Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,813,042

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Từ một sai lầm trong cách thức tiếp cận và xử lý văn bản của Patrick Raszelenberg đến một vài chuyện khác...

Nguyễn Hòa

  • Thứ ba, 18:01 Ngày 05/07/2011
  • Những năm gần đây, ngành Việt Nam học đang trở thành một bộ môn khoa học khá hấp dẫn, thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Điều đó cho thấy việc nghiên cứu về Việt Nam đang là một nhu cầu cần thiết khi chúng ta mở cửa hội nhập, giao lưu với thế giới. Tuy nhiên ở đây lại nổi lên một yêu cầu quan thiết là cần xác định một phương pháp luận, một phương pháp nghiên cứu bộ môn và cách thức tiếp cận các vấn đề xã hội - con người của Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại như thế nào. Với tinh thần khoa học, chúng ta chấp nhận những ý kiến khác nhau, nhưng đồng thời không thể đồng tình với những ý kiến được xác lập từ một cái nhìn hời hợt. Mới đây, trên một website của người Việt ở hải ngoại, các công trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam của Giáo sư Trần Đình Hượu đã trở thành đối tượng của một tranh luận được khơi nguồn từ ý kiến của ông Patrick Raszelenberg. Để phê phán quan điểm của Giáo sư Trần Đình Hượu, ông Patrick Raszelenberg đã có những phân tích, luận giải về văn hóa Việt Nam theo tôi là khá phiến diện và hẹp hòi. Và tôi đã công bố bài viết dưới đây trên tạp chí Văn nghệ quân đội cùng website nói trên.

    Cách đây gần chục năm, một người bạn có cho tôi một bản photocopy bài viết Về đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Tôi đọc rồi cất đi, không phải vì văn bản này không có giá trị mà vì ngày đó tôi có điều kiện được nghe Trần Đình Hượu giảng bài, được tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm ông đã công bố, và một phần cũng vì muốn tự mình tìm hiểu. Từ những gì lĩnh hội được, tôi luôn kính trọng và coi Trần Đình Hượu là một trong số những học giả hàng đầu về khoa học xã hội ở Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XX. Phần lớn những kiến giải, phân tích, đề xuất của ông đều có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với bất cứ ai muốn tìm hiểu văn hóa Việt Nam truyền thống, hay muốn góp phần làm cho văn hóa đó phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại. Do vậy, tôi hoàn toàn bất ngờ khi đọc bài Nguyễn Phan Thịnh và Trần Đình Hượu: hai lối tư duy hổ thẹn hay khiến phải hổ thẹn? của Patrick Raszelenberg và sau đó là bài Trả lời hai ông Tâm Nguyên và Trần Ngọc Vương cũng của tác giả này. Câu chuyện xung quanh Trần Đình Hượu còn có sự tham gia của Tâm Nguyên, Trần Ngọc Vương, song do thấy cần khu biệt giới hạn trao đổi, nên ở đây tôi chỉ đề cập tới những điều Patrick Raszelenberg bàn về Trần Đình Hượu và văn hóa, lịch sử Việt Nam.

    1. Trước hết cần nói thẳng rằng trong bài Nguyễn Phan Thịnh và Trần Đình Hượu: hai lối tư duy hổ thẹn hay khiến phải hổ thẹn? Patrick Raszelenberg đã tiến hành một thao tác kỳ quặc nếu không nói là “phi khoa học”. Bởi chỉ bằng sự tiếp cận gián tiếp với một phần trong hệ thống quan điểm của Trần Đình Hượu (xin nhấn mạnh, và tại sao chỉ là “một phần” sẽ trình bày sau - NH) ông đã lớn tiếng, ngạo nghễ phê phán tác giả, phớt lờ những khả năng có thể xảy ra khi Trương Hồng Quang tập hợp Về đặc sắc của văn hóa Việt Nam - một văn bản chỉ có thể coi là “bản thu hoạch” của Trương Hồng Quang sau khi đọc một số tác phẩm của Trần Đình Hượu, chứ không thể coi là một văn bản chính thức của Trần Đình Hượu. Điều đó đã được trình bày rất rành mạch trước khi công bố trên Website văn bản Về đặc sắc của văn hóa Việt Nam, gần đây, Trương Hồng Quang cũng khẳng định văn bản này: “Là một collage, một sản phẩm lắp ghép với những điểm nhấn riêng, nhịp điệu và bảng pha màu mang tính chủ quan của người tập hợp, văn bản này đã có một đời sống riêng của mình. Nó có thể góp phần phổ biến các ý tưởng của Trần Đình Hượu… ở một phương diện khác, nó lại cũng là một sự “pốp hóa”, đơn giản và sơ lược hóa cao độ, có thể (và đã) gây ngộ nhận về diện mạo và hệ thống tư tưởng của tác giả”.

    Việc khái quát, tập hợp, giới thiệu Trần Đình Hượu đã có bao nhiêu kết luận về đặc sắc của văn hóa Việt Nam, việc cấu trúc, sắp xếp các kết luận ấy theo một trật tự như thế nào hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự thâu nhận cũng như vào năng lực, vào góc nhìn của người đã đọc ông. Nhiều tình huống có thể xảy ra, như Trương Hồng Quang đưa ra ba mươi “mục”, đến lượt mình, tôi có thể tóm lược trong hai mươi lăm “mục”, còn Trần Ngọc Vương lại trình bày trong bốn mươi “mục”… Điều đó không sao, miễn rằng mỗi người đều phải cố gắng trung thành với các ý tưởng của Trần Đình Hượu, cố gắng phản ánh được toàn bộ những thu nhận của người viết sau khi đọc Trần Đình Hượu. Mặt khác, vì là một văn bản có tính khái quát, nên Về đặc sắc của văn hóa Việt Nam không có nghĩa vụ phải phân tích, luận chứng rạch ròi, cụ thể các nội dung đặt ra, nó dừng lại ở phạm vi giúp người ta “làm quen” chứ chưa giúp người ta “hiểu kỹ”. Do đó về nguyên tắc, ai đó muốn hiểu Trần Đình Hượu đã đặt vấn đề, phân tích, lý giải… ra sao thì nhất thiết phải tìm đến với các tác phẩm của Trần Đình Hượu. Song Patrick Raszelenberg đã vô tình (cố tình? không có khả năng xử lý?) không quan tâm tới đặc điểm của văn bản Về đặc sắc của văn hóa Việt Nam nên nhận xét rằng Trần Đình Hượu đã viết bằng “thứ ngôn ngữ học giả nửa vời, lằng nhằng, và đeo mặt nạ thông thái rởm” rồi bắt bẻ vô lối rằng: “Bài của ông thiếu hẳn kết cấu và thiếu hẳn quan hệ quy chiếu” (!).

    Trả lời Trần Ngọc Vương, Patrick Raszelenberg yêu cầu phê bình “phải hợp lý và dựa vào luận cứ cụ thể”. Vậy nhưng phê bình Trần Đình Hượu, Patrick Raszelenberg lại không làm như vậy. Sao có thể coi là “hợp lý” khi ông phê bình Trần Đình Hượu dựa trên một văn bản của Trương Hồng Quang. Sao có thể coi là “luận cứ cụ thể” khi ông chưa tiếp xúc với chính tác phẩm của Trần Đình Hượu. Người Việt gọi như thế là “tiền hậu bất nhất”, “nói một đàng làm một nẻo”, giống như trường hợp Patrick Raszelenberg hỉ hả phỉ báng “mặc cảm nhược tiểu dị hợm” của người Việt nhưng đồng thời lại trách Trần Đình Hượu có “nhiều thành kiến” với văn hóa của dân tộc mình vậy. Tôi quả quyết như trên bởi đọc hai bài của Patrick Raszelenberg, tôi nhận ra ông chưa đọc bất kỳ một tác phẩm nào của Trần Đình Hượu, trong cả hai bài ông đều loanh quanh lấy dẫn chứng từ những gì đã được Trương Hồng Quang tập hợp và dường như đối với ông như thế là đủ các yếu tố để nhận diện và đánh giá một nhà khoa học. Nếu quả thật ông là một nhà Việt Nam học thì tôi rất lấy làm kinh ngạc, vì ở cái nơi khoa học ít nhiều còn hạn chế như ở Việt Nam này mà cũng không mấy khi người ta nhầm lẫn trong xử lý một văn bản đến vậy. Tôi không chỉ thấy tiếc mà còn xấu hổ thay cho ông.

    Nghe giảng và đọc những công trình của Trần Đình Hượu đã công bố, có thể nhận ra phạm vi các vấn đề Trần Đình Hượu quan tâm có biên độ rất rộng. Ông có lợi thế hơn hẳn so với một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam khác là sự nghiệp của ông được xây dựng trên nền tảng cơ bản về triết học. Từ đó, ông đến với văn học Việt Nam Trung đại, rồi đến với văn hóa Việt Nam truyền thống, từ văn hóa Việt Nam truyền thống ông đi thêm một bước để tìm hiểu vai trò của văn hóa Khổng giáo trong nền văn hóa ấy. Rồi trên cơ sở tất thảy các kết quả nghiên cứu, ông đi tới mục đích cuối cùng của mình là nghiên cứu “lịch sử tư tưởng Việt Nam”. Là một học giả thông minh, uyên bác, sắc sảo, nghiêm cẩn trong thao tác xác lập tính hệ thống của các vấn đề, các luận điểm… Trần Đình Hượu luôn tỏ ra không thỏa mãn với việc mô tả tập hợp các hiện tượng hoặc tương đồng hoặc dị biệt, mà từ tập hợp ấy ông cố gắng đi tìm bản chất của sự vật với những mối liên hệ bên trong - bên ngoài hoặc cụ thể hoặc ngầm ẩn, qua đó đề xuất những ý kiến nhằm loại bỏ các hạn chế và “hiện đại hóa” những mặt tích cực nếu thấy còn phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại. Như vậy, Trần Đình Hượu đặt vấn đề nghiên cứu đặc sắc của văn hóa Việt Nam không nhằm trở thành một tín đồ narcissisme(1) mà đây chỉ là một trong những “tiền đề làm việc” giúp ông có thể đi tiếp. Patrick Raszelenberg không biết mục đích và kết quả nghiên cứu những đặc sắc của văn hóa Việt Nam có vị trí như thế nào trong sự nghiệp của Trần Đình Hượu nên nhiệt hứng phê phán đã đẩy Patrick Raszelenberg tới sai lầm lố bịch thứ hai là miệt thị và lầm tưởng Trần Đình Hượu cũng là thành viên của nhóm người: “tưng bừng tranh luận trong đường hướng của một thứ chủ nghĩa dân tộc ngốc nghếch, hẹp hòi”. Nếu Patrick Raszelenberg thực sự cầu thị, muốn tìm hiểu Trần Đình Hượu đã phê phán, lý giải nguyên nhân các nhược điểm của văn hóa Việt Nam như thế nào, ông nên đọc phần Nho giáo ở Việt Nam trong cuốn sách Các bài giảng về tư tưởng phương Đông(2) của Trần Đình Hượu. Tôi tin đọc xong ông sẽ tự “phản tỉnh” để rồi tự đỏ mặt mà có một lời thưa lại với người quá cố.

    2. Để mở đầu phần này, tôi xin kể một sự kiện tôi đã chứng kiến trên sân vận động Hàng Đẫy (Hà Nội) cách đây không lâu. Chẳng là ngày ấy có một đội bóng đá châu Âu (tôi không nhớ tên) tới thi đấu tại Việt Nam. Trong pha tranh bóng, một cầu thủ người Âu huých một cầu thủ người Việt ngã quay lơ ra sân. Theo tinh thần fairplay, cầu thủ người Âu chạy lại kéo cầu thủ Việt dậy. Cầu thủ người Việt đứng lên, cầu thủ người Âu vừa cười vừa giơ tay xoa đầu cầu thủ người Việt và anh chàng người Âu ấy lĩnh ngay một quả móc sườn đau méo mặt, cầu thủ Việt nhận thẻ đỏ rời sân. Về sau, lãnh đạo hỏi tại sao lại “thoi” người ta như thế, anh chàng Việt trả lời: “Vì nó xoa đầu em!”.

    Theo tôi, sự kiện tưởng chừng vặt vãnh trên đây đã hàm chứa trong nó một ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức đối với những người nghiên cứu văn hóa, nhất là với Patrick Raszelenberg - một người dường như được đào tạo để làm Việt Nam học, bởi nói tới văn hóa giữa các cộng đồng trước hết phải nói tới sự khác nhau. Ông có thể khá thông thạo tiếng Việt - bài trả lời Tâm Nguyên và Trần Ngọc Vương của ông thể hiện rõ điều này, có thể am hiểu lịch sử Việt Nam… nhưng cái vốn liếng đó sẽ giảm thiểu giá trị nếu ông không có khả năng phân biệt sự khác nhau trong văn hóa, và không có khả năng “nhập thân” vào với văn hóa Việt Nam. Nói cách khác, một nhà Việt Nam học người nước ngoài muốn thâm nhập vào hệ thống giá trị của văn hóa Việt Nam, cần cố gắng tiếp xúc, khảo sát nó trên nhiều bình diện để có thể vừa hiểu nó một cách cơ bản nhất vừa nắm bắt được sự vận động của những chuẩn mực, hành vi văn hóa phức tạp trong đời sống…; nếu không anh ta sẽ chỉ là một “người quan sát cẩu thả” hoặc một “con mọt sách” không có bất cứ mối liên hệ tinh thần nào với đối tượng anh ta muốn nghiên cứu (điều này cũng đúng với tôi hay bất cứ ai khác nếu muốn trở thành một nhà “Đức học”). Qua hai bài viết của Patrick Raszelenberg, tôi nghĩ có lẽ ông chưa có sự bảo đảm chắc chắn về tư chất khoa học trong vấn đề này, ít nhất ông cũng chưa biết “cách” sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp với từng đối tượng riêng, và như thế, nhận xét của Tâm Nguyên rằng ông đã “phê phán nặng tay… hoàn toàn quá lời… không nên” và thái độ khá gay gắt của Trần Ngọc Vương đối với bài viết của ông là điều hoàn toàn có thể chia sẻ. Tương tự như phản ứng của anh cầu thủ bị xoa đầu (hành động này ở Việt Nam thường chỉ sử dụng với trẻ em) việc gọi Trần Đình Hượu cộc lốc là “Hượu” thường bị người Việt coi là “xách mé”, “suồng sã”, “hỗn” đối với người lớn tuổi hơn mình. Theo tôi, ông cần tìm hiểu kỹ lưỡng hệ thống những chuẩn mực ứng xử văn hóa tương ứng với hệ thống các quan hệ của người Việt trong sinh hoạt xã hội thì mới tạo ra một trong những cơ sở ban đầu để “hiểu” văn hóa Việt.

    Tuy nhiên, kỹ năng sử dụng tiếng Việt dù sao vẫn còn hạn chế (tôi không chê trách điều này), tình trạng nắm chưa thấu đáo các chuẩn mực ứng xử được thể hiện trong bài viết của Patrick Raszelenberg mới chỉ là một nguồn cơn gây nên sự bất bình, nguồn cơn quan trọng hơn là thái độ của ông thể hiện trong bài viết. Dẫu ông đã nhận ra sự “thiếu chừng mực”, và khẳng định: “bản thân tôi cũng ghét nồng nàn truyền thống tân thuộc địa, một trường phái đáng trừ bỏ, chỉ coi Việt Nam như một con vật hiếm trong Thủ Lệ để người Âu - Mỹ nhìn chằm chằm và lấy làm lạ. Theo tôi, chẳng có gì khả ố hơn trường phái đó và nó xứng đáng bị chống lại bằng mọi giá” thì tôi vẫn muốn nói rằng chính cái điều ông “ghét nồng nàn” kia lại có thể nhận ra rất rõ (xin nhấn mạnh - NH) trong toàn bộ bài Nguyễn Phan Thịnh và Trần Đình Hượu: hai lối tư duy hổ thẹn hay khiến phải hổ thẹn?, đặc biệt là qua cung cách ông phỉ báng niềm tự hào chính đáng về quá khứ của dân tộc Việt. Những nền tảng của tư duy duy lý lạnh lùng, thói quen thực chứng có thể bảo đảm cho ông sự chính xác trong khi nghiên cứu những con số, những sự kiện xác thực và cụ thể, song chúng sẽ làm hại ông khi nghiên cứu văn hóa - lĩnh vực mà “tính biểu tượng” còn cho phép người ta có thể hiểu sự vật hiện tượng nào đó theo một thứ “lôgíc phi hình thức”. Chính vì thế Patrick Raszelenberg mới cả gan dè bỉu mối đe dọa bị xâm lăng thường xuyên của người Việt chỉ là “huyền thoại”, coi khát vọng đi tìm “tuổi thời gian” của dân tộc Việt Nam là “bắt nguồn từ một khái niệm lịch sử không rõ ràng và một khái niệm văn hóa tạp nham”, mỉa mai cuộc kháng chiến chống xâm lăng ở thời Trần là “một ngoại lệ”… Và tôi thấy rất kỳ quái vì Patrick Raszelenberg đã bất chấp thực tế rằng trong tiến trình lịch sử của mình, người Việt luôn luôn phải nhìn về phương Bắc đề phòng các cuộc xâm lược. Đối với ông, những sự thật lịch sử như hơn một nghìn năm đô hộ của phong kiến Trung Hoa (từ năm 111 TCN - khi chính thức lệ thuộc vào nhà Hán, đến năm 938 - Ngô Quyền chiến thắng trên sông Bạch Đằng) và từ khi người Việt giành được quyền tự chủ thì mỗi lần Trung Hoa thay đổi triều đại là có ít nhất một lần xâm lược Việt Nam (Tống - Lý, Nguyên - Trần, Minh - Lê, Thanh - Tây Sơn…) đều không có ý nghĩa gì.

    Qua các vấn đề trên, tôi nghĩ ở đầu thế kỷ XXI này khó tìm ra một nhà nghiên cứu văn hóa lại thấy khoái cảm trong khi nhục mạ cả một cộng đồng người cùng với truyền thống văn hóa của họ như Patrick Raszelenberg đã làm.

    3. Trong bài viết thứ hai, Patrick Raszelenberg luôn “vòng vo Tam Quốc” cố lẩn tránh vấn đề then chốt nhất là văn bản ông sử dụng, nhưng lại dành khá nhiều chữ nghĩa để bác bỏ ý kiến của Trần Đình Hượu coi Nho giáo là “xương sống của khối liên kết”. Ông cố gắng thuyết phục bằng những dẫn liệu rối rắm về lịch sử với một lối hành văn uốn éo, mập mờ. Và Patrick Raszelenberg mừng rơn chộp lấy những điểm được Tâm Nguyên đồng tình để biện hộ cho mình, tảng lờ tình huống Tâm Nguyên cũng mắc phải sai lầm về văn bản như ông, và Tâm Nguyên cũng đã tự bộc lộ như không phải là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, ví dụ: “Điều đáng kinh ngạc là ở đây Nho giáo được xem là “xương sống của khối liên kết đó”. Đúng hơn phải nói rằng trong số các yếu tố ấy, Nho giáo tác động mạnh nhất hoặc có tác dụng lớn nhất ở Việt Nam. Trình bày theo kiểu như thể những yếu tố khác chỉ hình thành và phát triển quanh cái lõi Nho giáo là không chính xác”. Ở đây, nói như Patrick Raszelenberg cũng đúng hơn Trần Đình Hượu, Nho giáo chỉ cho tới thế kỷ XI và đầu thế kỷ XII, khi Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu và Nhân Tông cho mở khoa thi Minh Kinh đầu tiên, lúc đó Nho giáo mới được “chính thức” trở thành “một trong những chương trình giáo dục” được học tập, giảng dạy “Khổng học” bên cạnh những “đề mục giáo dục, những “gia huấn” của đình chùa, gia đình, thành ra không thể bảo Nho giáo là “xương sống của khối liên kết đó”, ít nhất là từ cuối đời Trần về trước, khi Phật giáo còn ảnh hưởng rất lớn từ cung đình ra tới làng xã, mà Trần Quốc Vượng gọi là thời kỳ “quân chủ Phật giáo”, rõ nét hơn từ ba triều Tiền Lê - Lý - Trần. Trong trường hợp này, tôi không đọc nhầm thì ông Tâm Nguyên tán thành cách đánh giá về Nho giáo của tôi hơn (“Ở đây, nói như Patrick Raszelenberg cũng đúng hơn Trần Đình Hượu)”.

    Theo tôi, ý kiến của Patrick Raszelenberg và Tâm Nguyên về vấn đề Nho giáo có phải là “xương sống của khối liên kết” hay không là ví dụ điển hình về hạn chế của cái nhìn thực chứng ở hai ông đối với lịch sử. Nhưng lịch sử trong những “éo le” của nó đôi khi rất khó có thể rạch ròi, nhất là với một quốc gia không giàu truyền thống làm sử và lưu giữ sử liệu như Việt Nam (chưa kể các sử liệu thất lạc, mất mát do chiến tranh, loạn lạc, thiên tai). Nhìn lại lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy sau khi Lý Công Uẩn thiết lập nên triều đại nhà Lý, ông đứng trước bài toán cần có lời giải là xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế tập trung, vừa để khẳng định chủ quyền, vừa để tập trung được sức mạnh đương đầu với cuộc xâm lược của nhà Tống. Một nhà nước như thế phải được xây dựng trên nền tảng một hệ thống giá trị tinh thần có thể giữ vai trò định hướng, mang tính “xương sống” và thế tục, nghĩa là mang tính ý thức hệ như ngôn ngữ ngày nay vẫn dùng. Học thuyết cung cấp cho giới lãnh đạo dân tộc khi đó một công cụ tinh thần hữu hiệu như vậy chỉ có thể là Nho giáo chứ không thể là Phật giáo. Tuy nhiên, thực tế của sự phổ biến của Phật giáo trong cộng đồng cư dân từ trước lại là điều mà họ không thể không tính đến. Các nhà nghiên cứu đã phân tích khá kỹ về việc “con rồng” thời Lý khác với con rồng thời Lê ra sao, nhưng dù các con rồng đó có vây hay không có vây, giống rắn hay không giống rắn thì chúng vẫn cứ là biểu tượng của vương quyền mà trực tiếp là nhà vua - điều không có trong Phật giáo, tức là nhà nước quân chủ lúc này đã được xây dựng theo mô hình Nho giáo, cũng tức là hệ tư tưởng chi phối vương quyền phải là Nho giáo. Xin dẫn lại một sự việc:

    Năm Tân Sửu (1121) sách Cương mục viết: “Tháng Ba, mùa xuân. Có người dâng cây cau một gốc đẻ bảy mầm; nhà vua từ chối không nhận. Nhà sư Vương Ái dâng cau một gốc đẻ bảy mầm. Thái sử Trần Độ nói: “Thứ này không đáng kể là điều lành”. Do đó, nhà vua không nhận”(1). Từ câu chuyện này có thể đặt câu hỏi tại sao một chức sắc Phật giáo lại phải dâng vua một tặng phẩm gần gũi với Đạo giáo như vậy? Phải chăng do vai trò không thật sự chi phối triều đình của Phật giáo?

    Mặt khác, văn hóa Hán đã có mặt ở Việt Nam từ thời Thái thú Tích Quang (1 - 25). Đến thời Sĩ Nhiếp (187 - 226) thì việc học hành bắt đầu được khuyến khích, song văn hóa Hán còn ảnh hưởng trong phạm vi hẹp, tồn tại cùng tầng lớp đô hộ và chưa đủ sức để thôn tính một cơ tầng văn hóa Đông Nam Á đã hình thành và ổn định từ trước (hay bộ máy đô hộ tự thấy không cần thiết?). Tuy nhiên, để tới năm 1070 Lý Thánh Tông (1054 - 1072) có thể cho lập Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và bảy mươi hai người hiền của Nho giáo, cũng như Lý Nhân Tông (1072 - 1127) có thể cho mở khoa thi Nho học với ba kỳ thi thì chắc chắn Nho giáo đã phải có một vị trí nhất định trong xã hội, nói cách khác trước đó nó đã có một tuổi lịch sử nhất định ở Việt Nam (phải chăng bắt đầu từ lúc nhà Đường thiết lập An Nam đô hộ phủ vào năm 678?).

    Một nhà nước xây dựng theo mô hình Nho giáo với bộ máy quan lại của nó, một hệ thống thi cử Nho học để tuyển chọn người tài và các sự kiện như: năm 1232 Trần Thái Tông (1225 - 1258) mở khoa thi Thái học sinh, lấy Tam giáp và giảng Tứ thư, Ngũ kinh ở nhà Quốc học, còn vị học giả danh tiếng nhất thời Trần là Chu Văn An (1292? - 1370) viết Tứ thư thuyết ước… đã cho thấy vị trí hết sức quan trọng của Nho giáo ngay từ khi người Việt giành được quyền tự chủ. Nhưng để có được vị trí ưu thắng trong xã hội Việt Nam, Nho giáo đã phải trải qua đến mấy thế kỷ. Điều này là hiển nhiên vì một nhà nước phong kiến khôn ngoan, có bản lĩnh sẽ không bao giờ cắt đứt mối liên hệ của nó với số đông dân chúng thông qua việc áp đặt đức tin, mà từng bước, nó dần dần làm cho Nho giáo thay thế vai trò của Phật giáo. Trong thực tế có một giai đoạn xã hội Việt Nam ở trong tình trạng “tịnh tồn” của các học thuyết. Từ góc độ tiếp cận triết học, Trần Đình Hượu nghiên cứu Nho giáo trong tư cách một học thuyết triết học - đạo đức, ông tìm hiểu nó trong vai trò là “tư tưởng xã hội” - chỗ dựa tinh thần của nhà nước quân chủ, từ đó ông khẳng định Nho giáo là “xương sống của khối liên kết” - điều theo tôi khó có thể nói khác.

    Thiết nghĩ, Patrick Raszelenberg có thể không đồng tình với Trần Đình Hượu về vấn đề này, nhưng hãy chứng minh Trần Đình Hượu đã sai từ chính các luận chứng triết học - lịch sử của ông chứ không nên chỉ dựa vào một tập hợp của Trương Hồng Quang, hay dựa vào một lượng tri thức sách vở còn chưa lấy gì làm phong phú của bản thân.

    5. Đọc phần Patrick Raszelenberg bàn tới việc Trần Ngọc Vương đứng ra bảo vệ thầy, tôi thấy toát lên cái tinh thần coi Trần Ngọc Vương như một tín đồ cuồng tín. Patrick Raszelenberg hẳn sẽ không viết điều đó nếu ông nhận ra mình đã sai ngay từ điểm xuất phát, hay sai từ cách thức tiếp cận và xử lý văn bản. Sai lầm đó cùng với những ngôn từ quá đà của ông đã buộc học trò của Trần Đình Hượu phải lên tiếng, đó là lẽ thường tình. Ở phương Đông, chưa bao giờ đạo thầy - trò lại kém phần giá trị trong cuộc sống của mỗi con người. Chỉ có điều ngày nay người ta đã thông thoáng hơn trong các lễ nghi và học trò đã dám bác bỏ nếu nhận thấy thầy mình sai lầm. Không biết câu chuyện ông kể thực hư ra sao, không biết ở phương Tây trong quan hệ chiều sâu thì học trò ứng xử với thầy thế nào, nhưng tôi tin dù ở phương Đông hay phương Tây thì cũng không bao giờ có chuyện học trò đem điều thầy tin tưởng tâm sự ra công bố như ông đã làm. Patrick Raszelenberg có thể coi “điều mà Giáo sư Phan Huy Lê đã nói chẳng phải là cái gì đáng trách”. Còn về phần tôi, tôi thấy điều ông nói ra là hết sức đáng trách vì nó liên quan tới tư cách trí thức của Giáo sư Phan Huy Lê, bởi qua đó Patrick Raszelenberg đã công bố việc thầy ông - Giáo sư Phan Huy Lê, đã “bịa” ra các sự kiện lịch sử. Dù Patrick Raszelenberg cả quyết “sự khuyến khích (“bịa” - NH) đó là hoàn toàn hợp lý về mặt chính trị” thì ông vẫn cứ đặt Giáo sư Phan Huy Lê vào một tình huống đáng chê trách, và như thế, ông cần hiểu hành xử của Trần Ngọc Vương theo tinh thần không những chỉ để bảo vệ thầy mình mà còn để bảo vệ các bậc thầy khả kính của mình theo một lôgíc hoàn toàn khác ông.

    Phê phán để giúp vào sự điều chỉnh nhận thức ngày càng đúng hơn vốn là một quyền kinh điển của nhà khoa học. Song, để có thể tiến hành những thao tác vốn vô cùng khó khăn ấy nhà khoa học phải tự chuẩn bị cho mình rất nhiều. Patrick Raszelenberg đã nói rất đúng rằng ông có quyền phê phán, nhưng cái quyền đó sẽ chỉ có ý nghĩa nếu ông đặt nó trên cơ sở của tinh thần cầu thị, còn nếu không nó sẽ đưa ông tới một tư thế khoa học mà tôi tin là ông không muốn có. Hẹn gặp Patrick Raszelenberg vào một dịp khác, sau khi ông đã đọc kỹ và nắm chắc hệ thống luận điểm của Trần Đình Hượu.

    Nguồn: Bàn phím và … “cây búa”. Tiểu luận, phê bình của Nguyễn Hòa. NXB Văn học, 2007.

     www.trieuxuan.info

     

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,813,043

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/