Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,813,187

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Thi pháp Truyện Kiều (chương 2-1)

Trần Đình Sử

  • Thứ tư, 19:11 Ngày 24/10/2018
  • Chương II

    TRUYỆN KIỀU VÀ CỘI NGUỒN VĂN HOÁ, VĂN HỌC TRUNG QUỐC

                Văn học Việt Nam tuy là hoa trái của mảnh đất Việt Nam, kết tinh của truyền thống và nội lực của văn hoá, văn học Việt Nam, song trong quá trình hình thành và phát triển của mình nó đã chịu ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện của văn hoá và văn học Trung Quốc. Từ thời kỳ giành độc lập dân tộc vào thế kỷ X cho đến đầu thế kỷ XX, trí thức Việt Nam hầu như chủ yếu chỉ học chữ Hán, đọc sách thánh hiền và lịch sử Trung Quốc. Cùng với chữ Hán chúng ta đã di thực hầu như toàn bộ thể loại văn chương Trung Quốc và hệ thống phong cách học Trung Quốc vào Việt Nam. Văn học Việt Nam xuất hiện trước tiên dưới hình thức văn tự và các thể loại Hán văn. Dần dần từ thế kỷ XIII mới có chữ Nôm, đến thế kỷ XV-XVI tác phẩm chữ Nôm mới xuất hiện lẻ tẻ, sang thế kỷ XVII xuất hiện rầm rộ và phải đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện những thể loại văn học thuần tuý Việt Nam như truyện Nôm, ngâm khúc và hát nói và đạt đến thành tựu tuyệt vời, thể hiện tất cả vẻ đẹp phong phú của tiếng Việt và bản sắc tư duy nghệ thuật của Việt Nam, mà Truyện Kiều là một ngọn tháp sừng sững toả sáng.

                Trong mỗi thời kỳ văn học trung đại, không có nhà văn Việt Nam nào khi sáng tác, dù bằng chữ Hán hay chữ Nôm, mà không sử dụng ít hay nhiều nguồn văn liệu Trung Hoa, bao gồm thể loại, điển cố, các phương pháp tu từ, các sáo ngữ, các tích truyện, các tư tưởng thánh hiền. Và mặt khác khi vận dụng chúng vào sáng tác, nhà văn Việt Nam nào cũng cố gắng vượt lên sự mô phỏng giản đơn để tạo thành giá trị mới. Cho nên nghiên cứu văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học viết, không thể không có cái nhìn văn học so sánh. Chỉ có so sánh mới có thể khẳng định được mức độ sáng tạo, trình độ văn hoá và bản sắc dân tộc. Ngay như một tác phẩm nổi tiếng "tập cổ" như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, trong đó có đến gần một nửa số câu sử dụng câu sẵn hay văn liệu, điển cố Trung Quốc, mà tác phẩm vẫn thể hiện tâm hồn Việt Nam, được giới văn nhân Việt Nam hâm mộ, thi nhau dịch ra tiếng Việt, thơ Việt. "Tập cú" là lối thơ dùng câu sẵn của người trước mà ghép lại (như thể tập Kiều - một lối tập cú, nhưng chỉ tập cú giới hạn trong một tác phẩm, một hiện tượng hết sức độc đáo!), nhưng Đặng Trần Côn rất ít dùng câu sẵn, mà sử dụng ý, tứ, văn liệu kèm thêm sự cải biến của mình. Tập cú ở Trung Quốc bài dài nhất chỉ hơn một trăm câu, của Vương An Thạch (1021 - 1086) đời Tống, còn Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn dài hơn bất cứ bài nhạc phủ và tập cú nào! Nêu ví dụ này để nói tầm quan trọng của so sánh trong việc nghiên cứu văn học cổ dân tộc.

    Truyện Kiều vay mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác phẩm có giá trị được một số nước dịch, cải biên, thì so sánh là tất yếu để tìm ra nét độc đáo của Nguyễn Du. Rất nhiều bình diện so sánh mà chúng tôi sẽ triển khai trong suốt chuyên luận này. Tuy nhiên ở chương này chúng tôi lưu ý tới truyền thống sáng tạo truyện kể về cô Thuý Kiều của Trung Quốc, khi đến tay Nguyễn Du thì đã chuyển sang một mạch khác, mà mạch ấy gắn liền với văn mạch dân tộc Việt Nam. Truyền thống tiểu thuyết tài tử giai nhân là một mạch khác của sự so sánh. Bản thân Kim Vân Kiều truyện đã khác tiểu thuyết tài tử giai nhân. Truyện Kiều của Nguyễn Du tuy có sắc thái tài tử giai nhân, nhưng đã chuyển sang tiểu thuyết cảm thương đậm màu bi kịch.

    Nghiên cứu so sánh Truyện Kiều và văn hoá, văn học Trung Quốc là một đề tài lớn, vượt ra ngoài phạm vi thi pháp. Chúng tôi phác hoạ một bức tranh để có ngày tiến tới so sánh toàn diện.

     

    1. Truyện Kiều - từ sự thật lịch sử đến sáng tạo nghệ thuật

    Như mọi người đều biết, câu chuyện Vương Thuý Kiều và Từ Hải là có thật, nhưng từ sự thật lịch sử tới sự thật nghệ thuật là cả một quá trình sáng tạo, tìm tòi của nhiều tác giả theo đuổi đề tài này. Xem xét những nét thay đổi chủ yếu của một số truyện  kể về Thuý Kiều ở Trung Quốc ta có thể nhận thấy con đường nhân đạo hoá, nhân bản hoá đã đưa Truyện Kiều của Nguyễn Du lên hàng kiệt tác thế giới. Truyện kể về Thuý Kiều ở Trung Quốc trải qua ba giai đoạn.

    1.     Giai đoạn ngợi ca công tích của Hồ Tôn Hiến, Hồ là nhân vật chính của truyện

    Bản ghi chép sớm nhất về sự tích Thuý Kiều - Từ Hải có lẽ là tác phẩm sử ký Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt(1) (Đầu đuôi diệt trừ Từ Hải) của Mao Khôn (1512 - 1601), người đời Minh, đỗ tiến sĩ năm Gia Tĩnh. Đây thực chất là một thiên ký sự, ghi lại công tích của Hồ Tôn Hiến, sau khi không thể dùng binh để đè bẹp cuộc nổi loạn của Từ Hải, đã quyết định dùng mưu lừa gạt. Dưới con mắt của sử gia phong kiến, Từ Hải đã hiện lên như một con người dũng mãnh, khôn ngoan (đi nghe chiêu dụ vẫn mặc giáp trụ), nhưng tham lam, thiển cận, hèn nhát nên đã bị tiêu diệt. Theo Hiến thì Hải là kẻ không thể lấy nghĩa mà thuyết, chỉ lấy lợi mà câu. Khi người của Hiến mang lễ hậu đến dụ, quả nhiên Hải nhận lời ngay. Thuý Kiều được nhắc đến với tư cách là thị nữ của Hải, cùng với thị nữ khác là Lục Muội, cũng được tặng nhiều vàng bạc, hoa tai để ngày đêm nói thêm với Hải. Hiến còn dùng mưu ly gián các đồng đảng của Hải, làm cho Hải và Trần Đông nghi kỵ, thù ghét nhau, hại nhau. Cuối cùng khi bị đánh úp, Hải bí thế phải nhảy xuống sông tự vẫn. Hiến sai quân vớt lên chặt đầu. Trước đó, khi được chiêu dụ, Hải mặc giáp trụ, nhưng quỳ vái trước tổng đốc Hồ Tôn Hiến và thượng thư Triệu Công, kêu khóc thảm hại: "Lạy ngài thiên tinh, tội tôi đáng chết, đáng chết!". Còn Hiến thì rời ghế tới xoa đầu Hải để trấn an, tặng quà và cho về. Kể xong việc diệt Hải, Mao Khôn viết: "Một cụ già Giang Nam nói Hải từ một kẻ áo đen mà đứng vững trên đảo năm năm, đánh trăm trận trăm thắng. Triều đình đã dùng khắp các tướng sĩ trong nước, đổ máu khắp các quận Ngô Việt mà không thấy nói bắt được một tên tiểu tốt nào của Hải.  Hải có hàng vạn quân chia làm năm đạo, nhấn chìm thuyền để tỏ chí quyết chiến không về, khí thế như sắp nuốt chửng miền Giang Nam mới thôi, thật là mạnh mẽ biết bao! Ấy thế mà Hải lại chết bởi chút mồi của Hồ Công, tự cắt hết lông cánh của mình mà chết như con dê con lợn, chẳng phải là như người ta nói, con người dễ chết bởi lòng tham của mình đó sao?". Đây là chuyện dẹp giặc, ngợi ca mưu mẹo quân quan triều đình và vạch ra sự thiển cận của Hải.

    Cũng vào đời Minh tác giả Chu Tiếp thời Sùng Trinh ( 1628 -1664), người biên soạn Tây Hồ nhị tập có chép truyện Hồ Thiếu bảo bình nụy chiến công, chủ yếu ghi lại quá trình Hồ Tôn Hiến đánh dẹp quân phiến loạn miền biển Đông Nam Trung Quốc. Hồ Tôn Hiến tự thấy quân giặc thế mạnh, quân triều đình thì yếu, quyết định dùng kế ly gián, chiêu an. Thoạt đầu dùng hai tên tâm phúc dụ Vương Trực về hàng. Sau cho người ly gián đồng đảng thân tín của Từ Hải với Từ Hải, có Thuý Kiều xúi thêm vào. Kết quả là Từ Hải đem Trần Đông và Diệp Ma trói dâng cho Hồ Tôn Hiến, sau nữa lại ly gián Từ Hải với đồng đảng khiến cho mọi người nghi kỵ nhau. Hải lo sợ cho người cõng Thuý Kiều và Lục Châu chạy trốn. Đồng đảng với Trần Đông biết được liền bắt hai cô, rồi phục kích Từ Hải. Từ bị giáo đâm vào đùi, bị thương. Lúc ấy quân Hồ Tôn Hiến ập đến, Hải phải nhảy xuống biển tự sát. Hồ cho người vớt lên chặt đầu. Đoạn kể tiệc mừng công giống như trong nhiều truyện. "Hồ Công uống rượu xả láng, say bí tỉ, liền ôm Thuý Kiều vào lòng đùa nghịch. Hôm ấy cả tiệc đều ồn ào, không thành thể thống nào cả. Hôm sau rượu tỉnh Hồ Công rất lấy làm hối hận, liền đem Thuý Kiều ban cho một viên quan quân dưới trướng, viên quan ấy bèn khấu đầu tạ ơn, đưa Thuý Kiều lên thuyền của mình. Vương Thuý Kiều cứ than thở: "Ta hận bình sinh bạc mệnh, rơi vào chốn yên hoa, lại bị Từ Hải cướp đi. Từ Hải tuy là giặc, nhưng đối đãi với ta như người tâm phúc, chưa sai bao giờ. Ta vì nước, đành phải dùng kế lừa hắn ta, đó là ta phụ Từ Hải, không phải Từ Hải phụ ta. Ta đã phụ Từ Hải rồi mà nay lại còn làm vợ người quan quân nữa hay sao?. Nói xong bèn nhảy xuống nước mà chết. Quan quân bẩm lại với Hồ Công, Hồ Công than tiếc không ngớt, bèn đem Lục Châu gả cho một người khác". (Tây Hồ nhị tập, NXB Hoa Hạ, Bắc Kinh, 1995, tr.389-390). Có thể nói từ Mao Khôn đến Chu Tiếp tính cách và cái chết của Từ Hải đều được miêu tả cơ bản giống nhau. Thuý Kiều ở Tây Hồ nhị tập cũng được nhắc đến như một người trung nghĩa, cố ý lừa Từ Hải để giúp Hồ Tôn Hiến trừ giặc. Thuý Kiều ở đây chỉ xem Từ là giặc, chỉ quí Từ do Từ coi trọng bản thân Kiều, chứ không xem Từ là anh hùng bao giờ. Chủ đề truyện cũng chưa có tư tưởng "hồng nhan bạc mệnh, tạo vật đố tài".

    2.     Giai đoạn chuyển sang ngợi ca Thuý Kiều và Từ Hải, Từ Hải là anh hùng

    Bước đổi mới trong việc khai thác sự tích truyện Thuý Kiều là truyện in trong tập o mộng - Tam khắc phách án kinh kỳ(2) của Mộng Giác đạo nhân, Tây Hồ lãng tử, xuất hiện vào thời Sùng Trinh, nhà Minh (1643). Cuốn sách cấu tạo theo chương hồi, nhưng mỗi hồi là một truyện ngắn độc lập. "Truyện Kiều" ở đây chỉ là hồi thứ bảy, mang đầu đề: "Sinh báo Hoa Ngạc ân, Tử tạ Từ Hải nghĩa". Ở đây nhân vật chính là Thuý Kiều, sự tích lịch sử diệt trừ Từ Hải chỉ còn là một tình tiết. Như đầu đề đã nói, đây là câu chuyện ân nghĩa, chưa có bóng dáng "tài mệnh tương đối", "hồng nhan bạc mệnh". Là người của đương thời, tác giả có dụng ý ca ngợi "Vương Thuý Kiều của triều ta là một nữ tử nghĩa hiệp".

    Chuyện kể rằng Vương Thuý Kiều là người Lâm Tri, Sơn Đông, bố là Vương Bang Hưng, mẹ là Hình thị. Khi bố làm quan coi kho thóc ở phủ Ninh Ba, Triết Giang thì Kiều đã mười lăm tuổi, xinh đẹp vô cùng. Nhân vì để kho cháy, bố bị bắt hạ ngục. Kiều phải bán mình cứu cha, làm lẽ một người là Trương Đại Đức. Đại Đức vốn đã có vợ, nhưng vợ đã già, lại xấu và độc ác, nên Đức ở luôn nhiệm sở cùng vợ bé. Kiều chịu làm lẽ để khỏi phải tốn khoản của hồi môn, chứ không phải bị lừa. Cuộc sống êm đềm. Nhưng Đức thiếu kinh nghiệm, bị lừa, để mất hơn một nghìn tám trăm lạng bạc, bị bắt hạ ngục. Khi vở lở, vợ cả đem bán Kiều cho nhà chứa để lấy tiền trang trải. ở nhà chứa, Kiều không chiều khách bị đánh mắng luôn. Sau một năm thì có vị khách Hoa Ngạc, một tài chủ, thương tình bèn cho vay một trăm lạng để chuộc thân. Kiều về ở một nơi vắng vẻ chỉ tiếp khách, thù tạc với Hoa Ngạc và văn nhân, hàn sĩ. Một vùng Triết Đông, không ai là không biết tiếng của Vương Thuý Kiều. Đến năm Gia Tĩnh thứ 33 (1561) giặc lùn cùng quân Từ Hải nổi dậy, Kiều chạy loạn và bị quân Từ Hải bắt. Bấy giờ Kiều đã 20 tuổi, Từ Hải thích quá lấy làm phu nhân. Kiều dần dần lung lạc được Từ Hải, làm cho Hải say mê, bảo gì nghe nấy. Lúc này quân Hiến đánh Hải mà không được, bèn cho Hoa Ngạc đi dụ thuyết. Nhờ có Kiều mà Hải không giết Ngạc, rồi nghe Ngạc khuyên Hải hàng. Hải trúng kế ly gián, bị đánh úp, nhảy xuống sông mà chết. Kiều cũng nhảy xuống sông để chết theo nhưng được cứu. Hiến bắt Kiều hầu rượu, sáng hôm sau thì hối hận, bèn gả Kiều cho một tù trưởng. Kiều đau đớn, nhân mọi người mải vui, Kiều khóc Từ Hải và nhảy xuống sông tự vẫn. Nàng được vớt lên chôn bên chùa Tào Nga. Bài văn tế Kiều khẳng định nàng là một kỳ nữ, có kỳ sắc, kỳ văn (giỏi thơ), kỳ kỹ (giỏi đàn), nhưng nhất là kỳ công cứu nước khỏi nạn giặc dã, là người kỳ trung, kỳ nghĩa vậy. Tác giả muốn nhấn mạnh khía cạnh ân nghĩa đời thường, nhưng truyện vẫn chưa thoát khỏi cái khuôn ghi công, dù là ghi công Thuý Kiều, một phụ nữ trung nghĩa.

    Chủ đề trung nghĩa vẫn tiếp tục lôi cuốn các nhà văn Trung Quốc. Cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh, Dư Hoài (1616 – 1693) lại viết Vương Thuý Kiều(3), dưới dạng văn ngôn, ngắn gọn, sơ lược như nhiều truyện thuộc thể loại "bút ký" của thời Minh Thanh, chẳng hạn như Lý Cơ truyện của Hầu Phương Vực, A Lưu truyện của Lục Dung. Mục đích viết của Dư Hoài là ghi công đức, nêu gương. Ông mở đầu như sau: "Ta đọc Ngô Việt Xuân Thu, xem Tây Thi chôn vùi nước Ngô, rồi sau Tây Thi lại theo Phạm Lãi mà trở về vùng Ngũ hồ. Trộm nghĩ người đàn bà được người ta nhờ cậy, đem sắc đẹp mà đi diệt nước của người khác, rồi không chịu chết theo người ấy, thì tuy không phụ lòng cũng vẫn phụ ân vậy. Còn như Vương Thuý Kiều đối với Từ Hải thì công tư kiêm đủ, cũng khác với Tây Thi biết bao! Than ôi, Thuý Kiều vốn con nhà gái đĩ, thân hèn nghề mọn mà hành vi lại sáng ngời như thế, thì các bậc tu mi nam tử phải lấy làm thẹn rất nhiều. Ta xót thương cái chí của nàng, bèn sắp xếp các hành trạng của nàng cho có thứ tự mà viết thành truyện để lưu truyền". Sau Vương Thuý Kiều của Dư Hoài, đến Vương Thuý Kiều truyện của Hồ Khoáng, đã bắt đầu ca ngợi Từ Hải là một anh hùng(4).

    3.     Giai đoạn chuyển sang tình khổ và hồng nhan bạc mệnh

    Mãi đến đời Khang Hy nhà Thanh, khoảng 1662-1729, Thanh Tâm Tài Nhân mới mở rộng quy mô truyện thành một pho tiểu thuyết chương hồi. Tác giả đã sử dụng hư cấu tự do, thêm thắt nhiều tình tiết và nhân vật mới, kể bằng văn bạch thoại lấy tên là Kim Vân Kiều truyện. Từ đây mới khai sinh các nhân vật Kim Trọng, Thuý Vân, Hoạn Thư, Thúc Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Giác Duyên, Tam Hợp đạo cô, viết lại tiểu sử gia đình họ Vương và tiểu sử nàng Kiều. Nhân vật lịch sử chỉ còn lại Hồ Tôn Hiến. Các nhân vật Triệu Công, Nguyễn Đề Đốc, Diệp Ma, Trần Đông biến mất, một số người khác đổi họ, thay tên, cả cô thị nữ Lục Muội (Tây Hồ Nhị tập gọi là Lục Châu) cũng không có. Từ đây Kiều là nhân vật nghệ thuật, sống trong thế giới nghệ thuật. Tác giả là người đời Thanh không còn viết truyện ghi công "kỳ nữ triều ta" đã có khoảng cách trên trăm năm để viết một truyện hồng nhan bạc mệnh muôn đời(5).

    Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều truyện trước hết theo môtip cặp đôi truyền thống tài tử - giai nhân, thư sinh - kỹ nữ, chẳng hạn như Truyện Lý Oa, Truyện Hoắc Tiểu Ngọc trong tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường, sau là theo tiểu thuyết tài tử  - giai nhân, một loại tiểu thuyết chương hồi loại vừa thịnh hành lúc ấy. Chẳng hạn như Ngọc Kiều Lê truyện 24 hồi, Bình Sơn Lĩnh Yến 24 hồi của Trương Quân, Hảo cầu truyện 18 hồi của Danh Giáo Trung Nhân… Đánh giá tiểu thuyết tài tử - giai nhân của Trương Quân, Lỗ Tấn nói: "Hai bộ sách này đều nhằm đề cao nữ giới, ca ngợi tài năng đặc biệt của họ, khinh văn cử tử, thích thi từ, trọng người tài giỏi, khinh kẻ tục sĩ. Nhân vật được xem là có tài thì chỉ là tài làm thơ hay, nhưng thơ của họ được tác giả giới thiệu lại thường rất dở, như thơ của các ông đồ nhà quê. Lại hễ muốn kết vợ chồng thì phải đi thi, mà cưới thì phải có chiếu chỉ…"(6) Tác giả Hồng Lâu mộng là Tào Tuyết Cần ngay từ hồi I của bộ tiểu thuyết đã chê tiểu thuyết tài tử - giai nhân đương thời là "Nghìn bộ chung một sáo, cốt truyện xây dựng sơ sài cốt sao kể được những truyện trộm ngọc cắp hương, hò hẹn tư thông, không hề khắc hoạ được vài phần tình cảm chân thực của nữ giới"(7). Xem ra về những mặt này Thanh Tâm Tài Nhân chưa vượt được thông bệnh của thời đại. Thơ của Thuý Kiều cũng chẳng trác tuyệt gì! Nhưng tiểu thuyết tài tử - giai nhân thời này đang phát triển thành "cao trào" là vì nó kết hợp nhu cầu buông thả tình cảm kiểu thị dân với sự ca ngợi lễ giáo phong kiến. Trong công thức của truyện này, ngoài cặp tài tử - giai nhân tài mạo si tình thường có thêm kẻ thứ ba cho thêm phần sóng gió, hoặc gặp nhiều trắc trở cho nhiều sướt mướt bi hoan ly hợp. Cốt truyện trắc trở là điều hấp dẫn của tiểu thuyết này nhưng quan trọng nhất là nguyên tắc mọi thứ đều nảy sinh từ tình cảm nhưng đều dừng lại trong vòng lễ nghĩa. Nhà tiểu thuyết như người làm xiếc trên dây. Một mặt họ để nhân vật tự do phát tiết tình cảm, dù bề ngoài xem là lỗi đạo cương thường bao nhiêu nhưng sau khi biện luận lại vẫn được lễ giáo chấp nhận, phù hợp được với các chữ trung, hiếu, tiết, nghĩa. Về mặt này, Thanh Tâm Tài Nhân đã phải khổ công sắp xếp rất nhiều. Chẳng hạn Kiều để Kim Trọng lả lơi, chủ động đến với chàng, nhưng đã biết kìm giữ, chỉnh đốn đúng lúc, thế là vẫn hợp lễ. Kiều khi biết là bị bán vào lầu xanh thì liền tự sát là hợp lễ, nhưng sau khi bị vu xấu với tên Đô Trá thì lại chịu tiếp khách, không tự sát, vì không thể chết mà không minh bạch. Thế là hợp lễ. Kiều cam phận lẽ mọn là vừa có nghĩa với Thúc lại có lễ với Hoạn. Kiều khuyên Từ hàng là hợp nghĩa mà chết theo Từ cũng là hợp nghĩa. Kiều đổi tình cầm sắt ra tình cầm kì với Kim cũng là hợp nghĩa và hợp lễ. Vì đã hứa, nàng không thể khước từ Kim, sợ bất nghĩa, nhưng chung chăn gối với chàng theo đạo vợ chồng thì không muốn, vì sợ thất lễ. Kiều mất trinh mà lấy hiếu làm trinh, Kiều trải qua cuộc đời "ong qua bướm lại" mà vẫn giữ tình chung thuỷ với Kim Trọng… Đại để sự kết hợp tình với lễ nghĩa trong truyện là như vậy, đã được Kim Thánh Thán khen trong lời bình của ông để trước các hồi. Đúng là nhà làm sách đã khéo (xảo) xếp đặt sao cho cây tình nảy nở sum suê mà lễ nghĩa vẫn được bảo toàn trọn vẹn, đó là cái thú chung thường thấy của loại truyện tài tử - giai nhân vậy.

    Kim Thánh Thán(8) nói chữ tình là một đại kinh, chữ khổ là một đại vĩ. Nhưng xét ra phải nói lễ nghĩa mới là một đại vĩ thì mới đúng, bởi vì mọi hành động của Kiều đều xác định rõ trong toạ độ đó, và lúc nào Kiều của ông cũng rắp tâm treo gương tiết liệt, tỏ mặt hào kiệt, sát thân thành… lễ nghĩa. Đến như hồi cuối Kim Kiều tái hợp thì Kiều sống với nghĩa lễ hơn là sống với người tình. Cái việc không chung chăn gối là rất thầm kín, riêng tư của hai người, mà Kim cũng nói với Vân, Vân nói với mọi người để cho "cả nhà ai cũng ngợi khen", đủ biết cái chí theo gương lễ nghĩa chi phối tất cả, không trừ một ai. Nếu không phô ra thì cái chí theo đòi lễ nghĩa cả trong "chuyện ấy" của nàng chẳng phải mai một hay sao? Ngay như Kim Trọng cũng ngạc nhiên: "Té ra hiền thê không phải là con gái đàn bà, mà chính là một bậc hào kiệt. Nay nàng đã tự đặt mình vào hàng liệt phụ nghìn xưa thì Kim Trọng này cũng không còn dám đòi hỏi xằng xiên gì nữa". Sau đó chàng còn nói thêm, không biết là có dỗi hay không: "Tình của nàng đây là chân tình, chí tình và là tình trinh liệt, tôi đâu còn dám nảy ra cái tình lả lơi nữa, xin hiền thê hãy cứ quên tình đi cũng được!" Kim Trọng đã nói toạc: tình của Kiều là tình trinh liệt, dâu phải tình yêu, cho nên xin nàng quên tình đi. Lúc đầu là tình yêu, sau là tình lễ nghĩa! Một người tình si như Kim Trọng mà lại khuyên vợ mình quên tình đi, khác nào khuyên nàng đi tu, nếu không dỗi thì cũng là chán nản lắm rồi! Thế là càng ham treo gương tiết liệt, thì càng bất cận nhân tình. Lỗ Tấn đã từng nói toạc cái nội dung vô nhân đạo của quan niệm tiết liệt: "Căn cứ vào ý kiến của các nhà đạo đức bấy giờ thì đại khái "tiết" là chồng chết thì không được tái giá, cũng không chằng bậy với ai, chồng chết càng sớm, nhà nghèo thì "tiết" càng cao. Nhưng "liệt" thì có hai loại: chết theo chồng hoặc chết khi có cường hào đến hiếp, chết càng thảm, càng đau khổ thì "liệt" càng cao"(9). Ở đây Kiều có một cách giữ tiết rất đặc biệt: Không chăn gối với chồng để giữ tiết cho mình. Cái cảnh cả nhà khen Kiều tiết liệt đã nói lên khuynh hướng giáo huấn đạo đức cổ lậu của tác giả, và giải thích vì sao tác phẩm này non kém rất nhiều về giá trị nhân đạo, nhân bản. Đây là điều mà Thanh Tâm Tài Nhân không thể so với Nguyễn Du được.

    Thanh Tâm Tài Nhân quả là đã làm phong phú thêm rất nhiều cho Kim Vân Kiều truyện. Nội dung xã hội đầy đặn hơn. Cuộc đời Kiều trở thành đa tai đa nạn, chứa đầy oan khổ. Sự cháy kho được thay bằng việc thằng bán tơ, vốn là tên cướp, vu oan. Việc mua người làm lẽ trá hình thay cho việc làm lẽ thật, thêm một oan nữa. Cảnh mua người cò kè ngã giá cũng đặc tả sự chà đạp nhân cách tới mức cùng cực. Hình tượng Kiều đổi mới nhiều. Kiều người Bắc Kinh. Cha Kiều được nâng lên hàng Viên ngoại, còn Kiều được nâng lên hạng giai nhân, tài nữ. Thêm Thúy Vân để đối chiếu hai số phận. Thêm Kim Trọng cho mối tình đầu thêm đẹp đẽ, đăng đối, và bay bổng. Thêm Hoạn Thư cho đời Kiều thêm khổ nhục, thêm cảnh báo ân báo oán cho quãng đời Kiều với Từ Hải có lúc vẻ vang. Lại thêm cái chết đứng để Từ thêm nghĩa khí. Lại cho Kiều sống lại để tái ngộ đoàn viên… Cứ đem mà so như thế thì Kim Vân Kiều truyện rõ ràng là một truyện mới, vượt hẳn lên nội dung lịch sử cụ thể để nói một cái gì bất hủ muôn đời theo quan niệm tác giả. Nhưng tác giả trọng lý hơn tình, nhân vật của ông cũng cốt sống hợp lý lễ nghĩa hơn tình, nên ít sống động thuyết phục, đáng nhớ. Đáng chú ý là tác giả có cái nhìn văn xuôi khi kể các chuyện đời thường, tả các cảnh công sai vơ vét, cảnh sinh hoạt nhà chứa, cách suy xét, tính toán của các nhân vật. Tác giả đã kế thừa được cái nhìn của loại tiểu thuyết thị dân như Kim Bình Mai, xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XV. Ngay tập Tam khắc phách án kinh kỳ nhắc ở trên xuất hiện vào cuối thế kỷ XVII cũng có nhiều cảnh mua bán, sinh hoạt, làm tình lộ liễu. Tuy vậy có thể nói chất văn xuôi ở đây chưa thành quan niệm văn học, nó phục tùng kết cấu giáo huấn lễ nghĩa duy lý của truyện nhiều hơn, mà chưa có vai trò chi phối.

    4.    Giai đoạn Nguyễn Du: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) – nỗi đau của kiếp người

    Thánh Thán khen Kim Vân Kiều truyện, cho tài của tác giả "không dưới bà Nữ Oa, mỗi chữ là mỗi tảng đá ngũ sắc". Lời này có đúng ở khía cạnh khéo dựng, khéo kể làm cho truyện bề thế, chặt chẽ, lớp lang. Nhưng tương truyền Nữ Oa còn là kẻ nặn đất thành người, truyền cho sự sống. Mặt này có lẽ Nguyễn Du thì mới sánh được. Nếu Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều truyện vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII thì Nguyễn Du đã viết lại Truyện Kiều sau hơn một trăm năm. Nếu Thanh Tâm Tài Nhân kể chuyện, như chỉ để chực ca ngợi con người trung, hiếu, tiết, nghĩa, thì Nguyễn Du lại là người trước hết lắng nghe khúc đàn bạc mệnh của Thuý Kiều:

    "Hồng nhan vốn xưa nay bạc mệnh

    Thì đoạn trường há tránh được sao?

    Ta nay hờn oán tiêu tao

    Xin làm khúc oán ai nào chẳng thương?"(10)

    Theo lập luận của Hoàng Xuân Hãn, căn cứ vào các bài tựa đời Minh Mệnh và thơ của Phạm Quý Thích thì nhan đề mà Nguyễn Du đặt cho tác phẩm của ông là Đoạn trường tân thanh.

    Tiếng mới của khúc đoạn trường (Đoạn trường tân thanh) chắc là lời hô ứng, đáp lại khúc oán ca của Vương Thuý Kiều, như ông đã khóc nàng Tiểu Thanh. Ông không chạy theo thú tài tử - giai nhân để kể một "chuyện bất hủ" như Kim Thánh Thán nói, mà lấy lòng đáp lại tiếng lòng, lấy cái tình xót thương, thương đời mà làm sống lại hồn người bạc mệnh. Chính cảm hứng nhân đạo và nhân bản đã đổi mới lại Truyện Kiều, nâng nó lên hàng kiệt tác thế giới. Nguyễn Du không vướng quan điểm của người chăm chăm bảo vệ quan điểm đạo đức lễ giáo quan phương như Thanh Tâm Tài Nhân và Thiên Hoa Tàng chủ nhân, người đề tựa Kim Vân Kiều truyện. Ông viết như chỉ để giãi bày và cũng để "mua vui một vài trống canh", chứ đâu phải nêu gương đạo đức. Vì vậy Nguyễn Du nhìn người rất gần gũi, như ở trong lòng mà ra, hiểu nó cả từ chỗ mạnh tới chỗ yếu, đầy phấp phỏng lo âu với điều chưa biết. Ông nhìn nhân vật theo cái nhìn nhiều chiều, nhìn theo nhu cầu sống còn của bất cứ một "ai" cá thể muốn tồn tại giữa cõi đời này. Cái nhìn của ông như một cuộc tranh luận còn chưa ngã ngũ, nhưng luôn luôn ở về phía con người.

    Chính với cái nhìn ấy mà nhân vật và sự kiện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đổi khác. Nhân vật văn học đâu phải chỉ là cái tên, việc làm và đôi nét phác vẽ? Lõi cốt của nhân vật phải là cái khí, cái thần, cái hồn. Tạ Hách đời Hán có nói có người vẽ Tây Thi đẹp mà không đáng yêu, kẻ mắt Mạch Bôn to mà không đáng sợ(11). Dân gian ta còn có truyện Hồn Trương Ba xác cha hàng thịt. ở đây cũng có sự thay máu đổi hồn. Thanh Tâm Tài Nhân và Kiều của ông sống bằng lý trí lễ nghĩa, còn Nguyễn Du và Kiều của ông nặng về tình cảm, sống với tình thương. Tác phẩm tự sự đâu phải chỉ được tạo thành bởi cốt truyện. Lý luận tự sự cổ điển chỉ nói tới sự kiện, tình tiết, cốt truyện có giá trị tự thuyết minh. Lý luận tự sự hiện đại đặt lên hàng đầu cách kể, lời kể, điểm nhìn. Với cách kể khác nhau, điểm nhìn khác nhau, dù tình tiết có giống nhau ta cũng có những truyện khác nhau. Chẳng phải là cùng những tình tiết cơ bản giống nhau về Thuý Kiều và Từ Hải mà người Trung Quốc có các truyện khác nhau bởi Mộng giác đạo nhân, Chu Tiếp, Dư Hoài, Hồ Khoáng, Thanh Tâm Tài Nhân đó sao? Trường hợp Đoạn trường tân thanh cũng vậy. Gắn với cách kể là cách nhìn, cách cảm, cách gọi tên, giới thiệu, miêu tả, thái độ. ở đây có cả một hệ thống thi pháp và một truyền thống cảm nhận cuộc đời và con người. Cách kể của Nguyễn Du đã làm sống dậy lòng nhân đạo và ý thức dân chủ, làm cho Truyện Kiều của ông ăn sâu vào tâm khảm người Việt và đi thẳng vào kho tàng văn học nhân loại. Nhà nghiên cứu văn học phương Đông, người Nga, Viện sĩ B.L.Riptin nhận xét: "Truyện Kim Vân Kiều  vào thế kỷ XVIII đã được dịch ra tiếng Mãn Châu, khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đồng thời đều được nhà tiểu thuyết Nhật Bản Bakyn và nhà thơ Việt Nam Nguyễn Du chú ý. Khi Bakyn dựa vào cốt truyện đó để sáng tác ra tiểu thuyết đạo đức Con cá vàng thì Nguyễn Du sáng tác ra cả một truyện thơ. Và thoạt nhìn thì thật lạ lùng, tác phẩm được gia nhập vào văn học thế giới không phải tiểu thuyết Trung Quốc, bản phỏng tác Nhật Bản, mà lại là Truyện Kiều của Nguyễn Du, mà cho đến nay, nó lại được dịch ra cả tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật. Và nhờ có nó mà cuốn tiểu thuyết Trung Quốc được nói tới trong văn học sử"(12). Cho đến nay Truyện Kiều đã được dịch hoặc trích dịch ra hơn 20 thứ tiếng trên thế giới, trong đó có Pháp, Hán, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Tiệp, Hung, Balan, Ả Rập, Nhật Bản, Rumani, Triều Tiên, Italia, Miến Điện, Khơme… Riêng ở Trung Quốc đã có tới bốn bản dịch. Bản dịch của Hoàng Giật Cầu (1959), của La Trường Sơn (2006), của Kỳ Quảng Mậu (2011), của Triệu Ngọc Lan (2013). Một sự kiện ấy cũng đủ chứng tỏ tầm vóc và sức sống của tác phẩm Nguyễn Du.

    2.  Truyện Kiều và tiểu thuyết tài tử - giai nhân

    Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu Truyện Kiều trong thể loại truyện Nôm, đã có ý kiến so sánh Truyện Kiều với truyền thống tiểu thuyết Trung Quốc như Tam Quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Hồng Lâu mộng, so sánh Truyện Kiều với các truyện viết về Thuý Kiều ở Trung Quốc, nhưng chưa thấy có tài liệu xem xét Truyện Kiều trong dòng tiểu thuyết "tài tử - giai nhân", một hiện tượng văn học đáng chú ý của văn học Trung Quốc, đã có ảnh hưởng đáng kể tới văn học Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên và ít nhiều có tính loại hình đối với các nền văn học các nước ấy.

    Tiểu thuyết tài tử - giai nhân là dòng sáng tác phát tích từ tiểu thuyết đời Đường, như Li hồn truyện của Trần Huyền Hựu, Liễu Thị truyện của Hứa Nghiêu Tá, Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, Vô song truyện của Tiết Điều, dưới hình thức truyện ngắn truyền kỳ, nhưng thực sự hình thành từ cuối đời Minh đến đời Thanh, thịnh hành vào thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long (thế kỷ XVII - XVIII), rồi sau đó suy thoái, chuyển hoá thành loại tiểu thuyết tình của phái "Uyên ương - hồ điệp" đầu thế kỷ XX. Ba đời vua Thanh trên đây là thời kỳ thống trị tàn bạo nhất đối với giới văn hoá, trí thức, cho nên thịnh hành khuynh hướng "thương tài" là dễ hiểu. Thành tựu của dòng này là không đáng kể trong rừng rậm tiểu thuyết Trung Quốc, song nó đóng vai trò bước đệm của quá trình chuyển hoá từ Kim Bình Mai đến Hồng Lâu mộng. Nó có nhiều nhược điểm, song cũng có nhiều cái mới, do vậy mà có ảnh hưởng tới văn học các nước lân cận.

    Đây là loại tiểu thuyết chương hồi thông tục, đại chúng loại nhỏ và vừa, khoảng từ 16 đến 20 hồi, tổng cộng trên dưới 50 bộ. Một số trong đó được chú ý như Ngô giang tuyết, Ảo trung chân, Vân Tiên tiếu, Kinh mộng đề, Uyên ương phối, Ngọc Kiều Lê (còn gọi là Song mỹ kỳ duyên), Bình Sơn Lãnh Yến, Phi Hoa Vịnh tiểu truyện, Lưỡng giao hôn tiểu truyện, Định tình nhân, Lân nhi báo, Nhân gian lạc, Hảo cầu truyện, Kim Vân Kiều truyện Trong số này, Lân nhi báo, Kim Vân Kiều truyện không còn thuần tuý tiểu thuyết tài tử giai nhân, mà đã chuyển sang loại "tiểu thuyết nhân tình" có khuynh hướng viết những điều mắt thấy tai nghe đời thường, có khuynh hướng hiện thực.

    Hầu hết những truyện trên đều có tính chất công thức khuôn sáo. Có người đã mô hình hoá cốt truyện của loại truyện này như sau:

    Một công tử tuổi trẻ tài cao, bảy bước nên thơ, chọn bạn tình khắt khe nên hai mươi tuổi mà chưa có vợ. Một hôm đi chơi bỗng gặp một cô nương sau khóm hoa ở một vườn nọ, đẹp như người trời. Bắt chuyện với nàng, nàng bẽn lẽn không dám ngẩng mặt, chỉ lặng lẽ đắm đuối nhìn theo. Làm thơ gửi tặng thì nàng không từ chối, hai người bèn cùng nhau đính ước trăm năm. Nàng là con gái nhà quan, tuổi vừa đôi tám, xinh đẹp thông minh, giỏi làm thi từ, chỉ mong gặp người tài tử. Nay thấy chàng phong lưu tuấn dật, tự mừng như gặp được vàng. Bỗng một gian thần nghe tiếng người đẹp, trăm phương nghìn kế ép gả cho con trai mình, bày đặt nhiều cách hãm hại. Đôi tình nhân đau khổ, chia ly, lưu lạc. Sau nhờ chàng công tử đỗ được trạng nguyên, gian thần bị trị, được vua ra thánh chỉ cho phép kết hôn cùng ý trung nhân. Chàng có ba con, huệ lan sực nức, vợ chồng cùng thọ tới tuổi 90, không bệnh mà chết. Thật là một mối tình duyên lý tưởng!

    Truyện nào hầu như cũng có trai gái định tình, tiểu nhân phá hoại, cuối cùng đoàn viên. Thường thì một chàng hai nàng, như tài tử Tô Hữu Bạch sánh với nàng Bạch Hồng Ngọc và Lư Mộng Lê trong Ngọc Kiều Lê, tài tử Liễu Hữu Mai sánh với hai nàng Mai Như Ngọc và Tuyết Thụy Vân trong Phi hoa diễm tưởng, tài tử Tưởng Nham sánh với Hoa Nhu Ngọc và Viên Thu Thiềm trong Hồ điệp môi, Kim Trọng sánh với hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân trong Kim Vân Kiều truyện,v.v…

    Lấy truyện Định tình nhân, 16 hồi, tác giả không rõ, lưu hành khoảng cuối Minh đầu Thanh được Nguyễn Hữu Hào chuyển thành Truyện Song Tinh mà xét, cốt truyện cũng không ngoài công thức đó: một đôi trai gái tài, sắc, thuộc gia tộc thượng lưu, yêu nhau, nhưng chưa thành vợ chồng thì cả hai đều bị những người có quyền ép gả cho người khác. Chàng Song Tinh phải đi sứ hải ngoại. Nàng Nhụy Châu phải ghi tên vào sổ cung tần cho nên nhảy xuống sông tự vẫn. May nhờ uy đức của nhà vua, trai được trở về yên ổn. Lại nhờ thần minh phù hộ, gái được cứu sống. Cuối cùng trai gái gặp nhau, xây dựng gia đình sung sướng(1).

    Truyện Ngọc Kiều Lê 20 hồi, đầu đời Thanh được Lý Văn Phức chuyển thành truyện Nôm Ngọc Kiều Lê, kể chuyện Bạch Hồng Ngọc là con gái một trung thần, tài mạo song toàn cùng em họ là Lư Mộng Lê, một tuyệt thế giai nhân, cùng Tô Hữu Bạch, con trai một nhà dòng dõi, thường bị chèn ép trong các cuộc thi thơ. Nhờ thị tỳ mai mối, Hồng Ngọc và Hữu Bạch đính ước với nhau. Sau gian thần ép Hữu Bạch phải lấy con gái hắn, Hữu Bạch bỏ trốn, giữa đường gặp Mộng Lê đang đóng giả trai để đi học, kết làm bạn thơ. Cuối cùng Hữu Bạch thi đỗ, cưới cả hai nàng làm vợ(2). Cả hai truyện đều theo một công thức như nhau.

    Tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu Trung Quốc từ trước đến nay chưa bao giờ đánh giá cao loại tiểu thuyết này. Trong bài trước chúng tôi đã dẫn ý kiến của Lỗ Tấn và Tào Tuyết Cần. Nay xin dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu hiện đại - Lư Hưng Cơ - nhận xét rằng, "tiểu thuyết tài tử - giai nhân là sự báo hiệu cho sự ra đời của tiểu thuyết về tình người (nhân tình tiểu thuyết) như Hồng Lâu mộng sau này, nhưng do chưa có sáng tạo mới về nghệ thuật, vẫn mang nhiều công thức cứng nhắc nên không được ưa chuộng"(3). Châu Vĩ Dân thì cho rằng loại tiểu thuyết này thường thiếu điểm nhìn nghệ thuật cố định, thiếu mạch lạc nhất quán trước sau, cốt truyện cố ý sử dụng nhiều yếu tố ngẫu nhiên, trùng hợp, hiểu lầm, thiếu cơ sở đời sống cho nên không tạo được cảm giác chân thực. Đó là những thiếu sót nghiêm trọng về nghệ thuật"(4). Đó là chưa kể về mặt tư tưởng cũng có mặt thủ cựu, truyện tài tử giai nhân thường bắt đầu từ nam nữ thấy nhau, tình yêu sét đánh, tưởng có thể vượt qua lễ giáo đến với hôn nhân tự do. Nhưng nhiều truyện thường kết thúc bằng việc vua truyền thánh chỉ cho đôi trẻ thành hôn. Như Truyện hảo cầu, Thiết Trung Ngọc Thuỷ Băng Tâm, một tài tử giai nhân giữ đúng lễ giáo, xứng danh "hảo cầu", không có giá trị phản phong kiến.

    Quả vậy, đây là loại tiểu thuyết có rất nhiều nhược điểm về nghệ thuật. Ngoài cốt truyện công thức, sơ lược như vừa nói trên, cách miêu tả nhân vật cũng khuôn sáo. Chẳng hạn tả tài tử thì: "Dáng dấp thư sinh, tuổi vừa đôi tám, tinh thần sáng láng, áo mặc khói xuân, dáng quỳnh trắng trẻo, bóng ngọc ngời ngời" (Ngọc Kiều Lê). Tả giai nhân thì: "Thân như liễu yếu, mặt tựa phù dung, một đoá anh đào xinh xẻo chưa lộ hai hàng răng ngọc, hai đôi cánh sen, buông chùng tám bức quần tương. Khi thẹn thùng, thu ba khẽ hé, khi buồn rầu biếng chải tóc mai, mày ngài mới xanh, má đào mới đỏ, nếu không phải là thần nữ chốn Dao đài, thì cũng là thiên nga xuống tắm vậy" (Xảo Liên Chu).

    Tuy vậy khi xét đặc điểm của một dòng tiểu thuyết ta không thể bỏ qua quan niệm về con người và cuộc đời ở trong đó. Tư tưởng chủ đạo của tiểu thuyết tài tử - giai nhân là đề cao tài tình. Thiên Hoa Tàng chủ nhân Trương Quân(5), người nhiệt tình bình luận, viết tựa, cổ suý cho loại tiểu thuyết này nói: "Trời cho con người ta cái tính, hiền ngu tuy khác nhau, mà trung hiếu tiết nghĩa thì không thể thiếu, riêng có tài tình thì người có kẻ không". Nhân vật của tiểu thuyết tài tử giai nhân phải vừa có trung hiếu tiết nghĩa vừa phải có tài tình. Trong số người tài ấy, trừ số ít được hiển quý đạt quan, còn phần nhiều đều cùng đồ liêu đảo, tiều tuỵ mà chết, không biết trách ai. Do vậy, "cảm cái ý sinh tài của trời đất, nối cái chí yêu tài kim cổ mà tác giả sáng tác loại tiểu thuyết tài tử - giai nhân để bù đắp, an ủi những người tài mà không may gặp cơn khảm kha bất hạnh"(6). Tách người tài tình khỏi trung, hiếu, tiết, nghĩa để mà thương xót người tài tình, là một bước tiến trên lịch trình nhân đạo hoá văn học, đề cao cá tính, ngợi ca khát vọng hạnh phúc cá nhân. Và với thế giới quan trung đại người ta cũng chỉ có thể giải thích hiện tượng đó là do "tạo vật đố tài", "hồng nhan bạc mệnh".

    Ta hãy xem quan niệm về người tài tử. Ở đây trong bài tựa viết cho Bình Sơn Lãnh Yến, Thiên Hoa Tàng chủ nhân nói: "Tài tử là người có hai con mắt nhìn xuyên sáu cõi, một tấm lòng để suốt nghìn thu, khi đặt bút viết thì mưa sa gió táp, khi mở miệng thì tú đoạt sơn xuyên, mỗi khi gặp xuân hoa thu nguyệt thì lâm ly cảm khái". Đây sẽ là ý mà sau này Mộng Liên Đường chủ nhân sẽ mượn để khen Nguyễn Du, và dĩ nhiên xem Tố Như là một tài tử. Tài đây là năng lực biểu hiện của tình, còn tình là sự cảm thông, xúc động với thế giới. Do vậy tài và tình không tách rời nhau, tình nhờ tài mà được biểu hiện. Trong bài tựa viết cho truyện Lưỡng giao hôn tiểu truyện, Thiên Hoa Tàng chủ nhân nhấn mạnh: "Cái sắc sở dĩ là sắc tất phải nhờ cái tài để thành tài rồi sau đó cái đẹp mới không mai một được. Nếu không thế thì tại sao người đẹp hiếm chi mà một khi chết xuống liền tịch mịch vắng vẻ. Cái gọi là người đẹp còn đâu. Cho nên khuếch trương cho sắc thì phải luôn dựa vào tài". Người đẹp không chỉ ở nơi dung mạo mà còn phải xuất chúng về mặt thi từ. Xem thế thì thấy quan niệm người tài tử tuy mang nội dung khá hạn hẹp nhưng đó là một quan niệm về con người có cá tính.

    Đối lập với kẻ tài tình là xã hội thế thái nhân tình với cuộc sống hàng ngày, khác với các truyện lịch sử hay anh hùng, truyền kỳ, thần linh quái dị. Do vậy, nội dung thường đóng khung trong phạm vi nhỏ hẹp, tư tưởng nghèo nàn. Nó bằng lòng với trung, hiếu, tiết, nghĩa, cốt sao thoả được tài tình. Nói cách khác, trung hiếu tiết nghĩa là mẫu số chung rồi không bàn tới nữa, nay chỉ cần biểu hiện tài tình nữa thôi. Nhưng một khi đã không băn khoăn về xã hội, mà lại muốn thoả mãn tài tình thì đành mượn giải pháp ở thuyết nhân duyên nhà Phật và nguyên tắc khuyến thiện, trừng ác, thiên nhân cảm ứng. Với các tư tưởng này các tác giả tha hồ tạo ra các tình tiết ngẫu nhiên, ly kỳ theo kiểu người vô tình mà trời hữu ý. Đây là cội nguồn của các tình tiết giả tạo. Đặc điểm nổi bật của cốt truyện tài tử - giai nhân là nhiều quanh co uẩn khúc, nhiều sự kiện đày đoạ, giày vò tàn nhẫn đối với con người tài tình. Thiên Hoa Tàng chủ nhân trong lời tựa viết cho Phi Hoa Vịnh tiểu truyện có nói: "Nếu hoa lan giấu trong lũng vắng, ngọc tốt mà cất trong núi sâu thì ai biết đâu? Đào Nguyên kia phải nhờ ngư phủ dẫn lối, mà muốn ngư phủ dẫn lỗi thì phải có suối hoa đào". "Vàng không luyện sao biết vàng cứng, trầm không đốt sao biết trầm thơm". Do đó phải trăm giày nghìn xéo, biến hoá đa đoan bi hoan ly hợp thì mới đúng là truyện tài tử - giai nhân vậy. Hoá ra tai ách được hiểu như một phương tiện làm cho người tải tử giai nhân nổi tiếng. Hiểu như vậy thì tai ách không còn có ý nghĩa tố cáo xã hội nữa, mà chỉ là thủ đoạn để làm nổi bật tài tình.

    Khái niệm người tài, tài tử ở đây chỉ là một ước lệ hình thức, mang nội dung hạn hẹp, không có nhiều ý nghĩa (tài chủ yếu là làm thơ giỏi, đánh đàn hay). Tóm lại tiểu thuyết tài tử giai nhân phải có ba đặc điểm: 1. Đề cao người tài tình. 2. Có nhiều trắc trở đa đoan để thử thách tài tình. 3. Bố cục nam nữ định tình – tiểu nhân phá hoại – đoàn viên vui vẻ.

    Tuy vậy, kế thừa các truyền thống lớn của tiểu thuyết Trung Quốc từ truyền kỳ đời Đường, tiểu thuyết thế sự Kim Bình Mai, tiểu thuyết anh hùng Tam Quốc diễn nghĩa, tiểu thuyết tài tử - giai nhân kết hợp được yếu tố "kỳ", "xảo", yếu tố con người đời thường, yếu tố cơ trí, mưu mẹo với yếu tố giáo huấn, khuyến thiện, trừng ác. Yếu tố "kỳ" chủ yếu thể hiện ở sự việc khác thường, yếu tố "xảo" giải quyết vấn đề kết cấu (báo mộng, ngẫu hợp), yếu tố mưu mẹo, cơ trí tạo thành tính hấp dẫn, chỉ có yếu tố con người đời thường đem lại hai hệ quả mới: tăng cường miêu tả chi tiết cụ thể và đã chú ý miêu tả tâm lý con người. Các yếu tố này biểu hiện đặc biệt nổi bật trong Kim Vân Kiều truyện. Yếu tố kỳ thể hiện ở việc báo mộng, hiển linh, chết đứng, Giác Duyên đóng bè vớt người, đạo sĩ xuống cửu tuyền tìm người… Yếu tố cơ trí mưu mẹo càng nổi bật làm cho truyện hấp dẫn: mưu mẹo thu xếp việc bán mình, mưu đà đao của Sở Khanh - Tú Bà, mưu của Vệ Hoa Dương, mưu của mẹ con Hoạn Thư, mưu của Hồ Tôn Hiến… Yếu tố giáo huấn thể hiện ở cái chí treo gương bất hủ của Kiều. Yếu tố miêu tả, phân tích tâm lý cũng có chỗ đặc sắc. Chẳng hạn, cuộc đánh ghen của Hoạn Thư là một cuộc hành hạ về tâm lý, chứ không phải hành hạ thể xác như đánh dập, gọt tóc, mắng chửi… Và thông qua tiệc rượu tẩy trần để phơi bày tâm lý khác nhau của ba nhân vật Thúc Sinh, Thuý Kiều, Hoạn Thư, mà bề ngoài xem như một cuộc tẩy trần bình thường. Phân tích tâm lý đòi hỏi phải miêu tả chi tiết cụ thể, nhỏ nhặt, và nhiều chỗ Thanh Tâm tài nhân cũng đạt được việc lấy tâm trạng mà soi sáng hành động: tâm trạng Mã Giám Sinh, tâm trạng Hồ Tôn Hiến, tâm trạng Thuý Kiều. Chẳng hạn, trên tiệc tẩy trần, khi phải nép mình hầu hạ, làm theo mọi đòi hỏi của Hoạn Thư, Thuý Kiều không chỉ vâng phục, cam chịu, mà còn căm hờn, và một lời độc thoại xuất hiện: "Riêng phần Thuý Kiều, lúc ấy muốn tiến không được, muốn thoái không xong, trong bụng rủa ngầm: Tiểu thư, tiểu thư, mi thực là con đố phụ hiểm độc! Ví thử người khác đánh ghen, chẳng qua mắng chửi tranh giành, nhưng phần ngôi thứ vẫn thế, vẫn là vợ thiếp, còn được phân giải đôi lời, mà đức phu quân cũng còn bênh vực cho nửa tiếng. Thế mà mi dùng phương kế hiểm độc, mượn thế mẹ đẻ bắt cóc ta về, đem ghép vào hạng nữ tỳ, khiến cho vợ chồng gặp nhau không dám nhìn nhận, có tình không dám tỏ tình. Mi có biết không: Hai chúng ta đây, tình nóng như lửa, mà đem con mắt lạnh lùng đối đãi, vẫn chỉ một mực cười đùa giận mắng. Sao mi chẳng nói toạc ra: Chính ta bức tử người khác rồi đó?  Lúc sống ta không báo thù được lòng cay độc của mi, lúc chết ta sẽ hoá làm ma quỷ để mà nuốt sống hồn phách của mi mới hả"(7).

    Đặc biệt trong việc miêu tả tâm lý con người, Thiên Hoa Tàng chủ nhân chủ trương khắc hoạ những "u tình", tức là những tình cảm thầm kín, khó nhận, dễ hiểu lầm, để bênh vực cho con người. Trong bài tựa viết cho Kim Vân Kiều truyện, ông viết: "Chớ đổ càn tiếng xấu cho người ta khi chưa biết rõ tình hình, không xét rõ chỗ ẩn vi. Đại phàm hễ thân tránh khỏi mà tâm bị nhục, thì trinh mà hoá dâm vậy; hễ thân bị nhục mà tâm tránh khỏi thì dâm mà hoá trinh vậy. Danh giá trong đó chỉ có trời biết và chỉ có thể thực hiện trọn vẹn tính trời, chứ khó mà nói được với hạng người tô vẽ danh tiết, đức hạnh bề ngoài vậy… Nếu lấy thường tình của thế tục, chỉ nhìn thấy cảnh ngộ mà không xét kỹ gốc ngọn, rồi bảo: đó là hành vi đê tiện làm nhơ nhuốc con người, thì tôi đây sẽ vì điều đó mà khóc than thảm thiết trong nghìn xưa vậy". Tác giả phân biệt tâm và thân, chú trọng chỗ u tình của tâm, cho nên mới yêu cầu một con mắt nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn thu. Đó là một quan niệm nhân đạo đối với con người, một ý thức về thế giới tâm lý như một hiện tượng độc lập. Việc khai thác sự khác biệt thân và tâm, bên trong và bên ngoài là một yêu cầu của phân tích tâm lý. Xét riêng về mặt quan niệm này, một số tiểu thuyết tài tử - giai nhân trên một vài điểm tỏ ra là một bước tiến so với loại tiểu thuyết chương hồi kiểu Tam Quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử. Loại tiểu thuyết này miêu tả tâm lý như là một hiện tượng ngoại hiện. Chẳng hạn "Lỗ Trí Thâm nhổ ngược cây thuỳ liễu", "Trương Phi quát to", "Hạ Hầu Kiệt sợ hãi, gan mật vỡ ra, ngã vật xuống chân ngựa". Tiểu thuyết tài tử - giai nhân đã bước đầu ý thức được có một đời sống nội tâm thầm kín, song việc miêu tả chưa nhất quán và ít thành công.

    Việc miêu tả đời thường dẫn đến sự quan tâm đời sống tình dục và các sinh hoạt khác, bắt đầu từ Kim Bình Mai. Theo thống kê của Từ Hân, tiểu thuyết Trung Quốc có miêu tả trực tiếp tới đời sống tình dục gồm 112 bộ(8), trong đó có nhiều tác phẩm thuộc loại tiểu thuyết tài tử - giai nhân như Vân Tiên tiếu, Kim Vân Kiều truyện, Kinh mộng đề, Uyên ương phối… Đoạn kể "vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề" ở Kim Vân Kiều truyện là như vậy. Đó là một biểu hiện của thị hiếu thị dân.

    Cũng cần lưu ý là càng tiến gần tới các chi tiết đời sống sinh hoạt thường nhật thì tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân càng giảm bớt màu sắc tài tử giai nhân vốn đậm chất mơ mộng và lý tưởng hoá. Việc Nguyễn Du gia tăng yếu tố quí phái, việc nắn lại tính cách Kim Trọng trong Truyện Kiều sau này chính là làm cho tác phẩm có tính chất tài tử - giai nhân hơn.

    Tóm lại, bước tiến của tiểu thuyết tài tử - giai nhân là một bước tiến nửa vời. Về nghệ thuật, nó chưa đột phá được giới hạn của tiểu thuyết cũ, về tư tưởng cũng chưa có một quan niệm con người thực sự dân chủ. Chính vì vậy mà nó sớm suy thoái và bị vượt qua. Nhưng cái đáng chú ý của nó là thoát khỏi cái khung diễn nghĩa lịch sử, hướng về đời thường với những quan hệ người và người trong sinh hoạt, đặc biệt là tình yêu tự do. Điều đó đã làm cho loại tiểu thuyết này có một ảnh hưởng rộng rãi, đặc biệt ở nước ngoài như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

    Mặc dù từ thế kỷ XVII nhà văn Kim Vạn Trọng (1637-1692) đã sáng tác những tiểu thuyết bằng tiếng Triều Tiên kể về những mối tình trắc trở như Tạ thị nam chinh ký, Cửu Vân mộng, Ngọc lâu mộng, song hứng thú chủ yếu ở nơi mưu mẹo, pháp thuật ly kỳ, dấu vết ảnh hưởng của Tam Quốc diễn nghĩa. Sang thế kỷ XVIII xuất hiện dấu hiệu của tiểu thuyết tài tử - giai nhân với sinh hoạt đời thường. Tiểu thuyết Thái Phượng cảm biệt khúc kể chuyện nàng Thái Phượng tài hoa đang xem lá đỏ trong vườn nhà thì bị chàng thư sinh Trương Bật Thành nhìn trộm qua bức tường lở. Sau đó Trương nhặt được chiếc khăn tay của nàng đánh rơi, đề thơ tỏ tình gửi tặng, rồi sau hai người yêu nhau, gặp trắc trở rồi đoàn viên. Tác phẩm này vay mượn một số tình tiết từ truyện Vương Kiều Loan bách niên trường hận trong tập Kim cổ kỳ quan(9). Đặc biệt là Truyện Xuân Hương, một truyện kể dân gian do Thân Tại Hiếu (1812-1884) chỉnh lý tạo thành tác phẩm văn học viết nổi tiếng. Chàng Lý Mộng Long tài hoa, con quan, một hôm đi chơi trên Quảng Hàn Lâu nhìn thấy Xuân Hương chơi đánh đu liền say đắm. Xuân Hương là con gái một kỹ nữ, tài mạo song toàn. Nhờ đứa hầu lo liệu, hai người đã gặp nhau, yêu nhau rất hạnh phúc và hứa cùng nhau trọn đời. Sau vì thân phụ của Lý được thăng quan đi trị nhậm nơi khác, Lý phải đi theo, quan huyện mới muốn chiếm Xuân Hương, bị nàng từ chối, đã tìm mọi cách hãm hại. Sau nhờ Lý mưu mẹo trừng trị quan huyện, hai người được sống hạnh phúc(10). Trong truyện này, cách kể, cách miêu tả, pha trộn thơ đều giống truyện tài tử - giai nhân ở khuynh hướng ước lệ và lý tưởng hoá, cách tả tình, sinh hoạt tình yêu giống tiểu thuyết Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, nhưng đậm đà chất thơ dân gian hồn nhiên trong các chi tiết tình dục. Truyện ca ngợi tình yêu tự do, chống áp bức cường quyền.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thi pháp Truyện Kiều. Tác giả: Giáo sư Trần Đình Sử. Xuất bản lần đầu năm 2002. NXB Đại học Sư phạm in lần thứ 8, tháng 10-2018. Tác giả đồng ý để nhà văn Triệu Xuân trích 3 chương, post trên www.trieuxuan.info



    (1) Xem Mao Khôn tiên sinh văn tập, quyển 30, tạp trước (Bài văn là tư liệu chép tay của T.Đ.S).

    (2) Tam khắc phách án kinh kỳ: Nguyên danh Ảo mộng. Mộng Giác đạo nhân. Tây Hồ lãng tử tập. Trương Vinh Khởi chỉnh lý. Đại học Bắc Kinh xuất bản, 1987. Một bản in khác của sách này do NXB Hoa Hạ năm 1995 ghi tác giả là Lục Nhân Long đời Minh. Tác phẩm nguyên danh là Hình Thế Ngôn, văn bản hoàn chỉnh hơn.

    (3) Ngu sơ tân chí hợp tập 2. Trương Triều tập, Quyển 8, Vương Thuý Kiều truyện. Dư Hoài - Đạm Tâm trước. Thượng Hải thư điếm, 1986, tr.118-121.

    (4) Theo Lý Trí Trung, tư liệu của Phan Ngọc dẫn trong sách "Truyện Kiều" đối chiếu, NXB Hà Nội, 1991, tr.8.

    (5) Truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân được biết ở Việt Nam gồm 20 hồi. Nhan Bảo trong bài Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam (trong sách Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc tại châu Á. Quốc tế văn hoá xuất bản công ty, 1989, tr.195) nói Nguyễn Du dựa vào một bản Kim Vân Kiều truyện 28 hồi, gần với Truyện Kiều hiện hành hơn là bản 20 hồi. Ngoài Nhan Bảo chưa thấy ai nói tới bản này.

    (6) Lỗ Tấn toàn tập, bản 16 tập, tập 9. Nhân dân Văn học xuất bản xã. Bắc Kinh. 1981, tr.192.

    (7) Tào Tuyết Cần, Cao Ngạc, Hồng Lâu mộng, T.1, Nhân dân Văn học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1972, tr.3

    (8) Liệu có thật là Kim Thánh Thán hay không cần khảo hạch lại. Theo người hiệu đính tập Ảo mộng nêu trên (1987) thì Thanh Tâm tài nhân viết Kim Vân Kiều truyện trong đời Khang Hy (1662-1729) mà Thánh Thán thì đã chết từ 1661 đời Thuận Trị, còn đâu mà bình? Hoặc giả là Thanh Tân tài nhân viết Kim Vân Kiều truyện vào khoảng Thuận Trị - Khang Hy? Theo bản in của Kim Vân Kiều truyện của Nxb Hoa Hạ (1995) thì không còn ghi là Thánh Thán ngoại thư nữa, mà chỉ ghi Thanh Tâm tài nhân biên thứ, vẫn có lời bình ở đầu mỗi chương, nhưng không ghi tên ai cả…

    (9) Lỗ Tấn toàn tập, T.1. Nhân dân Văn học xuất bản xã. Bắc Kinh. 1957, tr.236.

    (10) Kim Vân Kiều truyện, Hồi I, bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh, in rônêô của Viện Văn học.

    (11) Dẫn theo: Phương Tăng Tiên: Vẽ chân dung bằng thuốc nước. Nhân dân Mỹ thuật xuất bản xã. Thượng Hải, 1965, tr.30.

    (12) B.L.Riptin. Sự phát triển của truyền thống trong văn học dân gian và văn học loại hình trung đại và vai trò của các mối liên hệ qua lại trong quá trình này. Trong sách Cái truyền thống và cái mới trong văn học Đông Nam Á, NXB Khoa học, Maxcơva, 1982, tr.11 (tiếng Nga).

    (1) Xem Truyện Song Tinh, Hoàng Xuân Hãn phiên âm, giới thiệu, NXB Văn học, Hà Nội, 1987, tr.22.

    (2) Xem Ngọc Kiều Lê, Trần Văn Giáp phiên âm, Kiều Thu Hoạch giới thiệu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976.

    (3) Lư Hưng Cơ, Tiểu thuyết nhân tình lên ngôi. Trong sách: Thế giới nghệ thuật thần quái tình hiệp, Trình Nghị Trung soạn, NXB Trường Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bắc Kinh, 1994, tr.221.

    (4) Châu Vĩ Dân. Bàn về tư tưởng thẩm mỹ của Thiên Hoa Tàng chủ nhân. Trong sách: Nghiên cứu lý luận văn học cổ điển tùng san, T.12, Thượng Hải, 1987, tr.341.

    (5) Châu Vĩ Dân không biết tên thật là gì, song tác giả sách Lịch sử văn học Trung Quốc do Viên Hành Bái chủ biên nói rõ là Tương Quân, Lịch sử văn học, tập 4, Đại học Bắc Kinh, 2000, tr. 310.

    (6) Các lời trích ý kiến của Thiên Hoa Tàng, nếu không chú riêng, đều rút từ bài của Châu Vĩ Dân, Tlđd.

    (7) "Truyện Kiều" đối chiếu, bản dịch của Nguyễn Đình Diệm. NXB Hà Nội, 1991. tr.304-305.

    (8) Xem sách: Việc miêu tả tình dục trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc của Mao Thuẫn, Phó Tăng Hanh… NXB Bách hoa văn nghệ. Thiên Tân, 1993.

    (9) Tập truyện chọn từ Tam ngôn của Phùng Mộng Long, Nhị phách của Lăng Mông Sơ, do Bao Ông lão nhân thực hiện khoảng cuối Minh, đầu Thanh. Đây là truyện ở quyển thứ 34 trong tập Lời chung nhắc đời (Cảnh thế thông ngôn) của Phùng Mộng Long.

    (10) Truyện Xuân Hương. Yang Soo Bae dịch, Đặng Thanh Lê giới thiệu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,813,187

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/