Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,811,624

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Thi pháp Truyện Kiều (chương 4-4)

Trần Đình Sử

  • Thứ sáu, 23:13 Ngày 26/10/2018
  • Công thức “chưa…đã…” thấy lặp đi lặp lại trong trần thuật, gây cảm giác bất ngờ. Còn có thể dẫn ra nhiều câu tương tự như vậy. Đó là dạng tiêu biểu của thời gian sự kiện Truyện Kiều: một hành động vừa xong, hành động khác ập tới; một hành động chưa xong, hành động khác ập tới; nhân vật chưa kịp hiểu gì, hành động khác đã ập tới. Một số nhà nghiên cứu tâm đắc với chữ "thoắt" trong câu "Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương". Nhưng đấy chỉ là một biểu hiện cá biệt của thời gian gấp khúc trong truyện.

    Thời gian gấp khúc này một mặt phản ánh tính chất dang dở, không trọn vẹn, oan trái của tiến trình đời sống nói chung và của Kiều nói riêng, mặt khác lại tô đậm tính chất vô lý, tàn nhẫn, phũ phàng của các thế lực đen tối. Nhịp điệu này quy định sự sử dụng đặc biệt các trạng từ thời gian: vội, vội vàng, kíp, kịp, đã, thoắt.

    Lắm khi mấy câu liền, câu nào cũng nói đến vội:

    "Nàng thì vội trở buồng thêu

    Sinh thì dạo gót sân đào vội ra"

    Lắm khi hai chữ thoắt trong cùng một câu:

    - "Thoắt mua về, thoắt bán đi"

    - "Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao"…

    Nhịp điệu này cũng quy định cách sử dụng điệp từ. Nhiều từ "đã", "càng", "cho" trong nhiều câu liên tiếp, có khi một dòng hai từ, tạo thành những cơn lốc nhỏ của sự kiện, của dục vọng, của tình cảm. Đó là nhịp điệu bao trùm của Truyện Kiều. Phải chăng đó là nhịp điệu của định mệnh qua cái nhìn của nhà thơ?

    Dĩ nhiên như thế không có nghĩa là Truyện Kiều không biết đến những giờ phút "thong dong". Đó là cái thong dong khi vừa làm xong thủ tục bán mình, là khi mụ Tú hứa hẹn "con hãy thong dong!" hay "Ghé lại thong dong dặn dò", là khi Hoạn Thư "Tẩy trần vui chén thong dong" hay "Thong dong nối gót thư trai cùng về"… những cái thong dong chứa đầy hiểm hoạ! Còn như:

    "Trong quân có lúc vui vầy

    Thong dong mới kể sự ngày hàn vi"

    thì chỉ là khoảnh khắc im ắng giữa hai đầu giông bão. Chính sư Tam Hợp cũng nói: "Vậy nên những chốn thong dong. Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng". Cho nên thời gian sự kiện Truyện Kiều cơ bản vẫn là một thời gian gấp khúc, vội vã.

    Tính chất nói trên của thời gian lại được tô đậm thêm với cảm giác không rõ xuất xứ của sự biến với tính chất không lý giải được, tính chất vô cớ, ngẫu nhiên đầy ý vị định mệnh của chúng. Cảm giác này thể hiện tập trung trong cách sử dụng từ "đâu":

    - "Người đâu gặp gỡ làm chi"

    - "Thoắt đâu thấy một tiểu kiều"

    - "Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào"

    - "Sự đâu chưa kịp đôi hồi"

    - "Điều đâu bay buộc ai làm"

    - "Sự đâu sóng gió bất kỳ"

    - "Kiệu hoa đâu đã đến ngoài"

    Khi ở lầu xanh:

                "Cách tường nghe có tiếng đâu hoạ vần"

    Khi chạy trốn:

                "Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng"

    Khi ở gác viết kinh:

                "Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào"

    Khi chạy trốn khỏi nhà Hoạn Thư:

                "Chùa đâu trông thấy nẻo xa"

    Khi bị Hồ Tôn Hiến lừa rồi ép gả cho người thổ quan:

                "Duyên đâu ai dứt tơ đào

    Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay"

    Và cuối cùng:

                "Triều đâu nổi tiếng đùng đùng"

    Có thể nói cứ mỗi tiếng "đâu" như vậy xuất hiện là báo hiệu hay tổng kết một đổi thay lớn không thể đảo ngược, mà phần nhiều là báo hiệu một thảm hoạ, một tai vạ không cách gì gượng lại được, nó như gieo vào lòng Kiều bao nỗi hãi hùng và như gõ nhịp cho cuộc đời đầy tai ương bất hạnh cuả nàng.

    Chữ "đâu" ở đây khác với chữ đâu nghi vấn cảm thán (như "Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà", hay "Từ công hờ hững biết đâu"). Nó thể hiện một cái gì bất ngờ, choáng váng, không những đối với nhân vật, mà cả đối với người kể chuyện nữa. Nó thể hiện trạng thái con người nói chung đương thời, chứ không chỉ là trạng thái của nhân vật: một trạng thái nhỏ bé, bất lực, không chủ động trong cơn lốc của cuộc đời, trong đó ý thức con người dường như bị tê liệt, đúng như trường hợp  Nguyễn Du "Ngẩn ngơ trông ngọn cờ đào…"(2).

    Có thể rút ra kết luận là Nguyễn Du không chỉ phản ánh đời sống bằng các tính cách,  các quan hệ nhân sinh, bằng các tình huống và chi tiết điển hình của xã hội phong kiến thối nát, mà còn bằng cả nhịp điệu của tác phẩm nữa: một nhịp điệu điển hình, một cơn lốc đậm đà ý vị triết học. Đó là một nhịp điệu nghịch với hạnh phúc và tồn tại của con người. Đó là nhịp điệu của đổ vỡ, của chà đạp và phá hoại. Đó cũng là nhịp điệu của một cái gì chông chênh, không bền vững.

    Phản ánh nhịp điệu này chứng tỏ Nguyễn Du đã ý thức được tính chất tồn tại khách quan của hiện thực cuộc sống ngoài ý muốn chủ quan của con người, nó góp phần thể hiện cảm quan hiện thực của Nguyễn Du.

    Tuy nhiên chưa thể xem đây là một khái quát triệt để. Một là cơn lốc này thổi từ Đạm Tiên tới, nó ôm trùm cả "hội đoạn trường", nên mang đậm màu sắc định mệnh. Hai là cơn lốc Truyện Kiều  có vẻ là trường hợp riêng vì nó xuất hiện trong khung cảnh chung "Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng", để rồi sau đó trở lại thế ổn định " Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần".

    Truyện Kiều thoát thai từ một hệ thống nghệ thuật, trong đó quan niệm thời gian tuần hoàn là một niềm tin vững chắc về mặt thẩm mỹ. Theo quan niệm này thời gian có thể đảo ngược. Vận động chủ yếu là sự biến hoá, lặp lại cái đã có. Quá khứ không mất đi mà tồn tại trong dạng khác. Tương lai là sự lặp lại hay kéo dài cái đã qua hay hiện có. Với đạo Phật, thời gian này trở thành chuỗi luân hồi báo ứng nhân quả. Cái gọi là "thế lớn chia lâu phải hợp, hợp lâu phải chia" ("đại thế phân cữu tất hợp, hợp cữu tất phân") trong Tam Quốc diễn nghĩa hay Hồng Lâu Mông, "Hội ngộ - Tai biến - Đoàn tụ" trong truyện Nôm của Việt Nam(3) đều là thể hiện của một quan niệm thời gian như vậy.

    Trong Truyện Kiều có thời gian ba kiếp, phù hợp với quan niệm tu tâm: kiếp trước với túc nhân túc trái tuy được nhắc đến nhiều lần nhưng không mang nội dung cụ thể. Kiếp này (hiện tại) được hiểu là mười lăm năm lưu lạc của Kiều, còn kiếp sau, theo lời thuyết minh của Đạm Tiên, Tam Hợp, Kiều ("Này thôi hết kiếp đoạn trường từ đây") là cuộc đời sau cái chết ở sông Tiền Đường của Kiều. Giữa ba đoạn thời gian này không có nội dung thực tại, không có chuyển hoá.

    Đi sâu vào nội dung hình tượng thì Đạm Tiên là một hình ảnh của quá khứ, một "người đời xưa", nhưng lại dự báo tương lai cho Kiều, nên nàng lại cũng là hình ảnh của tương lai ("Thấy người nằm đó biết sau thế nào").

    Kiều có lẽ là nhân vật suy nghĩ về tương lai nhiều nhất trong các truyện Nôm, nhưng nội dung dự cảm của Kiều là sự lặp lại một kiếp Đạm Tiên trong đời mình, tức trước mắt nàng vẽ ra một viễn cảnh ngược, hoặc một kiếp sau, một lai sinh mơ hồ. Với quan niệm tuần hoàn thì chưa có thể có một ý niệm quá khứ hay tương lai rành rọt.

    Kiều cũng là nhân vật nhớ nhung nhiều nhất, nhưng nàng chưa biết hồi tưởng. Đúng hơn là nàng chỉ biết nghĩ tới người thân trong thời hiện tại, kiểu: "Duyên em dầu nối chỉ hồng - May ra thì đã tay bồng tay mang". Suy cho cùng Đạm Tiên xuất hiện trong tác phẩm không như một hình bóng quá khứ mà là một bóng ma hiện tại. Hơn nữa lại càng không phải là một bóng ma đau khổ như chị em nàng trong Văn tế thập loại chúng sinh (Nàng có hội đoạn trường, không đến nỗi cô độc, lại biết xướng hoạ thù tạc, không đến nỗi buồn tẻ!). Thời gian tuần hoàn do vậy không gợi ra được tư tưởng về sự phát triển.

    Tuy nhiên chỗ sâu sắc nhất trong cảm thụ thời gian của Nguyễn Du là đã thể hiện tính không đảo ngược của những mất mát, đau khổ của con người. Sau bao cuộc vùi dập và đày đoạ, Thuý Kiều từ một người hăm hở say mê yêu đời "Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa" đã trở thành con người "Đã không biết sống là vui", "Sự đời đã tắt lửa lòng" giữa tuổi ba mươi. Mười lăm năm là một cái chết kéo dài. Từ ngày "Lầu xanh mới rủ trướng đào" Thuý Kiều đã chết. Tình yêu của Thúc Sinh và Từ Hải (theo cách của mỗi người) đã nhen lại niềm khát khao sự sống và các nhu cầu xã hội khác của nàng. Nhưng sau khi gặp Hoạn Thư và Hồ Tôn Hiến, Kiều chết hẳn trong sóng bạc Tiền Đường, rồi khi được cứu thì "Đã đem mình bỏ am mây". Nơi tu hành đối với nàng chỉ là nấm mồ! Đến lúc này, được tái ngộ, dù Kim Trọng là "người ngày xưa" cũng không còn có thể nhen lại ở Thuý Kiều một tình yêu ban đầu và một cuộc sống bình thường. Chữ "trinh" là cái lý duy nhất có sức thuyết phục để biện hộ cho một khát vọng đã chết. Kiều đã hết hẳn ước mơ, hy vọng và tính toán về tương lai, như nàng đã tính toán biết bao lần trong mười lăm năm. Bây giờ nàng mặc cho em gái:

    "Cửa nhà dù tính về sau

    Thì còn em đó, lọ cầu chị đây!"

    Rồi khi kết thúc: "Thừa gia chẳng hết nàng Vân - Một cây cù mộc một sân quế hoè", thì rõ ràng nàng Kiều không có tương lai, không có một vị thế nào cả. Với Kim Trọng, nàng chỉ tiếp tục những ngày sống thừa, mặc dù là một cách tao nhã.

    Mặc cho sư Tam Hợp tiên tri ("Đã tin điều trước ắt nhằm điều sau"):

    "Khi nên trời cũng chiều người

    Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau"

    hay Đạm Tiên ghen tị:

    "Còn nhiều hưởng thụ về lâu

    Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào"

    Nghĩa là sau cái chết ở sông Tiền Đường phải là một kiếp khác, một thời gian khác với đầy đủ phúc phận. Cái chết trẫm mình là tượng trưng cho sự đổi kiếp. Nhưng thực tế, Kiều vẫn sống một cuộc đời duy nhất và thống nhất. Cái hiện tại vẫn là sự tiếp tục của những gì đã có. Thời gian của Kiều không thể được tính lại từ đầu. Vết thương mười lăm năm vẫn nguyên vẹn, vẫn đau đớn và nhỏ máu như "một bản cáo trạng"(4). Thời gian không đảo ngược không phải với nghĩa "xuân bất tái lai" nói chung, mà là với một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Cuộc sống khách quan không chứng thực cho những hứa hẹn thần bí, siêu hình. Cho nên quan niệm thời gian của Nguyễn Du rất mâu thuẫn.

    Xét về thời gian nghệ thuật, Truyện Kiều có khác các truyện Nôm thuộc loại hình sáng tác, trong đó thời gian nghệ thuật về cơ bản bị quy về thời gian sự kiện, thể hiện tập trung trong tính liên tục của chúng. Các tác giả rất ít quan tâm sự kiện xảy ra vào lúc nào, kéo dài bao lâu, tương quan thế nào với thời gian khách quan.

    Sự xuất hiện tương quan sự kiện với thời gian là một bước phát triển của ý thức về  thực tại, về cụ thể hoá và cá biệt hoá. Điểm nổi bật của Truyện Kiều so với nhiều truyện Nôm khác là đã có một hệ thống tính thời gian: năm, tháng, ngày, mà đáng kể nhất là thời gian bằng ngày, buổi. Thời gian sự kiện trôi qua trong thời gian thường nhật. Việc tính thời gian bằng ngày, buổi, có khi bằng giờ cho phép hình dung sự kiện trong những cảnh sống bình thường của thực tại: một buổi chiều du xuân; một buổi tối băn khoăn tư lự; một sáng mai gặp gỡ hẹn hò; một ngày rồi một đêm tìm hiểu, tâm sự; một sớm tiễn người yêu về hộ tang; một đêm trằn trọc cậy em thay lời; rồi buổi đến lầu xanh, buổi chiều hôm nhớ nhà, một buổi khuya chạy trốn… Thời gian hằng ngày đã mang lại cho sự kiện một hình thức vật chất của thực tại. Nhìn chung, Nguyễn Du đã không kể lại các sự kiện một cách giản đơn, mà bao giờ cũng đặt chúng trong một khung cảnh có không gian, màu sắc và nhịp điệu riêng.

    Buổi chiều chơi xuân từ "Tà tà bóng ngả về tây" đến "Bóng tà như giục cơn buồn", bóng tà được nhắc tới bốn lần. Thời gian khách quan dường như rất ngắn nhưng lại bị kéo dài ra vì tình cảm quyến luyến đến si mê của Kiều đối với Đạm Tiên với biết bao sự kiện, nào nghe chuyện, nào than vãn, nào thắp hương, đặt cỏ, khấn vái, làm thơ, rồi:

    "Lại càng mê mẩn tâm thần

    Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra

    Lại càng ủ dột nét hoa

    Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài"

    Rồi lại hiển linh, lại khấn vái, lại làm thơ!

    Thời gian cũng chùng lại vì lưu luyến với Kim Trọng.

    Đêm ấy thời gian lại được kéo dài ra vì suy nghĩ lao lung của Kiều. Từ khi "Gương nga chênh chếch dòm song", qua "Chênh chếch bóng nguyệt xế mành", tới "Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng", thì thời gian chẳng những trôi chậm, mà bóng trăng như cũng thao thức cùng người.

    Khi Kiều mắc lận Sở Khanh, Tú Bà và tay chân lao tới như thú dữ vồ chụp con mồi. Nhịp độ nhanh gấp, động tác thẳng mạnh:

    "Một đoàn đổ đến trước sau

    Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời.

    Tú Bà tốc thẳng đến nơi

    Hăm hăm áp điệu một hơi lại nhà

    Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra

    Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời"

    Nhưng khi Kiều phải nhượng bộ thì mụ Tú lại dềnh dàng kéo dài như không chịu chấm dứt sự hành hạ. Thời gian lại căng ra:

    "Mụ càng kể nhặt kể khoan

    Gạn gùng đến mực nồng nàn mới tha"

    Vậy là ý thức về tương quan giữa thời gian và sự kiện đã làm tăng thêm tính thực tại của miêu tả, tạo thành tính độc đáo không lặp lại của chúng.

    Tính thực tại càng đậm đà khi thời gian sự kiện gắn liền với cảm xúc bốn mùa của thiên nhiên: một đêm xuân tư lự "Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần"; một ngày hè "gót sen thoăn thoắt", một ngày hè "Thang lan rủ bức trướng đào tẩm hoa"; một đêm thu chạy trốn "cỏ lợt màu sương"; một ngày thu Thúc Sinh trở lại Lâm Tri "Long lanh đáy nước in trời"…

    Nhưng từ khi Kiều gặp lại Từ Hải cho đến hết truyện thời gian trở nên bàng bạc hơn. Thời gian nói chung không kể ngày mà chỉ tính năm, nửa năm, năm năm. Từ Hải gặp Kiều rồi dứt áo ra đi, rồi trở về, báo ân báo oán… đều là không rõ vào lúc nào, mùa nào. Đoạn chàng Kim trở về cũng vậy. Phải chăng với khuynh hướng lý tưởng hoá thì thời gian cũng trở nên trừu tượng hơn, đường nét mờ nhạt hơn?

    Xây dựng tương quan thời gian với sự kiện, tạo thành nhịp điệu thời gian nhanh chậm ứng với cảm xúc của nhân vật trong tác phẩm là một sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Du. Thanh Tâm Tài Nhân kể chuyện, trình bày sự kiện như một chuỗi sự việc liên tục giản đơn, theo kiểu: "Than xong, khách liền đi mua quan tài…", "Nói rồi cả ba chị em cùng đi vòng quanh bờ suối…", "Nhìn xong mấy chữ Kiều lại than rằng…", "Than xong nàng liền bẻ mấy cành trúc cắm xuống trước mộ…", "Thuý Kiều đề xong bài thơ lại khóc nức nở…", "Nói rồi nàng tiến đến trước mộ…" (Hồi I)(5).

    Đó là một lối kể chuyện cực kỳ tẻ nhạt. Trong Kim Vân Kiều truyện chẳng những không có nhịp điệu sự kiện, mà hầu như không có cả cảm giác về nhịp điệu thời gian bốn mùa, không có mối liên hệ giữa cảm xúc của nhân vật và thời tiết. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã xây dựng một dòng thời gian thiên nhiên nhịp nhàng tuôn chảy.

    Buổi du xuân trong Kim Vân Kiều truyện vẻn vẹn có mấy dòng: "May sao một ngày trong tiết Thanh minh, con cái họ Vương cũng đi tảo mộ, nhân tiện xem hội Đạp thanh, Thuý Kiều và hai em đương lững thững dạo bên bờ suối, bỗng thấy nấm đất sè sè, một mình trơ trọi…"(6). Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tả cảnh mùa xuân và chị em chơi xuân trong 20 dòng: "Ngày xuân con én đưa thoi - Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi - Cỏ non xanh tận chân trời - Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…". Nhà thơ bao giờ cũng phát hiện tương quan của thời gian tự nhiên với sự sống con người để tạo cảm giác thời gian:

    - "Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông"

    - "Nỉ non đêm ngắn tình dài

    Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương"

    - "Nửa năm hơi tiếng vừa quen,

    Sân ngô cành bích đã chen lá vàng"

    - "Mảng vui rượu sớm trà trưa,

    Đào đà phai thắm sen vừa nảy xanh…"

    - "Sen tàn, cúc lại nở hoa.

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân…"

    Rõ ràng, ngoài thời gian của sự kiện, do tính liên tục của biến cố tạo nên, Truyện Kiều của Nguyễn Du còn có một dòng thời gian bốn mùa mải mốt trôi chảy, khách quan, vô tình. Nó như giữ nhịp cho cuộc đời và thông báo cho con người sự mất mát, vơi cạn của cuộc đời mà không có cách gì dừng lại được.

    Dĩ nhiên như vậy không có nghĩa là thời gian Truyện Kiều ít tính ước lệ. Nhìn chung Nguyễn Du dường như thích bố trí sự kiện của nhân vật vào mùa xuân và mùa thu, mùa hè thì rút ngắn, còn mùa đông thì bỏ qua. Chẳng hạn gia biến xảy ra vào một ngày đầu hè, liền đó nàng phải bán mình chuộc cha rồi ra đi với Mã trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng khi ra ở trú phường thì đã là mùa thu: "Đêm thu một khắc một chầy". Hoặc như Thúc Sinh ở Lâm Tri đến mùa xuân thì: "Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê". Nhưng về tới nhà thì đã là mùa thu: "Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu", mà như tác giả cho biết thì thời gian đi đường bộ chỉ mất một tháng ("Lâm Tri đường bộ tháng chầy"). Lại như đoạn Kim Trọng trở lại vườn Thuý sau nửa năm chịu tang (Kim Vân Kiều truyện nói thời gian mất 4 tháng). Vậy lúc ấy phải là cuối thu đầu đông, nhưng tác giả lại tả thành mùa xuân với cỏ mọc lau thưa, gió đông hoa đào, xập xè én liệng. Đó là vì đối với tác giả điều quan trọng là gợi lên một sự đối chiếu với mùa xuân gặp đỡ đã qua: "Đi về này những lối này năm xưa". Mặt khác phong cảnh xác xơ trong mùa xuân mới có ý nghĩa, còn xác xơ trong mùa thu và mùa đông có thể chỉ là một hiện tượng tự nhiên. Còn như xuất hiện nhiều mùa thu là vì phải chia tay, đau khổ trong mùa thu lá rụng, hiu hắt thì mới thật là ảm đạm! Tính ước lệ này cũng góp phần tô đậm ý nghĩa thực tại của sự kiện.

    Đây cũng là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du. Nhà thơ Việt Nam đã thực hiện việc sắp xếp lại thời gian của truyện. Thực vậy, Thanh Tâm Tài Nhân kể việc Kiều gặp gia biến và phải bán mình xảy ra vào giữa tháng tư và Mã Giám sinh đón Kiều ra ở nhà trọ cũng trong tháng đó. Tiếp theo Kiều lên xe về Lâm Tri mất một tháng, tự tử không chết, phải phục thuốc cho bình phục mất khoảng 3, 4 tháng, cho đến khi Sở Khanh lừa nàng đi trốn vào một ngày tháng chín, sương giáng cuối thu. Trình tự thời gian sự việc khá rành mạch, hợp lý. Nhưng đối với Nguyễn Du, Kiều lên xe ra quán trọ với Mã là trời đã thu rồi. Từ đó cho đến cuộc đi đường dài một tháng, những ngày thuốc thang và chạy trốn theo Sở Khanh, đất trời đều nhuốm một màu thu! Mùa thu này dài những 5, 6 tháng.

    Đoạn Ưng Khuyển bắt Kiều, trong Kim Vân Kiều truyện, theo lời khai của Kiều trước người nhà họ Hoạn, là xảy ra vào đêm 5 tháng 3, rõ ràng là mùa xuân. Nhưng trong Truyện Kiều, sự việc lại xảy ra vào mùa thu:

    "Đêm thu gió lọt song đào,

    Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời…"

    Mùa thu năm sau Thúc Sinh về đến Vô Tích đúng vào mùa thu và ứng với thời gian một năm mà một đạo nhân đã đoán. Ở Kim Vân Kiều truyện thời gian một năm đó không được tính cụ thể là mùa nào, chỉ biết Kiều làm đầy tớ cho Hoạn Bà được nửa năm, sau đó làm đầy tớ cho Hoạn Thư được nửa năm thì Thúc Sinh về.

    Đoạn Kim Trọng trở lại vườn Thuý trong Kim Vân Kiều truyện, nếu tính theo thứ tự thời gian thì sự việc xảy ra vào tháng 8, đầu tháng 9, mùa thu, nhưng Thanh Tâm Tài Nhân không nói rõ là mùa nào, ông không có cảm nhận về thời gian: "Khi về tới nhà trọ, chàng vội sang hiên Lãm Thuý hỏi thăm Thuý Kiều, thì nàng đã đi trước đây 4 tháng, mà cả gia đình cụ Vương Viên ngoại cũng đã dọn đi nơi khác rồi… Lập tức hỏi thăm đến chỗ Vương Ông di trú, nhìn thấy căn nhà lụp thụp, khác với quang cảnh ngày xưa…"(7).

    Trong Truyện Kiều sự việc xảy ra vào mùa xuân, và cảnh hoang vắng là thuộc về ngôi nhà cũ của Kiều.

    Qua mấy ví dụ trên đây ta thấy tính ước lệ của thời gian nói trên không phải bắt nguồn từ truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà bắt nguồn từ cảm nhận thời gian của Nguyễn Du từ truyền thống "bi thu ai đông" trong thi ca cổ điển Trung Quốc. Kim Trọng của nhà thơ Việt Nam phần nào đã nhìn lại vườn Thuý bằng con mắt của Thôi Hộ đời Đường, cũng như Thuý Kiều đã nhìn phong cảnh khi tiễn biệt Thúc Sinh bằng con mắt của Vương Duy.

    Một đặc sắc nữa của thời gian nghệ thuật Truyện Kiều là tác giả không giản đơn trình bày sự kiện này nối tiếp sự kiện kia, mà đã biết dừng lại ở yếu tố bây giờ, tức thời diểm hiện tại của sự biến, khám phá ý nghĩa phong phú của nó. Nói cách khác, Nguyễn Du không chỉ kể ra mối liên hệ giữa các sự kiện mà còn gợi ra mối liên hệ với thời gian của chúng. Đây là một biểu hiện hiếm thấy trong truyện Nôm Việt Nam.

    Cái "bây giờ" của Nguyễn Du không quy gọn vào hiện tại mà mang một chiều sâu và chiều rộng của quá khứ và tương lai. Một cái bây giờ mong manh, mịt mờ viễn cảnh:

    "Bây giờ rõ mặt đôi ta

    Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao"

    Một cái bây giờ đầy lạc quan, hứa hẹn:

    "Chén đưa nhớ buổi hôm nay

    Chén mừng xin đợi ngày này năm sau"

    Có cái bây giờ như tổng kết một niềm tin:

    "Đến bây giờ mới thấy đây

    Mà lòng đã chắc những ngày một hai"

    Có cái bây giờ làm sáng tỏ quá khứ và gợi ra một vực thẳm tương lai hãi hùng - đó là Thúc Sinh và Kiều nhận ra nhau ở nhà Hoạn Thư:

    - "Bây giờ tình mới tỏ tình

    Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai"

    - "Bây giờ đất thấp trời cao

    Ăn làm sao nói làm sao bây giờ!"

    - "Bây giờ một vực một trời

    Hết điều khinh trọng, hết lời thị phi"

    - "Bây giờ mới rõ tăm hơi

    Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!"

    Có cái bây giờ xót xa vời vợi:

    "Những từ sen ngó đào tơ

    Mười lăm năm mới bây giờ là đây!"

    Khám phá cái bây giờ chính là Nguyễn Du đi vào nội tâm nhân vật, đi vào cái cá biệt không lặp lại của không gian và thời gian. Nó cho thấy bên cạnh dòng thời gian sự kiện, Truyện Kiều có thêm dòng thời gian tâm trạng, tuy chưa phát triển và phong phú nhưng đã có đường nét. Khám phá cái bây giờ chứng tỏ nhà văn đã biết nhìn nhân vật theo điểm nhìn của nhân vật, nhìn nhân vật từ bên trong, một đặc điểm đáng lưu ý của chủ nghĩa hiện thực trong văn học(8). Mặt khác, nhìn nhân vật và sự kiện qua "cái bây giờ" và "ở đây" Nguyễn Du đã thể hiện được quan niệm thời gian hiện tại của tiểu thuyết, là thời hiện tại chưa hoàn thành, đang diễn ra đầy phấp phỏng và chờ mong(9). Có thể nói rằng cùng với sự thể hiện tính không đảo ngược của thời gian, sự thể hiện mối liên hệ thời gian này tạo thành một trong những nét đáng kể của quan điểm lịch sử của Nguyễn Du trong miêu tả đời sống, ít ra là trong thế giới vi mô của tình cảm và đời người.

    Phân tích thời gian nghệ thuật của Truyện Kiều, điều nổi bật nhất là Nguyễn Du đã tạo ra một nhịp điệu thời gian vội vã, gấp khúc, chồng chéo, nó phản ánh cuộc chạy đua không cân sức giữa con người và số phận, lôi kéo vào đó không chỉ Thuý Kiều, Kim Trọng mà hầu hết các nhân vật khác. Đó là cái nhịp thời gian không có trong nguyên tác Trung Quốc. Nó thể hiện cách cảm nhận thời cuộc của Nguyễn Du và sáng tạo lại của nhà thơ. Trên nhiều mặt ta có thể thấy Nguyễn Du chẳng những đã vượt qua tiền nhân Trung Quốc của ông và còn vượt qua nhiều quy phạm nghệ thuật đương thời để vươn tới một hệ thống nghệ thuật mới gần gũi với chúng ta hơn.

     

    5. Hình tượng tác giả Truyện Kiều

    Thi pháp học phân biệt hình tượng tác giả trong tác phẩm với tác giả tiểu sử, kẻ sáng tạo ra tác phẩm, nằm ở ngoài tác phẩm. Hình tượng tác giả (hay còn gọi là “tác giả hàm ẩn”) là sự biểu hiện của cái "Tôi" thứ hai của tác giả một cách tổng hợp qua các nguyên tắc nghệ thuật như cái nhìn, giọng điệu, thể hiện tập trung cho quan niệm và hệ giá trị của nhà văn. Ngày nay, nặc dù có người đã hô lên “tác giả đã chết” (R. Barthes) hay tác giả chỉ là một ý niệm có tính chức năng” (M. Foucault), hình tượng tác giả vẫn trường tồn cùng tác phẩm. Bởi những thể nghiệm, cảm giác, tri giác của nhà văn trong khi viết đã hoá thân vào ngôn ngữ của văn bản.

    Nguyễn Du không hề tự miêu tả mình trong Truyện Kiều, nhưng ai đã đọc Truyện Kiều thì không thể không cảm thấy gương mặt của Nguyễn Du biểu hiện qua từng chữ, từng dòng. Ta không trông thấy ông, nhưng nhận ra ông qua tiếng nói, hơi thở, tấm lòng, tính khí, trí tuệ toát ra từ lời kể, lời nói của nhân vật các chi tiết, giọng điệu, cái nhìn. Khái niệm hình tượng tác giả tương tự như khái niệm tác giả hàm ẩm trong lý thuyết tự sự học hiện đại.

    Hình tượng tác giả thể hiện qua lời người kể chuyện, qua lời của nhân vật, đặc biệt thể hiện qua một số từ ngữ có tính đặc trưng mà ta có thể nói đó là ngôn ngữ của tác giả. Tác giả có thể hiện hình qua người kể chuyện. Người kể chuyện trong truyện dõng dạc vạch trời kêu tội ác. Người ấy chửi rủa: "Chém cha cái số hoa đào - Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi". Người ấy than khóc cho đời: "Đau đớn thay phận đàn bà - Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Người ấy mai mỉa sự đời bất công không thay đổi: "Lạ gì bỉ sắc tư phong - Trời xanh quen với má hồng đánh ghen". Người ấy trêu đùa cái sự tiu nghỉu của anh chàng si tình Kim Trọng đi tìm người yêu mà không gặp: "Lơ thơ tơ liễu buông mành - Con oanh học nói trên cành mỉa mai". Người ấy vui sướng phụ hoạ cùng đôi trẻ khi phá rào nơi bức tường để đến với nhau: "Xắn tay mở khoá động đào - Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên thai". Trước nay các nhà bình luận, chú giải đều đã ít nhiều nhận ra chân dung của Nguyễn Du qua văn Kiều và Mộng Liên Đường chủ nhân đã nói được những lời khiến ta nhớ mãi: "Nếu không có con mắt nhìn xuyên sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời thì làm sao có được bút lực ấy!". Tấm lòng và con mắt là dấu hiệu của hình tượng tác giả.

    Nhưng hôm nay ta cần tìm sâu hơn chân dung của Nguyễn Du qua ngôn ngữ của ông, một chân dung được dệt bằng chính những từ mà ông thường dùng và thích dùng, những từ kết tinh quan niệm, tình cảm, kinh nghiệm của ông, vẽ nên diện mạo tâm hồn của ông. Những từ như thế phần nhiều còn nằm im trên trang sách.

    Trong một bài viết trước đây hơn 10 năm trên Tạp chí Văn học, 1983 chúng tôi đã lưu ý đến một số chữ và cách dùng mang dấu ấn của Nguyễn Du. Đó là chữ lòng trong các cách xưng hô trực tiếp với nhau của nhân vật: "Trách lòng hờ hững với lòng", "Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang", "Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng", "Để lòng thì phụ tấm lòng với ai"… Nhà thơ hầu như trừu tượng hết cái phần vật chất bên ngoài, cái phần tính danh dị biệt, để các nhân vật đối diện với nhau bằng những tấm lòng, lòng soi vào lòng mà hiểu nhau. Đem lòng mà ứng xử với nhau là nguyên tắc cao nhất. Văn chương xưa nói về tấm lòng đã nhiều nhưng mấy ai đã đặt tấm lòng thành những tấm gương song song soi vào trong nhau như vậy. Điều thú vị là trong Truyện Kiều không chỉ những kẻ trung thực, chân thành nói đến lòng, mà cả những kẻ giả dối, lừa đảo, tàn ác cũng luôn miệng xoen xoét nói tới "lòng" như một chiêu bài lừa mị, dối trá. Tú Bà nói: "Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!". Sở Khanh nói: "Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng!". Bạc Hạnh cũng làm một việc như vậy: "Trước sân lòng đã giãi lòng". Để cho kẻ lừa đảo, giả dối nói năng giống hệt như những người trung thực, chứng tỏ Nguyễn Du đã thâm thuý, hóm hỉnh nhìn thấu suốt mọi bề chân giả và gan ruột người đời!.

    Một chữ khác cũng rất tiêu biểu cho con người của Nguyễn Du là chữ "ai". Nguyễn Du nhìn con người qua một chữ "ai" phổ biến nhân tính: "Thịt da ai cũng là người", "Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang?", "Tấm lòng ân ái ai ai cũng lòng", "Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", "Công danh ai dứt lối nào cho qua"… Ông có sẵn một quan niệm về con người trần thế, thực tế, tự nhiên để đánh giá mọi người, mọi việc trong truyện. Nhờ thế mà cách cảm nhận, đánh giá của ông đã trải qua hàng trăm năm mà không cũ.

    Dĩ nhiên từ "lòng", từ "ai" là những từ phổ thông của tiếng Việt. Nhưng không phải ai cũng sử dụng như nhau. Một cách sử dụng đều đặn, nhất quán, chứng tỏ nhà thơ đã đặt vào đó một quan điểm riêng, một nghĩa riêng của mình.

    Thật vậy, Cung oán ngâm khúc(1), theo bản của Nguyễn Lộc khảo đính, có 13 chữ "ai", thì phần nhiều là dùng để chỉ trời, chỉ vua, chỉ bản thân dưới hình thức nghi vấn. Bản Chinh phụ ngâm diễn ca(2) do Nguyễn Thạch Giang hiệu khảo có 10 chữ "ai" thì 6 trường hợp chỉ trạng thái không có người (ví dụ: "Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn"), một trường hợp chỉ trời, hai trường hợp chỉ người cụ thể. Chỉ có một trường hợp nói tới con người phổ biến: "Tình gia thất nào ai chẳng có". Truyện Hoa Tiên(3) do Nguyễn Thiện nhuận sắc và do Đào Duy Anh khảo đính có 72 chữ "ai" thì tuyệt đại bộ phận đều là từ phiếm chỉ dùng để nói tới người cụ thể một cách duyên dáng, ý nhị. Ví dụ: "Vì ai cho luỵ đến ai - Thà liều mệnh bạc kẻo sai chữ đồng", "Nào ai gió lật trăng lừa với ai", "Ai hay ai cũng còn lòng chửa quên", "Nợ kia ai lại làm rầu rĩ ai",…

    Truyện Kiều có 108 chữ "ai", thì phần nhiều dùng để chỉ tất cả mọi người, ai cũng như ai, không trừ một ai. Đó là anh, tôi, là tất cả. Đó là chữ "ai" rất Nguyễn Du.

    Đọc Truyện Kiều chúng tôi còn nhận thấy một chữ rất thú vị là chữ "chút". Từ điển "Truyện Kiều" của Đào Duy Anh thống kê có 47 trường hợp. Đây là một chữ "rất Nguyễn Du", hầu như chưa thấy ai dùng nhiều như thế bao giờ:

    - "Thì chi chút ước gọi là duyên sau"

    - "Thưa rằng chút phận ngây thơ"

    - "Được rày nhờ chút thơm rơi"

    - "Của tin gọi một chút này làm ghi"

    - "Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là"

    - "Xót nàng chút phận thuyền quyên"

    - "Rằng tôi bèo bọt chút thân"

    - "Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa"

    - "Đôi ta chút nghĩa đèo bòng"

    - "Chút còn ân ái chưa xong"

    Nguyễn du còn nói "chút song thân", "chút xa xôi", "chút nghề chơi"… "Chút" là một uyển ngữ, nó làm cho sự vật được nói đến trở nên nhỏ hơn, bé đi và cách nói trở nên khiêm nhường, tao nhã. Nhưng chữ chút này còn mang ý vị một sự thể nghiệm nhân sinh. Chữ chút này nhà thơ thường dùng để chỉ phạm vi đời sống cá nhân. Và cá nhân trong cuộc đời là một cái gì rất bé nhỏ, yếu đuối, mỏng manh, dễ hư nát, dễ bị bỏ qua giữa bao điều to tát ở đời. Người xưa thường tự gắn mình với đạo nên cảm thấy mình rất vĩ đại và hùng mạnh: nào ngùn ngụt chính khí, nào đội trời đạp đất, nào dời non lấp bể, nào làm nên lịch sử. Họ lấy sự hùng mạnh của đạo làm nên sự hùng mạnh của chính mình. Trong xã hội đã thối nát, con người bị tuột ra khỏi mọi ràng buộc mới bắt đầu cảm thấy sự nhỏ bé của mình. Nguyễn Du nhìn ra rất rõ cái nhỏ bé của kiếp người. Và biết bao thương yêu, nâng niu trong chữ chút ấy.

    Nguyễn Du là người không bao giờ ảo tưởng với đời. Đoạn Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe là một đoạn rất hay. Kim Trọng nghe xong, xúc động quá, khuyên Kiều từ nay đừng chơi khúc buồn ấy nữa. Kiều của Kim Vân Kiều truyện đã trả lời một câu dễ dãi: "Vâng, thiếp cũng cảm thấy như thế. Chỉ vì lúc nhỏ đọc thơ Ly Tao thương tình Khuất Tử phải chịu hàm oan, rồi nỗi oan ức ấy cứ ám ảnh tâm hồn thành ra thói quen muốn chừa không được. Ngày nay vâng lời dạy bảo, thiếp còn dạo lại khúc ấy làm chi?"(4). Kiều của Nguyễn Du trả lời như sau:

    "Rằng quen mất nết đi rồi

    Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao

    Lời vàng vâng lĩnh ý cao

    Hoạ dần dần bớt chút nào được không"

    Kiều của Nguyễn Du không dễ dãi. Người xưa nói sông núi có thể biến đổi, mà tính trời thì khó đổi thay. Một điều đã thành "thói quen muốn chừa không được" nay làm sao chỉ một lời khuyên là bỏ được ngay! Kiều của Nguyễn Du là người tự biết mình và trung thực: Em nghe lời anh, nhưng may ra thì mới dần dần bỏ được chút ít! Hiển nhiên là một cô gái trạc tuổi 15 mà trả lời như vậy là hơi già trước tuổi. Nhưng ở đây có cảm thức của Nguyễn Du, có con mắt trải đời của tác giả. Chi tiét này chứng tỏ Nguyễn Du đã đối thoại lại với nhà văn Trung Quốc, một trong vô vàn chi tiết đối thoại đặc sắc.

    Sinh con đẻ cái là việc tự nhiên của mỗi cặp vợ chồng, nhưng nghĩ tới nàng Vân xe duyên cùng Kim Trọng, Kiều cũng chỉ dám nghĩ tới một điều may mắn cho em:

    "Duyên em dù nối chỉ hồng

    May ra thì đã tay bồng tay mang"

    Kiều của Nguyễn Du hầu như hiếm khi đoan chắc một điều gì tốt đẹp. Ngay khi nói "Rằng bây giờ mới thấy đây - Mà lòng đã chắc những ngày một hai", thì cũng là lời nói khi sự việc đã thành, và cũng thấy "Cũng may dây cát được nhờ bóng cây". Rõ ràng khắp nơi trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đều đóng dấu ấn chân dung của ông vào trong chữ nghĩa, ngôn ngữ.

    Ta còn có thể tìm thêm nhiều hơn nữa những từ ngữ, cách dùng làm bằng chứng cho chân dung tâm hồn của Nguyễn Du. Đọc Truyện Kiều mà chỉ thấy Kiều, thấy xã hội, thấy đồng tiền, mà không thấy rõ một Nguyễn Du hàm ẩn thì thật tiếc nếu không muốn nói là chưa hiểu văn. Không phải một Nguyễn Du từng làm quan, đi sứ dưới triều nhà Nguyễn, mà là một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du tâm linh chan chứa nhân ái. Cũng không phải một Nguyễn Du dạy đời, răn đời, mà là một Nguyễn Du hiểu đời, đúng như lời nhận xét tinh tế của Cao Bá Quát: "Kim Vân Kiều là lời nói hiểu đời, Hoa tiên là lời nói răn đời vậy"(5).

    (hết chương IV)

    Nguồn: Thi pháp Truyện Kiều. Tác giả: Giáo sư Trần Đình Sử. Xuất bản lần đầu năm 2002. NXB Đại học Sư phạm in lần thứ 8, tháng 10-2018. Tác giả đồng ý để nhà văn Triệu Xuân trích 3 chương, post trên www.trieuxuan.info



    (2) Tố Hữu, Kính gửi cụ Nguyễn Du trong Tố Hữu, Tác phẩm thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr.468.

    (3) Đặng Thanh Lê. "Truyện Kiều" và thể loại truyện Nôm. Sách đã dẫn, tr. 94-95.

    (4) Xuân Diệu. Bản cáo trạng cuối cùng trong "Truyện Kiều" - trong sách Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1765-1965). NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, tr.204-216.

    (5) Xem bản dịch của Nguyễn Đình Diệm trong sách "Truyện Kiều" đối chiếu, NXB Hà Nội, 1991.

    (6) Tlđd, tr.56.

    (7) Xem: "Truyện Kiều" đối chiếu. Tlđd, tr.425.

    (8) D.S. Likhachev. Văn học Nga cổ và thời hiện đại. Tạp chí Văn học Nga, số 4 năm 1978, tr.29.

    (9) M.M. Bakhtin, Những vấn đề văn học và mĩ học, Nxb Văn học nghệ thuật, M., 1975, tr.455.

    (1) Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc. Nguyễn Lộc khảo đính, giới thiệu. NXB Văn học, Hà Nội, 1986.

    (2) Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm diễn ca. Nguyễn Thạch Giang giới thiệu, hiệu khảo, chú giải, NXB Văn học, Hà Nội, 1987.

    (3) Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện, Truyện Hoa Tiên, Đào Duy Anh khảo đính, chú thích, giới thiệu. NXB Văn học, Hà Nội, 1978.

    (4) "Truyện Kiều" đối chiếu. NXB Hà Nội, 1991, tr.103.

    (5) Tựa Truyện Hoa tiên, Truyện Hoa tiên, Tlđd, tr.10.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,811,625

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/