Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,813,208

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

Thầy và trò thời “tại chức”!

Nguyễn Hòa

  • Thứ ba, 00:18 Ngày 05/07/2011
  • Văn hoá bán hàng và “thượng đế”

                Ngày nọ, tôi đang đứng ngắm nghía trước quầy điện máy của một cửa hàng bách hoá thì có hai người một nam một nữ, không biết có phải là vợ chồng trẻ hay không, đến đứng bên cạnh. Họ thì thào trao đổi rồi đề nghị cô bán hàng cho xem chiếc nồi cơm điện giá hơn ba trăm ngàn đồng. Hai người nhận chiếc nồi, mở ra đóng vào, xem xét cẩn thận và đề nghị cho đổi, vì chiếc nồi hở nắp. Cô bán hàng nhận lại mà như giằng lấy chiếc nồi từ tay chàng trai, miệng thốt ra một câu, làm tôi - một kẻ không can dự, cũng phải sững sờ: “Ba trăm ngàn thì chỉ thế thôi, muốn không hở thì mua nồi hơn sáu trăm kia kìa!”, rồi cô thản nhiên quay sang chỗ khác. Đôi trai gái đi ra, còn tôi cũng không muốn lưu lại, bụng bảo dạ bán hàng như thế thì bán cho ai. Lại nhớ trước Tết năm ngoái, tôi từng chứng kiến một chị bán thịt bò ở Chợ Mơ, mặt hoa da phấn, tay vung con dao sáng lóe nhọn hoắt , miệng nói với theo hai mẹ con một chị mua hàng: “Ít tiền mà cũng đòi ăn thịt bò!”, quả là không còn gì để nói. Nhìn mẹ con chị nọ lủi thủi dắt tay nhau khuất dần nơi đầu dãy, nhìn cô bán hàng mặt mũi phả phê, tôi nghĩ đến sự xúc phạm lẫn nhau chứ không nghĩ đến quan hệ giao tiếp giữa người bán người mua.

                 Có một thực tế là ở Việt Nam hiện tại, dường như giữa sự phong phú của hàng hoá với năng lực giao tiếp của người bán đang có một khoảng cánh khá lớn. Bởi thường thì các “thượng đế” rất khó được gặp một người bán hàng mà, dù mua hay không, người ta vẫn giữ được ấn tượng gần gũi để lần khác trở lại. Người mua hàng ở Việt Nam hôm nay hẳn không còn xa lạ với cung cách những người bán hàng thường niềm nở với khách hàng lúc họ bước vào cửa hàng và lạnh lùng, mặt mũi tối xầm khi họ đi ra mà không mua, thậm chí lẩm bẩm “chửi thề”, xòe diêm châm que hương hay mảnh báo để “đốt vía”. Ra phố vào chợ sắm sanh, người ta luôn được chứng kiến những tình huống “éo le” như vậy, nên nhiều người không dám đi mua hàng vào buổi sáng. Đấy là chưa nói tới cung cách kẻ cả, hợm hĩnh, đôi khi là thái độ “khinh người rẻ của” mà nhiều người bán hàng “bày tỏ” với vị khách nào ăn mặc xuềnh xoàng, dắt theo chiếc xe đạp cũ kỹ. Đấy là chưa nói ở một số cửa hàng, đại lý có thuê người đứng bán còn lý thú hơn, bởi mỗi khi vắng mặt ông chủ bà chủ là các nhân viên làm thuê lập tức tăng giá để kiếm thêm chút đỉnh. Đấy là chưa nói những anh chàng mặt mày bặm trợn, xông ra giữa đường, túm áo nắm ghi-đông người qua kẻ lại. Những anh này sẵn sàng “sắn tay áo” thượng cẳng chân hạ cẳng tay với quầy hàng bên cạnh và văng tục vào mặt người qua đường nếu họ tỏ ý khó chịu. Đấy là chưa nói tới chuyện người ta “nói thách” với những cái giá cao ngút trời. Đấy là chưa nói người ta thản nhiên bán “hàng giả”… Tóm lại là “văn hoá bán hàng” đang thật sự là một vấn nạn trong quan hệ mua - bán ở Việt Nam hiện tại. Chẳng thế mà có một anh bạn tôi mua một chiếc áo sơ mi tơ tằm, về nhà vợ hỏi giá bao nhiêu, anh bảo 90 nghìn đồng, vợ xuýt xoa khen rẻ. Một hôm vội đi làm, tìm mãi không thấy áo, cáu tiết anh quát con ỏm tỏi: “Cái áo 180 nghìn của bố chứ ít à!”. Lúc ấy cả nhà mới té ngửa, hóa ra bạn tôi đã “hạ giá” hẳn một nửa. Mua bán đàng hoàng, giá cả phân minh, thì đâu đến mức bạn tôi phải “nói dối” vợ con như thế!

    Khi khả năng kinh tế của mọi người, của mọi gia đình ngày càng tăng lên thì sự phong phú, đa dạng của hàng hoá là một trong những điều kiện để đáp ứng những nhu cầu mới của mức sống mới. Với kinh tế hàng hoá, nhất là trong khu vực bán lẻ và cập nhật, việc bán được nhiều hàng hoá đã trở thành đòi hỏi thiết yếu. Vì thế người ta phải triển khai vô số các thủ pháp hấp dẫn để tạo nên mối tương thích gần gũi giữa người bán và người mua, với mục đích hàng hoá có thể đến với mọi kiểu loại nhu cầu và mọi loại sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng, lại phù hợp “túi tiền” của họ. Trong hoàn cảnh ấy, “văn hoá bán hàng”, cụ thể hơn là thái độ ứng xử trong giao dịch với khách hàng trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhưng “văn hoá bán hàng” không phải là các tiêu chí muốn là được, mà phải học, phải biết vận dụng chúng một cách linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Có cảm giác là đa số người bán hàng ở Việt Nam hôm nay - đặc biệt là những người bán lẻ, hình như vẫn còn bị ám ảnh bởi thói “tiểu nông tư hữu”, bán một lần là xong. Thói quen đó không đem tới cho người ta tầm nhìn xa trông rộng, để tìm ra phương cách nhã nhặn, văn minh, lôi cuốn trong giao tiếp với khách hàng. Văn hoá bán hàng cũng là văn hoá ứng xử. Và quả sẽ là bi kịch nếu các thương nhân vừa muốn bán được nhiều hàng hoá lại vừa xúc phạm khách hàng của mình !?

     

    Một con tàu và những con người

    Mấy ngày qua, dư luận thế giới đang dành sự quan tâm đến một tai nạn được coi là vụ Titanic ở đầu thế kỷ XXI, đó là chuyến đi định mệnh của con tàu Al Salam Boccaccio 98 vào đêm 3.2.2006 trên Biển Đỏ và sự mất tích của hàng nghìn con người. Trong nhiều vấn để có thể bàn luận từ tai nạn này, người ta không thể không chú ý đến một chi tiết mà một hành khách sống sót kể lại: “Thuyền trưởng leo lên cái thuyền đầu tiên, trong khi đáng ra ông ta phải là kẻ cuối cùng rời con tàu đắm”. Vị thuyền trưởng đã ra đi, bỏ mặc đằng sau tính mạng của bao nhiêu con người, đáng phê phán hơn là bằng hành động của mình, người đàn ông ấy đã không chỉ vô trách nhiệm mà còn từ bỏ luôn cả đạo đức thuyền trưởng và tinh thần nghiêm ngặt của luật hàng hải.

                Lại nhớ gần chục năm trước, từng có một sự kiện hy hữu xảy ra với một chuyến xe khách trên đèo Hải Vân. Xe mất phanh, lao phăng phăng xuống dốc. Vào lúc hiểm nghèo như thế, người lái xe lại bỏ xe nhảy xuống đường, phó mặc hành khách cho sự may rủi. Rất may, một hành khách đã cầm lấy vô-lăng, khéo léo tạt xe vào ta-luy làm giảm tốc độ và cuối cùng thì mấy chục người trên xe đã được cứu sống, chỉ có anh lái xe đã nhảy xuống kia là bị gãy tay (!). Lại nhớ cách đây không lâu, người dân nước Anh đã bầu một vị hành khách là anh hùng của năm, vì vào lúc phi công gặp sự cố, vị hành khách này đã bình tĩnh ngồi vào ghế phi công, thao tác theo sự chỉ dẫn từ mặt đất để hạ cánh an toàn, bảo toàn tính mạng của mấy trăm con người. Câu chuyện về sau đã được khai thác để cấu tứ nên một tác phẩm điện ảnh khá hay… Thế đấy, cuộc sống với những mối liên hệ phức tạp của nó, luôn luôn có khả năng xuất hiện những tình huống, nhiều khi là tình huống hiểm nghèo, nằm ngoài dự kiến của con người. Chính vào lúc lằn ranh giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh thì tinh thần trách nhiệm với đồng loại thật sự trở thành thước đo phẩm giá của mỗi con người. Vì trách nhiệm, người ta có dám hy sinh vì đồng loại hay không (?) thật sự là câu hỏi mà chỉ có những ai ý thức được vị trí, vai trò của mình mới có khả năng tìm ra một lựa chọn đúng. Trách nhiệm - với bất kỳ cá nhân nào, không chỉ là những yêu cầu nghề nghiệp thuần túy mà còn chuyển tải cả ý nghĩa đạo đức. Từ trách nhiệm với chính mình, với gia đình mình đến trách nhiệm xã hội, với đồng loại là một quá trình tự ý thức và được thể hiện qua hành vi cụ thể. Mong sao trong cuộc sống, ngày càng nhiều lên những con người như những vị hành khách nói trên và càng ít đi những con người như vị thuyền trưởng của con tàu Al Salam Boccaccio 99 xấu số kia!

     

                Người Tràng An "nói ngọng"!

                "Anh ơi mua cho em đi, con nợn nhà em hôm lay hơi bị ngon đấy!", "em lói cho mà nghe!", "cái Hoa bị ốm, ló nhờ tớ xin nghỉ!"... những câu nói đại loại như vậy, lâu nay người ta vẫn thường được nghe trong sinh hoạt hàng ngày ở đất Hà Thành. Khi cả người nói lẫn người nghe đều không nhận thấy "bất bình thường" trong sự nhầm lẫn giữa "lờ" và "nờ" thì có lẽ họ đã không biết mình đang góp phần làm cho câu chuyện hài hước với câu kết thúc "Cả nàng em lói ngọng, mối mình em lói thõi!" có tuổi đời quãng hơn nửa thế kỷ, nay có dịp hồi sinh. Và như vậy có thể khẳng định rằng, cùng với xu hướng "nói tục" ngày càng tăng lên, xem ra việc "nói ngọng" cũng đang đứng trước nguy cơ trở nên phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhiều người dân Hà Nội đương thời.

                Tiếng nói là một sản phẩm văn hóa, là công cụ biểu đạt tư duy và giao tiếp... cực kỳ quan trọng của con người. Cũng như tiếng nói của các dân tộc khác, tiếng Việt có mặt trong cuộc sống hôm nay là nhờ vào công sức của không biết bao nhiêu thế hệ đã dày công hoàn thiện, làm cho nó ngày càng tinh xảo, sinh động, phong phú. Tuy nhiên trong thực tế, với những lý do văn hóa - địa lý khác nhau, nên tiếng Việt tuy rất thống nhất về chữ viết song ở mỗi địa phương lại có những đặc điểm khác nhau trong phát âm. Có vùng rất chuẩn xác trong khi phát âm các từ như "trừu" trong "trừu tượng", "hữu" trong "bạn hữu", "trâu" trong "con trâu", có vùng lại phân biệt khá tốt các từ như "rộng" trong "dài rộng", "ruộng" trong "ruộng vườn"... Riêng tiếng nói của người Hà Nội, dù còn hạn chế nhất định trong phân biệt "ch" và "tr", "d" và "r"... nhưng lại khá chuẩn xác trong phân biệt "l" và "n" - một trong những nhược điểm phổ biến trong phát âm tiếng Việt của dân cư ở các địa phương khác. Cùng với ưu điểm đó, lối nói lưu loát, uyển chuyển, sáng sủa... của người Hà Nội trong truyền thống, đã làm cho lâu nay "tiếng Hà Nội" gần như đã trở thành một "điển hình", "một khuôn mẫu" trong phát âm tiếng Việt. Có lẽ vì thế, cư dân nhiều vùng thường "thích học" nói theo tiếng Hà Nội, và người Hà Nội có thể tự hào về một nét bản sắc, một tài sản văn hóa của mình. Rất tiếc gần đây, sự "điển hình" và "khuôn mẫu" này dường như đang đứng trước nguy cơ biến dạng. Hiện tượng đó xuất hiện không phải do sự tụ hợp dân cư từ mọi miền về Hà Nội đang càng ngày càng tăng lên, cũng không phải do tác động của lối sống du nhập từ nước ngoài... mà nguyên nhân chủ yếu là một bộ phận công chúng chưa dành sự quan tâm đúng múc tới một số chuẩn mực văn hóa của cộng đồng. Lại thấy trong một số trường hợp, có người cố tình "nói ngọng" như một thứ "mốt" để nhấn mạnh điều muốn nói, hoặc đơn giản là cứ nói song "không để ý"... và chính sự "không để ý" này lại vô tình làm biến dạng một tài sản văn hóa, một hệ thống chuẩn mực về tiếng nói. Đấy là chưa kể, hiện tại ở một số trường phổ thông thuộc Hà Nội, đôi khi vẫn gặp những thầy cô "nói ngọng" và trong tình cảnh ấy, liệu có lặp lại một mẩu đối thoại mà cách đây ít lâu, người viết bài này từng chứng kiến một phụ huynh sau khi xem xong vở viết chính tả của cậu con trai đã dõng dạc: "Nờ này là nờ cao, sao lại viết là nờ thấp?"!

                Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, trong rất nhiều trường hợp cần lưu ý, có lẽ đã đến lúc phải chuẩn hóa những âm có khả năng "nói ngọng" ngay từ trong nhà trường!

                           

                Mùa thi và bộ hồ sơ dự thi đại học

                Không cần phỏng vấn xem vào mùa thi đại học, các bậc phụ huynh lo lắng ra sao, chỉ cần nhìn cảnh cha con, mẹ con tay xách nách mang đi tìm chỗ trọ, chỉ cần nhìn cảnh kẻ đứng người ngồi, dãi nắng dầm mưa trước các điểm thi... là hiểu sự quan tâm đến 12 năm học hành của con cái quan trọng đến mức độ nào. Sau đó là mấy tháng phấp phỏng đợi chờ, khi giấy báo trúng tuyển đến nhà thì niềm vui òa ra, còn nếu nó không đến thì thở vắn than dài, có cha mẹ quay ra trách móc, mắng mỏ. Việc sau khi tốt nghiệp phổ thông không nhất thiết phải học đại học mới có thể "nên người" đã được bàn luận khá nhiều, chỉ xin được bàn đến một khía cạnh không kém phần quan trọng, ấy là việc giúp con cái định hướng và cẩn trọng lựa chọn trước khi làm hồ sơ dự thi đại học.

                Hiện tại, kinh tế thị trường đang đem tới nhiều khả năng mưu sinh cho mọi người và hiển nhiên làm cha làm mẹ, mấy ai lại không cố gắng làm lụng để con cái có điều kiện ăn học. Nhưng dường như gần đây sự cuốn hút của cuộc mưu sinh đã và đang làm cho nhiều người tỏ ra chểnh mảng trong sự quan tâm đến việc học hành của con cái, vì từng thấy mỗi năm chỉ hai lần họp phụ huynh thôi mà có phụ huynh vẫn vắng mặt như thường. Đối với nhiều người, tình hình học hành của con cái được nắm bắt chủ yếu qua phiếu điểm, qua sổ liên lạc giữa gia đình và nhà trường, qua mấy lần đến thăm thăm hỏi chúc Tết thầy cô..., nên tới ngày con cái làm hồ sơ dự thi đại học thì có phụ huynh lại thiếu những yếu tố cần thiết để giúp con định hướng nguyện vọng chọn trường. Vào tuổi 17 - 18, đa số học sinh thường khó "định tính" năng lực học tập của chính mình để từ đó lựa chọn cho phù hợp. Với nhiều em, nguyện vọng vào một trường đại học nào đó đôi lúc hình thành trên sự ham thích, đua theo bạn bè, theo "mốt", theo điểm chuẩn năm trước... thậm chí là thi cho vui! Chính vào lúc con cái rất cần được "tư vấn" cụ thể và trực tiếp thì, ngoài các phụ huynh nghiêm túc quan tâm đến chất lượng học tập đã giúp con định hướng đúng đắn, ở một số gia đình lại xảy ra nhiều tình huống đáng bàn. Vị này "ép" con thi vào một trường đại học với hy vọng sau này dễ kiếm việc làm; vị kia sau khi tham khảo từ nhiều nguồn, "nghe nói" đến trường danh giá là "bắt" con dự thi; vị khác tin cậy đến mức "phó mặc" cho con cái loay hoay giữa mấy ngả đường..., Và cuối cùng là tất tả truy tầm các "lò" luyện thi, ép con tối ngày vùi đầu sôi kinh nấu sử. Những tư vấn có tính cảm tính, áp đặt chủ quan như vậy thường không mang lại hiệu quả, ít nhiều còn đưa con cái và chính gia đình phải đối mặt với một năm ôn luyện mới mà hy vọng không biết có trở thành hiện thực hay không.

                Mùa thi lại sắp tới, và tháng này các bộ hộ sơ dự thi đại học lại đang rục rịch chuẩn bị. Trong khi các cơ quan chức năng đang cố gắng xây dựng những quy chế thi cử mới thật sự khoa học và hợp lý, thì ở mỗi gia đình cũng đang bàn bạc xem nên để con cái chọn thi trường nào. Thiết nghĩ, quan tâm tới 12 năm học phổ thông không chỉ là tạo ra những điều kiện vật chất của sự học hành, từ sách vở, giấy bút đến xe đạp tới xe máy, máy vi tính... mà quan trọng hơn là sự khuyến khích, là cố gắng nắm bắt khả năng thật sự của con cái để qua đó giúp vào sự định hướng cho tương lai. Mỗi ngày chỉ cần dành ra 15 phút hỏi han việc học hành của con cái có lẽ cũng đủ để các cha mẹ hiểu thêm về từng năm học, về quá trình học tập... để có thể tự tin hơn khi giúp con đặt bút ghi nguyện vọng vào bộ hồ sơ dự thi đại học.

                                                                                                                                     

                Uống trà nơi công sở...

                Lâu nay đến nhiều công sở, người ta thường rất dễ nhận ra sự có mặt như một lẽ tự nhiên của các "bàn trà". "Bàn trà" không chỉ xuất hiện ở phòng khách, đặt dọc theo hành lang, đôi khi nó còn hiện diện trong phòng làm việc, "ngự" bên cạnh những chồng công văn giấy tờ và sánh vai cùng chiếc gạt tàn lem luốc chứa đầy đầu mẩu thuốc lá, que diêm cháy dở và... vỏ kẹo cao su, hạt ô mai! Ngay ở một vài công sở đã cư ngụ trong những tòa nhà hoành tráng, cao hàng chục tầng, nhôm kính sáng choang, phòng làm việc đều có bình nước lọc khép nép góc nhà... thì vẫn cứ gặp một loại bàn trà "dã chiến" nhỏ gọn, thu dọn dễ dàng, tuy vậy vẫn không giấu được những vết thâm sì của nước trà vô ý làm vương trên thảm. Vào đầu giờ làm việc, đa số cánh đàn ông cùng vài chị, vài cô còn "mấy cân dưa lê hôm qua chưa buôn hết" thường tụ tập quanh bàn trà, và mọi chuyện trên trời dưới biển, lượm trên ti vi, đọc trên báo chí, chứng kiến ngoài đường và cả... những chuyện đại loại như "hàng xóm nhà tôi", "ông xã nhà em", "bà xã nhà tớ" được mang ra bàn luận sôi nổi. Sức hấp dẫn và đề tài phong phú bên các bàn trà cho phép có vị ngồi đến hàng tiếng đồng hồ, sau đó mới lững thững ngồi vào bàn ghi ghi chép chép, đợi đến gần trưa phóng về nhà, "phôn một cú" hẹn bạn đi ăn cơm, hay tranh thủ chạy ra chợ sắm đồ ăn cho bữa chiều. Chưa nói "bàn trà" còn là môi trường thuận lợi làm phát sinh những cuộc tranh luận nảy lửa, bất phân thắng bại,... tạo ra tiền đề của một vài "mâu thuẫn nội bộ"!

                Nhớ khi còn làm việc tại cơ quan nọ, có ngày tôi đếm tổng cộng mình đã lang thang qua tám ấm trà, vì ở cơ quan ấy người ta thường điểm danh sự có mặt của từng người chứ ít quan tâm tới việc nhiều hôm có người đến cơ quan rồi mà không biết sẽ làm gì. Có ấm trà pha tại phòng, có ấm trà được phòng bên mời sang vì bên ấy đang thiếu "bạn hiền", có khách đến chơi, hoặc chí ít cũng là: "Từ sáng đến giờ nhạt miệng quá!". Rặng nhãn trước cửa dãy phòng làm việc lớn nhanh như thổi, cây lá xanh rờn, có lẽ một phần là nhờ ngày nào cũng được "bón" thêm vài cân bã trà. Thú vị nhất là hình như do chưa đủ thành phần để "chè tam rượu tứ" nên có vị rất mong có người đến liên hệ công tác hay đến thăm... để có lý do đi súc ấm, bởi vừa bước vào phòng đã thấy chủ nhân vội vã pha trà. Tóm lại, "bàn trà" có khả năng "tiêu diệt" khá nhiều thời gian rảnh rỗi đang tồn tại ở một số cơ quan, mà nhiều lúc nhìn người ta chạy đi chạy lại, từ tầng trên xuống tầng dưới, từ phòng này sang phòng khác, lại nghĩ không biêt bận rộn thật không. Vì vài lần tôi vừa thấy một chị chạy lăng xăng trong cơ quan, tay vung vẩy giấy tờ, lát sau lại đã thấy đang ướm quần ướm áo trong shop thời trang, hay đang mặc cả trước quầy hoa quả!

                Đầu năm 2005, đọc báo thấy một thông tin rất đáng chú ý, ấy là trong năm 2004 nhà nước đã tinh giản biên chế hơn 1,2 vạn người, tuy nhiên số "vào" biên chế lại tăng lên quãng hơn 5 vạn người. Xem ra sau một năm, biên chế lại có vẻ nhỉnh hơn. Chúng ta nhận thấy bộ máy làm việc cồng kềnh, nặng về giấy tờ, kém hiệu quả... thật sự là gánh nặng trên vai nhà nước, gây cản trở cho việc tiến hành các thủ tục lẽ ra cần phải thuận tiện, nhanh chóng... vì thế chúng ta yêu cầu phải hoàn chỉnh, phải tinh giản hóa bộ máy hành chính. Nhưng có lẽ đấy mới chỉ là về mặt tổ chức, còn nhiều việc cần quan tâm đến nữa, như sự hiện diện của các "bàn trà" chẳng hạn. Thiển nghĩ, nếu một cơ quan có 20 nhân viên, chỉ cần mỗi người trong một ngày loanh quanh bên bàn trà 30 phút, thì tính ra có thể tinh giản biên chế được gần 2 người!

     

                Nguy cơ từ một chữ… “lậu”!

                Trên báo chí, dường như ngày nào cũng thấy đăng tải các tin tức đại loại như: “Khoảng 6 giờ 20 phút ngày 12.2.2006, một thuyền xi-măng chở khách đi chùa Hương đã gặp nạn trên đoạn sông Đáy cách cầu Đục Khê khoảng 200 m, điều đáng tiếc đã xảy ra là 2 người bị mất tích và khoảng gần 5 tiếng đồng hồ sau mới vớt được… Đoàn khách này gặp “cò mồi” là chị X, trong quá trình nhận “giúp đỡ” đoàn khách nói trên (có thể vì mục đích trốn vé tham quan thắng cảnh) theo hướng “đôi bên cùng có lợi”…”. Một tin khác: “hiện tượng đò trốn vé xảy ra khá thường xuyên tại Chùa Hương. Trung bình mỗi ngày có khoảng 3.000 khách lậu vé”, hoặc: “vào lúc 11h45 ngày 7.2, lực lượng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Quảng Ngãi đã bắt quả tang xe khách chở quá số người quy định, trong đó, có 22 người bị nhét trong hầm chứa hàng hóa. Trên xe có đến 87 người dù quy định chỉ cho phép chở 50 người”… Các tin tức như thế dễ làm liên tưởng tới hiện tượng trên nhiều chuyến tàu đường dài có những anh chàng ba-lô khoác vai, len lỏi từ toa này sang toa khác, thoắt ẩn thoắt hiện, thấy bóng nhân viên “nhà tàu” là lảng xa, nhìn cũng biết là “hành khách trốn vé”. Ở các cửa khẩu cũng vậy, người ta còn lập cả những đường dây đưa người qua lại không giấy tờ, không ít người sẵn sàng bỏ ra vài chục ngàn đồng cho các đường dây này chỉ nhằm mua một cái nồi cơm điện, một cái “đầu” DVD giá rẻ… Lại nữa là cái “gu” của nhiều người tiêu dùng rất “khoái” mua sắm hàng hóa dưới những cái tên gọi khá khác thường như “hàng xách tay”, hàng “trốn thuế”! Tin tức và hiện tượng như vậy không chỉ đưa tới sự ngạc nhiên mà còn phải giật mình tự hỏi, chẳng lẽ chỉ vì một chuyến đò lậu vé, một chuyến ô tô tăng thêm hành khách hoặc chỉ vì vài chục nghìn đồng mà người ta - cả người có hàng hóa và phương tiện, cả người tiêu dùng lẫn hành khách, có thể phó mặc tính mạng và tài sản của mình cho sự may rủi hay sao? Những mối tư lợi cá nhân cạn hẹp, những nhu cầu mua bán, đi lại thuận tiện song rất “phi trật tự” như là di sản từ tập quán sinh tồn của cư dân nông nghiệp lúa nước nay không còn hợp thời xem ra vẫn còn đeo bám dai dẳng trongg thói quen sống của nhiều người trong chúng ta. Xưa nay, chữ “lậu” tự thân nó đã mang theo một ý nghĩa không lành mạnh và luôn ẩn chứa những nguy cơ khôn lường. Trong khi đó, ở xã hội hiện đại, phương tiện thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của con người đã tăng lên rất lớn, đồng thời nó cũng tạo ra những điều kiện an toàn để các quan hệ mua bán, trao đổi được bảo vệ bởi luật pháp, ít nhất cũng có thể nhận biết qua các sự ràng buộc như bảo hành, bảo hiểm. Người ta yên tâm mua sắm hàng hóa khi được bảo hành. Người ta yên tâm đi lại khi được bảo hiểm và điều này không chỉ đưa lại sự yên tâm về chất lượng mà còn tạo dựng nên sự “chính danh” cho người mua bán hàng hóa, sử dụng phương tiện. Cần thay đổi nhiều thói quen cũ đã lỗi thời, đồng thời phải tìm thấy sự “chính danh” cho bản thân trong các quan hệ và hành vi xã hội - dường như đang là đòi hỏi bức thiết của xã hội và con người lúc này. Hiệu quả làm việc của các cơ quan quản lý xã hội trong khi cố gắng “luật pháp hóa” các quan hệ mua bán để đẩy lùi hàng “lậu” sẽ chỉ thật sự có ý nghĩa khi ý thức về điều đó trong mỗi con người ngày càng được nâng cao./.

                           

                “Trẻ em như búp trên cành”

                “Trẻ em như búp trên cành…”, mấy chục năm nay câu thơ của Hồ Chủ tịch như đã trở thành một hình ảnh, một dẫn dụ mang tính nhân văn khi mỗi người trong chúng ta nói về lớp tuổi trẻ thơ. “Búp trên cành”, tươi non và tràn đầy sức sống, đó là tương lai, là niềm hy vọng mà mỗi gia đình và xã hội gửi gắm. Không có điều gì khác, đất nước ngày mai sẽ như thế nào, thế giới ngày mai sẽ như thế nào… hoàn toàn phụ thuộc vào sự trưởng thành, phụ thuộc bàn tay và trí tuệ của lớp người hôm nay còn đang bi bô tập nói, còn đang cắm cúi đánh vần, còn mang trên ngực huy hiệu Măng non… Chính vì thế mà việc nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy bảo trẻ em đã trở thành nhiệm vụ của toàn xã hội, trở thành một chính sách mà một nhà nước thực sự do dân và vì dân phải xác lập, thực hiện.

    Xưa kia ở Việt Nam, tuổi “ti ấu” kéo dài trong khoảng thời gian rất dài, từ khi mới sinh đến năm 18 tuổi - “tuổi thành đinh”, tuổi bắt đầu phải thực hiện một số trách nhiệm xã hội có tính bắt buộc (Ở một số tộc người khác trên thế giới, ngoài việc rèn luyện sức khoẻ, người ta còn dạy dỗ giúp trẻ em thuần thục một số kỹ năng sống, sao cho tới năm 18 tuổi, đứa trẻ đã có khả năng vượt quan một số “cuộc thi - sát hạch” do cộng đồng tổ chức, để được thừa nhận là thành viên cộng đồng). Ngày nay xã hội đã phát triển, các điều kiện chăm sóc, nuôi dạy trẻ em không còn như xưa, tương ứng với các điều kiện ấy, xã hội cũng đặt ra những yêu cầu, những tiêu chuẩn cao hơn rất nhiều so với trước đây, cả về sức khoẻ và trí tuệ. Trong thực tế, những chiếc “búp trên cành” được chăm sóc chu đáo về y tế, được học hành có hệ thống, được tiếp xúc với nhiều thành tựu văn hoá - văn minh của loài người trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần. Và như thế, trong bối cảnh mới, đã xuất hiện những tiêu chí mới và hiện đại mà các bậc cha mẹ cần phải được trang bị để nuôi dạy con cái. Cũng như thế, sự nuôi dạy con cái không chỉ có thể dựa trên nghiệm sinh của cha mẹ, nó đã cần tới kiến thức khoa học và những yếu tố khác. Nếu đặt một câu hỏi rằng những “chiếc búp trên cành” ngày mai sẽ ra sao, câu trả lời phụ thuộc chủ yếu vào ngày hôm nay, bởi sự giáo dưỡng như thế nào sẽ in đậm dấu ấn trong suốt quãng đời mai sau, sẽ tạo ra động lực, sẽ thôi thúc đưa trẻ xưa biết làm việc sáng tạo, biết sống lành mạnh cho mình, cho gia đình và cho mọi người. Hãy hăm sóc cho những “chồi non” mập mạp đang nhú trên cành, hãy dành cho con cái chúng ta những sự chăm sóc tràn đầy lòng yêu thương song cũng đủ phần lý trí để những chiếc “búp trên cành” lớn lên, trở thành những con người đích thực về nhân cách và năng lực sống./.

                                       

    Suy nghĩ từ “cái đầu” của chính mình!                                                                       

                Năm 2004, đọc tiểu luận của NN đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, ngoài việc đề xuất một hướng nghiên cứu theo tôi còn rất “mông lung”, NN còn đưa tới cho tôi một nỗi kinh hoàng, ấy là bài viết chỉ quãng 10 trang giấy mà kèm theo tới 53 trích dẫn và chú thích! Khiếp quá, đọc một tiểu luận tràn đầy các trích dẫn theo lối “ông John” cho rằng, “bà Smith” từng viết, rồi ông “ốp”, ông “ép” đã nói…, tôi không thể nắm bắt đâu là khám phá, quan niệm học thuật của NN và đâu là khám phá, quan niệm “nói theo”. Ngẫm lại, thấy cũng không nên trách cứ NN, vì nhiều bậc thầy của anh vẫn thường làm như vậy, và nếu có quan tâm, thì chỉ nên thừa nhận NN đã lập một kỷ lục!

                Có một sự thật không thể chối cãi được rằng, không rõ tự bao giờ, trong rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở nước Nam ta luôn luôn ngổn ngang các trích dẫn, đến mức đôi khi tiếp xúc với một công trình, người đọc như bị lạc vào giữa “mê hồn trận” các trích dẫn, các ý kiến của người khác… Với những công trình như thế, “ý tưởng” khoa học thật sự của tác giả và hiệu quả thực tế thật đáng nghi ngờ. Tôi đã đọc khá nhiều công trình của một vị giáo sư văn học, và nhận ra mỗi khi đề xuất một nội dung nghiên cứu, giáo sư đều dẫn lại ý kiến của một danh nhân, một nhà khoa học đã từng nói… “y chang” với những gì ông đang trình bày. Kỳ khu nhất có lẽ phải kể tới vô số công trình nghiên cứu Thơ mới, trong đó hầu như bàn đến Xuân Diệu là người viết cố chứng minh Xuân Diệu “tha thiết, nồng nàn”, bàn đến Huy Cận là người viết cố chứng minh chàng Huy Cận “buồn”, thậm chí gần đây còn có một cuốn sách xuất bản chỉ nhằm để khẳng định Nguyễn Bính “chân quê”… - tóm lại là người ta dành khá nhiều công sức và chữ nghĩa nhằm chứng minh cách nay hơn nửa thế kỷ, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có nhiều đánh giá rất chính xác! Gần đây, trong một công trình nghiên cứu văn chương được quảng bá khá hoành tráng, khi đề cập các nhà thơ dân tộc ít người, có vị giáo sư chỉ tiến hành một thao tác nghiên cứu duy nhất là liệt kê một dãy tên tuổi từ Y Phương đến Lò Ngân Sủn, rồi không đưa ra ý kiến cá nhân nào, ông dẫn lại nhận xét của Lâm Tiến để đánh giá. Khi những sản phẩm như vậy cũng được coi là công trình nghiên cứu thì, hoặc là khoa học nước nhà đang “có vấn đề”, hoặc là chức danh giáo sư chỉ là kết quả của quá trình “sống lâu lên lão làng”! Ấy là chưa kể tới việc người ta trích dẫn theo kiểu “ăn theo”. Ông X trích từ cuốn sách A một đoạn (không rõ ông X có thực đọc hay không?); ông Y thấy hay hay liền trích theo ông X; đến lượt ông Z tiếp tục “dẫn lại” từ ông Y… Thế là trong tính liên tục của nó, đoạn trích từ cuốn sách A được dẫn lại trong công trình của X, Y, Z… và người dẫn lại đã không cần phải đọc, không cần phải truy nguyên. Tình huống trên thường diễn ra với các tác giả kinh điển. Toàn tập của các ông đã xuất bản từ hàng chục đến vài chục năm, vẫn thấy có người dẫn lại từ những cuốn sách được xuất bản ở Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ trước!

                Dẫn lại, chú thích ý kiến của người khác trong các công trình nghiên cứu khoa học vốn là việc bình thường, trong từng trường hợp cụ thể đó là yêu cầu bắt buộc, nhưng khi sự trích dẫn, chú thích đã đạt đến tình trạng “lạm phát” thì tôi lại thiếu tin cậy vào tác giả. Buộc tôi phải đặt ra các khả năng: một, “ý tưởng” khoa học chỉ là “đồng dạng phối cảnh” với ý tưởng của người khác; hai, “ý tưởng” chưa đủ độ chín, tác giả không đủ bản lĩnh, không dám chịu trách nhiệm về mình, cần được “bảo lãnh”; ba, tác giả chỉ là một người “thuộc bài”? Xét đến cùng, ba khả năng trên đều có chung một nguồn gốc, ấy là khi nhà khoa học lười nhác trong lao động trí tuệ, tồi tệ hơn, là không có khả năng nghiên cứu khoa học. Tương tự như vậy, có thể đặt ra nhiều câu hỏi đối với các nhà khoa học được tin tưởng giao trọng trách “nghiệm thu” một công trình nào đó mà sau khi nghiệm thu nó lại bị dư luận phê phán. Họ không đọc? Họ không có khả năng phân biệt đúng - sai? Họ nể nang? Họ...? Phải chăng từ những khả năng trên đây, vô số công trình nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn có kinh phí từ vài chục triệu đồng đến hàng tỷ đồng đã không được công bố giúp những người trong nghề tham khảo, học hỏi?

    Nói thật đơn giản, để các phát minh khoa học, các công trình nghiên cứu có thể sinh tồn và hữu ích với hoạt động sống của con người, trước hết đó phải là sự giải đáp các câu hỏi liên quan trực tiếp đến lĩnh vực nào đó thuộc về tự nhiên - xã hội - con người, là sự nắm bắt các nhu cầu và tìm ra, xây dựng khả năng đáp ứng nhu cầu… Như vậy, muốn đặt một câu hỏi, muốn nắm bắt một nhu cầu, từ nền tảng một tri thức nhất định, người nghiên cứu cần khảo sát cụ thể về thực tiễn, suy ngẫm, luận chứng và đề xuất…, nếu có “kế thừa” ý tưởng của người đi trước thì phải là sự “nâng cấp” chứ không phải là sự “nhai lại”. Nói tóm lại, với nghiên cứu khoa học, người ta phải suy nghĩ từ “cái đầu” của chính mình chứ không thể từ “cái đầu” của người khác. Nếu yêu cầu đó trở thành một thước đo nghiêm cẩn trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở Việt Nam, liệu bao nhiêu công trình sẽ phải tự triệt tiêu tính từ “khoa học”. Câu trả lời xin dành cho các nhà khoa học, sau khi họ dành chút ít thời gian “tự vấn” về công trình của mình./.

     

                Nhẹ dạ, cả tin hay… tham?

                Mấy hôm trước, sự kiện mất trộm kỳ quặc của ông Lê Quốc Hồ bỗng dưng trở thành một “món ngon xơi” của nhiều tờ báo và thế là “thầy Hồ” tự nhiên nổi danh mà không cần quảng cáo. Việc lắng xuống rồi mới nhận ra một tình trạng cũng không kém phần kỳ quặc là nhiều người trong chúng ta lâu nay vừa nhẹ dạ, vừa cả tin và vừa… tham (?). Vâng, một món tiền khổng lồ cỡ 2,5 tỷ USD cùng với vô số ngọc ngà châu báu được cất chứa trong một ngôi nhà tuềnh toàng thật sự là chuyện hy hữu với cả thế giới chứ đâu phải là hy hữu ở riêng nước Nam. Song ngược thời gian về là cái lần “thầy Hồ” tổ chức họp hành rình rang, huênh hoang tuyên bố đóng góp mấy trăm tấn vàng để xây dựng hai cái bệnh viện, một là “bệnh viện Hoàng gia” dành cho người giàu, một là “nhà cứu nhân độ thế Tuệ Tĩnh đường” dành cho người nghèo thì còn buồn cười hơn. Thế mà người ta cũng tin được. Lạ thật. Lại thêm một ông cựu thứ trưởng đã tính tới việc “tấn phong” cho Lê Quốc Hồ chức danh “chủ tịch hội đồng bảo trợ Hội chữ thấp đỏ Việt Nam” nữa thì quả là… không biết nói thế nào!

    Từ câu chuyện của “thầy Hồ” suy rộng ra, lại thấy “thầy Hồ” không đơn độc, bởi qua báo chí hầu như ngày nào cũng có một tin tức đại loại như tỉnh A tỉnh B, công ty X công ty Y, gia đình E gia đình F bị… lừa. Mà chiêu thức của các ông bà “tà lưa” quanh đi quẩn lại bao giờ cũng chỉ mấy thủ đoạn, như họ là “con cháu ông to bà lớn”, quen biết nhiều, đang giữ trọng trách ở các cơ quan cấp bộ, cấp ngành (thậm chí cả “văn phòng chính phủ”)… chí ít cũng cỡ “giám đốc công ty”. Thế là ở cấp gia đình thì cha mẹ hỉ hả mở hầu bao nuôi hy vọng con cái không cần thi cử cũng được vào đại học, hoặc sẽ có công ăn việc làm đàng hoàng. Ở cấp cơ quan đoàn thể thì tiếp đón long trọng, nước rót cơm bưng, thuyết trình rổn rảng… Sau vài cuộc tiếp xúc, sau mấy chầu chén chú chén anh, sau mấy hồi quảng bá “tiềm lực” của đối tác đứng ra bao thầu, mọi việc xem ra an bài và mọi sự nhanh chóng đi từ “phong bì” lót tay đến “ứng trước” từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng. “Thầy Hồ” không kiếm được mấy cái “nhãn” kể trên thì tự gắn cho mình mấy chức danh nghe rất “hoành tráng”, tỷ như “thầy” tự giới thiệu là: “Viện chủ Hiệp hội Phật giáo quốc tế, đứng đầu tất cả các nước về Phật giáo trong thế giới hiện tại. Tôi là đại diện Phật chủ đứng đầu các sư của tất cả các nước, tức là Pháp chủ, là to nhất. Thế danh ngoài đời của tôi là giáo sư - bác sĩ Lê Quốc Hồ. Tôi có 12 bằng cấp thế giới. Tôi không tự hào nhưng cũng tự giới thiệu là đã được vua Ấn Độ và các nước trên thế giới phong là Phật sống" (web thanhnien.com.vn, 23.10.2005). Không cần kiểm tra, thẩm định, chỉ cần nghe mấy cái “chức danh” kia đã thấy chúng vô lý, hoang đường. Nếu ở nước Nam ta có một nhân vật vai vế như thế thì hẳn đã vang danh bốn biển năm châu, cần gì “thấy” phải kể ra. Thế mà người ta cũng tin được. Lạ thật! Đến chuyện mấy ông da đen từ châu Phi xa xôi lang thang sang xứ An Nam, chỉ cần rỉ tai rằng họ có có khả năng biến “đôla đen” thành “đôla thật” mà cũng có người tin cậy trao luôn vài chục nghìn USD thì đúng là… không còn gì để nói!...

    Bảo rằng người ta bị “lừa” vì nhẹ dạ cả tin ư? Nghe chừng cũng có phần đúng, nhưng lại có phần đáng nghi vì những sự cố như thế thường gắn liền với hai chữ “tiền bạc”. Trong khi trong đầu óc đương sự còn mải tính toán đến mối lợi sẽ được hưởng, mải tính toán tỷ lệ “phần trăm” sẽ chảy vào túi mình bao nhiêu, người ta không chú ý đến các tiền đề phi lý, không quan tâm tới sự có mặt của những đồng tiền phi hiện thực. Nghĩa là sự vụ lợi, hay sự tham lam đã lấn át đến mức người ta đánh mất sự tỉnh táo, đẩy nhiều người rơi vào tình huống bi hài kịch, ngậm đắng nuốt cay, dở khóc dở cười. Và khi sự tham lam còn ẩn náu trong mỗi con người thì những nhân vật như “thầy Hồ” cùng mấy thứ “sản phẩm Vision”, “nước trái nhàu”... kia còn có cơ sinh tồn. Phải chăng đó không phải là một “thói xấu” cần nhận diện trong thời buổi hàng hóa lên ngôi?

                                                               

                Thầy và trò thời “tại chức”!

    Ngày nọ nghe anh bạn thao thao kể tả về các danh lam thắng cảnh ở cả ba miền, rồi tấm tắc ca ngợi của ngon xứ này, vật lạ xứ kia, tôi những thấy thòm thèm. Cứ tưởng anh chỉ loanh quanh với giảng đường đại học, mà xem ra có khi anh còn rong ruổi xuôi ngược nhiều hơn cả tôi - kẻ chẳng gì cũng vài tháng lại xách đồ nghề vào Nam ra Bắc. Dần dà tôi mới phát hiện: thi thoảng anh xa Hà Nội vài ngày là để dạy “tại chức” ở các tỉnh xa.

    “Học tại chức”, không biết ở các quốc gia khác có sử dụng hình thức đào tạo này hay không, chứ ở xứ An Nam ta lâu nay “học tại chức” được nhiều người hâm mộ hơn cả học chính quy. Cán bộ nhân viên các cơ quan đoàn thể vừa đi học vừa đi làm, không phải lọ mọ cắp sách đến trường, không phải xa vợ xa con, học phí đã có cơ quan lo hộ, lương bổng vẫn lĩnh đều đều, sau mấy năm là có bằng cấp như ai. Đến kỳ lên chức lên lương, chìa ra cái văn bằng dấu má đàng hoàng, đố ai dám bảo là không đủ tiêu chuẩn. Ấy là chưa kể con cái quan chức hàng tỉnh, 12 năm học hành nhênh nhang, đại học không đỗ, “tống” luôn vào làm việc ở một cơ quan nào đó, một hai năm sau cho đi học “tại chức”, vừa có lương bổng, vừa được học đại học… Tóm lại là vẹn đủ mấy đường, tội gì không học “tại chức”! Cũng vì thế mà đã không ít lần tôi được nghe nhiều người than thở về những “khổ nạn” mà họ gặp phải. Nào là phài đóng “quỹ lớp” liên tục (một lớp khoảng 100 người, mỗi người đóng 200 nghìn đồng mỗi tháng, vị chi cả lớp đóng khoảng 20 triệu đồng một tháng - một ngân khoản thật đáng lưu tâm!). Nào là liên tục phải hội hè liên hoan (tỷ như liên hoan lớp, liên hoan tổ, liên hoan đón thầy cô, liên hoan chia tay thầy cô…). Nào là phải đưa thầy, đón cô thăm thú đó đây nếu tỉnh nhà có danh lam thắng cảnh (nghe nói có một thầy đến nơi nghỉ mát rồi còn hỏi: “Thủ trưởng cậu đưa tớ đến đây để… ngủ à?”!). Nào là phải lo toan chuyện thi cử. Có học viên lưng túi chẳng dư dả gì vẫn phải bóp mồm bóp miệng để “tậu voi chung với đức ông”… Thật ra, cũng có người đi học “tại chức” như một nhu cầu tự thân, song khi mà việc thăng chức lên lương đều cần đến bằng cấp thì không ít người đành “liều thân” đi học, nhất là vì người ta chỉ kiểm tra cái bằng chứ không kiểm tra lực học!

    Vợ chồng bạn tôi làm việc tại tỉnh L, cả hai được xếp vào hàng trí thức trong tỉnh. Năm trước hai vợ chồng cùng được cử đi học “tại chức”. Năm nay học xong, anh mới “dám” kể với tôi nghe vài chuyện. Anh bảo lớp anh có hai “đẳng cấp” rất rõ ràng, nhóm một gồm học viên làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp, cuộc sống dựa vào đồng lương, nhóm hai gồm học viên làm việc tại cơ quan như thuế má, địa chính, ngân hàng… nên tiền nong rủng rỉnh. Ngoài công việc chung của lớp, hai nhóm ít qua lại với nhau, và thầy cô cũng giao du với nhóm hai nhiều hơn. Do được coi là người có chữ nghĩ, nên một lần đại diện nhóm hai đến gặp bạn tôi đề nghị anh chịu trách nhiệm làm đề cương ôn tập để họ chép. Nể tình, bạn tôi làm giúp và thỉnh thoảng được tham dự hoạt động của nhóm hai. Có tham gia mới anh được mục kích nhiều chuyện, xin không kể lại. Tuy nhiên cũng xin nhắc đến những chuyện đại loại như vợ chồng bạn tôi luôn luôn phải mua hai bộ sách giáo khoa. Một bộ để đọc và một bộ để… ngắm! Đề nghị với giáo viên chủ nhiệm rằng hai vợ chồng chỉ cần một bộ thì nhận được câu trả lời: Lớp đăng ký từ đầu rồi, không trả lại được! Khôi hài nhất là chyện thầy chủ nhiệm khoa thuộc trường nọ. Thầy mở đầu bài giảng đầu tiên của môn học bằng thông báo tuần sau con thầy ra ở riêng, mời cả lớp đến dự. Mấy trăm cây số làm sao đi được, mà con chẳng phải, cháu thì không. Cả lớp hè nhau góp phong bì “mừng em”. Riêng anh học viên ở một huyện có đặc sản rượu ngon nổi tiếng lại quá thật thà, lúc tiễn thầy, anh cho người ì ạch khiêng ra bốn can rượu, mỗi can 20 lít. Thầy nhận tất. Không biết khi xuống ga Hà Nội, thầy sẽ xoay xở ra sao với 80 lít rượu và đám cưới con thầy mà uống hết chỗ đó thì kinh thật! 

    Hàng chục năm nay, trên đường công tác, tôi đã gặp nhiều thầy cô đến các tỉnh để dạy “tại chức”. Đi xa thì học trò lo vé máy bay. Đi gần thì có xe “xịn” đón rước. Hôm mới rồi lên SP, tôi gặp đoàn giáo viên khoa Kinh tế của học viện nọ. Các thầy cô qua SP nghỉ ngơi trước khi đến tỉnh X để nghiên cứu thực tế. Do công việc nên tôi phải gặp gỡ họ và may mắn được chứng kiến năm bảy câu chuyện đậm màu hài hước với các vai diễn là thầy và trò. Thì ra chuyến nghỉ ngơi SP lần này do học trò “tại chức” ở tỉnh Y ưu ái tổ chức trước khi thầy cô được học trò “tại chức” ở tỉnh X đến Sa Pa ưu ái đón về. Dù tổ chức tại SP, tiết trời giá lạnh, song giữa bộn bề đặc sản của chốn sơn lâm, không khí bữa cơm thân mật thật náo nhiệt. Trò “trăm phần trăm”, thầy cũng “trăm phần trăm”. Chén trước chưa hết, chén sau đã kề. Trong khi mấy anh cán bộ ngân hàng, cán bộ tài chính phóng xe biển xanh đến “giao lưu” với thầy, thì mấy nữ học viên áo quần đúng mốt, thoạt trông đã biết là người từng trải phong trần nhưng vẫn vừa lăm lăm chén rượu vừa “giả nai” vừa ỏn ẻn: “Em là con gái miền rừng”, mời rượu thầy mà lơi lả như mời bạn trai. Trong bối cảnh gần gũi ấy, có thầy thì tỏ ra là nhân vật quan trọng, ề à với các tâm sự đại loại như: tôi đã dạy ông này tôi đã dạy bà kia. Có thầy lại muốn tỏ ra ga-lăng hơn người và ngôn ngữ xem chừng có phần ngả ngớn (nghe nói bữa trước có thầy say lên say xuống, người ta phải rót nước lọc để mời thầy xơi, nhưng thầy vẫn hăng hái giằng lấy chai rượu, quyết không chịu thua bạn kém trò). Còn học trò thì ai cũng như ai, xun xoe, nịnh nọt không biết ngượng mồm, tâng bốc thầy như tâng bốc vĩ nhân. Tựu trung là thầy hể hả, trò hể hả và trong đó đề tài thi cử được nhắc tới thường xuyên. Sáng hôm sau, chỉ có hai thầy đã tới tuổi về hưu tiếp tục chuyến đi dối già sang tỉnh X vừa thâm nhập thực tế vừa kết hợp lên lớp. Còn lại gần mười người thì lên đường… về xuôi vì có việc đột xuất! Trên chiếc ô tô chất một đống sách giáo khoa cùng hai thầy sang tỉnh X, tôi ngẫm nghĩ mãi mà không hiểu tại sao chuyến đi nghiên cứu thực tế của họ dừng lại ở SP? Đành tự lý giải SP mới là mục đích chuyến đi, còn thực tế chỉ là lý do để thầy trò hội ngộ. Ấy là chưa kể mấy trăm cuốn sách giáo khoa. Cả chương trình “tại chức” với mấy chục học phần, cứ thế nhân lên, hàng nghìn cuốn sách được phát hành tận tay, bán đúng giá bìa. Buôn bán gì cho lại. Té ra thầy cô cũng khôn ra phết!

    Mấy ngày lang thang cùng hai thầy, tôi còn được mục kích nhiều chuyện lạ lùng liên quan đến tình nghĩa thầy trò. Học viên “tại chức” thường là chức sắc ở địa phương, nghe tin thầy đến là vội vàng tìm bằng được để tổ chức đánh chén, nên tình nghĩa thầy trò luôn được bày tỏ xung quanh bàn nhậu. Sáng nhậu, trưa nhậu, chiều nhậu. Ly chén lanh canh, rượu rót tơi bời. Có anh học trò từ sáng sớm đã mũ áo chỉnh tề, hai tay thu trước bụng, đứng chầu chực trước cửa hàng phở nghe nói là ngon nhất phố huyện. Có anh suốt ngày quấn quít bên thầy, chỉ trở về nhà quãng nửa đêm… Một lần ngang qua chỗ hai thầy trò đang nói chuyện say sưa, tưởng họ nói chuyện gì, té ra thầy đang hướng dẫn trò đánh dấu ký hiệu trong bài thi sắp tới. Mà tôi thấy các thầy cũng là người cả nể, trò mời gì cũng ăn, mời gì cũng uống, rủ đi đâu cũng đi. Hôm ăn trưa ở ML, thấy rượu ngon, một thầy ngỏ ý nhờ mua hộ, người ta không mua mà tặng luôn một thùng nguyên đai nguyên kiện. Với trường hợp này thì tôi xin chịu, vì không biết thầy vô tình nhờ vả hay là thầy đưa ra “gợi ý”, hay là thầy vòi vĩnh!?

                Hơn chục năm trước, một trong các nguyên do khiến tôi quyết định bỏ nghề “làm thầy” vì nhận ra cái nghề này đang có xu hướng trở nên “bệ rạc”. Và cho đến nay, càng ngày tôi càng thấy quyết định của mình là đúng đắn. Liệu có quá lời hay không nếu tôi nhận xét trong nhiều hợp là thầy - trò lớp “tại chức” chỉ lợi dụng lẫn nhau, và họ biến tri thức - bằng cấp trở thành chiếc “cần câu cơm” cho cả hai phía? Lại ao ước giá Nhà nước và các cơ quan chức năng có “phép thần thông” nào đấy để kiểm tra lại tri thức của hàng vạn (?) học viên “tại chức” đã lĩnh bằng. Tôi tin nếu chuyện ấy xảy ra, tri thức tích luỹ sau một chương trình “tại chức” của vô khối người có khi chỉ còn lại hai chữ… “tại chức”. Về phần mình, xin hẹn sẽ có ngày trở lại với đề tài này, vì hiện tại tôi cũng đang là… học viên “tại chức”!

     

                “Bê tráp theo thầy” và làm khoa học “dỏm”!

    Xưa nay, chuyện học trò tự hào vì được theo học thầy giỏi, thầy tự hào vì đào tạo được học trò tài cao cũng là chuyện thường tình. Nhưng dẫu sao thì không phải học trò yêu nào cũng được thầy trao cho “ấn tín” để có thể nối nghiệp. Những trường hợp như thế thường xảy ra với những ông thầy vốn là người có thực tài, là người khởi xướng một trường phái học thuật, là người nung nấu một (nhiều) ý tưởng khoa học nhưng quỹ thời gian ngắn ngủi của cuộc đời không cho phép họ hoàn thành, hoặc ít ra cũng là một học giả uyên thâm... Tương tự như vậy, học trò phải là người có tư chất trí thức, yêu nghề, hiểu thầy, dám xả thân cho sự nghiệp thầy hằng theo đuổi... Hơn nửa thế kỷ qua ở Việt Nam, học trò của GS Cao Xuân Huy như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Hồng Phong; học trò của GS Trần Đình Hượu như Trần Ngọc Vương, Nguyễn Kim Sơn, rồi học trò của GS Đặng Thai Mai, GS Nguyễn Từ Chi... quả đã không làm hổ danh những người thầy của họ. Từ sự tin cậy gửi gắm của thầy, từ sự nỗ lực của chính bản thân mình, họ đã đạt được không ít thành tựu đáng để đồng nghiệp nể trọng. Không có điều kiện quan sát thời họ theo thầy học hành, song tôi tin họ không phải là những đệ tử “bê tráp theo thầy” kiếm chút thơm lây, cầu danh cầu lợi, như không ít vị “tiến sĩ, thạc sĩ tương lai” mà tôi đã gặp.           

    Thời còn cặm cụi học hành mong kiếm được chiếc bằng cử nhân, tôi thật sự ngưỡng mộ những anh chàng được thầy ưu ái cưng chiều, được thầy cho xách cặp tháp tùng đi đây đi đó. Liên tưởng tới những học trò tài danh của Khổng Tử, Platon..., tôi càng ngưỡng mộ. Mỗi lần thấy họ khoa chân múa tay trò chuyện bình đẳng với thầy, tôi không khỏi chạnh lòng tủi thân vì sự kém cỏi của mình đã không đủ sức làm cho thầy để mắt. Một lần, tới dự buổi thuyết trình của một giáo sư nổi tiếng tổ chức tại Viện Văn hoá - Nghệ thuật Việt Nam, tôi may mắn được ngồi cạnh một anh mà trước giờ lên lớp vị giáo sư giới thiệu là một “nghiên cứu sinh nhiều triển vọng”. Thấy anh chăm chú nghe như nuốt lấy từng lời, thi thoảng lại ậm ừ hoặc ầm ĩ thốt lên đôi ba hư từ hàm chứa tinh thần thán phục rồi hí húi ghi chép, tôi đâm ngại không dám thì thào bắt chuyện làm quen. Rồi do muốn học hỏi phương pháp học tập, tôi ghé mắt nhìn sang thì thấy trang vở của anh loằng ngoằng những nét dọc nét ngang giống đồ hình một mê lộ. Tôi cố đoán xem đó là cái gì mà không đoán ra, đành tự giải thích: người tài năng có cách thức ghi chép riêng, người bình thường không thể theo được. Tới giờ giải lao, anh mới dành cho tôi chút ít thời gian, không phải để làm quen mà để giảng giải cho tôi đôi điều sâu sắc. Tôi chỉ biết tròn mắt “kính nhi viễn chi”, lòng càng củng cố niềm tin về trí tuệ hơn người của những tài năng lớn. Năm tháng qua đi, tôi còn vinh dự được nghe vị giáo sư này giảng bài thêm vài lần nữa. Không kể mỗi lần giảng là một lần “bổn cũ soạn lại”, chỉ kể tới những “tài năng trẻ” được ông giới thiệu, tôi cũng đã được tiếp xúc với năm bảy vị. Song tiếc thay, theo dõi vài chục năm nay, tôi vẫn chưa thấy họ “phát tiết tinh hoa” như ông thầy của họ quảng bá!

    Như một sự trùng hợp mang ý nghĩa thời thượng, những anh chàng xăng xái “bê tráp theo thầy” bao giờ cũng áo quần bảnh bao, tóc râu nhẵn nhụi, và luôn sẵn sàng nổ máy mô tô, móc điện thoại di động gọi taxi để cùng thầy vi vu. Săn đón bên thầy, họ luôn cố gắng chứng tỏ mình là người gần gũi, thân thiết. Mà kể cũng lạ, nhiều ông thầy coi cái sự quan tâm chăm sóc này như một trách nhiệm hiển nhiên. Nghĩa là ông thầy không nỡ lòng từ chối tấm lòng hiếu thảo của các học trò. Sau mấy năm sôi kinh nấu sử, nghiền ngẫm tư duy, luận án hoàn thành, phần lớn các tiến sĩ, thạc sĩ tân khoa liền ca bài goodbye, chuyển giao sứ mạng chăm sóc ông thầy cho một học trò khác đặng giúp cho quá trình bảo dưỡng khỏi bị đứt đoạn. Tuy nhiên, khi thấy ông thầy bị người ta phê phán thì có vị cũng muốn chứng tỏ lòng thành hăng hái ra trò. Năm 2002, để chứng minh cuốn sách của thầy là một cống hiến cho khoa học nước nhà, ông thạc sĩ HM đưa ra một tuyên bố xanh rờn rằng có thể đọc “nó” - cuốn sách, bằng nhiều cách khác nhau. Than ôi! đưa ra tuyên bố này ông HM đã bộc lộ một sự non kém không xứng đáng với tầm cỡ một thạc sĩ, đó là: người ta chỉ có thể đọc một tác phẩm văn học với nhiều cách khác nhau, chứ với một công trình khoa học thì chỉ có một cách đọc và đó cũng là một trong những sự khác nhau cơ bản giữa đánh giá một tác phẩm văn chương với đánh giá một công trình khoa học! Đối với những tiến sĩ, thạc sĩ kiểu này, thường thì sự nghiệp khoa học của họ chỉ dừng lại ở chính cái luận án mà chỉ có cao thủ về “toán tập mờ” may ra mới có khả năng phân định đâu là kết quả nghiên cứu của tác giả, đâu là kết quả nghiên cứu của... người ta. Chẳng thế mà mấy năm trước đọc luận án về văn hoá của ông HXL, tôi ngớ người vì thấy tác giả “thuổng” nguyên văn mấy trang từ một bài tiểu luận tôi đã đăng. Nghe tôi phàn nàn, ông bạn của vị thạc sĩ không tin, liền hỏi: “Tại sao ông lại bảo người ta lấy của ông?”, tôi trả lời: “Văn tôi mùi đặc biệt, ngửi là thấy ngay”!

    Trong văn chương, câu chuyện cũng không kém phần lý thú nếu xem xét tính “đa hiệu quả” của một số tác phẩm lý luận - phê bình. Nhìn từ góc độ văn học, một công trình lý luận - phê bình khi được in thành sách là có đủ tư cách tác phẩm và người ta có thể nuôi khát vọng hướng nó tới một giải thưởng văn chương. Nhìn từ góc độ khoa học, vẫn công trình ấy lại có đủ tư cách xếp vào chủng loại sản phẩm thuộc khoa học xã hội và nhân văn. Nên mới có chuyện khôi hài là chỉ một công trình nhưng lại có thể nhận hai giải thưởng thuộc hai lĩnh vực khác nhau! Nên khi một vài ông thầy với một vài cuốn sách cũng có thể xơi liền hai giải thưởng cỡ quốc gia, thì đôi ba học trò cũng nhanh chóng tận dụng ưu thế để trở thành nhà lý luận - phê bình, bằng cách: bê luận án ra in thành một cuốn sách và nghiễm nhiên đủ tiêu chuẩn nộp đơn xin vào Hội Nhà văn. Lợi cả đôi đường. Thế là bản luận án còn có khả năng biến một vị mới hôm nào còn “bê tráp theo thầy” bỗng trở thành một “học giả” vừa có học vị cao, vừa là nhà lý luận - phê bình chuyên làm sách sưu tầm, tuyển chọn, hoặc xuân thu nhị kỳ viết một bài đọc sách! Hơn thế nữa, bên hiện tượng số luận án văn học thật sự có chất lượng chỉ đếm được trên đầu ngón tay, còn lại là khá nhiều luận án xếp loại xuất sắc nhưng không một tiếng vang, tôi còn thấy một tỷ lệ không nhỏ số luận án tập trung nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (chủ yếu là các tác giả Thơ mới, cùng các cụ Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nam Cao...) và hầu như không đưa ra được kiến giải gì mới mẻ. Có vị như không thoát khỏi cái bóng của Hoài Thanh, cứ nghiên cứu Nguyễn Bính là chú mục vào hai chữ “chân quê”, cứ nghiên cứu Xuân Diệu là tán tụng “say đắm, tha thiết, nồng nàn”... Dường như người ta tìm thấy hứng thú trong khi cố gắng cày thêm một đường cày trên cái cánh đồng đã được cày bừa tan nát! Phải chăng đây là cách thức để không phải tốn công khám phá, phát hiện và cũng là cách thức để dễ bề “huy động” kết quả nghiên cứu của các bạn nghề? Phải chăng đây cũng là lý do tạo ra nghịch lý: “khoa bảng văn chương” thì nhiều nhưng thành tựu khoa học thì ít?

    Xét cho cùng, nguồn cơn của tình trạng làm khoa học “nửa mùa” không hoàn toàn là lỗi của nghiên cứu sinh. Các ông thầy (không rõ là “cây đại thụ” hay “cây lưu niên”?) cũng có lỗi phần nào nếu không nói là lỗi lớn nhất. Thầy có thực tài và làm việc nghiêm cẩn thì làm sao học trò có thể qua mặt để “úm ba la”. Như câu chuyện giáo sư QV cùng mấy “đệ tử” cho ra một cuốn giáo trình về văn hoá Việt Nam để giảng dạy trong các trường đại học chẳng hạn. Sau khi ông giáo sư cho ra mắt giáo trình rồi rầm rộ tập huấn ngoài Bắc trong Nam thì người ta phát hiện ra một hai “đệ tử” của vị giáo sư đã viết lách linh tinh và “đạo văn” vô tội vạ. Mà các vị này lại toàn là những tiến sĩ, thạc sĩ mới quả là gay go. Cực chẳng đã, thầy trò bảo nhau tu bổ lại cuốn giáo trình, sửa sang những chỗ đã trót “cầm nhầm”, thêm vài lời cảm ơn những người phê phán và nhanh chóng tái bản. Bằng động thái này, thầy trò vị giáo sư đã làm được hai việc: một là lờ tịt số phận trôi nổi của 1.000 cuốn giáo trình “đạo văn” đáng lẽ phải bị thu hồi, hai là học hàm học vị không bị sứt mẻ chút nào lại được thêm tiếng thơm là người cầu thị. Khôn thật! Từ sự kiện này tôi đặt ra câu hỏi: viết có mấy chương giáo trình còn phải đi “đạo văn” thì liệu cái luận án tiến sĩ, thạc sĩ của mấy “đệ tử” có cùng chung cảnh ngộ hay không? Nhưng hỏi thì hỏi vậy thôi, chứ câu trả lời có lẽ chỉ ông trời mới biết!

    Đọc công trình, tiếp xúc với luận điểm, nghe bài giảng của một số ông thầy, đôi lúc tôi thích làm khổ mình bằng câu tự vấn “những thành tựu đó liệu có khả năng sống được với thời gian?”, chỉ vì lẽ tính phát hiện của chúng quá mờ nhạt. Đó là chưa nói việc tôi còn được thưởng thức những phát kiến có khả năng biến khoa học thành sàn diễn “đời cười”. Không biết các ông giáo sư, tiến sĩ mà tôi dẫn lại dưới đây đã tham gia đào tạo nghiên cứu sinh nào chưa, nếu có thì thật lòng tôi rất nghi ngờ kết quả đào tạo của các ông. Chẳng là vài năm trước, ông tiến sĩ Triết học VT - Chủ nhiệm Khoa Triết của một trường đại học đã viết trên một tạp chí: “Đầu Công nguyên, tầng lớp thượng lưu, quan lại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết lý Nho gia với việc tu thân để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, nếu tiến thì vi quan, còn thoái thì vi sư”. Tiến sĩ VT quả là đã có một nhận định động trời: vào thời Bà Trưng, Bà Triệu chưa cất tiếng khóc chào đời mà nước Nam ta đã có “tầng lớp thượng lưu, quan lại”, không những thế, họ còn “chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết lý Nho gia”! Chỉ riêng với phát hiện này, theo tôi chí ít ông tiến sĩ VT cũng xứng đáng được trao giải “Mâm xôi Vàng”. Nghiên cứu thì như thế, còn tri thức thì ra sao, xin kể câu chuyện về PGS TS Triết học HQ - người được học trò chơi chữ gọi là “PGS thất học” vì ông giảng dạy hẳn bảy bộ môn khoa học khác nhau! Lên lớp cho nghiên cứu sinh về Kitô giáo, thấy ông nhiều lần nhắc tới tín điều “tam vị nhất thê”, học trò hơi bị lạ tai liền đề nghị ông cho biết “tam vị nhất thê” là cái món gì. Ông tỉnh queo giải thích: “Tam vị là ba người gồm Đức chúa cha, Đức chúa con và Thánh thần, nhất thê là chỉ bà Maria. Tam vị nhất thê tức là ba ông lấy chung một vợ”. Người học khiếp quá, nhưng cũng chỉ biết nhấn chìm trận cười vào trong bao tử. Dù sao thì cũng phải nghĩ tới kỳ thi hết môn nữa chứ!

    Nghe tôi bàn luận về tình trạng làm khoa học “nửa mùa” của một số ông thầy và một số tiến sĩ, thạc sĩ đương thời, sau khi đồng cảm chia sẻ một anh bạn tôi lại dịu dàng khuyên nhủ: “Thời nào mà chẳng có học thật học giả, ông để ý làm gì!”. Nghe anh nói tôi cũng thấy xuôi xuôi. Nhưng vẫn cứ băn khoăn: trong số hàng vạn ông bà có học vị trên đại học kia liệu có bao nhiêu người thật sự có tài năng, có tâm huyết, và liệu có bao nhiêu người đang tồn tại một cách “hữu danh vô thực” trên chính cái mảnh đất khoa học đã khai sinh ra họ. Ngày nay, khi tri thức đang trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội thì nó cần tới sự học hành và đào tạo nghiêm chỉnh. Nó không dung nạp những trí thức “nửa mùa” mà sự tồn tại chỉ gắn liền với bằng cấp, không gắn liền với năng lực. Chính vì thế, lẽ nào một xã hội muốn phát triển lại không cần nghiêm khắc với vấn đề nói trên?

     

    Nguyễn Hòa.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,813,208

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/