thơ, mất chỗ làm ăn, mất nguồn lợi sinh sống, rõ ràng là phải tiết chế rất nhiều. Tháng ba năm ấy lão mẫu (mẹ già) qua đời, ứng vào hào 6 quẻ Thuần Chấn: Sấm kinh hoàng. Đề phòng tai họa xấu. Nhưng nhờ có Hóa công nên không đến nỗi sụp xuống bùn lầy. Hào 6 quẻ Thuần Chấn biến âm thành dương thành quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Phệ là cắn, Hạp là hợp. Phệ Hạp là cắn để hợp, ngày nay là đấu tranh để hòa hợp. Lo lễ tang cho mẹ già xong, Tản Đà ra Hà Nội, cùng hai người bạn nữa, lập Tản Đà thư điếm, sau đó lại hợp với Nghiêm Hàm ấn quán, gọi tên là Tản Đà tu thư cục.

    Hai năm cuối của đại vận 9 năm, hào 6 dương quẻ Mông, Tản Đà dành phần lớn hoạt động cho Tản Đà tu thư cục, chủ yếu cho công việc dịch thuật. Đó là hai năm quẻ Trạch Lôi Tuỳ (1923) và Thiên Lôi Vô vọng (1924). Tuỳ là Theo. Chủ mệnh hào 5 quẻ Tùy: Có lòng thành dùng người hiền, nên có kết quả, nhiều người theo, lập được công. Vô vọng là Không dục vọng, không càn bậy. Chủ mệnh hào 6 quẻ Vô vọng: Nên sống yên tĩnh, vô tư, trong sáng, hành động thì bị họa. Giữ gìn nhưng cũng phải thông biến thì mới phòng được nguy, giữ được phúc trạch. Vận năm cho kẻ sĩ là thấu được tình nhưng không đạt được lý. Chỉ nghe tên quẻ cũng đủ thấy hai năm này thuận cho việc dịch văn thơ. Muốn dịch cho hay tất phải thông tuệ mà theo người, vô tư, không dục vọng, trong sáng nhưng cũng phải thông biến, có thể thấu tình, nhưng đạt lý thì khó đấy. Thời kỳ này, Tản Đà viết Quốc Sử Huấn Mông; cùng Nghiêm Thượng Văn, Đặng Đức Tô dịch Đại học, dịch thiên Quốc phong trong Kinh Thi, san nhuận bản dịch Tỳ Bà hành của Đoàn Tư Thuật. Những năm này mở đường cho cảm hứng dịch và nghệ thuật dịch của ông trong nhiều năm sau.

    Tuy nhiên sứ mạng thức tỉnh con người trong thời Sơn Thuỷ Mông không cho ông “Tuỳ” với “Vô vọng” mãi được. Một chặng đường mới đã đến, bắt đầu từ năm Ất Sửu (1925) ứng với đại vận hào 1 quẻ Mông: Làm sáng tỏ phép tắc, phương pháp giáo hóa dân từ cõi mù mịt. Đây là những năm gặp được quý nhân, chuyên cần đi vào sự nghiệp, không mưu cầu danh lợi, cũng không cần văn bằng, kiên trì xây dựng những tấm gương, không cần quyền uy mà vẫn thưởng phạt được (lời hào 1). Sang năm 1925, thế cục xoay vần, cùng lúc vận mệnh Tản Đà bước vào hành lang mới, ông quyết định dừng Tản Đà thư cục, tìm cách mở tờ báo mới.

    Đang lo làm sao xoay được vốn thì bỗng gặp quý nhân. Một người không quen biết, trong một cuộc gặp ngẫu nhiên giúp cho một trăm bạc. Công việc cần đến 3000 bạc, nhưng với cái vốn nhỏ nhoi ban đầu ấy, cũng đủ cho Tản Đà thuê được nhà, xin được giấy phép, giật gấu vá vai, ra được tờ An Nam tạp chí. Số đầu tiên ra mắt quốc dân ngày 1 tháng 7 – 1926.

    Ra được tờ An Nam tạp chí, nắm trong tay tờ báo, hoàn toàn chi phối nó, chính là một điều đắc ý của Tản Đà. Bởi vì có vậy ông mới viết cho thỏa ý mình, mới hành động cho thỏa cái chí bình sinh của mình. Bởi vậy, dù có điêu đứng trăm bề, nợ nan chồng chất, dù tờ báo có chết đi sống lại (từ lúc ra báo đến lúc dừng hẳn cả thảy 5 lần chết sống), ông cũng vui lòng. Ai hay trong hành động quyết liệt ấy, tiềm ẩn cái mệnh trời cho: Làm sáng tỏ phép tắc (đường lối), phương pháp giáo hóa dân.

    Tản Đà ra sức chăm sóc tờ tạp chí. Ngay cái tên tờ tạp chí, ông cũng có chủ đích. Khi có người băn khoăn khó chịu về cái tên An Nam, ông viết bài giải thích: “Không cứ những người thôn quê ít học, đàn bà trẻ con cùng với nhau nói chuyện cũng là nói “người An Nam ta”... “Quốc hiệu là cái chữ, cái tiếng để gọi tên một nước, quý hồ cho mọi người trong nước cùng biết, không cần phải nhận nghĩa lắm làm chi. Nếu nước ta sau này mà trời cho khá lên thì hai chữ An Nam cũng chẳng khác gì những chữ France, Japon, Angleterre, Russie, Etats-Unis, Chine... Nếu hèn mạt không ra bộ dạng gì, thì dẫu Đại Việt hay Đại Nam, hay là Đại Cồ Việt, mà cũng chỉ là cái nước ấy vậy.” (Theo Tầm Dương. Tản Đà khối mâu thuẫn lớn. Sđd).

    Ông cho mở hai mục Việt Nam nhị thập thế kỷ – Xã hội thiển đàm và Việt Nam nhị thập thế kỷ – Xã hội ba đào ký và khai bút cho hai mục này, nói rõ chủ trương ghi chép chuyện đời, cảnh thế sự thăng trầm trong xã hội đương thời. “Bản chí khai thiết ra mục này để hoan nghênh các bài lai cảo của đa số quốc dân trong ba kỳ, không cứ người có nhiều văn học hay kém sự học vấn, người tai mắt ở thành thị hay ông lão thôn quê, phàm những điều mắt thấy tai nghe trong khoảng 30 năm nay (là kể từ năm 1901 tới nay), không kể điều hay nhẽ dở, sự nhỏ việc to trong xã hội, xin nhất thiết gửi về cho bản chí. Bản chí rất vui lòng đăng tải, để người nơi nọ biết được sự tình của người nơi kia, kẻ sinh thuở sau được nghe câu chuyện về thuở trước.” Những bài Xã hội thiển đàm và Xã hội ba đào ký đầu tiên trên An Nam tạp chí đều do Tản Đà viết.

    Ông kể sự khó khăn lúc mở Tản Đà tu thư cục ở Hải Phòng, cảnh tang thương ở Trấn Hải Đài (Thuận An), tình cảnh trí thức thất nghiệp, câu chuyện khôi hài về chiếc ô tô... Sau Tản Đà là đến Nguyễn Công Hoan. Với mấy chục truyện ngắn đăng liên tục trong Xã hội ba đào ký của An Nam tạp chí, Nguyễn Công Hoan đã bước hẳn vào con đường văn học hiện thực phê phán. Cũng có thể nói An Nam tạp chí chính là bà đỡ của nhà văn Nguyễn Công Hoan nổi tiếng sau này. An Nam tạp chí còn mở hai mục Văn đàn và Thi đàn giảng tập, chuyên bàn về việc viết văn thơ thế nào cho hay. Chẳng hạn, theo Tầm Dương, những ý kiến của Tản Đà về công việc của nhà văn còn khiến cho các nhà văn hiện nay phải suy ngẫm. Tản Đà nói rằng muốn thành nhà văn chân chính phải có công phu: Trừ súc văn liệu, (thu thập tài liệu sống, tài liệu văn học); quảng bị văn thức (học tập kiến thức văn học, kỹ thuật nghiệp vụ cho rộng); bảo dưỡng tinh thần (giữ cuộc sống trong sạch cho tinh thần minh mẫn).

    An Nam tạp chí cũng chĩa ngọn bút sắc sảo vào những kẻ quan lại đục khoét bòn rút của dân đen. Tản Đà viết về vụ ăn hối lộ của tri phủ Anh Sơn (Nghệ An): Thái Bình chưa dứt tiếng kêu oan / lại tiếng kêu trời ở Nghệ An / Một phủ Anh Sơn trong mấy tháng / Mà tay Phan Tử lấy ba ngàn / Cùng phường dối nước quân ăn cắp / Cũng lũ tàn dân giống hại đàn / Lạnh lẽo hơi sương toà tạp chí / Lệ ai giàn giụa với giang san.

    Nhưng An nam tạp chí càng được bạn đọc yêu quý bao nhiêu thì càng lâm vào cảnh nợ nan: Nợ tiền nhà, tiền giấy, tiền in, tiền công xá trả cho nhân viên. Tản Đà ví tờ báo như chiếc thuyền nan trên sông Cái, mà ông là người chèo lái: Nghìn trùng sóng gió ba khoang nứa / Bốn mặt non sông một mái chèo...

    An Nam tạp chí ra được 10 số đầu tiên thì tạm ngừng, tòa báo giải tán. Tản Đà còn bảy đồng trong túi, dám đi chuyến du lịch vào Nam Kỳ. Hóa ra một chuyến đi may mắn. Lại gặp quý nhân, lần này là ông Diệp Văn Kỳ, chủ báo Đông Pháp, tặng món tiền to: 1000 đồng. Ra Bắc thanh toán công nợ xong, Tản Đà lại vào Sài Gòn, nhận lời mời của Diệp Văn Kỳ, phụ trách trang Phụ trương Văn chương trên báo Đông Pháp. Chuyến đi này có thêm nhà văn Ngô Tất Tố cùng đi. Những chuyện trên diễn ra trong năm 1927, là năm quẻ Sơn Hỏa Bí, chủ mệnh hào 3: đằm thắm, sang trọng, tài lộc dồi dào. Thực tế diễn ra đúng như thế. Thật kỳ diệu. Chỉ có điều hơi tiếc, được quẻ này hào này, thánh nhân bảo phải giữ chính đáng và bền thì mới tốt. Nhưng theo hồi ức bạn bè kể lại thì nhà thơ nhiều khi say khướt và có nhiều điều tiếng. Cuối cùng việc làm Phụ trương Văn chương cho Đông Pháp cũng không bền, sang đầu năm 1928 thì chấm dứt.

    Năm 1929 Tản Đà làm xong và cho in tiểu thuyết tự truyện Giấc Mộng Lớn, nhờ cuốn sách này về sau nhiều nhà nghiên cứu mới thật hiểu Tản Đà giữa những bề bộn văn thơ, sự kiện và tính cách. Việc này ứng với hào 5 quẻ Thiên Hỏa Đồng nhân: Dương cương, trung, chính, ứng hợp với hào 2 cũng trung, chính, nhưng không dễ mà đồng nhân, cùng người được, còn bị những hào 4, hào 3 cản trở, phải dùng sức lớn đánh dẹp, mới tìm đến nhau mà vui vẻ được. Sức lớn ấy chính là cuốn Giấc Mộng Lớn để đời. Ba năm cuối cùng của một thời Sơn Thủy Mông đã diễn ra đúng như định mệnh: Tản Đà ra sức chạy vạy, đắp đổi, đi đây đi đó, từ mạn rừng lại trở về mạn bể, có lúc đã định yên phận trong một ngôi nhà lá ở một nơi vắng vẻ trên vùng đồi Vĩnh Yên. Nhưng chí lớn lại thức dậy, năm 1930 là năm có quẻ Trạch Hỏa Cách cuối cùng của thời Mông, cũng là hào 6, hào cuối cùng của quẻ Cách. Tản Đà lại cố gắng đối phó với mọi khó khăn, tổ chức một báo quán mới ở Bờ Hồ Hà Nội, cho An Nam tạp chí được tiếp tục ra mắt bạn đọc. Tháng 7-1930, trên An Nam tạp chí số 11, Tản Đà viết: “Phen này An Nam tạp chí lại ra, riêng lòng tôi thấy phần lanh lợi, vui mừng kém trước, mà sự lo sâu nghĩ xa hơn xưa.” Đó cũng là tiếng nói của mệnh: Hào 6 bảo rằng công việc cải cách đến đây đã xong, nên ngừng lại, đi nữa thì xấu. Nhà nghiên cứu Tầm Dương (tức Văn Tâm) sau này viết về sự kiện đó: Đúng như điều lo ngại mà linh tính đã báo trước (Tôi nhấn mạnh. XC), số phận An Nam tạp chí cũng là chết yểu. Chỉ trong hai tháng, từ tháng 7 đến tháng 8-1930, báo ra tiếp được ba số (11 đến 13), rồi lại đành im hơi lặng tiếng. (Bốn tháng sau, An Nam tạp chí chuyển xuống Nam Định, tục bản lần thứ hai, cũng chỉ được thêm mấy kỳ nữa).

    Nhưng ánh chớp còn sáng loé lên rực rỡ một lần nữa. Từ mùa xuân 1931, Tản Đà bước vào vận hội mới, quẻ Địa Sơn Khiêm, chủ mệnh là hào 5, hào chí tôn của quẻ. Khiêm là khiêm nhường, người được quẻ này lấy sự khiêm nhường mà thu phục cả thiên hạ.

    Năm 1931, cuộc sống Tản Đà ứng với hào 5 quẻ Thuỷ Sơn Kiển. Kiển là gian nan. Hào 5 được ví với một ông vua có tài, vào thời gian nan, được bạn bè ra sức giúp, nhưng cũng khó thoát được hiểm. Quả đúng như vậy. Mùa xuân năm 1931 trôi qua, quay về Hà Nội được một số bạn hữu cộng tác. Tản Đà chấn chỉnh An Nam tạp chí cho thành một tờ báo lớn... An Nam tạp chí tục bản lần thứ ba bắt đầu thừ tháng tư 1931. Báo ra đúng kỳ hạn được mấy chục số. Đến số 42 thì lâm vào cảnh hiểm. Báo ra thất thường, đến số ra ngày 9-7-1932 người ta thấy hiện ra mấy dòng chữ cỡ lớn:...” Vì tôi còn thiếu tiền in tờ tạp chí từ khi xưa, số tiền hơn 600 đồng bạc, đến nay do món nợ ấy, thành đến báo quán bị tịch biên”. Đến đầu năm 1933, báo đình bản hẳn. Trên mấy số An Nam tạp chí cuối cùng, Tản Đà bắt đầu quảng cáo “chữa thơ cho thiên hạ”. Sau mấy tháng làm trợ bút cho Văn học tạp chí, chuyên việc bình giảng văn thơ, Tản Đà lui về quê nhà ở Khê Thượng: Công danh sự nghiệp mặc đời / Bên thời be rượu bên thời bài thơ. Những sự kiện năm Nhâm Thân (1932) ứng nghiệm vô cùng với hào 6 quẻ Phong Sơn Tiệm. Quẻ này có tượng một con chim hồng, bay dần từ biển lên gò núi cao. Đến hào 6, chim hồng không còn ở đỉnh gò nữa, mà đã lên...mây. Lời hào 6 nói rằng: Chim hồng bay bổng tầng mây. Lông nó (rớt xuống) có thể làm đồ trang điểm, tốt. Cái thời năng nổ hoạt động đã chấm dứt, đây là lúc nhà thơ nhẹ cánh chim hồng. Nguyễn Hiến Lê giảng: Hào 6 ở trên cùng, ở trên cả hào 5 chí tôn, nhưng nó không còn “vị” gì cả, vô dụng. Trong quẻ này, nó ở cao hơn cái gò cao, tức là trên không trung, trên đường mây. Nó là xuất thế, khí tiết thanh cao, khác phàm; tuy không trực tiếp giúp đời, nhưng có tư cách làm gương cho đời, xã hội có họ thì mới văn minh. Cũng như lông chim hồng, không dùng vào việc ăn uống, cất nhà, chở đồ, cày ruộng... được, nhưng làm đồ trang điểm như cờ, quạt, mũ thì lại quý. Phan Bội Châu ghi chú thêm: Hào 6 dương (quẻ Tiệm) là một hạng người không lụy vào lưới đời, duy có danh cao, khí chất khác thường lưu ở nhân gian. Tỷ như ông Phạm Viên ở nước ta, ông Ta-go-rơ ở Ấn Độ; một người thì lấy cách thần tiên mà khinh miệt cả vương hầu, một người thì lấy thơ ca mà tiêu dao khắp Âu, Á. Thiệt là chim hồng bay ở đường mây, mà lông rơi còn dùng được làm cờ quạt đó vậy. Quả thật, cùng với sự kiện chấm dứt một cách đau đớn An Nam tạp chí, con chim hồng Tản Đà bay bổng đường mây để lại cho đời hàng loạt tác phẩm đẹp in dấu năm Nhâm Thân (1932): Giấc mộng con II, Thề Non Nước (in lại cùng với truyện Kiếp phong trần),Trần ai tri kỷ, Tản Đà văn tập, Khối tình con III (thơ), (Theo tạp chí Tác Phẩm Mới, số 6-1999). Những năm sau này Tản Đà dành thời gian dịch thơ Đường. Những bài dịch tuyệt tác về thơ Đường ra đời. Năm Giáp Tuất (1934), ông được quẻ Phong Thiên Tiểu súc. Tiểu súc có hai nghĩa: ngăn trở nhỏ, tích chứa nhỏ. Vì là ngăn trở nhỏ nên vận còn hanh thông, hanh thông nhưng cũng không thể hành động lớn, cứu đời được. Người quân tử được quẻ này biết rằng thời cơ chưa đến, tốt nhất là thu mình lại, tu đức, luyện tài, thảo văn, viết sách, ung dung đợi dịp. Đó chính là tích chứa nhỏ. Phan Bội Châu trong lời phụ chú, bình giảng thêm rằng: “...Xưa nay việc tu thân cứu thế cốt ở hành động mà không cần hư văn, chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế bắt buộc, chưa thể giương đôi cánh lớn, mới phải quay đầu làm những việc soạn sách, lập ngôn. Như Khổng Tử, Mạnh Tử, không gặp thời, quay về viết sách, làm kinh, muôn đời sau bất hủ. Người đời sau coi đó là việc lớn, nhưng Thánh nhân chỉ xem bằng Tiểu súc mà thôi”. Tản Đà trong năm Tiểu Súc của mình đã làm những gì? Dấu ấn còn lại là tập thơ Tản Đà xuân sắc. Nhưng tôi nghĩ là ông còn làm được nhiều hơn thế. Năm Ất Hợi (1935), hào 3 quẻ Phong Trạch Trung Phu: tâm chí bất định, chắc ông không làm được gì đáng kể. Năm Bính Tý (1936), hào 4 quẻ Thiên Trạch Lý, lời hào cho biết thuận cho việc dịch sách: Kính thận đối với trên, mềm dẻo thu được kẻ bạo cường, người kim lòng hoài cổ, đổi khó thành dễ, biến xấu thành tốt. Có lẽ trong năm này ông đã dịch Liêu Trai Chí Dị, để sang năm 1937 xuất bản (Theo Tác Phẩm Mới, tạp chí đã dẫn).

    Năm Đinh Sửu (1937) là năm mở đầu một chặng đường mới của Tản Đà, hào 6 quẻ Địa Sơn Khiêm: Đây là chặng đường khiêm cung rất mực, khiêm đến giới hạn cuối cùng, nổi tiếng vì khiêm cung, nhiều tri kỷ mà ít người giúp mình, kém tài, đành phải quay về với người nhà, người làng thôi. Thế là đã rõ. Chiết ra từ hào đại vận, năm 1937 là năm Thuần Cấn của Tản Đà, tượng núi dày dặn, tầng tầng, lớp lớp, trọng hậu, là tượng của vận mệnh nhà thơ, có lẽ là năm làm ăn lớn chăng? Không, hào 6 chủ mệnh trong năm khưyên: Hãy biết ngừng đúng lúc, khi cuộc đời đã dày dặn như núi. (Đôn hậu về đạo biết ngừng đúng lúc, tốt). Ai ngờ đây là quẻ mở đầu cho một chặng đường cuối cùng của cuộc đời. Bên cạnh cuốn Liêu Trai Chí Dị mở ra trước mắt bạn đọc một thế giới huyền ảo, biến hoá khôn lường, người ta chỉ còn thấy ông dịch thơ Đường trên báo Ngày Nay. Theo tác giả Tôi với Tản Đà, năm nay ông theo bạn bè về Quảng Yên, sống trong sự mời mọc và xướng hoạ thơ ca cùng với những độc giả đã yêu quý ông từ lâu. Vậy là ông đã biết ngừng đúng lúc. Năm Mậu Dần (1938) ông lại đụơc quẻ Sơn Hoả Bí nhưng ở Hào 1. Lời Hào khuyên: Hãy yên phận dưới của mình. Bỏ ngồi xe mà đi bộ. Hãy giữ tinh thần Cương và Chính, đạt thì đẹp cho cả thiên hạ, cùng thì giữ thân mình. Tài đức lớn, không lấy vận cùng hay vận thông làm vui, buồn. Ông rời Quảng Yên về Hà Trì (Hà Đông) ít lâu, rồi ra Hà Nội mở quán xem Hà Lạc. Đúng là “Tài đức lớn, không lấy vận cùng hay vận thông làm vui, buồn”. Có lẽ trong năm này ông còn cố công chú giải truyện Kiều, “làm đẹp cho cả thiên hạ” bản chú giải cũng chưa kịp in khi ông còn sống.

    Chúng ta không biết Tản Đà nghiên cứu và nắm bắt Hà Lạc từ bao giờ, nhưng đến những năm này, ta thấy ông tự điều chỉnh đến từng bước di trên hành lang số phận. Cuối cùng ông cũng đành bỏ quán Hà Lạc ở phố Bạch Mai lui về một căn nhà nhỏ cùng với vợ con ở Ngã Tư Sở, thuộc quận Thanh Xuân (Hà Nội) ngày nay, “yên phận dưới của mình, bỏ ngồi xe mà đi bộ”. Và năm Kỷ Mão (1939) của đời ông đã đến. Tản Đà mất ngày 20 tháng Tư năm ấy. Chúng tôi theo phép toán Hà Lạc lần theo bước đi của ông thì thấy năm Kỷ Mão này ông được quẻ Sơn Thiên Đại Súc, hào 2 là chủ mệnh: Như chiếc xe tự bỏ trục (để khỏi phải đi nữa). Lần theo từng hào thấy tháng Tư năm này ứng với hào 5 quẻ Đại Súc, biến thành hào 5 quẻ Phong Thiên Tiểu Súc. Quẻ tốt. hào chủ mệnh tháng Tư tốt: Đức lớn, cảm hoá được lòng người, ngăn ngừa được tàn bạo. Nhưng khốn thay ngày 20 tháng Tư ứng đúng vào hào 3, hào xấu nhất quẻ Tiểu Súc. Lời Hào 3: Xe rời mất trục, vợ chồng trái mắt nhau. Tản Đà vĩnh biệt thế gian này vào đúng cái ngày “xe rời mất trục” đó. Hoàn cảnh xấu đã xảy ra như sau: Có người bạn ở Phủ Quốc (Sơn Tây) mời thi sĩ về nhà chơi để giải sầu. Trên đường trở về nhà, vào lúc 12 giờ trưa, trời nắng oi bức, người còn say, thấy có đầm nước mát, bèn xuống xe tay, xuống đầm tắm, nửa giờ sau lại lên đường. Về đến nhà bị cảm. Mấy ngày sau, đúng vào ngày 20 tháng Tư (lịch mặt trăng) thì mất. Ông mất trong cái chủ mệnh của Hào 5 quẻ Tiểu Súc: “Đức lớn, cảm hoá được lòng người, ngăn ngừa được tàn bạo”. Niềm tiếc thương không nguôi cho đến hôm nay.

    3

    Với ưu tiên năng lượng của trời đất (Hoá công), Tản Đà đã linh cảm thấy cái tượng quẻ Sơn Thủy Mông xuyên thấu vào vận mệnh, đời sống của mình, nên ông đã lấy tên núi tên sông quê hương làm bút danh và gắn bó, thâu tóm cái khí chất núi non, sông nước vào cảm xúc, tài năng, ý chí của mình. Sau đó là khí chất của Đất biểu tượng ở hai quẻ Địa Lôi Phục và Địa Sơn Khiêm. Chúng tôi đã tuyển một ít câu thơ bắt nguồn từ mệnh của Tản Đà trong bài Thề Non Nước. Nhưng đâu phải chỉ có thế, những câu thơ, bài thơ có nguồn từ tượng Đất trong mệnh Tản Đà cũng rất hay. Như bài Thăm mả cũ bên đường. Vũ Quần Phương nhận xét rất tinh tế bằng một linh cảm về bài thơ mệnh này. “Ai đã đọc Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, hay Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có thể nhận thấy Tản Đà trong bài Thăm mả cũ bên đường này cùng một khuynh hướng cảm xúc với hai bậc cổ điển kia. Nhưng cái hích ban đầu thì có khác. Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều vào bài bằng nhận thức tổng hợp và khái quát. Tản Đà đi từ việc cụ thể; ngôi mộ bên đường nơi dốc Ghè hoang vắng làng Khê Thượng (dốc Ghè nay là nghĩa trang Yên Kỳ – Hà Tây)”.

    Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà

    Đường xa, người vắng, bóng chiều tà

    Một dãy lau cao làn gió chạy

    Mấy cây thưa lá sắc vàng pha

     

    Ngoài xa trơ một đống đất đỏ

    Hang hốc đùn lên đám cỏ gà

    Người nằm dưới mả ai, ai đó?

    Biết có quê đây hay vùng xa?

    Các nhà bình luận về sự nghiệp và văn chương Tản Đà thường luận giải nhiều về ba đặc điểm trong tính cách Tản Đà. Ai hay rằng ba đặc điểm đó cũng đã tiềm ẩn trong cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ. Tôi xin nêu ra ba tín hiệu sau đây.

    Một là cái ngông trong thơ Tản Đà. Bài thơ Hầu trời là tiêu biểu cho cái ngông đó.

    ...Thiên tào tra sổ xét vừa xong

    Đệ sổ trình lên Thượng đế trông:

    Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu

    Đày xuống hạ giới vì tội ngông.

    Đầu đuôi là một đêm trăng kia, tiếng ngâm thơ sang sảng của thi sĩ ở hạ giới vang vọng lên “làm trời mất ngủ”. Trời hỏi ra, bèn sai gọi lên đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

    Đọc hết văn vần sang văn xuôi

    Hết văn thuyết lý lại văn chơi.

    Đương cơn đắc ý đọc đã thích

    Chè trời nhắp giọng càng tốt hơi.

     

    Văn dài hơi tốt ran cung mây

    Trời nghe Trời cũng lấy làm hay...

    Thật là ngông. Vậy cái ngông ấy ở đâu ra? Đầu đuôi là ở quẻ Hậu thiên, hậu vận của Tản Đà, quẻ Địa Sơn Khiêm, hào nguyên đường, chủ mệnh là hào 5. Lời hào 5 bảo rằng khiêm nhường đấy, nhưng cũng phải có chút uy thì mới chinh phục được kẻ chưa phục mình, thì mới không gì là không lợi. Lời hào này không đợi đến những năm 30 này mới phát huy tác dụng, mà đã đi vào đời sống Tản Đà từ nhiều năm trước. Tản Đà đã tự nhiên coi trọng việc tạo cho mình một chút uy nào đó để thu phục nhân tâm. Nhưng thân phận kẻ sĩ nghèo thì lấy đâu ra được cái uy? Tản Đà có cách của riêng ông: Đó là khi ông cho ra đời một mảng thơ mà người đọc gọi là thơ ngông. Ông tưởng tượng ra mình được trời gọi lên, và kể lại cho mọi người câu chuyện hầu trời rất lý thú, trong đó thơ Tản Đà được trời và các thần, các tiên thảy đều khen ngợi. Vậy là khiêm đấy mà uy đấy, mặc dầu ai cũng biết cái uy này chẳng qua là uy giả tạo mà thôi.

    Hai là những tín hiệu cho thấy một thứ văn hoá ngày nay ta gọi là văn hoá ẩm thực. Tản Đà sinh thời là người rất chú trọng về nghệ thuật ăn uống. Nhà văn Nguyễn Văn Phúc, cháu gọi Tản Đà là ông trẻ, trong cuốn Tôi với Tản Đà đã dành nhiều trang tả những bữa rượu và nghệ thuật ăn uống của Tản Đà mà Nguyễn Văn Phúc có diễm phúc được cùng thưởng thức với nhà thơ. Tản Đà không chỉ sáng tác thơ văn và làm báo, ông còn sáng tạo ra nhiều món ăn, và kể lại cho mọi người cách thức nấu nướng, trang trí món ăn, cùng là nghệ thuật ăn uống, khiến cho sau này có người đã sưu tập viết thành một cuốn sách, đó là cuốn Tản Đà thực phẩm của Nguyễn Tố (Duy Tân thư xã xuất bản –1943). Văn hoá ẩm thực ấy có nguồn gốc trong cấu trúc Hà Lạc của Tản Đà. Trong 50 năm thuộc quẻ Sơn Thuỷ Mông, và quẻ Địa Sơn Khiêm, chúng tôi chiết ra thấy có hai quẻ Hỏa Phong Đỉnh, một quẻ Phong Hỏa Gia Nhân. Đỉnh tượng là cái vạc có ba chân, tượng cho sự vững vàng, tượng cho lửa củi nấu nướng (Hoả là lửa, Phong là gió, còn có tượng là cây, gỗ, mộc). Người xưa dùng cái vạc để nấu ăn nên quẻ Đỉnh cũng tượng cho văn hóa ăn uống. Các lời hào quẻ Đỉnh đều nói về nấu nướng ăn uống. Hào 1 nói về trút cặn bã, làm sạch tinh khiết đồ nấu. Hào 2 nói về chế biến thức ăn, phải có tài nấu nướng còn phải có đức biết cách ăn uống. Hào 3 nói về có thức ăn ngon mà chưa được ăn, còn phải có bạn và ăn đúng lúc. Hào 4 nói về giữ gìn thức ăn, làm gẫy chân vạc thì mất hết, mà còn tai nạn. Hào 5 nói về trang trí thức ăn, như cái vạc có tai màu vàng. Hào 6 nói về cái thú ăn uống, có cương có nhu, có nhàn nhã thì ăn mới tuyệt đỉnh. Quẻ Gia Nhân nói về việc làm chủ trong gia đình có hào 2 nói về chăm lo việc bếp núc. Trong cấu trúc Hà Lạc của Tản Đà còn có quẻ Sơn Lôi Di vào năm 38 tuổi (1926), trong đó có Hóa công là Chấn (Lôi), và có Địa nguyên khí là Cấn. Di là Di dưỡng, là Nuôi. Dịch Học có cả một Đạo Nuôi thể hiện trong quẻ Di. Tượng của quẻ Di là sấm động ở dưới Núi, sấm động dưới núi thì phát ra khí dương, nuôi cho vạn vật tươi tốt. Ca dao ta có câu: Tháng ba sấm động đầu bờ / Làm cho cây lúa phất cờ mà lên, chính là nghĩa ấy. Lời tượng quẻ nói rằng người quân tử coi tượng sấm động dưới núi mà quan sát cách trời đất nuôi vạn vật, để mà biết cách nuôi dân và suy ngẫm về đạo Nuôi của trời đất. Và cái diều cô đọng lại cho mỗi người có quẻ Di là thận trọng việc nói năng, tiết độ việc ăn uống, nói gọn trong hai chữ Thận và Tiết. Ở đây chỉ nói việc tiết độ trong ăn uống của Tản Đà bao gồm cả một văn hoá ẩm thực, là ăn uống sao cho ngon, lành, sao cho vừa phải, đủ để nuôi thân thể, nuôi tinh thần. Ta hãy đọc một đoạn Nguyễn Văn Phúc kể chuyện Tản Đà thết một bữa rượu ốc nướng thì biết tinh thần các quẻ Đỉnh, quẻ Gia nhân, quẻ Di đi vào văn hóa ẩm thực của ông thế nào. Có thể tóm tắt là: ốc phải chọn từng con, ngâm kỹ, rửa sạch, bày lên mâm trông đã thấy đẹp. Phải có hoả lò. Nướng ốc bằng vỏ sò. Đặt chiếc vỏ sò lên bếp than, rưới vào đó ít mỡ và hành tươi cho thơm, nhể con ốc đặt vào cho vừa chín thì gắp cái vỏ sò ra. Ăn ốc nướng phải ăn nóng, phải có bạn ăn và phải ăn vào lúc tiết trời lạnh. Nghĩa là chỉ trong một món ăn, mà thu vào đó cả một triết lý bếp núc và đạo Nuôi của Trời đất.

    Thứ ba là những tín hiệu trang sức của văn chương. Cuộc đời ngắn ngủi của Tản Đà có đến 2 năm được quẻ Sơn Hoả Bí. Bí là trang sức, là quẻ nói về việc làm đẹp cái hình thức bên ngoài. Tượng quẻ là dưới Núi có Lửa. Lửa trang sức làm cho Núi đẹp rực rỡ lên. Người phụ nữ được quẻ Bí là người chăm lo sự chải chuốt, ăn mặc, cái đầu, cái tóc, cái răng, ngày nay là cái mốt, là thời trang... Nhà kinh doanh được quẻ Bí thì chăm lo đến mẫu mã, quảng cáo, bao bì, thương hiệu. Nhà văn được quẻ Bí thì tự nhiên chăm lo về hình thức văn chương, cấu trúc tác phẩm, cho đến câu văn, câu thơ, tới từng từ, từng chữ, tới vần, điệu, nhạc, thanh âm của mỗi từ. Hình thức là một lĩnh vực quan trọng trong vũ trụ, chính vì vậy Dịch học dành cả một quẻ Bí để nói về hình thức, nói về sự trang sức của sự vật. Câu chú thích đầu tiên của lời Thoán dành cho quẻ Bí là trang sức, văn vẻ thì hanh thông, ý nói cần có trang sức, hình thức, làm cho sự vật được tốt đẹp, hanh thông lên. Cũng chính vì vậy, trong chú thích lời quẻ, Thánh nhân lưu ý người đời rằng: khi gặp quẻ Bí, phải chú ý cái chất lượng của sự vật, chính cái chất lượng ấy làm nên giá trị của sự vật, còn nếu chỉ chú ý hình thức thì kết quả cũng nhỏ thôi. Riêng đối với những vấn đề phán xử hình ngục là việc quan hệ đến sinh mạng của nhân dân, thì tuyệt đối không được tô vẽ, trang trí, làm cho sực thật bị hiểu khác đi. Theo Phan Bội Châu, Khổng Tử nói rằng chất phác nhiều hơn văn thì thành quê mùa, văn nhiều hơn chất thì thành người chép sử (ý nói người sao chép sử trong cung đình ngày trước, nhiều khi phải dùng hình thức uốn éo để miêu tả những sự việc không có lợi cho danh giá nhà vua. Chuyện tiếu lâm nước ta về hạt ngọc Minh Châu- tức hạt cơm dính- trên mép bà quan, cũng là để chế diễu thói văn hoa nhiều hơn chất). Hành lang số phận của Tản Đà ngoài 2 quẻ Sơn Hỏa Bí còn có quẻ Phong Địa Quán và Phong Sơn Tiệm nằm ở hai Đại vận chủ mệnh. Quẻ Quán, hào 5 nói về người quân tử tự quan sát mình, lấy cái tốt đẹp của mình làm gương cho thiên hạ. Quẻ Tiệm, hào 6 (năm 1932) tượng là con chim hồng bay bổng trên từng mây, cái lông cánh nó rơi xuống có thể làm đồ trang sức cho thiên hạ. Đó là những tín hiệu cho thấy ông là một nhà thơ rất coi trọng hình thức văn chương; những tìm tòi không mệt mỏi của ông về thể loại văn thơ, về cách thức diễn tả, về câu chữ, âm thanh, nhạc điệu, tượng hình của từ, về việc tạo hình tạo dáng cho câu thơ, khai thác đến đỉnh cao khả năng gợi tả của âm và thanh tiếng Việt trong thơ ca, chính là bắt nguồn từ hai quẻ Bí của đời ông. Năm Canh Thân, sau chuyến đi Huế, cũng là năm ông viết chuyện Thề Non Nước, trong đó có bài thơ Thề Non Nước, bài thơ “mệnh”, đỉnh cao trong sự nghiệp văn thơ của ông. Đó là một bài thơ tiềm ẩn 3 ý nghĩa: mối quan hệ thiên nhiên giữa Nước và Non; tình yêu đằm thắm và bền chặt như Non với Nước; cuối cùng là lòng yêu nước thông qua cái đẹp tuyệt vời của Non Nước. Bài thơ này cũng tiêu biểu cho văn chương Tản Đà về mối quan hệ tương tác giữa cái Có và cái Không, tức cái hiện và cái tiềm ẩn, thể hiện ra trong rất nhiều bài thơ khác của ông (theo Văn Tâm: Góp lời thiên cổ sự. Sđd). Tản Đà là người đầu tiên, với 4 quẻ Cách và hai quẻ Bí trong đời mình, đã cách tân làm ra những câu thơ thoát khỏi những hình thức cố định của thơ niêm luật, mang âm hưởng của thơ mới sau này:

    Cái hạc bay lên vút tận trời

    Trời đất từ nay xa cách mãi

    Cửa động

    Đầu non

    Đường lối cũ

    Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

    (Tống biệt)

    Từ vào thu tới nay,

     Sương thu lạnh

    Trăng thu bạch

    Khói thu xây thành,

    Lá thu rơi rụng đầu ghềnh

    Sóng thu đua lá bao ngành biệt ly

    Nhạn về én lại bay đi

    Đêm thì vượn hót ngày thì ve ngâm

    Lá sen tàn tạ trong đầm

    Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa

    Sắc đâu nhuộm ố quan hà

    Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương

    (Cảm thu, Tiễn thu)

    Ông cũng có nhiều bài báo nói về lao động làm thơ, về dịch thơ Đường. Riêng đối với bài Cảm thu, tiễn thu trên đây, ông kể tỉ mỉ công việc làm thơ, cho ta thấy trong công việc bếp núc ăn uống, ông cầu kỳ bao nhiêu thì trong bếp núc văn chương, ông còn cầu kỳ gấp bội, và đó chính là tinh thần quẻ Bí thâm nhập vào mệnh văn chương củaTản Đà. Ông viết:

    Bài văn này tôi làm ra trong khi ở Hữu Thanh tạp chí, in ra báo khoảng tháng chín An Nam, chính là hợp thời cảnh. Bài này sau khi đã lập ý như bốn chữ đầu đề đó, rồi mới đem cái ý ấy dàn ra thế, chia làm mấy đoạn lạc. Nghĩ vì, có “thu” mới có “cảm”, có “cảm” mới có “tiễn”. Cho nên chữ “thu” đem lên đoạn đầu, dùng thể văn tả cảnh, tả cho thấy thu vì sao mà cảm. Chữ “cảm” nói vào đoạn thứ hai, dùng thể văn tả tình, tả cho hết những ai trong thế gian hiện là người cảm thu. Chữ “tiễn” thì nói vào đoạn kết, là ý chính của bài văn đó. Sự dàn thế đã định, mới theo đoạn lạc mà làm việc.

    Đoạn thứ nhất khởi đầu lập thế (thế riêng của một đoạn), thứ hai kiếm liệu, thứ ba lựa điệu, thứ tư luyện lời, sau thời ngâm vịnh riêng để kiểm soát.

    Từ vào thu tới nay...

    Năm chữ khởi đầu đó, tức là “lập thế”, không những xướng xuất cho một đoạn, mà còn tổng quán cả toàn bài, nói suốt trong cái thời gian từ đầu thu cho tới lúc mình tiễn. Các chữ cảnh vật đều để tả thu mà không được trùng điệp, nếu trùng điệp thì viết dài đến đâu cũng được, mà lời văn không có giá trị gì. Đó là việc “kiếm liệu”.

    Mấy câu đầu tả cảnh, bốn chữ xuống ba, ba chữ lại lên bốn; chữ “hắt”, chữ “lạnh”, chữ “bạch”, các chữ vần trắc bắt luôn đó từ dấu sắc, xuống dấu nặng, lại xuống dấu nặng hơn nữa, rồi tiếp sang vần bằng là chữ “thành” để đi điệu lục bát. Đó là việc lựa điệu.

    Một câu thứ thư, bốn chữ “khói thu xây thành” cần phải có sức để đứng lại, vì từ trên sắp xuống rất mạnh, nếu bốn chữ ấy mà yếu, thì thế văn đến đó phải xiêu đổ, không đủ dẫn các câu lục bát ở phần sau. Đó là việc “luyện lời”. Còn các câu lục bát ở sau, đã sẵn liệu, và có liệu, chỉ về việc luyện lời cả.

    Các câu tả cảnh đó, xét lại chữ và ý không điệp, mà cũng không kiếm thêm được liệu nữa, như cảnh vật của thu có thể hồ hết, thu vì sao mà cảm, có như thế mà thôi. Đó là việc kiểm sát.

    (Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn. Sđd)

    Có bạn đọc hỏi: Nhưng còn Sấm chớp, cũng là một trong bốn tượng, trong cấu trúc Hà Lạc của Tản Đà, sao chẳng thấy câu thơ, bài thơ nào thật hay bắt nguồn từ cảm xúc về Sấm? Xin thưa: khí chất sấm không đi vào văn thơ của Tản Đà mà đi vào hành động. Tư liệu văn học còn để lại rất nhiều câu chuyện và giai thoại về Tản Đà, đã nghĩ gì là nói ra, và làm ngay, làm cho bằng được. Trong túi còn bảy đồng mà dám đi xuyên Đông Dương vào Sài Gòn chơi. Đó là khí chất của Sấm. Cho đến cách cái ông tự tiết chế bản thân cũng mạnh mẽ như sấm: Tịch cốc hàng tháng trời. Hết Tản Đà thư cục đến An Nam tạp chí. Năm lần tờ tạp chí này chết rồi sống lại chính là khí chất của quẻ Địa Lôi Phục. Phục là trở lại. Và quẻ Lôi Thuỷ Giải nằm trong cơ cấu quẻ Địa Sơn Khiêm, nhưng cũng bắt nguồn từ giờ sinh của ông mà hình thành, cũng phát huy suốt đời ông. Giải là giải quyết, giải tỏa, là mở ra, là kết lại và tỏa sáng. Nhà nghiên cứu Văn Tâm, (tức Tầm Dương) trong cuốn Góp lời Thiên Cổ Sự đã tổng kết rằng một đời Tản Đà đã “giải” cho văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX này mười vấn đề với tư cách nhà văn hóa tiền đạo. Mười vấn đề như sau:

    1- Người đã dạo bản đàn mở đầu của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam. Đó là việc khẳng định “cái tôi” trong các tác phẩm như Giấc Mộng Con I, II; Giấc Mộng lớn, Hầu Trời... Là việc miêu tả những trạng thái tình cảm con người mà trước đó văn chương ta chưa có, như thói đa tình, mối sầu thiên cổ, tâm trạng cô đơn lạc loài... là cái văn phong ngông ngạo, khả năng tưởng tượng mãnh liệt. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thuộc các thế hệ sau như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương... đã kế thừa những yếu tố trên do Tản Đà khai phá. Xuân Diệu đã đánh giá Tản Đà là “người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại.”

    2- Bàn tay đầu tiên phá cách, vứt điệu luật thơ cũ. Những bài tiêu biểu là Hoa rụng, Còn chơi, Non xanh xanh, Cảm thu tiễn thu...

    3- Cây bút khai sơn phá thạch trong văn xuôi quốc ngữ.

    4- Một trong những bàn tay đầu tiên khơi dòng văn học hiện thực phê phán.

    5- Một nhà báo kỳ cựu, có bài đăng trên Đông Dương tạp chí từ 1915.

    6- Tác gia đi tiên phong kiếm sống bằng ngòi bút. “Bán văn, buôn chữ kiếm tiền tiêu.”

    7- Một trong những người biên soạn sớm nhất sách giáo khoa quốc ngữ (Lên Sáu, Lên Tám, Quốc Sử Huấn Mông.)

    8- Triết gia đầu tiên rao giảng triết học bằng chữ quốc ngữ (Thuyết Thiên Lương).

    9- Người có những đóng góp tân kỳ trong những lĩnh vực hoạt động sân khấu, dịch thuật.

    10- Nhà văn hóa mở màn cho nghệ thuật ẩm thực.

    Tản Đà đã đi qua thế kỷ này như một ánh chớp trong đêm. Ánh chớp đó gồm 21 năm chuẩn bị, thao luyện, rồi đến 21 năm xuất thần, tỏa sáng, nghĩa là ông đi gọn một quẻ Sơn Thủy Mông bắt đầu từ hào Hai dương. Trước khi tắt lịm, ánh chớp đó còn sáng rực lên một lần nữa trong quỹ đạo hào 5 âm quẻ Địa Sơn Khiêm và 3 năm đầu hào 6 quẻ Khiêm. Ông không kịp đi hết cái hào Sáu ấy!

    Tháng 11-1999

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Tản Đà

    Sinh 19 – 05 – 1889 giờ Tý. Can Chi: Năm Kỷ Sửu, Tháng Kỷ Tị, Ngày Ất Mùi, Giờ Bính Tý. Âm Nam. Mệnh Hỏa (thu lôi). Thượng nguyên. Đầu hè: 6-7 – 5 – 1889. Giữa hè: 22 - 6 – 1889. Sinh giờ khí dương. Mã số Can Chi: 9, 5-10; 9, 2-7; 2, 5-10; 8, 1-6.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

     Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

    Hỗ

    Nhân Quả

    1

    0

    0

    0

    1*

    0

    16-24

    10-15

    04-09

    98-03

    89-97

    25-30

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    0*

    0

    1

    0

    0

    37-42

    31-36

     

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    0

    1

    1

    0

    0

    1

     Sơn Thủy

     Mông

     

     Địa Lôi

     Phục

     Địa Sơn

     Khiêm

     

    Lôi Thủy

     Giải

    Trạch Lôi

     Tùy

     

    Hoá công: Chấn ở Hỗ Tiên thiên, Hỗ Hậu thiên. Thiên nguyên khí: (Ly) Không. Địa Nguyên khí: Cấn ở Tiên thiên, Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hảo 2, 3, 6.

     

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

     

     

     

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,039,723

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/