Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,810,001

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Về "Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương"

Nguyễn Hòa

  • Chủ nhật, 19:15 Ngày 09/06/2013
  • VỀ “CÁI BÓNG VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG VĂN CHƯƠNG”

    Vì những lý do lịch sử - văn hóa và đặc biệt là về thể loại mà xưa nay Chuyện người con gái Nam Xương đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Về phần mình tôi cho rằng Phó Giáo sư Bùi Duy Tân đã có một số thành tựu trong khi khảo sát Người con gái Nam Xương nói riêng và Truyền kỳ mạn lục nói chung. Bên cạnh đó, có lẽ bởi đã vô tình thoát ly yêu cầu về tính khách quan trước các tiền đề lịch sử - văn hóa hoặc quá câu nệ vào các phương pháp nghiên cứu hiện đại song chưa hẳn đã thích hợp... nên có tác giả cố gắng đi tìm những ý nghĩa mới của Người con gái Nam xương theo xu hướng “hiện đại hóa văn chương trung đại” (mượn ý của Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Nho Thìn). Vì nhận thấy bài Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương cũng nằm trong xu hướng như vậy, tôi đã viết bài này để trao đổi với Nguyễn Nam và gửi tới Tạp chí Nghiên cứu Văn học, rất tiếc Tạp chí đã không cho đăng tải và cũng rất tiếc là sau khi tôi gửi đăng trên evan.com.vn thì đến nay, vẫn chưa thấy Nguyễn Nam trả lời (?).

    Theo Nguyễn Nam, tiểu luận Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương(1) “mới là một đôi thể nghiệm” của anh trong việc sử dụng các lý luận “lấp đầy khoảng trống”, “tiếp cận liên văn bản” và từ góc độ “độc giả hồi đáp” để tìm hiểu quá trình tiếp nhận Chuyện người con gái Nam Xương (Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn Dữ). Xét từ tính mục đích thì đây là một cố gắng rất đáng trân trọng. Riêng về phần mình, do thấy tác giả của Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương cho rằng hướng nghiên cứu này “tỏ ra hữu hiệu”, “có triển vọng và hứa hẹn nhiều điều lý thú”, nên tôi đọc khá kỹ văn bản và nhận thấy Nguyễn Nam đã có những nhầm lẫn, nếu không nói những nhầm lẫn ấy đã đẩy bài viết vào tình trạng tư biện, khiến tôi không thể không đặt câu hỏi trước các kết luận của Nguyễn Nam.

    1. Về văn bản, mở đầu tiểu luận Nguyễn Nam khẳng định: “Nam Xương ngữ lục (Chuyện người con gái Nam Xương) là một kiệt tác trong kho tàng truyện ngắn Việt Nam. Dựa trên sự kiện có thật, được tiểu thuyết hóa qua bút pháp truyền kỳ, truyện trở thành một tác phẩm văn chương đích thực”.

    Theo tôi, chỉ với một đoạn văn ngắn trên đây, Nguyễn Nam đã đưa ra ba nhận định về ba nội dung có liên quan tới Chuyện người con gái Nam Xương mà xét ra chưa có sức thuyết phục. Đó là:

    - Trong phạm vi khảo sát của mình, cho đến nay tôi mới chỉ thấy có một hai tác giả nói theo ý kiến của một vị Giáo sư trong công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã “tạt qua” để cho rằng truyện ngắn Việt Nam ra đời từ Truyền kỳ mạn lục và tuyệt nhiên chưa thấy vị Giáo sư nọ hay bất kỳ nhà nghiên cứu nào chứng minh các tác phẩm trong Truyền kỳ mạn lục đã mang (chứa) trong chúng những yếu tố tương ứng với nội hàm của khái niệm “truyện ngắn”. Tôi không rõ khi xác định thể loại của Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Nam có tìm hiểu kỹ lưỡng lịch sử vấn đề hay không. Nếu đã tìm hiểu, thiết nghĩ Nguyễn Nam chỉ nên coi đây là một giả định chứ không nên khẳng định “Nam Xương ngữ lục (Chuyện người con gái Nam Xương) là một kiệt tác trong kho tàng truyện ngắn Việt Nam”. Còn nếu chưa tìm hiểu, hiển nhiên Nguyễn Nam đã “nói theo” người khác mà chưa suy xét cẩn trọng.

    - Về vấn đề Chuyện người con gái Nam Xương có dựa trên “sự kiện có thật” hay không cũng vậy. Xem xét một cách nghiêm cẩn, ở đây người nghiên cứu cũng chỉ nên đưa ra một ước đoán chứ không nên đưa ra một xác quyết. Văn bản gốc của Truyền kỳ mạn lục hôm nay không còn, văn bản chúng ta có trong tay là văn bản của thế kỷ XVIII. Tức là về lịch sử, văn bản này có sau khi Nguyễn Dữ mất quãng hai trăm năm năm, vì thế câu hỏi “đây có phải là văn bản đích thực của Truyền kỳ mạn lục từ thế kỷ XVI hay không?” vẫn treo lơ lửng như một thách thức đối với những ai có quan tâm (phải chăng có thể giải quyết tình huống này bằng phương pháp so sánh ngôn ngữ?). Như vậy, một ngày chúng ta chưa có trong tay văn bản Truyền kỳ mạn lục đích thực của Nguyễn Dữ thì ngày đó chưa thể khẳng định bất cứ điều gì. Tới thời đại của chúng ta, có lẽ duy nhất truyện Vợ chàng Trương trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi là tác phẩm có sự gần gũi với Người con gái Nam Xương, tiếc rằng đó là văn bản được sưu tầm vào nửa đầu thế kỷ XX. Do đó người nghiên cứu không thể dựa vào Vợ chàng Trương để tìm hiểu Nguyễn Dữ đã sáng tạo trên cơ sở “sự kiện có thật” ra sao, và người ta chỉ có thể đi tới kết luận về sự sáng tạo của Nguyễn Dữ nếu chứng minh được rằng Vợ chàng Trương là tác phẩm nguyên gốc được khai thác từ văn hóa dân gian Việt Nam thế kỷ XVI, sau bốn thế kỷ vẫn được trao truyền nguyên vẹn. Song tôi tin đây là “nhiệm vụ bất khả thi” với bất kỳ nhà nghiên cứu nào. Và như thế, câu chuyện của Vũ nương có phải là một “sự kiện có thật” hay không vẫn đang và mãi mãi (?) là một tồn nghi.

    - Điều Nguyễn Nam khẳng định “Nam Xương ngữ lục (Chuyện người con gái Nam Xương) là một kiệt tác trong kho tàng truyện ngắn Việt Nam. Dựa trên sự kiện có thật, được tiểu thuyết hóa qua bút pháp truyền kỳ, truyện trở thành một tác phẩm văn chương đích thực” tự nó đã chứa đựng một nghịch lý, bởi qua đây Nguyễn Nam đã đặt người đọc trước một thách đố nếu muốn giải thích thế nào là “một kiệt tác trong kho tàng truyện ngắn Việt Nam” lại ra đời từ “sự kiện có thật được tiểu thuyết hóa”. Có thể Nguyễn Nam coi “tiểu thuyết hóa” đồng nghĩa với “nghệ thuật hóa” hoặc “hư cấu hóa”… một sự kiện của hiện thực, nhưng chí ít Nguyễn Nam cũng nên đưa ra một giới thuyết giúp người đọc nắm bắt quan niệm của anh, vì về hình thức thể loại thì không thể có nhầm lẫn này.

    2. Về hình ảnh “cái bóng”, Nguyễn Nam viết: “bóng là minh chứng hiện hữu của thực thể… có lúc lại trở thành một phân thân nổi loạn chống lại chủ nhân của nó… cái bóng không chỉ là phân thân, mà còn là phản thân tự xét mình”… và anh dẫn ra các tác phẩm Người mất bóng (A. von Chamisso), Cái bóng (H. C. Andersen), William Wilson (E. A. Poe)… để chứng minh cho các nhận định đó.

    Hình ảnh “cái bóng” vốn không phải là điều gì mới mẻ trong lịch sử văn hóa - văn chương nhân loại, sớm nhất cũng có thể nhận biết từ câu chuyện “người mất bóng” ở phương Tây xưa kia. Tuy nhiên theo tôi, trong các tác phẩm văn chương, hình ảnh nhân vật vò võ với chiếc bóng của chính mình vốn ít được sử dụng như là minh chứng cho sự hiện hữu, mà thường được sử dụng như là ẩn dụ về nỗi cô đơn. Còn khi “cái bóng” được xây dựng như một hình ảnh thuộc về môtíp “phân thân” của nhân vật, thì xét đến cùng đây chính là thủ pháp mà nhà văn sử dụng nhằm tạo ra một tương phản, để có thể phân tích một cách sâu sắc về tình trạng thiếu thống nhất, tình trạng đối lập trong thế giới tinh thần nội tâm, trong hành động, giữa thế giới tinh thần nội tâm với hành động… của nhân vật. Bằng cách này, nhà văn có thể làm nổi bật diễn biến của sự giằng xé, của cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa chính và tà, giữa hạnh phúc và đau khổ… trong đời sống riêng tư của nhân vật, từ đó hoặc lý giải hành vi hoặc giúp nhân vật đi từ “tự vấn” đến “tự phản tỉnh”. Song dù thế nào thì thủ pháp này bao giờ cũng dành cho một lựa chọn đơn lẻ duy nhất: “cái bóng” là “cái bóng” của nhân vật và chỉ của nhân vật mà thôi (xin nhấn mạnh - NH). Và như thế, “cái bóng” trên tường được Vũ nương “dối” con bảo đó là bóng cha - bóng Trương Sinh, chỉ có thể là “bóng” nàng, chứ không thể là “bóng” ai khác.

    Song có lẽ do thấy trong Chuyện người con gái Nam Xương có đề cập tới hình ảnh “cái bóng” nên Nguyễn Nam đã quy nạp nó về với môtíp “cái bóng” thông thường trong văn chương và anh đã không chú ý rằng, khi anh coi: “Dẫu bóng câm lặng, đối thoại tưởng tượng giữa người và bóng vẫn có thể được thiết lập, dựa trên cơ sở hợp nhất và phân thân. Thiếp với chàng tuy hai mà một; vậy nên, nhìn bóng mình thiếp tưởng dáng ai trên tường”, “chỉ bóng, dỗ con, bảo đấy là cha - hành vi ấy thoạt như bông đùa hời hợt, nhưng thật ra lại ẩn sâu bên dưới nó những tầm tâm thức phức tạp” thì anh đã đẩy “cái bóng” trong văn bản Chuyện người con gái Nam Xương sang một tình huống khác, khó có thể coi là cùng chung bản chất. Thiển nghĩ đây là tình huống “cái bóng” không còn là “cái bóng” của chính mình mà là “cái bóng” của người khác - một tình huống vốn rất thụ động (như khi người ta nói A là “cái bóng” của B, hoặc ngược lại). Theo tôi, nếu đây thật sự là một “khoảng trống” cần được lấp đầy trong Chuyện người con gái Nam Xương thì nó phải được tiếp cận, lý giải từ một góc độ khác chứ không phải từ sự “phân thân” và “phản thân” như Nguyễn Nam đề xuất. Xin nói thêm, giả dụ Vũ nương thật sự coi “bóng mình” là “bóng chồng” thì thiển nghĩ điều này không chỉ là biểu hiện của dạng thức tình cảm “mình với ta tuy hai mà một…” mà ở mức cao hơn, nó chính là thủ pháp góp phần tô đậm, khắc họa rõ nét hơn lòng trung trinh, nỗi khắc khoải và sự oan ức của số phận của nàng.

    3. Về “những khoảng trống không xác định”, “hành vi đọc duyệt” và “tiếp cận liên văn bản”. Để bảo đảm tính hợp lý cho hướng nghiên cứu, Nguyễn Nam diễn giải một cách khá rối rắm các quan niệm từ “khoảng trống không xác định” của Roman Ingarden, đến “hành vi đọc duyệt văn bản ở đây cũng là tái sáng tạo” của Wolfgang Iser, đến “tiếp cận liên văn bản” với một chú thích dài dòng về quan niệm của Julia Kristeva đối với “tính liên văn bản” (một thuật ngữ làm tôi liên tưởng tới một phái sinh của văn học so sánh?).

    Tiếp xúc với các quan niệm nói trên, có thể nhận ra đây là những nội dung không mới, và hoàn toàn có thể diễn đạt một cách giản dị, rõ nghĩa. Tôi nói chúng không mới bởi không cần thiết phải dẫn ra Roman Ingarden, Wolfgang Iser, Julia Kristeva thì bất kể một tác giả nghiên cứu văn chương nghiêm túc nào ở Việt Nam hôm nay cũng đều thấu hiểu việc phải nhìn nhận tác phẩm văn chương như một hệ thống mở, người đọc lĩnh hội tác phẩm như một “đồng tác giả” và có thể nghiên cứu tác phẩm trong mối liên hệ với các tác phẩm khác (nếu có nét tương đồng) theo cả hai chiều lịch đại và đồng đại. Bên cạnh đó, trong khi thiết lập hướng nghiên cứu bằng cách dựng lại mối liên hệ từ Roman Ingarden đến Julia Kristeva, Nguyễn Nam đã không chú ý tới đặc điểm của thể loại, không chú ý tới vai trò “đồng sáng tạo” của người dịch và vấn đề mỹ học tiếp nhận. Anh có xu hướng nhấn mạnh những chi tiết được bổ sung vào các “cải bản” của Chuyện người con gái Nam Xương như bản dịch Truyền kỳ mạn lục của Trúc Khê Ngô Văn Triện, kịch bản Chương (Trương) Sinh, bản dịch sang tiếng Pháp của Phạm Duy Khiêm…

    Theo tôi, sự xuất hiện các “cải bản” của Chuyện người con gái Nam Xương luôn có quan hệ mật thiết với Chuyện người con gái Nam Xương. Nếu coi “cái bất biến” của Chuyện người con gái Nam Xương là câu chuyện về số phận con người, về lòng ghen tuông mù quáng và nỗi oan khuất thì tất thảy các “cải bản” đều hình thành xung quanh “cái bất biến” đó, nếu thoát ra khỏi “cái bất biến”, chúng sẽ không còn được coi là “cải bản”. Bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, kịch bản Chương (Trương) Sinh, bản dịch của Phạm Duy Khiêm có thêm thắt các chi tiết miêu tả nội tâm hay sáng tạo thêm các đối thoại thì cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ “cái bất biến”, sao cho “cái bất biến” có thể thiết lập được mối tương thích với cảm thức của người đọc cùng thời. Riêng với bản dịch Chuyện người con gái Nam Xương của Phạm Duy Khiêm, căn cứ vào đoạn trích những suy nghĩ của ông trong quá trình cải tác Chuyện người con gái Nam Xương sang tiếng Pháp do Nguyễn Nam dẫn lại (“Khởi sự… chung vui cùng người sống”), có thể khẳng định về mặt tâm thế, Phạm Duy Khiêm đã dịch văn bản này trong nỗi ám ảnh của chủ nghĩa hiện thực - cái mà sinh thời Nguyễn Dữ hẳn chưa bao giờ biết đến. Xét đến cùng, dẫu cố gắng tìm tòi để bảo đảm tính logic của hiện thực, tính logic của tâm trạng thì Phạm Duy Khiêm cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ “cái bất biến”, giúp người đọc cùng thời với ông cảm nhận được “cái bất biến” chứ không nhằm đưa ra một cái nhìn mới, một lý giải mới về “cái bất biến” của Chuyện người con gái Nam Xương. Đây phải chăng chính là lý do làm cho bản dịch của Phạm Duy Khiêm “đã hình thành một cách kể mới, ít nhiều được người đọc chấp nhận” như Nguyễn Nam đã nhận xét?

    Cuối cùng theo tôi, tiểu luận Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương của Nguyễn Nam quả có gợi lên một cái gì đó đối với những ai có ý định giải mã, khám phá các chiều nghĩa, tầng nghĩa của một tác phẩm văn chương. Nhưng ở tiểu luận này, đáng lẽ để đưa ra một phát hiện mới về tác phẩm, người nghiên cứu phải bắt đầu từ yêu cầu khách quan - nội tại của sự nghiên cứu, thì Nguyễn Nam đã đi theo chiều ngược lại: anh xác lập một hướng tiếp cận về lý thuyết và yêu cầu tác phẩm phải đi theo hướng ấy, và anh đã đẩy tới những kết quả gượng ép (hay những hư cấu chủ quan?). Rồi nữa, từ kinh nghiệm cùng cảm quan cá nhân, tôi luôn thấy e ngại trước những nghiên cứu được trình bày một cách rối rắm và quá nhiều trích dẫn, chú thích. Với năm mươi ba chú thích và rất nhiều trích dẫn, tiểu luận, Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương của Nguyễn Nam cũng đặt tôi trước sự e ngại này. Phải chăng sẽ là quá lời nếu cho rằng người viết còn thiếu tự tin khi trình bày ý tưởng cùng kết quả nghiên cứu của mình?

     

    Nguồn: Bàn phím và … “cây búa”. Tiểu luận, phê bình của Nguyễn Hòa. NXB Văn học, 2007.

     www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,810,001

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/