Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,812,049

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

Văn hóa dường như đang chuyển dịch? (2)

Nguyễn Hòa

  • Thứ tư, 17:10 Ngày 15/06/2011
  • Người  quê ở phố

    Vật đổi sao dời, cuộc sống đổi thay, có những sự vật gắn bó với người dân nước Nam đã hàng ngàn năm, vậy mà trong khoảnh khắc chỉ còn là hoài niệm. Những ngôi nhà lợp ngói âm dương. Những chiếc cổng làng cổ kính rêu phong nơi bao thế hệ thảng thốt bồi hồi mỗi lúc đi xa về gần. Những đêm trăng đập lúa, tãi rơm. Tiếng giã gạo phập phùm. Tiếng sáo diều vi vút. Và còn biết bao thứ nữa đang dần dần vắng bóng. Rồi những chiếc giếng làng, nơi chiều chiều các cô gái làng khỏa làn nước trong, uyển chuyển đôi thùng, kĩu kịt đi vào các ngõ tre xanh. Những cảnh ấy hiện giờ ở nhiều nơi như đã đi vào dĩ vãng. Từ ngày giếng khoan xuất hiện, nhiều chiếc giếng làng bỗng trở nên hoang phế. Hàng gạch thấp xây quanh miệng giếng gãy đổ nham nhở, dãy xương rồng trồng chắn lối trâu bò thì xơ xác tiêu điều. Nước trong giếng vẫn ngấp nghé đầy tràn, nhưng làn nước xanh trong ngày trước nay đã chuyển màu, đục ngàu và lập lờ xác chuột. Ngày giếng làng mới bỏ hoang, mấy chú bé còn loai ngoai ngụp lặn, đến khi mấy chú trâu con cũng thích thú ngâm mình giữa làn nước trong thì giếng làng trở thành ao đầm. Lũ trẻ sinh sau đẻ muộn đâu có biết nơi ấy, bên giếng làng, xưa kia cha mẹ chúng đã trao cho nhau cái nhìn đầu tiên. Cũng là nơi chờ khi chiều xuống, cha chúng cùng cánh trai làng, mỗi chàng một chiếc thùng con xách nước dội ào ào, mặc kẻ qua người lại, mặc cho ông bố vợ tương lai cất tiếng “e hèm” nhắc nhở. Thì ngày xưa bằng tuổi con bây giờ, các cụ lại không ra đây dội ào ào hay sao!

                Trong khi các sinh hoạt bên cái giếng làng đang dần dà phai nhạt ở một số làng quê, người ta lại thấy “hồn giếng làng” lù lù xuất hiện trên nhiều hè phố đô thị vào các buổi chiều mùa hạ. Đấy là lúc vài bác trung niên, dăm chàng trai trẻ, mấy chú choai choai, cùng nhau tung tẩy cái thùng con con tiến ra hè phố. Rồi cái cảnh tượng mang không khí trào lộng quanh chiếc giếng làng ngày xưa lại được tái hiện. Người ta bày ra bụng to bụng nhỏ, mình béo mình gày. Hò hét í ới. Cười đùa vô tư như ở chỗ không người, tảng lờ chiếc biển “đường phố văn minh sạch đẹp” được nghiêm cẩn gắn lên cột điện. Thế là hè phố đã trở thành nơi trình diễn thể dục thể hình và cửa hàng trưng bày đồ lót nam giới! Lại nhớ trong những câu chuyện cha kể cho nghe thời tôi còn nhỏ, có một chuyện rằng ngày trước ở Hà Nội, sáng sáng có những anh “culit” đạp xe dọc phố, qua vỉa hè nhà nào còn rác rưởi, anh ta liền viết một cái hóa đơn gài vào cánh cửa, và nhà đó tự giác lên “bốt” nộp phạt. Lớn lên đọc Nhớ và Ghi của Nguyễn Công Hoan thấy có đoạn: “thỉnh thoảng đội xếp đi tuần… Họ đi tới đâu, thì dân phố bảo nhau, vội vàng quét hè nhà cho sạch. Hàng rong, thì ù té chạy. Vì người ta sợ bị phạt” tôi liên tưởng đến chuyện cha kể năm nào và nghĩ, những sự việc tưởng chừng nhỏ mọn ấy nay đang có xu hướng trở nên sống động trong sinh hoạt đô thị.

    Xét từ lịch sử hình thành, thì Hà Nội và rộng hơn là các đô thị khác ở Việt Nam, đến hôm nay xem ra vẫn chỉ là một cái “làng” lớn. Kết luận này có thể “lạ tai” nếu nhìn từ các phương tiện văn minh, nhưng sẽ là “thuận tai” nếu nhìn từ lối sống, thói quen, tác phong… của dân cư. Xưa kia, kinh tế thương nghiệp còn trong tình trạng sơ khai vốn không cần tới quy mô lớn, trao đổi hàng hóa thường dừng lại ở phạm vi địa phương. Bởi thế ngoài các trung tâm quyền lực như kinh đô và các trung tâm hành chính địa phương, thì sự xuất hiện đô thị với tính cách là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa dường như không thật sự là đòi hỏi cấp thiết. Sự phồn thịnh rồi suy tàn nhanh chóng của kiểu đô thị - kinh tế như Phố Hiến là một ví dụ điển hình, và nên lưu ý là hiện tượng này xảy ra cách chúng ta không xa. Khi đô thị không ra đời như kết quả tất yếu của sự phát triển đô thị - kinh tế thì việc tổ chức để đô thị có thể vận hành theo quy củ hiển nhiên sẽ rất dễ lỏng lẻo. Cùng với đó quá trình “phình ra” của đô thị ở một quốc gia nông nghiệp lúa nước, xét đến cùng, là hệ quả của sự tích hợp dân cư. Người ta đến đô thị từ mọi miền, người ta định cư nhưng không thể cắt đứt mối liên hệ với cộng đồng làng xã. Ngay đến cả tầng lớp quan lại, các vị đại khoa… cũng không dám thoái thác nghĩa vụ với nguồn gốc xuất thân (về quê giỗ chạp, dự hội làng, họp “giáp”, nhận phần ruộng…). Điều này góp phần lý giải tại sao cho đến thời hiện tại, những ngày mồng 1, 2, 3 Tết ở Hà Nội thường vắng vẻ, vì nhiều gia đình đã bầu đoàn kéo nhau về quê. Trong một số trường hợp, khi số lượng người cùng một cộng đồng xuất thân tăng lên, người ta còn mang cả thành hoàng làng, cả ông tổ nghề nghiệp theo để thờ cúng, làm hình thành nên các khu phố có cư dân xuất xứ cùng một địa phương, hình thành các “phố nghề”. Rồi theo thời gian, sự tích hợp này cũng biến động với sự xuất hiện của cư dân từ các địa phương khác đến sau, sự xuất hiện của những ngành nghề mới… Và thế là các đô thị dần dà phai nhạt tính chất “nguyên hợp” ban đầu, thậm chí phai nhạt một vài đặc điểm riêng để thay thế bằng sự tích hợp văn hóa từ các cộng đồng không cùng nguồn gốc, với những nền nếp, thói quen, lối sống… khác nhau, với những nét bản sắc khác nhau. Tất cả cùng phối kết làm nên một diện mạo văn hóa mới cho đô thị, và bên những “cái hay” lại không thiếu những “cái dở”. Nếu xem xét từ lối sống, từ quan niệm ứng xử của cư dân nông nghiệp truyền thống, phải nói rằng những tàn dư của “thói vị kỷ tiểu nông tư hữu” còn tồn tại khá dai dẳng trong sinh hoạt đô thị. ở đó nhiều người đã quen với lối “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, “trống làng nào làng ấy đánh”, tâm lý dựa dẫm vào cộng đồng… Phải chăng chính những điều này là nguyên do chủ yếu làm nên sự manh mún, tùy tiện, nhếch nhác của đô thị Việt Nam đương đại và gây sự cản trở không nhỏ đối với lối sống công nghiệp, tư duy công nghiệp - những thành tố văn hóa mới mà chúng ta đang hướng tới? Thiết nghĩ vấn đề phải được giải quyết từ nhận thức của mọi người, từ sự giáo dục đồng bộ, chứ không chỉ từ những biện pháp hành chính. Nếu chúng ta không giải quyết từ cái phần “gốc gác” của nó, thì người dân vẫn xây nhà theo sở thích chứ không theo quy hoạch, rồi khi anh nhân viên môi trường đô thị khuất bóng nơi góc phố là người ta lại tiếp tục “lẳng” ra đường những chú chuột to đùng và đã “ngoẻo” cứng đơ…!

     

    Đại chúng hay rẻ tiền

    Thế là mới đây công chúng truyền hình lại có dịp được cau mày, được xôn xao và được… tiếc thay cho một chương trình ca nhạc quảng bá khá rùm beng từ trước đó hàng chục ngày, ấy là chương trình Sao Mai điểm hẹn. Thôi thì cái chuyện áo váy dị hợm, đầu tóc kỳ khu, liên tục múa tay dậm chân hoặc nhíu mặt nhăn mày, và giọng ca, nếu không lướt thướt ủ ê thì cũng gầm gào “ứ ứ ư ư…” “đá đá đa đa…” của nhiều ca sĩ xứ ta vốn không còn là sự lạ. Song công chúng xôn xao là vì chưa thấy cuộc bứt phá ngoạn mục của các thí sinh mà chỉ thấy thấp thoáng bóng dáng Thanh Lam, Trần Thu Hà và đặc biệt lần đầu tiên họ được tận mắt chứng kiến cung cách làm việc cùng ngôn ngữ thẩm định nghệ thuật của hai ông nhạc sĩ và một ông nhà thơ trong một tổ chức có cái tên rất oách là “hội đồng nghệ thuật”. Trong ba ông này, dẫu dễ tính đên đâu cũng phải công nhận phát ngôn của nhà thơ Đỗ Trung Quân trong đêm diễn thật sự điển hình cho phong cách ngôn ngữ ở các quán trà, bãi bia. Lúc thì ông muốn cổ vũ cho xu hướng trang phục xếch-xi nên ông thắc mắc tại sao thí sinh này lại ăn mặc như là “nữ tu”. Lúc thì ông nhận xét theo tiêu chí điên rằng: “Tôi thấy em hát hơi điên. Nhưng nền âm nhạc Việt Nam đang cần những người điên như vậy. Tóm lại, tôi thích cái điên của em”… Nghĩa là dường như nhà thơ đã quên phéng mình đang ngồi ở đâu, mình đang nói cho ai nghe. Sau khi bị dư luận phản ứng, ông Đỗ Trung Quân liền trả lời phỏng vấn với một tinh thần khá tự tin rằng khi ngồi trong Hội đồng nghệ thuật của Sao Mai điểm hẹn, ông đã “nhìn với khía cạnh nhà thơ” và “cái mới bao giờ cũng bị phản ứng, nhưng đến lần hai, lần ba thì sẽ khác đi” (VietNamNet, 12.7.2004). Nhận xét về nghệ thuật nhăng nhít như thế mà nhà thơ vẫn khẳng định đó là “cái mới” thì có lẽ quan niệm về mới - cũ trong nghệ thuật của ông là nằm “ngoài vùng phủ sóng” của số đông công chúng và liệu có bao nhiêu nhà thơ sẽ chia sẻ với cáí “khía cạnh” này của ông? Đấy là chưa nói nhà thơ còn thanh minh thanh nga rất kỳ quặc rằng ông nói theo “kiểu Nam” nhưng bị công chúng hiểu theo “kiểu Bắc”. Về chuyện này, chỉ xin trích ý kiến của một người tham gia topic về Đỗ Trung Quân trên giaidieu.net là thỏa đáng nhất: “Thật không thể tin nổi điều ông ấy nói ra. Mình là một người miền Nam, điều đó là sỉ nhục. Bạn có thể chọc một người theo cách gọi họ là “điên” với điều kiện bạn là một người thân thuộc của họ. Thử hỏi với người mới quen lần đầu lại bảo mình bị “điên” có chịu nổi không?”. Trong trường hợp này, tôi tin duy nhất chỉ có nhà thơ Đỗ Trung Quân là “chịu nổi”!

                Thật tình thì mấy năm nay công chúng truyền hình đôi khi vẫn phải cau mày và xôn xao khi bắt gặp những sự kiện, những phát ngôn gây phản cảm. Tỷ như họ lấy làm khôi hài khi một bà tiến sĩ khoa học mỗi tuần một lần thao thao bất tuyệt những lời đại ngôn rỗng tuếch trên màn ảnh nhỏ. Và nếu chịu khó làm một thống kê về tần số lặp lại, có thể nhận ra vốn liếng từ ngữ đao to búa lớn của bà tiến sĩ chỉ vào quãng 500 từ và mỗi lần trình diễn bà lại sắp xếp chúng theo một cấu trúc khác nhau. Vậy nhưng tiến sĩ lại muốn tỏ ra là người “yêu thơ” vì có lần bà tuyên bố sẵn sàng đánh đổi cái bằng tiến sĩ của mình lấy một câu thơ của một thí sinh trong Câu lạc bộ người yêu thơ (cũng không biết cái bằng tiến sĩ khoa học của bà có thật sự tồn tại trên đời này hay không, vì nghe nói sau hơn 20 năm rồi bà vẫn chưa đệ trình với cơ quan chủ quản?). Rồi lần khác, khi một cựu chiến binh Trường Sơn kể chuyện về những ngày gian khổ đói ăn thiếu mặc ở chiến trường, chị speaker - nổi tiếng là một người hoạt khẩu, liền hỏi: chắc là lúc ấy các anh nghĩ đến “đùi gà”, sau đó còn cười rinh rích như tự thấy mình đã đưa ra một câu hỏi rất tinh tế, hóm hỉnh (!). Và vào một sáng thứ bảy xem chương trình Chiếc nón kỳ diệu, thấy anh speaker đưa ra câu hỏi về “bản trường ca dài nhất của đạo Phật”, kẻ viết bài này thật sự băn khoăn và mong mỏi được giải đáp, bởi trong vốn liếng tri thức ít ỏi của mình tôi chưa được “nạp” đơn vị kiến thức về bản trường ca dài nhất của đạo Phật. Nhưng đến khi hàng chữ hiện dần lên trên màn hình, tôi thật sự bị choáng và kinh hoàng, vì lời giải đáp đó là… Tây du ký! Lại nghĩ đã đến lúc phải đào tạo lại thì may ra bản thân tôi mới theo kịp trình độ của người đã đưa ra câu hỏi hóc búa kia (!)…

                Hệ thống thông tin đại chúng ngày càng phát triển, về nguyên tắc, nó đòi hỏi ngoài sự chính xác của mọi thông tin đem đến với người đọc, người xem, người nghe, còn cần phải góp phần cung cấp tri thức, nâng cao dân trí, làm phong phú đời sống tinh thần nói chung, đời sống thẩm mỹ nói riêng của xã hội. Trong kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa hạch toán kinh doanh với thị hiếu lành mạnh của công chúng là một bài toán khó giải, nhưng hoàn toàn không có nghĩa đây là bài toán không có lời giải. Tất cả phụ thuộc vào quan niệm, vào khả năng chọn lọc và tinh chế, vào cách thức truyền tải thông tin và đáp ứng nhu cầu. Theo ý nghĩa ấy, không nên hiểu tính “đại chúng” của hệ thống thông tin là tương ứng với dân trí bình dân và chủ yếu nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của công chúng bình dân. Ngày nay dân trí của xã hội nhìn chung đã phát triển, nâng cao và hiển nhiên hệ thống thông tin đại chúng cũng cần phải theo kịp với sự phát triển, nếu xem thường hoặc lơ là vai trò xã hội để chạy theo mấy trò vè vui vẻ rẻ tiền thì không ai khác, chính hệ thống thông tin đại chúng đã góp phần hạ thấp và làm thui chột dân trí của xã hội.

     

    Tình người

    Hôm mới rồi, một người bạn than thở với tôi rằng, X - một bạn học cũ nhưng ít gần gũi, sau mấy chục năm bỗng tỏ ra thắm thiết khác thường. X đưa vợ con đến thăm nhà, rủ đi nhậu nhẹt, quà bánh thì toàn đồ “xịn”, làm cho bạn tôi rất băn khoăn. Mãi về sau, mục đích của X mới lộ ra khi anh ta nhờ bạn tôi đưa đến nhà anh trai - hiệu trưởng một trường THPT của Hà Nội, để xin cho con vào học. Bạn tôi lắc đầu ngao ngán: “Tưởng là nó quý mình, hóa ra nó cần anh trai mình hơn”!

    Quan hệ của mỗi con người trong xã hội quả là đa dạng và phức tạp. Trong đó có quan hệ được gìn giữ đến lúc nhắm mắt xuôi tay, như quan hệ giữa cha mẹ với con cái, giữa vợ với chồng… Lại có quan hệ chỉ diễn ra chốc lát, như khi dừng xe bên đường mua cân thịt, mớ rau, chuyện trò đấy nhưng lần gặp lại thì không biết đến bao giờ. Thế nhưng, dẫu quan hệ có thể đậm nhạt khác nhau, người ta vẫn cần tới một mẫu số chung, đó là “tình người”, là lòng chân thành, là ấn tượng tốt đẹp do mỗi người tạo ra. Cho nên trong cuộc đời, có những người bạn được người ta gắn bó đến mức vui buồn có nhau, là nơi trao gửi những tâm sự riêng tư, nơi tìm thấy lời khuyên bảo, tìm thấy sự giúp đỡ mà đôi khi người ruột thịt cũng khó lòng có được. Với các trường hợp ấy, khoảng cách về không gian, hay sự gián cách về thời gian dường như không nhiều ý nghĩa. Ngay cả trong quan hệ kinh tế, với sự ràng buộc của các hợp đồng tưởng như “vô cảm”, thì nhiều người vẫn có thể tìm thấy những bạn làm ăn tin cậy, lâu dài.

    Song do những biến thái phức tạp của quan niệm về quan hệ, trong cuộc sống vẫn có người lạm dụng các quan hệ với động cơ vụ lợi, thậm chí có người còn đầu cơ quan hệ vì lợi ích cá nhân đến “bất cận nhân tình”. Điều đó đã làm cho tình bằng hữu suy giảm bản chất trong sáng của nó. Tỷ như anh X kể trên chẳng hạn. Anh học cùng bạn tôi từ nhỏ, lại ở cùng một thành phố, hàng chục năm tuyệt nhiên không liên lạc, vậy mà khi có việc cần đến bạn bè thì anh lại vồn vã khác thường. Cho nên bạn tôi “ngao ngán” về X hiển nhiên cũng là điều cần được chia sẻ.

    Mấy năm nay, có một hiện tượng đã và đang trở nên phổ biến trong đời sống xã hội chúng ta, ấy là sự ra đời của các “hội” tự phát với thành phần tham gia là bạn đơn vị cũ, là đồng hương, hay bạn học… Thấy người ta thi thoảng lại rủ nhau về thăm lại chiến trường xưa, về thăm trường cũ, hoặc không có lý do gì cũng tụ tập ở “bãi bia” ngồi nhâm nhi, có người bảo “phú quý sinh lễ nghĩa”, “no cơm ấm cật…”. Nghe thì có lý, song nếu từ quan niệm “vật chất lạnh lùng” đó để xem xét, sẽ không thể lý giải được tại sao những người bạn cũ, tóc đã hai màu, lại ôm lấy nhau giữa những giọt nước mắt nghẹn ngào, tại sao bên đĩa lạc cốc bia, họ lại thì thầm bàn bạc, rồi kẻ ít người nhiều gom góp xây lại ngôi nhà cho người mẹ ngày trước đã đùm bọc cưu mang họ; hoặc tìm cách giúp đỡ, lo công ăn việc làm cho con của “thằng A, cháu của thằng B vì hoàn cảnh gia đình nó khó khăn”… Đến đây tôi lại nhớ tới Hồ Kiểm - chủ một cửa hàng thịt chó bên đê Nhật Tân. Hồ Kiểm là bạn cùng đơn vị với tôi thời chiến tranh. Lâu nay, mỗi năm ít nhất hai lần, nhà Hồ Kiểm trở thành “sào huyệt” của anh em trong tiểu đoàn. Hàng năm, cứ đến 5 giờ chiều ngày 5.7 - ngày chúng tôi nhập ngũ, và ngày 22.12, là Hồ Kiểm lại dành gian nhà rộng mênh mông cho bạn bè hội họp. Không phân biệt kẻ giàu người nghèo, chúng tôi bên nhau tưởng nhớ những người bạn đã hy sinh, hỏi han công việc, sức khỏe của nhau, sau đó là chuyện gia đình. Trên cái sàn nhà ồn ào của Hồ Kiểm, nhiều công việc tình nghĩa đã được triển khai, thậm chí nhiều ý kiến phê phán đã được đưa ra khi mọi người biết trong “hội” có anh chàng nào đó sống và làm việc chưa đúng mực. Mỗi lần như vậy, “đối tượng bị phê phán” chỉ biết đỏ mặt, gãi đầu gãi tai hứa với anh em sẽ nhanh chóng sửa chữa. Và tôi nghĩ tình người là thế đấy, “tình người” đúng nghĩa thì không vụ lợi. Nó góp phần làm cho mỗi người ngày càng tốt hơn. Nó dị ứng với thái độ hợm hĩnh “khinh người rẻ của”, lấy các giá trị vật chất để xác lập quan hệ.

    Hãy đặt một giả thuyết rằng bản thân ta sẽ sống ra sao nếu một ngày nào đó bỗng dưng tất cả những người ruột thịt, tất cả những người quen biết đều nhìn ta như nhìn một kẻ xa lạ, gặp thì không chào, hỏi thì không đáp? Bởi thế có thêm một người bạn là có thêm nguồn hạnh phúc, có thêm nguồn vui không phải khi nào cũng tìm được. Vì vậy, mỗi người hãy biết trân trọng, giữ gìn các mối quan hệ, sao cho khi ta nghĩ về bạn bè và bạn bè nhắc đến ta, đều như thấy cuộc đời này là đáng sống.

     

    Xe buýt thời “hiện đại”

    Những nét mặt lạnh tanh, những cái nhíu mày khó chịu, những cú xoay người mạnh mẽ kèm theo đôi ba tiếng gầm gừ…, đấy là cảnh tượng mà thời nay người ta thường gặp mỗi khi len lỏi dọc theo lối đi của những chiếc xe buýt công cộng. Nỗi khốn khó ấy thỉnh thoảng còn được bổ sung bởi một chú “lơ xe” có tinh thần trách nhiệm cao ngất trời, coi “xe công” như “xe nhà”, quát tháo rầm rĩ, mắng khách xơi xơi. Hãn hữu mới gặp một chú xởi lởi thân tình, xăng xái nhảy xuống nhảy lên, xách giúp túi đồ, bế giùm em bé; hoặc nhã nhặn đề nghị một quý ông mặt mũi hồng hào, áo quần bảnh bao, đăm chiêu nhìn qua cửa sổ suy ngẫm mông lung, nên đã không biết đến việc cần nhường ghế cho chị phụ nữ “bụng mang dạ chửa” đang bám thành ghế nhấp nhổm theo những cú “phanh” gấp nháo nhào. Và thế là đi xe máy thì lo tai nạn, còn đi xe buýt thì “quý khách” phải biết tự răn mình đừng làm điều gì thất thố với cánh nhà xe!

    Lâu nay, sự tích hợp dân cư cùng với phương tiện giao thông cá nhân tăng lên với tốc độ chóng mặt ở các đô thị ở cả hai miền Nam Bắc đã làm cho các đường phố vốn đã nhỏ hẹp lại càng thêm nhỏ hẹp hơn. Nhiều biện pháp đối phó với xe máy đã được thực thi nhưng xem ra vẫn chỉ là “hái ngọn”, còn gốc gác của vấn đề là ở ý thức con người thì mới chỉ dừng lại ở mấy tấm panô hoặc vài chương trình tivi. Chẳng thế mà khi ngồi trong lớp cô giáo dạy bảo phải đi đường đúng Luật Giao thông, nhưng ra đến cổng trường thì các bậc phụ huynh lại hiên ngang “bám trụ kiên cường, một tấc không đi một ly không rời” ngay giữa lòng đường, mặc cho xe tắc người tắc. Mà cũng lạ, cho đến nay chưa thấy ai đặt vấn đề nghiên cứu xem “bụi đường” ở Việt Nam mình có “bổ” hay không mà nếu căn cứ vào sự quan sát thì cảnh sát giao thông - những người hứng bụi đường nhiều nhất, lại là bộ phận xã hội có tỷ lệ “bụng phệ” hơi cao. Từ ngày lực lượng xe buýt trở nên đông đảo, đường phố lại càng đông vui, thậm chí yếu tố thẩm mỹ còn thêm phần sinh động với những “nhà chờ” cách nhau quãng hơn nghìn mét, sặc sỡ xanh đỏ tím vàng, nếu không vẽ cái điện thoại di động Samsung to bằng tấm phản thì cũng có hình cô gái tóc dài đen mượt đi cùng mấy chữ SunSilk… Rồi người ta còn được mục kích các pha đua tốc độ ngoạn mục không kém gì trong phim hành động, ấy là khi những chiếc xe buýt to nhỏ cùng “thi tay nghề” rượt đuổi để tranh nhau đón khách. Còn muốn đến công sở đúng giờ ư, nên đi sớm dăm chục phút, bởi không có gì chắc chắn lộ trình và thời gian đã chọn lại bảo đảm sẽ có mặt đúng giờ như người ta quảng bá. Nghĩa là cần tính toán khấu hao thời gian đi - về nếu không muốn cuối năm bị trừ tiền thưởng!

    Còn nhớ ngày trước, cứ đến ngày đầu tháng lại thấy nhân viên công ty xe buýt đến tận các công sở, trường học bán vé tháng cho mọi người. Nay thì dường như điều đó chỉ còn được lưu giữ trong ký ức của một số người cao tuổi. Vào thời hiện đại, xe buýt chạy như mắc cửu và người ta khuyến khích quý khách đi vé tháng, nhưng muốn mua vé tháng ư (?), xin hãy chuẩn bị cả sức khỏe lẫn lòng kiên nhẫn. Phải chăng do các điểm bán vé xe buýt không chỉ hiếm hoi mà còn bởi “nhà xe” không quan tâm tới quan hệ cung - cầu, không thích bán vé trước mấy tháng liền, nên từ cuối tháng này đến đầu tháng sau ở các điểm bán vé không khác gì xếp hàng thời bao cấp. Và xin có một lời khuyên chân thành rằng quý khách cần rèn luyện cho mình một cánh tay dũng mãnh mới có thể tranh được một suất thò vào cái ô cửa bán vé to bằng cuốn vở ôly. Để thò được cánh tay vào ô cửa, quý khách phải nỗ lực phi thường để chiến thắng những cái đạp vào chân, những cú huých vào sườn và phải biết lắng nghe những lời nói tục văng mạng của mấy chú học trò. Mua được vé tháng này, chưa kịp hoàn hồn đã phải chuẩn bị tinh thần để mua vé tháng sau. Đó là chưa kể lúc vớ phải một ông đại diện cho mấy chục ông đi mua vé tháng, đứng án ngữ ngay cái cửa tò vò thì coi như mất “toi” vài chục phút. Đi xe buýt đã thấy vất vả, nhưng xem chừng dán được cái tem vé tháng cũng khó khăn ra trò!

    Trước Tết, thấy một đoạn đường ở Thanh Xuân (Hà Nội) bỗng dưng được xẻ ra một lối đi bằng hai cái chiếu. Giờ mới biết đó là đoạn đường thí điểm dành cho xe buýt. Ngày đầu vận hành có phần yên ả, có lẽ do vài trăm mét lại có một bác công an hay một anh mặc đồng phục, đội mũ kêpi. Ngày sau vắng bóng nhân viên công lực thì không khí xem ra có phần bất ổn. Hình như người ta quên mất rằng dân mình vốn ưa môn “vận trù học”, khoái đi ngang về tắt, và nghiễm nhiên đường ưu tiên xe buýt lại trở nên quá thuận tiện với những ai không thích qua đường vừa nguy hiểm vừa tốn thời gian. Khôi hài hơn là sau ít ngày đưa vào sử dụng, nhiều xe buýt đã không dám nhận tiêu chuẩn “ưu tiên” mà mò ra đường chính để bon bon cùng thiên hạ vì chất lượng đường ưu tiên đã nhanh chóng xuống cấp. Lại nghĩ “ưu tiên” kiểu này không biết sẽ kéo dài được bao lâu và bài toán giao thông đô thị phải chăng cần tới một cái gì đó cơ bản đồng bộ hơn nhiều, chứ không phải là mấy biện pháp vá víu tạm thời?    

     

    Nón và mũ

    Một buổi sáng Hà Nội trời mưa tầm tã. Đường phố vẫn tấp nập xe cộ, chỉ hơi khác với bình thường là mỗi khi có xe máy phóng qua là nước lại bắn lên tung tóe. Với người đi đường, nếu không sùm sụp áo mưa sau lưng áo loang loáng dòng chữ quảng cáo một loại dịch vụ hoặc một xí nghiệp, công ty nào đó, thì cũng giương cao chiếc “ô Tàu” xanh đỏ tím vàng mà mỗi khi có cơn gió lướt qua lại lật ngược lên trời. Tỷ mẩn, tôi đếm trên đoạn đường 8 kilômét từ nhà đến cơ quan, cả thảy chỉ có năm người đội nón, trong đó có bốn cụ già và một chị sồn sồn. Lại nghĩ, đội nón đi xe máy thì quả là một thách thức khó vượt qua!

                Ngoảnh đi ngoảnh lại, chiếc “nón trắng” - một vận dụng và một biểu tượng gắn liền với người phụ nữ Việt Nam, dường như đang trở nên vắng bóng trong sinh hoạt xã hội. Người ta chỉ còn được gặp nón trắng trên các cánh đồng, trên các nẻo đường làng lúc làm đồng và như là một điều hiển nhiên, việc sắm cho mình một chiếc nón nay đã không còn là nhu cầu của các cô gái ở vùng đô thị. Cuộc sống với tiết tấu nhanh, mạnh, dứt khoát cùng với tính gọn nhẹ, hiệu quả… dường như đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề mới và đòi hỏi sự thích nghi mới. Xưa kia “nón trắng” không chỉ là vật dụng che nắng che mưa, nó góp phần làm nên vẻ duyên dáng của người phụ nữ và như một sản phẩm văn hóa, chiếc nón còn được người Việt gửi gắm vào đó cả những ý nghĩa tình cảm và thẩm mỹ tinh tế. Đó là chưa nói chiếc nón còn là quạt mát, là “gàu” múc nước, thậm chí đôi khi lãnh luôn cả nhiệm vụ của chiếc… ghế ngồi. Tính đa năng của chiếc nón tỏ ra thích hợp với thời kỳ mà sự phong phú, khả năng chuyên môn hóa của các vật dụng còn ở trong tình trạng nghèo nàn, chưa rạch ròi, như ở các xóm chài, thuyền nan vừa là nhà ở vừa là phương tiện mưu sinh. Khi chiếc nón tỏ ra không còn thích hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện đại, người ta đã nhanh chóng thay thế “nón” bằng “mũ” và sự có mặt của nhiều kiểu loại mũ khác nhau, phần nào đã tạo ra sự sinh động trong khi giải quyết mối quan hệ giữa tính hiệu quả với cá tính thẩm mỹ của mỗi người.

                Nhưng với chiếc mũ, câu chuyện cũng không đơn giản, bởi xem ra “mũ” đang bị lạm dụng, có khi đến mức khôi hài. Trong khi “mũ cối” chỉ còn thích hợp với các bác thợ cày, xe thồ, xe ôm thì mũ vải có lưỡi trai dài với vô vàn các biến thể và màu sắc khác nhau đã hiện diện ở mọi chỗ mọi nơi. Bởi đội mũ vải rất thuận tiện nên người ta không chỉ đội mũ khi ra đường, khi làm việc ở công trường, mà đội cả mũ ngồi trong nhà hát và… dự các cuộc họp. Thậm chí tại một cuộc họp quan trọng, vẫn thấy có vị sùm sụp chiếc mũ có in hình ảnh quảng cáo du lịch hoặc hờ hững một trên đầu một chiếc bêrê (béret). Riêng với mũ kêpi (képi) thì sự lạm dụng thiết nghĩ đã đến mức cần phải được chấn chỉnh. Mũ kêpi, trước hết là bộ phận cấu thành có tính bắt buộc và đồng bộ (complet) trong trang bị của một số ngành nghề đặc biệt như quân đội, công an. Đối với các ngành nghề này, ngoài việc gắn lên chiếc quân hiệu như là biểu thị của nhiệm vụ, kêpi còn có ý nghĩa phân biệt chức vụ của từng người, (như kêpi của binh sĩ khác kêpi của sĩ quan). Dần dà, kêpi xuất hiện trong trang phục của các ngành nghề công quyền khác như kiểm sát, hải quan, giao thông công chính… với tính cách là biểu thị nghề nghiệp. Nhưng đến khi kêpi cũng được sắm sanh để trang bị cho các vị trực cửa khách sạn, soát vé ôtô, thu thuế chợ, thậm cả… phường bát âm thì vấn đề đã hơi bất thường. Với các nghề này, phải chăng do kỷ luật nghề nghiệp còn lỏng lẻo, nên có người lúc đội lúc không, hoặc úp lên đầu chiếc kêpi dúm dó, gây phản cảm và làm giảm thiểu sự nghiêm túc. Nón hay mũ xem ra không chỉ là cái đội đầu, vì nhiều khi chúng còn là dấu hiệu thể hiện thái độ văn hóa của mỗi người. Vậy, đội mũ như thế nào, đội mũ ở đâu và không nên đội mũ ở đâu, liệu có phải là những câu hỏi không cần phải trả lời?

     

    Vui chơi nơi công cộng

    Ngày mới vào miền Nam, tôi hơi bị tò mò khi thấy đến ngày nghỉ, nhiều gia đình cùng tay xách nách mang tới các khu vui chơi giải trí như Kỳ Hòa, Đầm Sen, Suối Tiên… để nghỉ ngơi. Thường thì sau khi tìm được nơi ưng ý, các gia đình liền nhanh chóng “hạ trại”, cử người trông nom, rồi tản ra thăm thú, vui chơi, chụp ảnh. Gần trưa mọi người tụ tập trở về. Các bà các cô sửa soạn cơm nước và bữa ăn ngoài trời diễn ra khá rộn ràng. Cánh đàn ông thì nhâm nhi bia rượu, cánh phụ nữ thì vừa gắp thức ăn cho mọi người, vừa hò hét đám trẻ con đang chạy nhảy tung tăng. Cuối giờ chiều, mọi người thu dọn ra về. Qua ánh mắt, tôi biết họ vừa có một niềm vui. Một lần ở Bến Dược - Củ Chi, tôi hỏi chuyện một chị phụ nữ. Chị bảo rằng, nhà chị cách đó hơn 20 km, đi cho “sắp nhỏ” được chơi, phải dậy từ 5 giờ sáng, cả nhà đạp xe. Nhìn đống túi xách lỉnh kỉnh chai lọ, phích nước, bánh trái… của gia đình chị, tôi hiểu hôm nay sẽ là ngày vui của cả nhà. Lần khác ở Tân Uyên (Bình Dương) thì tôi thực sự kính nể, bởi ở đây tôi đã gặp một đoàn xe buýt sáu bảy chiếc đang nổ máy đứng chờ đưa bà con của cả một xóm đi chơi Vũng Tàu. Ông trưởng xóm kể với tôi: đi bốn ngày, đồ ăn đồ uống mang theo, chỉ phải lo nơi nghỉ đêm cho cụ già và trẻ em, còn thanh niên thì mang theo chiếu, đêm ngủ bãi biển. Vui thật!  

    Rồi mấy năm nay, việc đi chơi vào ngày nghỉ cuối tuần như đã trở nên phổ biến. Nhà “đánh” ôtô, nhà thuê taxi, nhà phóng xe máy, nhà cọc cạch xe đạp… Mỗi gia đình một kiểu, tùy điều kiện mà tổ chức và tôi đã gặp họ trên nhiều bãi biển, giữa nhiều khu rừng ở khắp ba miền. Với nhiều người Hà Nội, các địa danh như Đồng Mô, Khoang Xanh, Suối Hai, Công viên nước… nay không còn là xa lạ. Thậm chí người ta còn kéo nhau sang công viên “khủng long” để thuê một chiếc chiếu hay một căn nhà sàn, để được thư giãn giữa tiếng rít ken két của những cỗ xe bánh sắt đang lao lên lượn xuống cùng tiếng kêu oe óe của dăm chú “khủng long” loang lổ vì tróc sơn…

    Tất cả những điều trên cho thấy việc vui chơi và nghỉ ngơi giữa cộng đồng đang thật sự là một nhu cầu văn hóa của xã hội. Nhưng dù ở đâu, dẫu vui đến thế nào, thì người quan tâm tới các sinh hoạt nơi công cộng hẳn không khỏi e ngại bởi hậu quả của các cuộc vui là rác rưởi, là túi ni lông, là giấy gói bánh kẹo, là vỏ hoa quả… bay phất phới, cùng với đó là cây cối tan hoang và những thảm cỏ xanh bỗng chốc trở nên xơ xác úa vàng. Hình như có người quan niệm rằng ở giữa thiên nhiên, ở nơi công cộng thì họ có quyền xả rác và giẫm đạp thoải mái!

    Một buổi trưa dừng chân bên bờ biển Hạ Long, tôi thấy bên gốc dừa có nhóm phụ nữ - nhìn thoáng qua cũng biết họ là nông dân Bắc Bộ, đang tất bật xào nấu trên mấy chiếc bếp ga du lịch. Thi thoảng từ dưới biển chạy lên một hai chú bé ướt lướt thướt, chìa tay xin nắm xôi rồi phóng nhanh xuống nước. Hỏi chuyện, tôi biết họ gồm ba gia đình ở Hải Dương. Họ ra đây bằng xe máy, mang theo thực phẩm, nồi niêu, bếp núc, Halida và CocaCola, vài cái chiếu, chỉ cua ghẹ là phải ra chợ mua. Nấu nướng bày biện xong xuôi, các chị gọi cánh đàn ông cùng đám trẻ con đang bì bõm dưới biển trở về. Và tôi sẽ không chú ý đến họ nữa nếu không tình cờ nhìn thấy sau đó cả ba gia đình cùng hí húi quét tước, nhặt nhạnh rác rưởi đổ vào hộp các tông, rồi bỏ vào thùng rác. Nhìn họ và nhìn xung quanh, tôi tự hỏi không biết mấy ông bụng phệ đang phì phèo thuốc lá, mấy chú tóc đỏ dựng ngược đang bỏm bẻm nhai kẹo cao su, mấy cô áo một gang váy hai gang đang vừa đi vừa gặm mận vàng, mấy mệnh phụ áo hoa quần hoa tay cầm ô hoa đang thả bộ và mấy anh mặt đỏ vừa “trăm phần trăm” vừa hát dân ca…, tất cả đã vứt rác đi đâu, vì ngay dưới chân họ, không biết nên gọi là đường lát bê tông hay là bãi rác ?!

     

    “Mấy ai nắm tay được cả ngày!”

    Gần nửa thế kỷ trước, cùng với cuộc sống mới đang hình thành, dân chúng nước ta cũng bắt đầu làm quen với nhiều khái niệm mới mẻ, trong đó có “nhà tập thể” - một khái niệm mang biên độ rất rộng, từ những dãy nhà cấp bốn lụp xụp đến các khu “lắp ghép” Kim Liên, Trung Tự, sau này là Giảng Võ, Thành Công… Mỗi khi phong thanh có đợt phân phối nhà cửa, các ông bà chủ gia đình làm việc tại cơ quan nhà nước, không ai bảo ai, thường vẫn bằng mọi giá cùng giẫm lên chân nhau giành lấy một suất. Của “trời cho” tội gì không “giẫm”(!). Được cái là thời ấy “tinh thần làng xã” còn khá sâu đậm, sống trong tập thể, mọi người vẫn mang theo thói quen “bán anh em xa mua láng giềng gần” để vui buồn có nhau, nên mọi việc thường diễn ra đầm ấm. Và những việc đại loại như sang biếu hàng xóm bát canh, vay đỡ “bò” gạo, “giật” tạm mươi đồng, thăm hỏi lúc ốm đau..., vốn không phải là sự lạ. Về cơ bản, mọi người đều có ý thức với cộng đồng nhỏ của mình. Đôi khi có mếch lòng, hoặc không vừa ý, người ta cũng “chín bỏ làm mười”. Nhà nào “ăn ở không ra gì” dễ trở thành “tấm gương” để nhà khác dạy bảo con cái…

                Năm tháng qua đi. Khái niệm nhà tập thể đã và đang dần dà phai nhạt, để được thay thế bằng khái niệm chung cư. Kể cũng lạ, từ khi hai chữ chung cư trở nên phổ biến thì dường như quan niệm “cha chung không ai khóc” cũng có cơ phát triển. Những dãy nhà cấp bốn xưa kia nay không còn nhiều, thế vào đó là những ngôi nhà ống mà để khẳng định chủ quyền “sổ đỏ”, gia chủ thường cho xây những bức tường cao hơn hai mét có giăng… dây thép gai. Thế là những con người mới hôm nào còn chạy sang xin bát nước dưa, mượn con dao bổ củi, vay tạm cân gạo… bỗng trở nên xa lạ. Ra đóng vào mở. Rồi là những cái gật đầu lạnh lùng, những cánh cửa đóng im ỉm suốt ngày như muốn đưa ra một thông điệp rằng thời của những “láng giềng gần” đã qua. Với chung cư cao tầng, tình hình lại diễn biến theo một xu hướng khác. Người ta cơi nới bằng mọi cách. Người ta sẵn sàng chấp nhận những cuộc cãi vã (thậm chí ẩu đả) để lấn chiếm vài xăng-ti-met hành lang. Người ta đua ra những chiếc chuồng chim chênh vênh, làm cho ngôi nhà cao tầng nguyên thủy mất dạng và tạo ra điều kiện thuận lợi để xả rác lên đầu nhà khác. Ngoài ngưỡng cửa nhà tôi là thuộc về cộng đồng, mới sinh ra chuyện bi hài là đóng phí vệ sinh thì người ta kêu ca, nhưng rác vun đống trước cửa thì người ta không quét. Rồi những hành lang, những gầm cầu thang năm nào còn sáng sủa, thông thoáng nay trở nên mịt mùng, chất đống những thứ đồ tầm tầm vì chủ nhân còn biết bao lưu luyến, hoặc chưa đủ can đảm vứt đi. Rồi những vỏ chuối, vỏ kẹo, đầu mẩu thuốc lá và… những dòng chữ nhảm nhí trên tường. Rồi những âm thanh xập xình, chát chúa váng tai, buộc hàng xóm phải gân cổ ghé vào tai nhau dẫu là có muốn tâm sự. Rồi những tiếng chí chát lọc cọc liên tục giáng xuống đầu gia đình tầng đưới có trẻ sơ sinh, bất chấp việc cha mẹ cháu đã phải lên nói khó nhiều lần. Nhà của tôi và sở thích của tôi, cứ thử góp ý đi (!).

                Ở vùng nông thôn - nơi còn lưu giữ khá nhiều các giá trị truyền thống, tình hình cũng không sáng sủa hơn khi nơi xưa kia là “dậu mồng tơi” nay đã sừng sững bức tường có gắn mảnh chai bia Tàu và dọc theo những con đường làng lát bê tông là những cống rãnh đầy ắp, ứ đọng nước thải đen ngòm. Rồi tinh thần “tắt lửa tối đèn” đôi khi chỉ còn là vang bóng trong những người cao tuổi, còn cánh trẻ thì không lấy đó làm điều phải có. Trên những cái xe máy rú ga ầm ầm, họ phóng trên đường làng và phun khói mịt mù vào mấy cụ ông cụ bà đang chống gậy thập thò đầu ngõ. Họ tỏ ý khó chịu khi trẻ con hàng xóm kéo nhau sang xem nhờ tivi. Họ sẵn sàng vác dao “xơi tái” trai làng khác nếu muốn mon men tìm hiểu “gái làng ta”. Thế là cùng với sự xuất hiện những ngôi nhà mái bằng tua tủa ăng ten, cuộc sống bình dị sau lũy tre xanh ngàn năm yên ả đang có nguy cơ chỉ còn là hoài niệm. Ở đó, cuộc sống đang có những chuyển dịch theo hướng đi lên, tiếc thay cũng đồng thời lại phát lộ những tín hiệu SOS trong quan hệ cộng đồng.   

    Nhịp sống nói chung của xã hội đang ngày càng gấp gáp, cùng với đó là mức sống của mọi người ngày càng được cải thiện, nâng cao. Quyền cá nhân được tôn trọng và hoạt động dịch vụ rộng rãi, cập nhật đang tạo ra điều kiện để mỗi người được thỏa mãn nhu cầu tùy theo thị hiếu và đòi hỏi riêng tư của mình. Nhưng rồi đây những chuyển động đáng mừng ấy có đẩy tới sự phai nhạt của tình cảm cộng đồng?. Câu hỏi có lẽ cũng cần được trả lời, vì như ông cha chúng ta từng răn dạy: “Mấy ai nắm tay được cả ngày?”.

     

    Đi “trại sáng tác”

                Trong rất nhiều trường hợp quy giản, rút gọn của ngôn ngữ hàng ngày, có lẽ “đi trại” là một trong số những cụm từ chuyển tải trong nó những nội dung hết sức đối lập. Vì trong thực tế, nếu “đi trại” là nỗi e sợ của những anh đầu gấu, những chị cave, những ông tham quan… thì trái lại đối với văn nghệ sĩ, “đi trại” lại mang một ý nghĩa hấp dẫn, bởi đây là trại sáng tác. Nếu làm một tổng kết, mỗi năm cả nước có hàng trăm trại sáng tác của các hội nghệ thuật chuyên ngành của trung ương, các hội văn học nghệ thuật địa phương, của các nhà xuất bản, các cơ quan thông tấn,… được khai mạc. Sơ bộ về hình thức, nếu trung bình mỗi “trại” có 15 đến 20 văn nghệ sĩ tham dự, sau khi bế mạc mỗi tác giả hoàn thành hai tác phẩm, thì mỗi năm sau khi chi ra hàng tỷ đồng chúng ta đã có vài nghìn tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật khác nhau ra “lò” - một con số thật đáng phấn khởi.

                Nếu căn cứ vào dòng chữ ghi dưới các bài thơ, truyện ngắn, bản nhạc, bức tranh…, sẽ thấy các trại sáng tác thường được tổ chức tại các địa danh là nơi nghỉ ngơi giải trí, hay chí ít cũng là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh. Tỷ như Sa Pa, Đà Lạt, Tam Đảo, Nha Trang, Vũng Tàu… Chưa thấy trại nào được tổ chức ở Ximacai, Mùcangchải hay Mường Khương, Lũng Cú, U Minh… (?). Cũng đã có một hai trại được tổ chức ở đất Hà Thành, nhưng một lần nghe tin bạn từ tỉnh xa về dự trại sáng tác ở cạnh Đường Láng, tôi vội đến thăm. Đến ba lần đều không gặp bạn và trại thì vắng teo. Tôi tự nhủ, chắc là trại viên đang “đi thực tế”. Rồi dường như để mở rộng giao lưu, mở rộng tầm nhìn, mấy năm nay còn xuất hiện một hiện tượng thú vị, ấy là địa phương phía Bắc thì mở trại ở phía Nam, ngược lại, địa phương phía Nam thì mở trại ở phía Bắc. Như vậy để đến dự trại, xem ra văn nghệ sĩ cũng vất vả, tốn kém ra trò.

                Ngoài việc có vị đi trại luôn xách theo can rượu quãng năm mười lít, hay có vị “thủ” theo cân kẹo, tút thuốc để giúp tìm cảm hứng sáng tác, trong hành trang của văn nghệ sĩ “đi trại” thường có vài ba tác phẩm đã hoặc sắp hoàn thành, nên trại chỉ là nơi họ nhuận sắc hay hoàn chỉnh tác phẩm. Bên những tác giả tận dụng thời gian, chong đèn suốt đêm để sáng tác, như Triệu Huấn đề ra chỉ tiêu mỗi ngày phải viết mấy trang; hay mới đây Nam Hà tự “nhốt” mình hai tháng ở nhà nghỉ của Quân khu I bên hồ Núi Cốc (trừ một ngày đi xe ôm ra TP Thái Nguyên sắm thêm văn phòng phẩm) đã sử dụng hết vài “gam” giấy, dăm tá bút bi để viết xong bản thảo tiểu thuyết Ngày dài lắm dày hơn 600 trang A4…, lại thấy dăm ba vị “đi trại” với những tình huống khá đặc sắc. Có lẽ do một số trại sáng tác tuy được khai mở nhưng thiếu quy chế nghiệm thu sản phẩm nên có vị đến trại chỉ suốt ngày la cà trà thuốc, rượu bia; có vị dự được nửa thời gian đã “chuồn” với lý do đã tiêu hết tiền giắt lưng, thậm chí có vị đến trại vài ngày, đánh trống ghi tên rồi viện lý do có việc cơ quan hay chuyện gia đình gì đó để xin thanh toán tiền bồi dưỡng và… goodbye! Đặc biệt có vị, nếu lập một thời gian biểu thì dường như luôn sống ở trại. Bởi quan sát từ đầu năm 2004 đến giờ, tôi thấy sau khi rời trại này, ông tạt qua gia đình tạm trú vài ngày, rồi lại khăn gói lên đường đến dự trại khác. Sướng thật, vừa được đi đây đi đó, vừa được chăm sóc chu đáo, lại vừa không… tốn tiền nhà.

                Xét theo các yếu tố xã hội - nghề nghiệp, việc triển khai các trại sáng tác là một trong các biểu hiện của sự quan tâm của xã hội đối với sự phát triển văn học nghệ thuật. Song nếu chỉ quan tâm về mặt hình thức, hay được hiểu như một thứ quyền lợi, thì các trại sáng tác sẽ suy giảm hiệu quả xã hội, nếu không nói còn tạo ra điều kiện để một vài tác giả rong chơi, hưởng thụ mà sao nhãng trách nhiệm. Do đó, sự đầu tư và tính hiệu quả của các trại sáng tác, phải chăng không phải là câu hỏi cần được ra một cách trực tiếp?

     

    Nguyễn Hòa.

    www.trieuxuan.info

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,812,050

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/