Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,811,739

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

Văn hóa dường như đang chuyển dịch? (3)

Nguyễn Hòa

  • Thứ tư, 17:13 Ngày 15/06/2011
  • Nghịch lý thời tin học!                                                                                                  

                Sắm được cái vi tính về nhà tôi hí hửng ra mặt. Từ nay không còn phải nắn nót từng chữ sao cho bản thảo rõ ràng, chỉ cần viết ra giấy còn bao nhiêu đã có vợ lo, mình chỉ cần rà soát lại là xong. Sau vài lần như thế, hoá ra sự vất vả lại bị nhân lên hai lần bởi tôi vẫn phải cặm cụi viết rồi sửa, còn vợ vẫn phải hí húi gõ chí chát và thi thoảng lại la:

    - Anh ơi chữ này là chữ gì?

    Thấy tình hình có chiều phức tạp, tôi quyết định theo đòi một chương trình tin học bằng A, ít ra cũng phải tạo cho mình khả năng biến cái vi tính kia thành cái máy chữ. Nhưng sau vài ngày dò hỏi tôi có phần nhụt chí vì theo như người ta nói thì học tin học không như học làm thơ lục bát, vả lại U40 rồi vẫn còn giương mục kỉnh chen chúc ở một trung tâm tin học cùng mấy cậu choai choai tóc tai xanh đỏ dựng đứng như lông nhím thấy cũng hơi kỳ. Tôi liền đưa ra giải pháp cho con bé lớn học một “cua” tin học, vừa ấm vào thân nó vừa có người hướng dẫn cho mình. Nghe tôi trình bày kế hoạch “nhất cử lưỡng tiện” này, cả nhà hưởng ứng ngay và cháu sách bút đi học.

    Đâu ngờ từ đó tôi đã tự đặt bản thân vào một nghịch lý chưa chắc các ông bố khác dám chuốc vào thân là mỗi ngày bỏ ra một giờ đồng hồ làm học trò của con. Khá trung thành với nguyên tắc “quyền huynh thế phụ”, đối với tôi việc hàng ngày phải nghe con cái chỉ bảo quả là một thách thức. Quen quát tháo, quen giơ roi, giờ phải ngồi nghe những chỉ dẫn đại loại như: “Bố phải làm thế này… Bố phải làm thế kia… Bố làm thế sai rồi… Đơn giản thế mà bố không hiểu nhỉ?...”, liệu có ông bố nào không “cú”. Nhiều lần do học trước quên sau hay vô ý xoá sạch bản thảo mới viết, con lại khúc khích cười bên tai, tôi cáu sườn quát tháo ầm ĩ. Thế là con giận bố bỏ vào buồng, bố tức con ngồi thừ trên ghế. Lát sau thấy mình vô lý, tôi chủ động làm lành, âu yếm gọi con giọng có pha chút ân hận:

    - Con ơi, ra đây bố nhờ một tý!

    Rồi chương trình tin học của tôi dần dần được nâng cao, đến khi con tôi hướng dẫn cách thức sử dụng email, cách thức vào các trang Web thì tình trạng có vẻ gay cấn hơn bởi hiện tượng quát tháo của tôi tăng lên cùng với những checkmail, composemail, search web, download, save as… Song tôi đã kiên trì vượt qua, con tôi cũng kiên trì chịu đựng để đến ngày bố nó có thể thao thao bất tuyệt những kỹ năng, ngón nghề tin học hơn hẳn mấy tay còn thiếu tự tin khi ngồi trước vi tính. Chẳng là tôi có một hội bạn bè thân thiết từ nhỏ, bọn tôi lập ra một “mail đàn” gần bốn chục email để hàng ngày liên lạc. Trên “mail đàn” bọn tôi chia sẻ mọi vui buồn, tham khảo ý kiến… và bàn luận đủ chuyện trên đời, từ kinh nghiệm luộc gà tới tình hình Irắc. Hoạt động của “mail đàn” rất rôm rả, nhưng cứ vài tuần lại xảy ra một sự cố, dù trong bọn tôi có tới gần hai mươi tiến sĩ khoa học tự nhiên. Tay thì viết chữ Việt không dấu làm mọi người suy luận lung tung, nhiều khi rất buồn cười. Tay thì chẳng biết thế nào lại gửi cho mọi người một cái mail chữ nghĩa loằng ngoằng như chữ Arập. Tay thì viết không dấu sợ bị xuyên tạc nội dung nên mỗi từ đều kèm theo một ký hiệu, trông cái mail như bức điện tín. Lại có tay kết thúc mail trang trọng viết: “Tớ xin dừng bút ở đây” liền bị tay khác nhắc nhở phải viết là: “Tớ xin dừng bàn phím ở đây”. Các sự cố trên “mail đàn” trở thành một đề tài tranh cãi sôi nổi của bọn tôi mỗi khi tụ tập. Chính lúc này tôi mới khám phá ra ngoại trừ mấy tay đang làm nghề hoặc đã học qua tin học, phần lớn các tay còn lại đều nhờ con cái làm hộ hoặc nhờ con cái dạy cho. Về phần mình tôi dấu biệt “trường” đào tạo của mình, mà còn tỏ vẻ hợm hĩnh “cười vào mũi” một tay tiến sĩ toán học không phân biệt được sự khác nhau giữa VnTime và VniTimes! Bạn tôi là Bùi Quang Ngọc (Phó Tổng giám đốc FPT) lắc đầu bảo tay tiến sĩ này rằng: “Thằng Hoà nó làm văn chương mà còn thành thạo vi tính hơn mày!” làm tôi sướng phổng mũi, bụng bảo dạ quyết không bao giờ giới thiệu cho ai đến tu luyện ở cái “lò tin học” đã đào tạo ra mình. Tuy nhiên tôi vẫn âm thầm tự hỏi không biết lúc học theo con cái liệu bọn này có quát tháo không nhỉ?!  

    Sử dụng vi tính trong giao tiếp công việc tôi còn phát hiện ra so với nhiều bạn nghề tôi vẫn còn khá chán. Một lần, sau khi biên tập bài vở của bác PGS TS X, tôi gọi điện hỏi bác có email để gửi bài bác đọc lại. Bác trả lời “có” và đề nghị gửi sớm. Đàm thoại xong không thấy bác đọc email. Chờ ba ngày không thấy bác nói gì tôi cũng sốt ruột, hay là ông này không cần. Dẫu thế tôi vẫn gọi lại, bác trả lời:

    - Chú nói chuyện với chị nhé!.

    Tôi ngớ người không hiểu tại sao lại phải nói chuyện với bác gái vì tôi biết nghề nghiệp của chị không liên quan tới văn chương. Bác gái cầm máy đọc cho tôi email rồi trao điện thoại cho bác trai chuyện trò tiếp. Tôi đoán hình như bác trai không biết cách đọc email! Về sau gặp nhau bị tôi trêu, bác trai tủm tỉm thật thà:

    - Máy móc nhà mình toàn cô ấy sử dụng!

                Riêng hai bác PGS TS Y và TS Z thì mỗi bác có một cuốn sổ, sổ bác Y màu xanh, sổ bác Z màu nâu. Mỗi khi cần vào Internet, hai bác đều giở sổ để trước mặt, vừa đọc vừa tuần tự di “chuột” bấm phím theo đúng quy trình hướng dẫn đã được chép cẩn thận. Lạ một điều là sử dụng vi tính mấy năm rồi mà hai bác vẫn kiên trì chịu đựng sự chi phối của cuốn sổ, đã vậy tôi gọi luôn bác Y là “ông sổ xanh” và bác Z là “ông sổ nâu”. Một hôm “ông sổ xanh” thông báo gửi cho tôi một mail có files đính kèm. Gửi ba lần tôi vẫn không nhận được, ông bảo tôi: “Máy mày hỏng rồi”. Tức khí tôi phi thẳng đến nhà bác. Bác cười tôi tỏ vẻ coi thường rồi giở cuốn sổ xanh tiếp tục thao tác từng bước và gửi thư vào email của tôi. Lát sau bác bảo tôi mở email, tôi mở và vẫn không thấy thư. Liền tranh thủ ngó nghiêng cái vi tính, hoá ra trình duyệt Outlook Express có vấn đề gì đó mà bác không biết!

     

    “Lang thang trên mạng” từ Sa Pa sang Bắc Hà!

                Một lần xem TV thấy ông bạn Trần Đăng Khoa đang cặm cụi “gõ thơ” trên máy vi tính xách tay dưới ánh đèn dầu leo lét ở một bản người Thái, tôi rất nể. Thậm chí còn tán thêm với hắn rằng đó là hình ảnh vừa tương phản vừa có khả năng chứng minh sự chung sống bình đẳng và lý thú giữa văn minh nông nghiệp với văn minh tin học ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Khoa ta rất khoái, giở ngay cái vật dụng nửa cặp nửa túi đeo bên mình lôi ra một chiếc vi tính mỏng dính hắn mới “lên đời” để khoe với tôi. Thật tình từ ngày được hắn bổ túc cho mười lăm phút tin học đến giờ tôi cũng bị lây cái thói đam mê vi tính của hắn. Đi làm về, thường là một tay tôi đặt túi vào góc bàn, một tay bật công tắc khởi động để thay quần áo xong là có thể ngồi trước vi tính, đỡ mất thời gian chờ đợi. Trước hết mở email đọc thư từ, sau đó ngó nghiêng một số tin tức cập nhật rồi mới quay ra cơm nước. Ngày nào cũng vậy rồi “ghiền” lúc nào chẳng hay. Cho nên mỗi lần đi công tác dài ngày tôi rất khó chịu, có thời gian là lập tức đi mò cửa hàng Internet. Gặp phải vùng nào không có là bứt rứt như thiếu một cái gì.

                Một hôm trên đường công tác từ Lai Châu sang Lao Cai, sẩm tối bọn tôi dừng chân ở Sa Pa. Nhà văn Sương Nguyệt Minh rủ ra phố chơi, tôi nhất trí ngay, phần tò mò phần đã mấy hôm chưa lang thang trên mạng. Phố núi đầu xuân vắng hiu vắng hắt, lạnh căm căm, mới gần tám giờ mà sương mù đã xuống dày đặc, tầm nhìn chỉ vài ba mét. Hai anh em kéo áo kín cổ, khăn mũ xùm xụp dò dẫm đi trong ánh sáng khi mờ khi tỏ hắt ra từ dãy đèn đường. Mùa đông vắng khách, hàng quán hầu như đóng cửa. Đi chồn cẳng không tìm được nơi nào ngồi uống nước, Sương Nguyệt Minh bảo đi về, tôi nì nèo chỉ ánh đèn cuối dốc đá. Chỉ hú họa té ra được việc, đó là một cửa hàng Internet. Bước vào thấy mấy cô cậu ngồi so ro dán mắt vào màn hình ngắm minh tinh màn bạc, còn ông chủ ngồi trên ghế vắt chân lên bàn mắt lim dim ra giá 30.000 đồng/giờ - một cái giá đáng khâm phục vì đắt gấp mười lần ở Hà Nội. Đành ngồi hơn chục phút cho đỡ nhớ rồi chuồn.

                Hôm sau chúng tôi tiếp tục đi, lịch trình cố gắng thu xếp để thứ bảy có mặt tại Bắc Hà thăm chợ phiên chén thắng cố. Chợ Bắc Hà nhộn nhịp, thấp thoáng ông tây bà đầm cao lớn nhô lên hẳn một cái đầu. Loanh quanh mấy vòng trong khu chợ đã bị “Kinh hoá” nhiều tôi không thấy hấp dẫn, vả lại cũng không uống được rượu, thắng cố gần trưa mới có, tôi mò ra cổng chợ. Đi một quãng gặp một cửa hàng Internet liền bước vào. Nhìn mấy chục cái màn hình còn phủ vải kín mít, biết người ta chưa mở cửa, tôi gọi toáng lên. Lúc ấy chị chủ béo tốt mới lạch bạch chạy ra nở nụ cười đãi khách:

                - Bác vào chơi, chả hiểu sao từ hôm qua đến giờ chỉ có mỗi máy chủ nhà em là làm việc, sáng nay cháu nó đã ra thị xã mời thợ, phải trưa mới về. Bác có biết thì xem hộ em cái máy.

    Tôi trả lời mình cũng chỉ là tay lơ mơ không biết gì đâu, nghe vậy chị khởi động máy chủ, miệng báo giá 15.000 đồng/giờ. So với Sa Pa vẫn còn rẻ chán, tôi ngồi vào luôn. Đang mê mải ngó nghiêng bỗng nghe xì là xì lồ ngoài cửa, nhìn ra thấy một tốp ông tây bà đầm vừa đi vừa gặm ngô bước vào. Họ vung tay ra hiệu với chị chủ, chỉ nghe chị “thanh kiu, thanh kiu”, tôi quay ra làm tiếp. Lát sau bỗng thoang thoảng sau lưng thứ mùi là lạ, thơm phức như nước hoa, khét như ống tre để gác bếp, hôi như quần áo mặc xong để lâu ngày chưa giặt. Ngoảnh lại, té ra một bà đầm vác ghế ngồi ngay sau lưng tự bao giờ. Bà ý tứ không nhìn vào hướng màn hình nhưng nét mặt tỏ vẻ mong tôi sớm kết thúc công việc.

                Lại thấy một toán ông tây bà đầm khác thập thò ngoài cửa, lại nghe họ xì là xì lồ, lại nghe chị chủ nhà “thanh kiu, thanh kiu”. Tốp vào sau đông hơn, không có người nào gặm ngô chỉ nghe họ cười nói chỉ trỏ những chiếc gilê thổ cầm đang khoác trên mình. Tôi cố làm xong việc để nhường cho họ. Tuy nhiên tôi lại bị phân tâm vì có một ông một bà đi ra phía sau cái bàn vi tính tôi đang ngồi. Họ vặn vặn kéo kéo gì đó rồi khoát tay mời tôi đứng dậy. Không biết đầu cua tai nheo ra sao, tôi loay hoay đứng ra bên cạnh, tò mò dõi theo họ. Ông tây gõ gõ bàn phím mấy cái xong lại đi ra phía sau. Lại thấy ông lom khom chui xuống gầm bàn nhấc mấy sợi dây điện. Bà tây cũng cúi nhìn vào, rồi họ phá ra cười. Chắc vẻ mặt tôi lúc đó cũng kỳ khôi nên ông tây ra hiệu mời tôi cùng ngó. Vừa ngó vào, thị giác và khứu giác tôi lập tức phải làm hai việc: mắt nhìn đoạn dây điện bị chuột cắn đứt hai đầu xơ tướp, còn mũi ngửi thứ mùi dở nước hoa, dở ống tre để gác bếp, dở quần áo mặc xong để lâu ngày. Chắc rằng hôm đó nếu ai nhìn vào cái gầm bàn nhấp nhô ba bộ bàn toạ tây ta lẫn lộn chắc cũng phải phì cười. Tôi chui ra, vừa gật đầu lia lịa vừa toe toét ra cái điều hiểu biết, rồi nhanh nhảu gọi chị chủ nhà để giải thích. Chị hớn hở chạy vào nhà trong lấy con dao. Việc xong xuôi, tôi thanh toán rồi đi. Lát sau trên ô tô ngó vào thấy cả dãy màn hình sáng trưng. Lại thương cho anh chàng phóng xe ra tận thị xã Lao Cai có lẽ trở về công cốc chỉ vì một sợi dây điện đứt!

               

                Tôi mặc cả, anh mặc cả, chị mặc cả…!

                Ngày còn nhỏ, sáng chủ nhật tôi thường lon ton theo mẹ đi chợ Đồng Xuân. Thời ấy ở Hà Nội chưa có nhiều chợ như bây giờ, chợ “cóc”, chợ “xổm” lại càng không có, nên chuyện “lên Đồng Xuân” mua con cá mớ rau cũng là chuyện bình thường. Hôm đi tàu điện, hôm cuốc bộ dọc phố Hàng Ngang - Hàng Đào… Lạ một cái là đi như thế nào thì hai mẹ con tôi cũng về muộn. Mà đã đi chợ về muộn thì chắc chắn cơm trưa cũng muộn nốt. Anh chị tôi kêu đói thì mẹ tôi bảo tại tôi hay“lẵng nhẵng”. Ngẫm lại, tôi thấy mình cũng “lẵng nhẵng” thật. Nguyên cái việc tôi đứng gần cửa chợ say mê ngắm nghía mấy khẩu súng đen sì, mấy thanh kiếm sáng loáng, mấy chiếc mũ sắt, cùng quả bom “ba càng”… của các anh cảm tử quân chiến đấu ở chợ Đồng Xuân năm 1946 được trưng bày trong mấy chiếc tủ kính cũng tốn vô khối thời gian.

                Lớn lên một tý, sự lẵng nhẵng của tôi cũng bớt dần, tôi vẫn theo mẹ đi chợ Đồng Xuân và thi thoảng mẹ con tôi vẫn về muộn. Về sau tôi để ý, hình như mẹ tôi tốn hơi nhiều thời gian vào việc “mặc cả”. Mà đâu phải chị riêng mẹ tôi, hầu như ai đi chợ cũng vậy. Có lần, chị hàng rau bảo một hào một mớ rau muống, mẹ tôi trả một hào rưỡi đôi. Cò kè mãi chị hàng rau mới đồng ý. Đến khi trả tiền thì cả mẹ tôi và chị hàng rau đều không có tiền lẻ. Cuối cùng là vẫn một hào một mớ! Về nhà tôi kể lại với các anh chị, mấy anh chị em cười ngất, mẹ tôi thì cau mày: “Không mặc cả để họ lừa mình à!”. Đó là chưa kể đôi khi mẹ tôi vừa xách làn về đến cửa, mấy bác hàng xóm xúm vào hỏi giá cả thứ ấy thứ nọ thế nào, trao đổi xong, ai thấy mình mua được hàng rẻ thì tươi roi rói, ai thấy mình mua phải hàng đắt thì ánh mắt buồn mênh mông!

                Khi tôi lớn lên thì cha mẹ cũng đã già, các anh chị người đã ở riêng, người làm việc ở tỉnh xa, nên nhiều hôm tôi có nhiệm vụ thay mẹ đi chợ. Bắt chước mẹ, tôi cũng mặc cả ra trò. Hiềm một nỗi là dù tôi mặc cả đến thế nào thì cũng ít khi mua được cái gì đúng giá. Thấy người ta bảo mười, tôi trả tám, cứ nghĩ như thế là vừa. Ngờ đâu về nhà mẹ tôi bảo cái này chỉ đáng năm thôi và lại tiếc hùi hụi. Lần sau, tôi người ta bảo mười, tôi quyết chỉ trả đúng năm. Người ta không bán, tôi tỏ vẻ bất cần, đi luôn. Đi mãi chẳng tìm thấy thứ cần mua, đành quay lại. Vẫn phải mua với cái giá mười như ban đầu lại còn được tặng thêm một câu nói “kháy” của chị bán hàng: “Con nhà ai mà vắt cổ chày ra nước thế em?”. Tôi nguây nguẩy bỏ đi. Vừa tức vừa buồn cười.

                Càng về sau tôi càng thấy chuyện “mặc cả” gần như đã trở thành thói quen của người Việt mình. Mua thứ lớn tiền thì mặc cả đã ra một nhẽ, mua cái thứ dăm đồng bạc cũng mặc cả cho ra điều phân minh. Đi chợ, rồi lang thang đi mua sắm nhiều lần, tôi rút ra một kinh nghiệm thiết thân là cứ đi theo các bà các chị, xem họ mặc cả rồi mua theo. Thủ pháp này xem chừng khá hiệu quả. Lần nào về nhà cũng được vợ con khen nức nở. Ấy vậy mà một hôm tôi đi mua sườn lợn lại gặp phải một chuyện thật trớ trêu. Dạo đó trời nắng, sườn lợn và cua đồng đắt như tôm tươi. Loanh quanh mái mới tìm thấy một quầy bán sườn có mấy bà mấy chị đang xúm xít, tôi xông ngay vào. Chị bán sườn ra giá 1.500 đồng một lạng. Mấy bà mấy chị đang cò cưa, người trả 1.200 đồng một lạng, người bảo 2.500 đồng hai lạng. Tôi chờ xem ngã ngũ ra sao rồi mới mua. Bỗng một cô to béo phóng xe máy vụt đến, phanh kít. Cô gác một chân lên vỉa hè, miệng hỏi: “Sườn bao nhiêu?”. Chị bán hàng trả lời: “1.500 đồng một lạng”. Cô to béo vừa khoát tay vừa dõng dạc: “Cân hết, cho vào đây”, rồi cô thảy lên bàn cái làn nhựa to đùng. Chị bán hàng nở một nụ cười mãn nguyện, ném sườn lên bàn cân thoăn thoắt. Mấy bà mấy chị tiu nghỉu đi ra. Tôi cũng lẽo đẽo theo sau. Bụng bảo dạ: “Đúng là vớ phải cao thủ, mua không tiếc tiền!”.

                Ngẫm ra, chuyện “mặc cả” có nguồn gốc từ cả người bán lẫn người mua. Người mua muốn mua rẻ, còn người bán mong bán đắt. Nhưng xét đến cùng thì dường như người mua có phần nghiêm chỉnh hơn, vì trong nhiều trường hợp không ai khác mà chính người bán đã đẩy người mua vào tình thế phải mặc cả. Như một tình trạng chung của nhiều cửa hàng ở Việt Nam hiện nay là hàng hóa chiếc nào chiếc nấy niêm yết giá cả đàng hoàng, vậy nhưng nếu chịu khó nhấc lên đặt xuống vài lần rồi trả một cái giá thấp hơn, người ta sẵn sàng bớt cho chút ít, nhất là với loại hàng hóa đắt tiền. Hóa ra cái giá được niêm yết kia chỉ để “lừa” những người mua đã gửi gắm niềm tin cậy vào sự chân thực. Rồi có một loại hiện tượng đặc biệt hơn nhiều là vẫn cái quần ấy cái áo ấy, chất liệu ấy, nhãn hiệu ấy, đến màu sắc cũng chẳng khác nhau, ở cửa hàng bình thường thì bán một giá, song vào trong “sốp” thì người ta có thể bán với một cái giá cao ngất trời. Phải chăng chiếc quần, chiếc áo kia còn phải “gánh” thêm cả tiền máy lạnh, tiền tủ kính, tiền manơcanh…?

    Riêng với các hàng bán rong thì giá cả thật là vô bờ bến. Ai đời lại có lối mua bán kỳ quặc đến mức người bán tuyên bố với người mua rất sòng phẳng: nếu mua không mặc cả thì “cân đủ”, nếu mua có mặc cả thì “cân thiếu”. Mà cái sự thiếu - đủ thường rất đáng ngờ vì người ta đưa ra một cái cân cũ kỹ, mòn vẹt, hoen gỉ…, đủ để người mua ngỡ chiếc cân có tuổi đời cao hơn cả người bán hàng! Một lần tôi đứng mặc cả mua một chiếc chổi lau nhà với một anh chàng bán hàng rong. Anh ta bảo giá 20.000 đồng. Tôi trả 17.000 đồng, anh ta lắc đầu. Bỗng vợ tôi từ ban công nhìn xuống nói to: “12.000 đồng đấy anh ơi!”. Anh chàng ngẩng lên cười rồi bán cho tôi với giá đúng 12.000 đồng. Tôi bảo: “Chú mày nói đúng giá phéng cho xong, nói thách làm gì cho anh mất thời gian?”, anh chàng trả lời tỉnh queo: “Em cứ nói thế, chị nhà anh biết giá rồi thì thôi, em mà vớ được một “con gà” thì có phải là kiếm thêm được mấy đồng không!”. Với nguyên tắc mua bán ấy thì có lẽ đành phải chào thua chú em! Tình trạng cứ tiếp tục như thế thì chẳng biết đến bao giờ tôi, bạn và mọi người mới dám đoạn tuyệt với hai chữ “mặc đây cả” nhỉ? Chắc hẳn là còn lâu lắm vì hình như cho đến nay, nhiều thương nhân nước nhà vẫn chưa coi kinh tế hàng hóa cũng đòi hỏi cả lòng trung thực!

                                                                                                                            

    Nhậu tới bến”… chuyện còn lắm gian nan!

    “Nhậu” - lâu nay xem ra cái động từ mang phong cách Nam Bộ ấy đã và đang trở thành ngôn ngữ tiện dụng hàng ngày, có ý nghĩa trên phạm vi toàn quốc của vô số “đệ tử Lưu Linh”. Bởi bất kể sớm hay chiều, bận hay rỗi…, hở ra một chút là các vị lập tức “quần tam tụ ngũ”, khề khà nhấc lên hạ xuống đến độ… quên cả đất trời. Nếu bạn đang sinh sống ở Hà Nội, ngày nào đó ngang qua những “bãi bia” trên các phố Ngọc Hà, Vân Hồ, Nguyễn Văn Huyên…, qua cửa nhà máy bia trên đường Hoàng Hoa Thám, bạn có thể được ngắm hàng trăm gương mặt đỏ phừng phừng, được chứng kiến vô số những cảnh tượng bi hài và trong khi những cốc bia sủi bọt giơ lên qua đầu thì những tiếng “dô, dô…” cũng phát ra tưởng chừng không bao giờ dứt.

    Mùa hè thì bia, mùa đông thì rượu, nghĩa là các “bợm nhậu” có khả năng thích ứng rất nhanh chóng với mọi biến động của thời tiết. Và thường thì người ta không câu nệ nhiều lắm vào hoàn cảnh “mồi” ít hay “mồi” nhiều, “mồi” sang trọng hay “mồi” dân giã; ngay cả cái địa điểm để đặt “trụ sở” cho một cuộc nhậu cũng không thành vấn đề, miễn là có một lý do, miễn là có người khởi xướng, miễn là có một chút gì để đưa đẩy là một cuộc “nhậu” đã có thể hình thành. Từ các “bãi bia” đến các nhà hàng, từ đầu hẻm tới bóng cây…, chỉ cần có nơi để anh này ngồi ngang bác kia ngồi dọc, anh này gác chân bác kia gác tay, là người ta có thể tiêu diệt từ vài ba “lít” đến năm bảy “can”. Trong khi nhiều bà chủ gia đình hết giờ làm việc liền gọi suất “cơm hộp” rồi tranh thủ buổi trưa đi mua sắm cho chồng cho con, trong khi ở vùng đô thị nhiều gia đình đang có xu hướng chỉ tập trung đông đủ mọi thành viên vào bữa cơm chiều…, thì hiện tại nhiều đấng mày râu lại đang có sở thích dành thời gian đi… “nhậu”. Thậm chí không còn là sự lạ khi mấy chú choai choai, ria mép lún phún cũng túm năm tụm ba, chén chú chén anh, ngật ngà ngật ngưỡng không thua kém các bậc đần anh. Mà lý do để tụ tập nhậu nhẹt thì cực kỳ đa dạng và sinh động, từ việc vừa sắm xe máy đến những chuyện lặt vặt như mới ở quê ra hay… có chiếc áo đẹp. Buồn đi nhậu đã ra một nhẽ, song kể cả lúc vui người ta cũng bằng mọi cách ép nhau hết ly này đến ly khác, để đi tới kết quả là túi tiền của “bợm nhậu” ngày càng vơi đi và túi tiền của ông bà chủ quán ngày càng đầy lên.

    Thả mình theo hơi men và líu lưỡi, chuếnh choáng ra về sau những cuộc nhậu nhẹt tràn lan như hiện tại, người ta dễ dàng tận dụng thời gian rảnh rỗi của cơ quan, dễ dàng tạo ra những chuyện xích mích ngoài ý muốn, dễ dàng có lý do được thượng cẳng chân thượng cẳng tay với người vợ hiền, dễ dàng phóng xe ra đường với tâm trạng coi luật giao thông là vô nghĩa! Tình trạng nhiều gia đình tan nát vì rượu, tỷ lệ phạm tội có nguồn gốc từ rượu, tỷ lệ tai nạn giao thông do rượu gây nên… quả đã đến lúc báo động, nhưng dường như vẫn chưa đủ để cảnh tỉnh những ai đã kết nghĩa bạn bè với những ly bia sủi bọt, với những chén rượu sủi tăm. Phải chăng đã đến lúc phải tạo ra một dư luận xã hội rộng rãi để “nhậu nhẹt” không trở thành một vấn nạn trong sinh hoạt xã hội, phải chăng đã đến lúc cần tới những biện pháp chế tài với những hoạt động kinh doanh mà tự chúng có thể đưa tới tình trạng “nhậu nhẹt”… Và xét cho cùng, vấn đề “nhậu” hay không, “nhậu” đến mức nào, “nhậu” ra sao, trước sau vẫn tuỳ thuộc vào ý thức lành mạnh của mỗi người.

                                                                                                   

    Sa Pa - du lịch và… tiền!

    Lần theo những bậc thang ngoằn ngoèo đi xuống bản Cát Cát nằm chênh vênh bên sườn núi, đang thả hồn giữa mênh mông đất trời của buổi sớm mai se se lạnh và mờ mờ sương, du khách sẽ không khỏi giật mình vì bỗng dưng một đám trẻ người Mông từ một ngóc ngách nào đó ùa ra. Chúng ríu rít như đàn chim non rồi xoè tay thật hồn nhiên: “Cho cháu tiền mua kẹo!”. Thế là cái sự mơ màng vốn khá hiếm hoi vụt biến đi, du khách lại phải đối mặt với một thực tế trần tục. Quãng chục năm trước lên Sa Pa, thấy mấy cô gái Mông đứng cạnh du khách chụp ảnh xong, liền vừa giơ năm ngón tay vừa nói “năm ngàang, năm ngàang” chỉ thấy lạ và cười, còn bây giờ lên Sa Pa, du khách đành phải nhanh chóng thích ứng với mọi cách kiếm tiền mà ở đây người ta có thể nghĩ ra. Tới tham quan bản Cát Cát, bản Tà Phìn, ngay đầu đường đã có người gọi xuống xe, mua vé. Muốn leo lên Thác Bạc, xin mời chi năm bảy nghìn mua cái ticket. Muốn ngắm nghía những ký hiệu kỳ lạ trên bãi đá, hãy vui lòng “chi” tiền cho mấy cô bé, cậu bé đang ngồi vắt vẻo trên các tảng đá. Muốn có mặt trên đỉnh Hàm Rồng một cách nhẹ nhõm, du khách chỉ có một giải pháp duy nhất là dùng tiền để cắt “cắt cầu” mấy vị bán hàng rong luôn đeo bám không biết mệt mỏi… Tóm lại là ở Sa Pa hôm nay, dường như “tiền” theo đã du khách đến từng bước chân. Biết là vô lý đấy, biết là người ta “bắt nạt” mình đấy, song cũng chỉ biết lắc đầu, tặc lưỡi tự răn “đất khách, quê người”. Một lần vào khách sạn X, bạn tôi người miền Nam, phấn khởi ra mặt vì phòng VIP giá 450.000đ, phòng thường 250.000đ. Đến khi thanh toán, cô lễ tân thản nhiên bảo làm gì có cái giá ấy, phòng VIP là 45 USD, phòng thường là 25 USD. Bạn tôi méo mặt rút ví, còn tôi thì nghĩ đến câu “đất có Thổ công, sông có Hà Bá”! Lúc ra về, mấy anh em chỉ còn giữ lại một hình ảnh duy nhất đáng yêu. Đó là lúc trời đã về khuya, trên khoảng sân trước cửa nhà thờ thưa thớt người, ánh sáng leo lét, anh nghệ sĩ dân gian vẫn miệt mài đứng thổi sáo. Bên cạnh anh, người vợ cần mẫn chào mời bán một cây sáo giá vài nghìn đồng, thi thoảng chị lại đứng lên khoác lại cho chồng tấm áo rét đã rơi xuống ngang vai.

                Quả thật lâu nay du lịch đang trở thành một nguồn thu lớn trong ngân sách của nhiều địa phương, vì thế người ta đua nhau làm du lịch trong khi lại chưa sẵn sàng tâm thế và biện pháp ứng phó với những hậu quả mà du lịch có thể gây nên. Lại nhớ một lần đến Lai Châu, thăm một khu hang động chưa được khai thác, tôi thật sự vì nể một bác người Thái nhà ở đầu đường, đang mời cô giáo đến nhà dạy tiếng Anh cho anh con cả đã vợ con đàng hoàng và cô gái nhỏ đang học phổ thông, chuẩn bị “đón lõng” khu du lịch sẽ mở ra trong tương lai! Vậy là họ mới chỉ nghĩ đến việc học tiếng Anh để giao tiếp với người nước ngoài và với họ, du lịch cũng tức là bán được nhiều hàng hoá, là khai thác triệt để mọi khả năng có được. Tuy nhiên, du lịch trước hết là khám phá tự nhiên, khám phá những văn hoá khác mình. “Làm du lịch” là triển khai những dịch vụ, tạo những điều kiện thuận lợi giúp du khách tiếp nhận văn hoá. Không quan tâm tới ý nghĩa văn hoá của du lịch trên cả phương diện khách quan và chủ quan, không chóng thì chầy, người ta không chỉ dễ dàng đánh mất những nét bản sắc riêng, độc đáo của mình, mà còn làm chính mình cũng bị “tha hoá”. Hãy tự hỏi, liệu du khách có nghĩ đến ngày trở lại nếu mỗi bước chân trên con đường du lịch đều kèm theo những đồng tiền phải chi ra một cách bắt buộc và vô lý?

     

                Xưng hô với người khác cũng là văn hoá

                Trong sinh hoạt xã hội hàng ngày của người Việt, chỉ với những người đặc biệt, trong những trường hợp đặc biệt người ta mới gọi một người khác theo họ, theo tên, có lẽ đó là một phương cách cách để bày tỏ lòng kính trọng, muốn tôn vinh người được đề cập; và những người này thường là người nổi tiếng hoặc là văn nghệ sĩ. Vì thế mới có chuyện nhà văn Nguyễn Tuân thường được gọi là “Nguyễn”; bốn hoạ sĩ tài danh Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái được gọi tắt là “Nghiêm - Liên - Sáng - Phái”; bốn nhà sử học nổi tiếng Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng được gọi tắt là “Lâm - Lê - Tấn - Vượng”... Cón lại thì đa số các cách xưng hô đều phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc tương ứng với từng loại quan hệ gia đình hay xã hội. Qua cung cách xưng hô, người ta có thể nhận biết thái độ, tình cảm của người đối thoại, thậm chí việc xưng hô như thế nào còn là một trong những tiêu chí để đánh giá năng lực văn hoá của mỗi người. Cho nên người ta phải gọi cha mẹ của mình là cha là mẹ, gọi người lớn tuổi hơn là anh là chị, lớn tuổi hơn chút nữa là cô là chú... và chỉ có thể “cậu tớ, mày tao” với bạn bè cùng lứa và cũng chỉ nên sử dụng trong nhóm riêng tư. Tóm lại, nếu ai đó vi phạm các nguyên tắc xưng hô trong quan hệ xã hội thường sẽ dễ bị người được đề cập phản ứng, và nếu không được định tính là “hỗn”, là “láo”, là “không được dạy bảo”, là “xấc xược”, là “tinh tướng”... thì cũng được nhìn nhận bằng ánh mắt “bất bình thường”...

    Các nguyên tắc xưng hô hình thành từ lâu đời, trở thành những nền nếp, những tập quán được trân trọng trong suốt chiều dài lịch sử của cộng đồng, và như ở trên đã nói, xưng hô như thế nào cũng là một ứng xử thể hiện phẩm chất văn hoá của mỗi người trong sinh hoạt xã hội. Xét từ phương diện này thì xem ra thời gian gần đây, một số nguyên tắc xưng hô đã bị vi phạm nghiêm trọng, đặc biệt là với một bộ phận trong thế hệ trẻ, khi người ta gọi cha mẹ mình là “ông bô, bà bô” là “ông khốt bà khốt”, và trong những tình huống “không vừa ý” thì bất kể người đối thoại là ai thì cũng đều được gọi là “thằng”, là “con”. Rồi trên khái đài ở sân vận động, già trẻ lớn bé đều gọi cầu thủ, trọng tài là “thằng”. Rồi trên báo chí, lại thấy những “gã”, những “ả”, những “thị”, những “lão”, những “mụ”, những “chị ta, anh ta”... được sử dụng vô tội vạ, không phải trong những văn cảnh cần bày tỏ thái độ “tiêu cực” mà cả tronng những văn cảnh mà lẽ ra nhân vật được đề cập phải được tôn trọng. Như mới đây, trong một phóng sự có tác giả sử dụng từ “gã” để nói về một anh khí tượng - thuỷ văn, quanh năm xa nhà, xa vợ con, một mình hì hụi trên đỉnh núi. Một bài báo khác lại “quái dị” hơn khi tác giả thản nhiên dùng “lão ta” để gọi một ông cụ gần trăm tuổi, cả đời sống nhân đức với con cháu... Có thể dẫn lại rất nhiều những trường hợp như vậy, và tiếc thay không chỉ người viết, mà cả người biên tập cũng không lưu ý đến thái độ văn hoá trong cách gọi nhân vật. Thật đáng buồn! Xây dựng một xã hội có văn hoá, thiển nghĩ chúng ta không chỉ chú ý đến những giá trị vĩ mô, một mặt không kém phần quan trọng cần đặc biệt quan tâm là những giá trị vi mô, mang tính cập nhật. Tập quán văn hoá trong xưng hô cần được uốn nắn từ trong gia đình, trong nhà trường, trong dư luận xã hội, và vào lúc báo chí đang trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của mọi người thì chính báo chí cần cẩn trọng, vì nó cũng góp phần vào việc nâng cao hay phá  vỡ “tính văn hoá” của cộng đồng.

     

    Sách và “tình thương” dành cho người tiêu dùng!

    Năm bảy năm trước, nghe tin luận án về Hồ Xuân Hương của tiến sĩ T đã xuất bản, tôi rất háo hức vì nghe đồng nghiệp quảng bá thì đây là một luận án có chất lượng khoa học khá cao. Mò ra cửa hàng, thấy cuốn sách dày cộp đã nghĩ luận án đồ sộ thế kia ư. Nhưng mới xem sơ sơ đã tá hỏa vì phần luận án chỉ quãng 100 trang, còn lại quãng 400 trang là “độn” bài viết của các tác giả khác cùng đề tài. Thế là để được đọc luận án của tiến sĩ T, tôi phải mua thêm mấy chục bài viết trong khi tôi đã sưu tầm đầy đủ. Những tưởng chuyện ấy chỉ là hy hữu, để tâm tìm hiểu, tôi mới nhận ra đó là “kiểu” làm sách của nhiều nhà khoa học. Luận án của tiến sĩ T về thơ kháng chiến in thành sách tròn trặn 150 trang, ông “độn” thêm khoảng 500 trang thơ, cộng vài chục trang “râu ria” để thành một cuốn sách “hoành tráng” dày gần 700 trang. Riêng cuốn văn hóa học đại cương do giáo sư V chủ biên thì phải nói là thật kinh hoàng, nó gồm 9 trang “đại cương” và… 603 trang tập hợp tài liệu tham khảo! Nói về sự “kỳ quái”, có lẽ đứng đầu bảng phải là cuốn sách về văn hóa của nữ tiến sĩ T, ngoài hàng trăm trang chỉ có vài chực từ cùng một hai cái sơ đồ loằng ngoằng, cuốn sách này còn có 83 trang giấy trắng phau dùng để “ghi chép”!

    Mấy năm nay, thị trường sách mở rộng, sách in tơi tới với những cái bìa bắt mắt tràn ngập trong các cửa hàng, quả thật tôi không đủ thời gian và kiên nhẫn làm một thống kê xem có bao nhiêu cuốn sách được xuất bản một cách “ma giáo”, mà chỉ thấy thương thay cho người tiêu dùng, trong đó có chính tôi. Vâng, nếu bạn chịu khó thi thoảng “lượn” qua những trung tâm sách báo lớn (ở Hà Nội là các phố Tràng Tiền, Nguyễn Xí, Đinh Lễ…), hoặc loanh quanh trên các “bãi sách” vỉa hè (ở Hà Nội là các đường Phạm Văn Đồng, Tô Hiệu và trước đây là Đường Láng…) bạn sẽ thấy số đầu sách “mới” của một số nhà văn, thấy các tuyển tập văn chương xanh xanh đỏ đỏ tím tím vàng vàng, xếp hàng hàng lớp lớp. Nào là tuyển tập truyện ngắn trẻ (trong đó có cả tác giả tuổi tác quãng ngũ tuần!), tuyển tập truyện ngắn nữ, nào là truyển tập truyện ngắn lãng mạn, tuyển tập truyện ngắn hay (mà trong đó quá nhiều truyện có lẽ chỉ người tuyển chọn mới thấy hay!)… Nghĩa là khi tuyển tác phẩm, người ta còn chú ý tới cả tuổi tác, giới tính của người tiêu dùng văn chương. Sự quan tâm rất đáng nghi này cho phép người ta “xào xáo”, “lắp ghép” thoải mái đến mức chỉ một truyện ngắn thôi nhưng lại thấy có mặt trong vài ba tuyển tập. Phải chăng vì nó vừa hay, vừa trẻ, vừa lãng mạn… và vì người viết là nữ nhà văn. Ấy là chưa kể đến loại sách mà cứ vài tháng lại thấy tác giả cho in một tập với những tên gọi khác nhau, nếu chỉ căn cứ vào nhan đề sẽ dễ tưởng rằng nhà văn viết rất “khỏe”! Nhưng than ôi, văn chương chữ nghĩa đâu là phải cát trên sa mạc, nhà văn muốn xúc bao nhiêu thù xúc, nên mới có chuyện kỳ quặc là tác giả X in tập truyện ngắn có tên gọi là A, vẫn tác giả đó in tập truyện ngắn sau có tên gọi là B, song đọc mục lục thì thì té ra B chính là A + một hai truyện khác. Ai đó không cẩn thận, trót mua rồi thì dở khóc dở cười, để thì thương, vương thì tội! Gần đây lại thấy một hiện tượng xem ra khá độc đáo đó là sự có mặt của các tuyển tập tiểu thuyết. Nghĩa là người ta “gom” từ hai cuốn tiểu thuyết trở lên của một tác giả rồi in thành một cuốn trông như cục gạch, muốn mua phải mua cả bộ. Tôi cũng không rõ ở “bên Tây” người ta có làm thế không, hay đây là một sáng tạo mới có ý nghĩa chuyển tải tình thương của các “đầu nậu” sách xứ An Nam đến với người đọc?

    Sách thì như thế, còn nói đến giá sách thì thật khôn lường. Chỉ cách vài chục mét là giá một cuốn sách đã rất khác nhau. Nếu không tin, bạn cứ đến phố Tràng Tiền mà xem. Ở các cửa hàng sách nhôm kính sáng choang, điều hòa chạy rì rì mát lạnh, người ta bán sách đúng theo giá bìa, không bớt một hào, nhưng tạt vào phố Đinh Lễ, vẫn cuốn sách ấy, người ta sẵn sàng bớt cho bạn ít nhất 10%. Còn nếu chịu khó đi xa một tý lên đường Phạm Văn Đồng, cuốn sách ấy sẽ được bớt khoảng 30%, thậm chí đến 50%. Không biết nguồn cơn đưa tới sự chênh lệch giá cả này là do sự khác nhau về văn minh giữa cửa hàng có máy lạnh và cửa hàng không có máy lạnh, về lòng nhân ái giữa người phải đi xa với người chỉ đi gần… hay do cái giá in trên bìa bốn kia chỉ là một trò ma mãnh (?).

    Vào thời buổi hàng hóa lên ngôi, sách vở văn chương cũng không thoát khỏi sự chi phối của các quy luật kinh tế hàng hóa. Không sao cả, một khi sách vở văn chương có mặt trên thị trường như là một loại sản phẩm kinh doanh thì cũng có nghĩa nó phải tuân thủ những quy luật chung, nhưng điều đó không thể là “lừa” người tiêu dùng, vì hình như hiện tại đã và đang có những người đang biến bạn đọc thành nạn nhân của những trò tung hứng hàng hóa hết sức “vô thường”. Xin hãy dành cho bạn đọc - người tiêu dùng văn chương, một tình thương đích thực, đừng bắt họ thi thoảng phải mua một nỗi ấm ức về nhà. Vì dẫu thế nào thì có lẽ không ai bác bỏ được rằng kinh doanh sách cũng là một kiểu loại kinh doanh văn hóa và như thế nó cũng đòi hỏi những phẩm chất văn hóa đặc thù./.

               

                Lời cảm ơn hiếm hoi!

    Mấy năm trước, trên chuyến xe từ Tam Đảo về Hà Nội, thấy nhà văn Hồ Phương khư khư ôm lọ mật ong to đùng bên trong nổi lềnh phềnh miếng sáp ong non to bằng bàn tay, lại thấy nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình trịnh trọng bê một bình rượu có chú bìm bịp lông lá tua tủa, tôi liền cố tình bịa chuyện để châm chọc. Với Hồ Phương tôi bảo: “Mật ong của bác, người ta nuôi bằng mật mía, dưới Vĩnh Lạc bán có 20 nghìn đồng một lít, mang lên đây thả thêm miếng sáp là thành mật ong rừng, bán cho bác 40 nghìn”. Với Ngô Vĩnh Bình thì tôi bình luận: “Con bìm bịp này có lẽ phải ngâm rượu đến nước thứ bảy rồi đấy anh nhỉ!”. Nghe tôi bông phèng, hai anh cùng cười, nhưng từ đó xem ra tinh thần trách nhiệm có phần suy giảm, vì không biết là do bê mãi mỏi tay hay thất vọng về chất lượng mật ong mà tôi thấy nhà văn Hồ Phương bỏ luôn chiếc lọ xuống sàn xe!

    Chuyện tôi trêu Hồ Phương thật ra là cũng có một phần thực tế, thời buổi này kiếm được chai mật ong “nguyên chất” đôi khi cũng là một thách thức. Chẳng thế mà tôi rút ra một kinh nghiệm là hễ thấy nơi nào trương cái biển bán “mật ong rừng chính hiệu”,“mật ong nguyên chất”… là tôi nghi ngờ. Phần lớn các chai mật ong sóng sánh màu hổ phách kia mua về chỉ để một hai tháng là kiếm ngay được nửa… chai đường, ngoài việc để nấu chè thì cũng chẳng làm được việc gì. Mối nghi ngờ của tôi dần dà trở nên ổn định, đến mức tôi bị nó ám ảnh cả khi đang đứng ngắm nghía hàng dãy bình, chai, lọ mật ong lóng lánh trong chợ Điện Biên Phủ. Bạn tôi từng mua mật ong ở đây về, quảng bá rổn rảng về tính chất rừng rú nguyên sơ của nó, song mấy tháng sau nó cũng đem lại cho anh quãng ba lạng đường. Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn muốn tìm mua, vì nhà có người đau dạ dày. Loanh quanh ra vào, nhấc lên đặt xuống mấy lần mà vẫn chưa mua được, tôi đem nỗi niềm than thở với một chú xe ôm. Chú ta bảo anh đi với em, rồi chạy vào chợ, lúc ra cầm theo bao diêm, mảnh giấy bản. Vòng vèo mấy con phố, chú đưa tôi tới nhà một bác phó cạo đang đánh dao đánh kéo tanh tách. Biết tôi mua mật ong, bác vội dừng tay. Lúc đó trên ghế vẫn còn một vị khách râu mới cạo được một nửa, một nửa vẫn còn nham nhở xà-phòng, ái ngại quá, tôi nói bác phó cứ làm xong đã. Nhưng cả bác và ông khách cùng lắc đầu: ‘Không sao!”, rồi bác vào nhà. Đứng trước cả dãy chum mật ong, bác phó giảng giải cho tôi loại nào dùng vào việc gì chất lượng ra sao. Tôi chọn loại ưng ý. Lúc ấy chú xe ôm mới giở “đồ nghề” ra. Chú lấy que diêm dúi vào chum mật rồi đánh vào vỏ bao, thấy xoè lửa. Chú lại lấy mật ong phết lên miếng giấy bản, thấy giọt mật lăn tròn. Chú gật đầu bảo: “Mật tốt!”. Tôi mua liền 5 lít. Bác phó lại chạy đi lấy “can” rửa sạch, tráng nước sôi đàng hoàng rồi mới rót mật. Loay hoay cũng phải tới 20 phút. Lúc tôi xách “can” đi ra, ông khách đang ngồi xem báo, còn xà-phòng thì đã sạch bong. Tôi xin lỗi, cảm ơn hai người rồi về. Trên đường đi tỷ mẩn hỏi chú xe ôm, lại biết thêm “kỹ thuật” thử mật ong.

                Chuyện nào đã hết. Vì chuyến đi lần ấy tôi còn sang Lai Châu, nên muốn gửi mật ong theo ô-tô về trước. Sợ mật tràn ra ngoài, tôi vào chợ mua túi ni-lông. Tôi mua hai cái túi lồng vào nhau và nhờ chị bán hàng đưa giúp “can” mật vào túi. Làm hộ tôi xong, chị còn chằng buộc, dặn dò rất cẩn thận. Tôi trả tiền rồi cảm ơn chị. Vừa nghe tôi cảm ơn, chị bán hàng tròn xoe mắt: “Cả tuần nay em mới thấy có người mua hàng còn cảm ơn!”. Trên đường về khách sạn, tôi ngẫm nghĩ mãi về những người tôi mới gặp. Mua bán thật thà lại chân thành, vậy mà mà một lời cảm ơn đối với họ vẫn hiếm hoi!

               

                Từ chiếc kim truyền nước đến… “sản phẩm Vision”!

                Mấy năm trước, cháu lớn nhà tôi bị ốm một thời gian khá dài. Không ăn được, cháu gày quắt gày queo. Có bệnh thì vái tứ phương, vợ chồng tôi chạy đôn chạy đáo khắp nơi. Lang Tây lang Ta đủ cả. Mỗi vị chuẩn đoán một bệnh rồi tiến hành điều trị, mà bệnh vẫn không khỏi. Một lần tôi cho con vào bệnh viện X. Phòng khám kết luận cháu bị rối loạn thần kinh thực vật, rồi chuyển lên Khoa thần kinh. Nhận giường và sắp xếp xong xuôi, tôi ngồi trông con được một lát thì cửa xịch mở. Một chị y tá đẩy chiếc xe lỉnh kỉnh đồ nghề y tế đi vào và thông báo chuẩn bị truyền nước cho cháu. Chị nói:

    - Chúng tôi có hai loại kim truyền. Một loại đã qua sử dụng, đã vô trùng, giá 1.000 đồng một chiếc. Một loại còn trong túi, giá 2.500 đồng một chiếc. Tùy gia đình chọn. Nhưng tôi không bảo đảm loại đã qua sử dụng có còn “ết” hay không!

    Mới nghe chị nói đến “ết” tôi đã “vãi linh hồn”, vội vàng mua ngay một chiếc vẫn còn nguyên trong túi. Thế đấy, để bán được một chiếc kim truyền, người ta mang cả “ết” ra để “dọa” bệnh nhân thì kinh quá! Đến nước này thì 2.500 đồng chứ đến 2 triệu 500 ngàn đồng thì vẫn phải mua. Có ai vì tiếc mấy nghìn bạc mà truyền bệnh cho con bao giờ. Nhất là cái bệnh “ết” ghê gớm kia. Lát sau vừa ngồi trông con vừa ngắm nghía từng giọt nước truyền thong thả rơi trong ống, tôi ngẫm nghĩ: “Đã nói là vô trùng mà vẫn không đảm bảo có còn “ết” hay không, bán phéng cho người ta loại còn trong túi cho xong, việc gì phải viện dẫn đến “ết”!”.

    Nghĩ đi thì vậy, nghĩ lại xem ra chị y tá kia cũng là người đàng hoàng, chí ít thì chị cũng cảnh báo cho tôi một khả năng xấu có thể xảy ra(!). Không như hôm mới rồi tìm mua một chiếc va-ly kéo tôi còn gặp những tình huống éo le hơn nhiều. Thấy trong chương trình Hãy chọn giá đúng của VTV3 một loại va-ly kéo do Việt Nam sản xuất trông khá đẹp mắt, tôi quyết định mua một chiếc để thi thoảng đi đâu có cái đựng đồ dùng. Ra phố Hàng Dầu, vào khá nhiều cửa hàng, vẫn chiếc va-ly đó nhưng giá cả có biên độ rộng rãi vô cùng, từ 360.000 đồng đến 550.000 đồng một chiếc. Khi giới thiệu, chủ cửa hàng tỉnh bơ “biến” chiếc va-ly thành “hàng ngoại”. Người bảo: “Hàng Hàn Quốc đấy anh ạ”, người quảng cáo: “Hàng Đài Loan đấy anh ơi, tiền nào của ấy”… Hẳn là họ nghĩ tôi không biết đọc tiếng Việt trên chiếc đề-can. Về sau lên chợ Đồng Xuân, tôi mua một chiếc i xì, giá 320.000 đồng!

    Thấy cháu lớn nhà tôi ốm lắt ốm lay, nhiều bạn bè anh em cũng lo thay, tìm mọi cách giúp đỡ, hỗ trợ. Một lần, có anh bạn gọi điện khuyên tôi nên sử dụng “sản phẩm Vision” để chữa cho cháu. Anh bảo “sản phẩm Vision” chữa được bách bệnh, ông A liệt nửa người hàng năm nay chỉ uống ba hộp là khỏi, chạy đi chạy lại phăng phăng. Ông B đau dạ dày mười mấy năm, dùng có hai hộp là lại uống rượu uống tì tì… Nghe anh nói thế, tôi sinh ra nghi ngờ, làm gì trên đời này có loại “thuốc tiên” như thế, nếu có thì báo chí chẳng bàn tán ầm ĩ lên rồi. Nhưng từ đó trở đi, ngoài điện thoại giục giã mua ngay, gặp nhau ở đâu là “sản phẩm Vision” lại được anh đem ra. Lại tiếp tục ví dụ ông A, ông B… có lần còn bổ sung thêm rằng chị C lấy chồng gần mười năm chưa có con, mới uống một hộp mà được ngay một thằng con trai! Đến mức chuyện trò với anh mà không thấy “sản phẩm Vision” là tôi lại… nhơ nhớ! Thấy tôi không nhiệt tình hưởng ứng, anh chưa nản lòng. Một hôm anh đến nhà đặt vấn đề: “Chú khéo mồm khéo miệng, anh mời chú làm thêm, bán “sản phẩm Vision” đa cấp với anh. Bán giỏi mỗi tháng kiếm được hai ba “vé”, nếu được “thăng cấp” như ông D, mỗi tháng đút túi 8 “vé” như chơi”. Tò mò về bán hàng đa cấp, tôi hỏi anh cách thức ra sao. Nghe anh mô tả thì “sản phẩm Vision” không cần quảng cáo trên hệ thống thông tin đại chúng, chất lượng cao cấp của nó đủ để thuyết phục mọi người. Một người bán cho năm người, năm người kia bán tiếp cho năm người nữa… Mạng lưới xòe ra như chiếc quạt giấy, càng nhiều cấp xòe ra, số người mua càng tăng lên, “lương bổng” phụ thuộc vào việc bán được bao nhiêu hàng. Biết vậy, tôi không nhận lời vì mang máng thấy như là một kiểu “móc túi lẫn nhau”. Bác này mua xong mới biết là bị lừa, liền lừa luôn người khác để gỡ lại tiền. Cứ như thế, cả hệ thống “đa cấp” lừa lẫn nhau, và người ta đánh đúng vào “máu tham” của những người không tỉnh táo. Thấy tôi từ chối, anh bạn hơi buồn…. Đầu năm 2005, thấy báo chí nói “sản phẩm Vision” chỉ là một loại thực phẩm cao cấp, không có tác dụng chữa bệnh, tôi thở phào. Hú vía, lần ấy mà bùi tai nghe theo anh, có khi bây giờ khóc dở mếu dở. Cũng từ đó, không thấy anh bạn tôi nói gì đến “sản phẩm Vision” nữa. Hôm nọ nghe phong thanh về “nước trái nhàu” cũng bán theo lối “đa cấp”, giá hơn 800 nghìn đồng một chai, công dụng ngang ngửa với “sản phẩm Vision”, tôi tếu táo rủ anh bạn tham gia, thấy anh lặng thinh. Chắc là “sản phẩm Vision” đã cho anh một bài học…! Lại nghĩ, hôm nay dường như người tiêu dùng lại phải đối mặt với vô vàn mánh lới có nguồn gốc từ khát vọng lợi nhuận của những người bán hàng. Khi kinh tế hàng hóa còn hoạt động tự phát, khi quyền lợi của người tiêu dùng chưa được bảo hộ thì tình trạng ngay ngáy không yên tâm về sự “thật - giả”, “rẻ - đắt” vẫn ám ảnh người tiêu dùng. Và thật bi hài khi thời bao cấp đã qua mà nhiều người trong chúng ta vẫn phải “nhờ” người khác mua hộ hàng hóa thì mới yên tâm về chất lượng và đúng giá!

     

                “Bác trả em bao nhiêu,… tùy bác!”

                Mấy chục năm trước ở Hà Nội, ngoài xe đạp, thì phương tiện đi lại bình dân nhất là tàu điện và xích lô. Ngồi trên đoàn tàu chuông kêu leng keng, vừa tóe lửa xanh lửa đỏ vừa chạy rầm rập trên phố… kể cũng vui. Những hôm tối trời, tàu điện tóe lửa cả ở dãy bánh sắt đang rít lên ken két lẫn trên cái cần ngất nghểu ở nóc toa. Rổi lại còn được xem cánh thanh niên “nhảy tàu” như làm xiếc, thậm chí có lần thấy anh bán vé phăm phăm tiến đến chỗ nối hai toa tàu, một tay ngoáy ngoáy ổ cắm điện, một tay dúi dúi mảnh giấy báo. Mảnh báo cháy bùng, té ra anh làm ra lửa để… hút thuốc lá! Đi tàu điện giá cả cũng phải chăng, lại ổn định. Xa thì một hào, gần thì năm xu. Chỉ ngán nhất là vào lúc mất điện, mấy toa tàu nằm chềnh ềnh giữa đường. Hành khách nào thiếu kiên trì thì xuống cuốc bộ, hành khách nào quyết chí thi gan với “nhà đèn” thì nấn ná ngồi thêm, có khi là vài tiếng đồng hồ. Hành khách tản mát dần dần, toa tàu vắng teo, có vị ngả lưng trên dãy ghế dài, ngáy pho pho. Còn đi xích lô thì đúng là muôn hình vạn trạng, giá cả không biết đường nào mà lần. Ai không biết là bị “lừa” như chơi. Có anh xích lô gặp khách là người tỉnh xa, đoạn đường ngắn dài ra sao không rõ, liền “vặt” không biết ghê tay. Thậm chí người ta sắp đi đến đầu phố rồi mà vẫn cố mời người ta lên xe, lòng vòng một lúc rồi thả xuống… cuối phố!

    Mà không biết tại sao ngày trước cánh trẻ con ở Hà Nội cứ thấy có xích lô đi qua là lại rủ nhau hét to: “Xích lô gián điệp!”, hét xong là chạy bán sống bán chết. Nhớ ngày tôi nhập ngũ. Tập trung ở Nhổn, hơn mười giờ tối hành quân ra ga Hàng Cỏ. Đến đê La Thành thì nghỉ giải lao. Cả tiểu đoàn nằm ngồi ngổn ngang bên vệ đường, xung quanh tối om, tiếng ếch nhái từ ruộng rau muống vọng lên ì oạp. Bỗng từ xa có chiếc xích lô lạch xạch đi tới, ánh đèn chai lúc tỏ lúc mờ. Thấy vậy, gần như cùng một lúc, mấy trăm chàng lính trẻ đồng thanh hét toáng lên: “Xích lô gián điệp!”. Ai dè bác xích lô lại là người vui tính, bác đáp lại cũng rất to: “Tình báo đấy, không phải gián điệp đâu !”. Bọn tôi khoái trí, rũ ra cười. Bác xích lô dừng xe, tụ tập ngồi hút thuốc lào với mấy anh lính cũ. Thì ra con trai bác nhập ngũ cùng với bọn tôi, nhưng ra tàu từ buổi chiều. Thương bác mà bọn tôi ngậm ngùi. Chắc là bác cũng không chấp nhặt trò bông phèng của mấy tay lính tráng!

                Hà Nội nay đã khác xưa, phố xá đông vui, hàng hóa ngập tràn. Tất bật, hối hả. Và trong khi tàu điện đã trở thành quá vãng thì xích lô lại trở thành một loại phương tiện giao thông sang trọng vì được gắn thêm một chiếc lọng vàng có tua rua xanh đỏ. Qua những con phố quen thuộc, đôi lúc như thấy nhơ nhớ tiếng chuông tàu điện leng keng. Nhìn đoàn xích lô thong thả bên đường, trên có mấy ông tây bà đầm da dẻ đỏ au như tôm luộc lại như văng vẳng tiếng gọi “xe…e…!” của khách qua đường ngày trước. Tàu điện không còn, xích lô chủ yếu dành cho du lịch, thì đã có xe ôm. Hóa ra vào thời hiện đại, phương tiện đi lại bình dân cũng hiện đại hơn. Động cơ đốt trong đã thay thế cho động “điê…chân”. Đầu đường cuối phố, hầu như chỗ nào cũng gặp mấy anh xe ôm đầu đội mũ cối, hoặc vắt vẻo trên yên xe ngồi nhổ râu hoặc cắm cúi trước gương để… nặn “chứng cá” và hễ thấy người nào thả bộ đi qua cũng hất hàm ngụ ý: “Đi không?”! Riêng ở bến tàu bến xe thì đúng là nơi thử thách ý chí bền bỉ trong cuộc đua tranh giành giật hành khách. Thử hỏi đã có mấy ai xuống tàu xuống xe mà không bị các anh xe ôm quây bắt theo chiến thuật “bám thắt lưng khách mà… tóm”. Họ mắm môi mắm lợi kéo tay, túm áo, giằng đồ… miễn sao không cho con mồi chạy thoát. Họ sẵn sàng giơ nắm đấm với nhau nếu anh nào khác thập thò ý định chen ngang. Họ lừ mắt với khách nếu còn dùng dằng hay cò cưa mặc cả. Còn giá cả đi xe do các anh đưa ra thì đúng là loạn xì ngầu, nhưng bao giờ cũng được bảo hiểm bằng một câu: “Em đi đúng giá !”. Lạy trời, may ra chỉ có “ông trời” mới biết “giá xe ôm” được quy định ra sao! Song trong khi đó lại có anh tỏ ra khá sành sỏi trong việc vận dụng “chủ nghĩa duy tình”, đẩy hành khách vào tình thế khó xử bằng một câu gọn lỏn: “Bác trả em bao nhiêu,… tuỳ bác!”. “Tùy bác” là bao nhiêu? Trả nhiều thì mình thiệt, trả ít thì anh xe ôm thiệt. Gặp phải tình huống như thế, quả là e ngại. Có lẽ do sự phức tạp của xe ôm mà lâu nay thấy xuất hiện trở lại một “nếp cũ” đã hình thành từ ngày xưa, ấy là nhiều người chỉ đi xe ôm là người quen, gọi một tiếng là có ngay, đỡ phải mặc cả. Thậm chí để đưa trẻ đi học, một hoặc hai nhà chung nhau một chiếc xe ôm. Mưa cũng như nắng, đúng giờ “anh xe” đón trẻ đi học, đúng giờ “anh xe” đón trẻ về, bàn giao tận cửa, vừa an toàn vừa yên tâm. Hoá ra sự thích ứng của con người cũng phong phú thật!

     

    Nguyễn Hòa.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,811,739

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/