Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,812,098

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Về một sản phẩm "thứ cấp" trên tạp chí NCVH

Nguyễn Hòa

  • Thứ tư, 22:35 Ngày 29/06/2011
  • Như tự giới thiệu của Bùi Việt Thắng thì anh đã có thâm niên ba mươi năm đeo bám truyện ngắn Việt Nam, nhưng tiếp xúc với một số kết quả nghiên cứu của anh, tôi không thể không đặt câu hỏi rằng ba mươi năm đeo bám ấy liệu có hội đủ các yếu tố cần thiết để anh có thể khoe khoang như một lao động nghệ thuật đáng tự hào. Tới khi Bùi Việt Thắng công bố tiểu luận Truyện ngắn hôm nay trên tạp chí Nghiên cứu Văn học (2-2004) tôi càng nhận thấy câu hỏi trên đây không phải không có cơ sở. Vì thế tôi đã viết Về một sản phẩm “thứ cấp” trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, và do Tạp chí Nghiên cứu Văn học không nhận đăng tải (Để bảo vệ uy tín của Tạp chí? Để bảo vệ uy tín của Bùi Việt Thắng? Để chứng minh bài viết của tôi không xứng “tầm vóc” khoa học của với Tạp chí?...) tôi đã gửi đăng trên tạp chí Thế giới mới. Và cũng tương tự như số phận bài Phải chăng tới Truyền kỳ mạn lục, truyện ngắn Việt Nam “mới được khẳng định như một thể loại độc lập trong văn xuôi nghệ thuật”? (Tạp chí Văn nghệ quân đội), cho đến nay bài Về một sản phẩm “thứ cấp” trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học vẫn hoàn toàn không nhận được một câu trả lời nào từ Bùi Việt Thắng. Tôi đành tự an ủi rằng ở đây chỉ có hai khả năng: hoặc tôi phân tích “quá đúng”, đến mức Bùi Việt Thắng không thể trả lời; hoặc anh cho qua vì không muốn đối thoại với một người không có trình độ ngang ngửa với anh?

    Tháng 1-2004, bằng khuôn khổ mới và hình thức trang nhã, Tạp chí Văn học - Viện Văn học, đã ra bộ mới có tên gọi Nghiên cứu Văn học. Với tiêu chí “nghiên cứu lý luận và lịch sử văn học”, Tạp chí đã khẳng định lĩnh vực chuyên biệt của nó, đồng thời qua đó cũng khu biệt với công việc của phê bình văn chương (?). Tuy nhiên, đọc bài Truyện ngắn hôm nay của Bùi Việt Thắng đăng trên Nghiên cứu Văn học số 1-2004, tôi lại thật sự ngạc nhiên. Ngạc nhiên không chỉ vì cái tiêu đề nôm na, gần gũi với báo chí, mà còn vì những vấn đề, những nội dung được tác giả đề cập và khẳng định vừa rất gần gũi với phê bình văn chương, vừa hết sức chủ quan, sơ lược, mang phong cách “khống luận” và được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ thiếu tính khoa học. Theo tôi, bài viết này là ví dụ điển hình cho tình trạng một số tác giả viết rất dễ dãi và khơi khơi nhưng vẫn được coi là “nghiên cứu” - một hiện tượng rất đáng quan ngại đang xuất hiện trong nghiên cứu văn chương ở Việt Nam.

    1. Mở đầu bài viết, bằng thủ pháp tưởng tượng và thông qua phong cách “khống luận”, Bùi Việt Thắng “bịa” ra một số vấn đề học thuật, đưa lại cảm giác đây là các vấn đề lớn, có “phái” này “phái” kia, đồng thời còn linh hoạt “cài đặt” vào đó ý kiến của chính ông, dẫu chưa được tán thành, nếu không nói đã từng bị bác bỏ(1). Bùi Việt Thắng viết: “Thời của tiểu thuyết” hay “thời của truyện ngắn”? Một phái cho rằng đây là “thời của tiểu thuyết” vì tiểu thuyết là “một nồi lẩu” nóng hổi của nghệ thuật, vì “tiểu thuyết vừa là một sự tha hóa, xuống cấp của truyện ngắn vừa là một sự phát triển, bứt phá lên của truyện ngắn”. Lại có một thói quen cho rằng một nền văn học lớn nhất thiết là một nền tiểu thuyết lớn. Điều đó không cần bàn cãi và “cũ như trái đất”. Mỗi nền văn học có đặc thù riêng - xét cụ thể văn học Việt Nam thì thơ ca và truyện ngắn mới có truyền thống lâu đời, mới tạo nên hồn cốt tinh thần dân tộc. Có một quan điểm được nhiều nhà khoa học thống nhất - coi cội rễ truyện ngắn có từ thế kỷ XIV - XVI, từ Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục”.

    Từ phạm vi khảo sát cá nhân, tôi được biết trong sinh hoạt học thuật về văn chương Việt Nam những năm gần đây chưa xuất hiện bất kỳ cuộc thảo luận nào xung quanh chủ đề văn chương Việt Nam đang ở “thời của tiểu thuyết” hay “thời của truyện ngắn”. Và hiển nhiên cũng không có câu chuyện “phái” này “phái” kia để Bùi Việt Thắng dựa vào đó khái quát, nhận định. Các ý kiến về tiểu thuyết do Bùi Việt Thắng dẫn ra trong đoạn trích trên có bản quyền thuộc về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, được trình bày trong tiểu luận Thời của tiểu thuyết(1). Tôi tin chắc Bùi Việt Thắng sẽ không thể tìm ra ý kiến thứ hai đã được công bố mà lại có sự tương đồng với ý kiến của Nguyễn Huy Thiệp, ngõ hầu giúp Bùi Việt Thắng đưa ra những hư cấu chủ quan. Và tôi còn tin hơn rằng, Nguyễn Huy Thiệp sẽ không khỏi lấy làm kỳ quặc khi thấy ý kiến của mình lại được Bùi Việt Thắng xem là tiêu biểu cho một trường phái học thuật.

    Phong cách “khống luận” còn được Bùi Việt Thắng thể hiện qua việc ông bàn về truyện ngắn Việt Nam với một khẳng định xanh rờn: “Có một quan điểm được nhiều nhà khoa học thống nhất - coi cội rễ truyện ngắn có từ thế kỷ XIV - XVI, từ Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục”. Theo tôi đây là một vấn đề phức tạp mà một người nghiên cứu xét đoán cẩn trọng và minh mẫn sẽ không vội vàng kết luận. Có lẽ vì thế trong công trình Văn xuôi Việt Nam thời Trung đại, sau khi đưa ra một phân loại về văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại gồm truyện ngắn, tiểu thuyết chương hồi và ký, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Na vẫn phải bảo lưu: “Dĩ nhiên, cách phân loại nào cũng có tính tương đối của nó. Với văn xuôi tự sự Việt Nam, việc chia thành ba thể loại này lại càng mang ý nghĩa tương đối, bởi tính thể loại của chúng rất không rõ ràng”(1). Thiết nghĩ đây là một xét đoán nghiêm cẩn về mặt khoa học. Còn ông Bùi Việt Thắng thì muốn đi xa hơn. Với khát vọng hiện đại hóa văn học Việt Nam thời Trung đại, trong Bình luận truyện ngắn - tác phẩm mà kết quả nghiên cứu của tác giả thì ít nhưng “độn” ý kiến người khác vào thì nhiều, ông viết: “nếu có thể nói hình thức phôi thai của truyện ngắn dân tộc có từ thế kỷ XIV (các truyện của Lý Tế Xuyên trong Việt điện U Linh) thì cũng phải đến thế kỷ XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thì truyện ngắn Việt Nam mới được khẳng định như một thể loại độc lập trong văn xuôi nghệ thuật”(2). Và không chỉ đề xuất, qua bài Truyện ngắn hôm nay, Bùi Việt Thắng còn khuếch trương luận điểm của mình, biến nó thành: “một quan điểm được nhiều nhà khoa học thống nhất” thì quả là ông đã đạt tới trình độ thượng thừa về phong cách “khống luận”. Rất mong sau đây ông sẽ đưa ra dẫn chứng cụ thể và chứng minh các nhà khoa học nào đã thống nhất rằng ở Việt Nam “cội rễ truyện ngắn có từ thế kỷ XIV - XVI, từ Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục”?

    2. Tiếp tục phong cách “khống luận”, Bùi Việt Thắng đưa ra một số nhận xét mà tôi nghĩ một người “đeo bám” vào truyện ngắn Việt Nam đã ba mươi năm (như trong phần cuối bài Truyện ngắn hôm nay Bùi Việt Thắng tự giới thiệu) sẽ khó lòng mắc phải. Tỷ như việc ông phân loại thế hệ tác giả truyện ngắn Việt Nam đương đại theo lớp tuổi chẳng hạn. Bùi Việt Thắng lấy tiêu chí “trên dưới năm mươi” để phân loại nhà văn thuộc thế hệ thứ hai, trong danh sách người ta thấy có Phạm Thị Minh Thư (sinh 1956), Nguyễn Đức Thọ (sinh 1955). Rồi ông lấy tiêu chí “trên dưới bốn mươi” để phân loại nhà văn thuộc thế hệ thứ ba và người ta lại thấy trong đó có Phạm Ngọc Tiến (sinh 1956), Võ Thị Xuân Hà (sinh 1956), thậm chí còn thấy cả Võ Thị Hảo, Hòa Vang - những tác giả đã “ngoại ngũ tuần”. Nhưng khôi hài nhất là trường hợp Sương Nguyệt Minh - sinh năm 1957, lại được xếp vào thế hệ thứ tư với cùng với những tác giả trên dưới ba mươi! Dường như tự thấy sự “đeo bám” với truyện ngắn Việt Nam dù đã ba mươi năm mà vẫn còn lỏng lẻo và có lẽ cũng dự cảm thấy tiêu chí phân loại của mình chưa thuyết phục, nên đối với thế hệ thứ ba, Bùi Việt Thắng chua thêm: “trong thế hệ này, có thể ai đó nhỉnh tuổi hơn nhưng được tính gộp vào đây vì lý do xuất hiện vào thời điểm này hay khác trên văn đàn”. Tiếc thay, chính điều được chua thêm này lại phát lộ sự lộn xộn, thiếu nhất quán trong tiêu chí phân loại của tác giả và sự cẩu thả ấy có khả năng biến bảng phân loại của ông thành một “nồi lẩu thập cẩm hầm bà lằn” lạnh ngắt.

    Với Truyện ngắn hôm nay, Bùi Việt Thắng không chỉ đưa ra một số nhận xét đậm nét “khống luận”, mà đôi khi ông còn bình luận rất ngô nghê, tự mâu thuẫn, nên đọc chúng nếu không thấy khôi hài thì người ta cũng không thể không đặt ra những câu hỏi mà tôi tin Bùi Việt Thắng sẽ khó trả lời. Xin dẫn lại:

    - Với “thế hệ thứ hai”, Bùi Việt Thắng viết: “Họ khác thế hệ thứ nhất ở chỗ được sống nhiều ở cả thời bao cấp và Đổi mới. Cách sống của họ cũng khoáng đạt hơn và hình như đối với họ không có cái gọi là “cổ điển” cả trong văn chương lẫn những mực thước đạo đức”!?

    - Với thế hệ thứ ba, Bùi Việt Thắng viết: “Thế hệ này được đào tạo căn bản, có nền văn hóa, được tự do viết và có điều kiện tiếp xúc với tinh hoa văn học thế giới (được đọc hết các nhà văn cổ điển truyện ngắn thế giới). Nhưng họ rất chủ động, sáng tạo vì họ đứng vững trên mảnh đất sinh ra, viết bằng tiếng Việt. Trừ một vài trường hợp lai tạp Âu - Mỹ, còn tuyệt đại đa số họ thuần phác là nhà văn dân tộc”!?

    - Với thế hệ thứ tư, Bùi Việt Thắng viết: “Tất cả đều hăm hở viết như một thôi thúc nội tâm, cháy bỏng và không cưỡng lại được. Thậm chí đôi khi họ viết như “lên đồng”… Huỳnh Thạch Thảo, từ 1998 đến 2001, in liền ba tập Mắt Phượng, Gió trên đồi hoang, và Đất còn phù sa; Như Bình trong ba năm in hai tập Giông biển và Đêm vô thường, Phong Điệp có trong tay ba tập truyện ngắn”,… “Một số vẫn viết theo truyền thống (có mở đầu, thắt nút, cao trào, mở nút) còn đa số thì viết theo lối của một kẻ giàu, chơi sang, ném ra cùng lúc cả nắm tiền vàng bằng xu, người khác phải nhặt ngay mà không biết đâu là cuối cùng và đâu là đầu tiên”. “Truyện ngắn trẻ đang vỡ ra như một cơ thể mới lớn (con trai thì giọng ồ ồ, đi đứng khệnh khạng, ria mép lún phún và cả những biểu hiện tinh vi khác; con gái thì má thường đỏ và nở nang cân đối…)”!?

    - Với một vài tác giả, Bùi Việt Thắng còn gia tăng chất “khống luận” hơn nhiều, như với Trần Thùy Mai ông viết: “Tập truyện ngắn Quỷ trong trăng, Trò chơi cấm, Thị trấn hoa quỳ vàng, Bài thơ về biển như những dấu son đỏ của văn giới, thừa nhận tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quốc gia của cây bút nữ cầm tinh con ngựa (1954). Lận đận trong cuộc sống nhưng thành đạt trong văn nghiệp, một khuôn mặt sáng ngời mà mỗi câu văn lại đau đáu, có khi rỏ máu… đó là những nghịch lý ở tác giả này”!?

    3. Trong bài viết, dưới tiêu đề nhỏ Những “nốt nhấn” của truyện ngắn, Bùi Việt Thắng phát hiện ra hai “nốt nhấn” của truyện ngắn Việt Nam đương đại là “tính nữ của văn học” và “những kết thúc bỏ ngỏ, độ mở rất lớn”. Vậy hãy xem hai “nốt nhất” mà Bùi Việt Thắng đã “ơreka” được có hình thù như thế nào:

    - Về nốt nhấn thứ nhất - “tính nữ của văn học”, Bùi Việt Thắng viết: “Người ta nói đến “tính nữ của văn học” quả là không ngoa. Có nhà văn còn nói hình ảnh “văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ”. Hiển nhiên “tính nữ” này không phải do chính các nhà văn nữ duy nhất tạo thành, nó là một phẩm chất của văn học hôm nay”.

    Do Bùi Việt Thắng không đưa ra các tiêu chí giúp người đọc phân định thế nào là “tính nữ của văn học”, nên chỉ có thể tìm hiểu khám phá của ông thông qua các dẫn chứng và phân tích. Theo ông thì đó là: Nguyễn Thị Phước “đằm thắm đối với con người”, Trần Thị Huyền Trang “đã làm cho nhiều độc giả nhỏ lệ”, Y Ban “dám đòi quyền được hạnh phúc”, Nguyễn Thị Thu Huệ “có nhiều truyện ấm áp, dịu dàng đến khắc khoải”, Trần Thùy Mai là “cây bút giàu nữ tính nhất hiện nay trong làng truyện ngắn” vì “truyện của chị lúc nào cũng nhiều nước mắt”. Rồi ông quả quyết: “Tính nữ của văn học và truyện ngắn đương đại còn biểu hiện ở chỗ, mỗi tác phẩm được viết ra như là sự vắt kiệt của nhà văn. Nói cách khác đó là một sự dâng hiến - dâng hiến cái đẹp cho con người. Dường như đó là một sự hy sinh của “mẫu tính”, không suy bì hơn thiệt”.

    Điều thú vị ở đây là qua các dẫn chứng và phân tích về “tính nữ của văn học”, tuyệt nhiên Bùi Việt Thắng không đưa ra được bất kỳ tác phẩm của một tác giả nam giới nào, vì thế tôi ngờ rằng điều ông viết: “Hiển nhiên “tính nữ” này không phải do chính các nhà văn nữ duy nhất tạo thành, nó là một phẩm chất của văn học hôm nay” chỉ là một rào đón chiếu lệ, trong thực tế, ông vẫn chỉ dựa vào các nhà văn nữ và tác phẩm của họ để chứng minh cái gọi là “tính nữ của văn học”. Song điều kỳ cục nhất của Bùi Việt Thắng trong nội dung này là ông sử dụng các đặc điểm như “đằm thắm”, “phải nhỏ lệ”, “đòi quyền được hạnh phúc”, “ấm áp dịu dàng”, “nhiều nước mắt”, “sự vắt kiệt của nhà văn” để xác định cái mà ông gọi là “nữ tính của văn học”. Cứ theo Bùi Việt Thắng thì phải chăng các đặc điểm trên không xuất hiện trong truyện ngắn của các cây bút nam. Thiết nghĩ, nếu có một ý niệm về “tính nữ của văn học” thì dường như người ta cần phải xác định nó qua cách cảm, cách nghĩ, lối nhìn nhận và suy tư, cách thức xử lý tình huống… mang dấu ấn “giới tính” chứ không phải như Bùi Việt Thắng phát hiện. Từ đó còn có thể suy ra một phản đề: phải chăng từ các đặc điểm: không đằm thắm, độc giả không nhỏ lệ, không đòi quyền được hạnh phúc, không ấm áp dịu dàng, ít nước mắt, nhà văn không chịu vắt kiệt mình…, người ta có thể tìm hiểu “tính nam của văn học”. Vả lại, nếu chỉ bằng sự đằm thắm, nhỏ lệ, ấm áp dịu dàng, nhiều nước mắt… để xác định thì văn học Việt Nam đã có “tính nữ” từ lâu rồi, chứ đâu phải chờ đến hôm nay, ít nhất cũng có thể nhận biết qua tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam…

    - Về nốt nhấn thứ hai là “những kết thúc bỏ ngỏ, độ mở rất lớn”, Bùi Việt Thắng trình bày khám phá của ông bằng một thứ ngôn ngữ mang tinh thần võ thuật như sau: “Với truyện ngắn, sự hấp dẫn, tính bất ngờ và ấn tượng nếu có đều rơi vào đoạn kết. Tạo được lối kết thúc hay là nhà văn đã có một “cú đấm nghệ thuật” làm độc giả bị “đo ván”. Hay nói cách khác đó là cách tạo ra những “bước hụt”, những “cú lừa ngoạn mục”. Các bậc thầy truyện ngắn thế giới như O. Henry, A. Môroa, J. Clezio… đều đã chinh phục tuyệt đối chúng ta bởi những truyện ngắn mà trong đó đoạn kết là những “độc chiêu” làm ta nhớ mãi”.

    Để nhấn cái nốt thứ hai, Bùi Việt Thắng dẫn chứng các truyện ngắn Mùi cọp (Quý Thể), Bi kịch nhỏ (Lê Minh Khuê), Người tình của cha (Từ Nguyên Tĩnh), Thiên đường mong manh (Trần Thuỳ Mai), Nanh sấu (Sương Nguyệt Minh)… và cho rằng chúng hấp dẫn nhờ: “những đoạn kết vừa li kỳ, vừa phi lý, nhưng lại là không thể nào khác được”. Rồi ông viết tiếp “Phạm Thị Hoài, một “tín đồ” của dòng ý thức mà thích treo lơ lửng đoạn kết trong tâm trí người đọc. Nghĩa là kết thúc mà như chưa kết thúc, dường như nhân vật hay chính tác giả miễn cưỡng chấm dấu chấm cuối cùng của câu chuyện. Nguyễn Huy Thiệp còn xảo thủ hơn khi trong một truyện ngắn đưa ra nhiều cách kết thúc khác nhau (ví dụ như Vàng lửa)… Tiến Đạt là một cây bút trẻ (sinh 1975), truyện ngắn của anh khá độc đáo là nhờ vào đoạn kết luôn “bỏ ngỏ” và đầy tính giả tưởng… Kết thúc truyện của Trần Thanh Hà, thường nhân vật được tắm gội trong thiên nhiên…”.

    Theo tôi, bằng lối diễn đạt tự tin và uyên thâm về “nốt nhấn” thứ hai, Bùi Việt Thắng đã trực tiếp giới thiệu với người đọc sự hời hợt, cũng như sự ấu trĩ của chính ông. Vì lẽ, “kết thúc mở” là kết thúc không có kết thúc, và đã là “kết thúc bất ngờ” thì hoàn toàn không “mở”. Bởi không phân biệt (hay không biết phân biệt?) sự khác nhau giữa kết thúc mở và kết thúc bất ngờ nên những phân tích về “kết thúc bỏ ngỏ, độ mở rất lớn” của Bùi Việt Thắng xem chừng cũng chỉ là một tập hợp tạp nham, không có liên quan gì tới nội hàm của khái niệm. Vì lẽ “những đoạn kết vừa li kỳ, vừa phi lý, nhưng lại là không thể nào khác được” thì làm sao có thể gọi là “kết thúc mở”. Hơn thế nữa, khi ông coi “kết thúc truyện của Trần Thanh Hà, thường nhân vật được tắm gội trong thiên nhiên” cũng được coi là “kết thúc mở” thì quả thật đã làm tôi liên tưởng tới việc Bùi Việt Thắng có ý định giật giải Trái cóc xanh năm 2004 của báo Tuổi trẻ Cười!

    Có lẽ vì “đeo bám” truyện ngắn Việt Nam đã ba mươi năm nên Bùi Việt Thắng ngỡ ông đã phát hiện ra “châu Mỹ”, và ông không biết khi kết thúc truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao để cho Thị Nở nhìn xuống cái bụng của mình rồi liên tưởng tới cái lò gạch là Nam Cao đã đưa ra nhiều gợi mở đối với người đọc. Tương tự như thế, với truyện ngắn Người đàn bà Tầu, khi Nguyên Hồng viết ở trang cuối cùng rằng: “Người mẹ Trung Quốc địu con và chạy giặc tôi được gặp!... Người mẹ cần lao tha hương nào vậy?” thì ông đâu có “đóng” tác phẩm lại. Rất nhiều ví dụ có thể dẫn ra, nhưng với hai ví dụ trên đây cũng đủ chứng minh không phải tới hôm nay truyện ngắn Việt Nam mới xuất hiện lối tổ chức truyện ngắn có “kết thúc bỏ ngỏ, độ mở rất lớn”. Thiển nghĩ, cái “nốt nhấn” thứ hai được Bùi Việt Thắng khái quát trên đây cũng chỉ là một cách “nhấn” lấy được, hay nói một cách hình ảnh thì phát hiện này của Bùi Việt Thắng cũng tương tự như việc ông “nhấn” vào công tắc của một cái đèn điện mà không thấy rằng nó vẫn đang sáng trưng!

    4. Theo tôi, đọc tiểu luận Truyện ngắn hôm nay, người ta không thể nhận ra một ý kiến nào là của riêng Bùi Việt Thắng. Tiểu luận la liệt các trích dẫn kiểu “nhà văn Hoàng Ngọc Hiến đã viết…”, “nhà văn Thùy Linh có một ý rất thâm sâu”, “nhà văn Đỗ Chu một lần xác nhận…”, “nhà văn Trung Quốc Trương Hiền Lượng có một ý kiến khá thú vị”, “Nguyễn Huy Thiệp đã viết…”, “nhà văn Nguyễn Khải vốn kiệm lời khen đã có lời bình…” (trong đó riêng Trương Hiền Lượng được ông trích dẫn mười lăm dòng, chiếm khoảng năm phần trăm số lượng từ của cả bài!). Cùng với các trích dẫn, bài viết còn nhan nhản những ý kiến phiếm chỉ vốn rất tối kỵ trong nghiên cứu khoa học, đại loại như: “có người nói”, “người ta nói”, “nhiều nhà khoa học thống nhất”, “nghe đâu một nhà văn khả kính”, “có nhà văn còn nói”, “có nhà phê bình đã tìm thấy”, “nhiều người cho rằng”, “vì như lời nhà văn Anh”… Còn các phát kiến tưởng chừng là tài sản riêng của Bùi Việt Thắng thì lại không mới, chúng chỉ là sự phát triển ý kiến của người khác, nhưng do hạn chế trong khả năng nắm bắt đối tượng nghiên cứu nên ông đã tự đẩy mình vào ngõ cụt. Có thể nhận biết ở hai luận điểm:

    - Về lịch sử truyện ngắn Việt Nam, ông dựa trên và phát triển ý tưởng của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Na nhưng lại không nhận thấy Nguyễn Đăng Na đã cẩn trọng như thế nào. Chính vì thế Bùi Việt Thắng sẽ không thể trả lời được câu hỏi: Nếu quả thật “phải đến thế kỷ XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thì truyện ngắn Việt Nam mới được khẳng định như một thể loại độc lập trong văn xuôi nghệ thuật” thì nó mai danh ẩn tích ở đâu trong suốt hơn 400 năm để đến đầu thế kỷ XX mới “tái xuất giang hồ”?

    - Gần đây do sự xuất hiện khá thành công của nhiều cây bút nữ trên văn đàn, trong văn giới và báo chí có lưu truyền một nhận xét vui rằng đây là hiện tượng “âm thịnh dương suy”. Tuy nhiên nhận xét ấy chỉ đề cập tới đội ngũ người sáng tác, chứ không đề cập tới phẩm chất của văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng. Riêng Bùi Việt Thắng muốn đi xa hơn, bằng cách chế tác ra cái gọi là “tính nữ của văn học”. Nhưng bởi không xác định được hình hài đứa con tinh thần của mình tròn méo ra sao nên ông đành loay hoay thỏa mãn với những đằm thắm, nước mắt, nhỏ lệ, vắt kiệt… Xin lỗi, việc nhà văn “vắt kiệt” mình cho tác phẩm mà được coi là có “tính nữ” thì buồn cười quá. Đấy là chưa nói “nốt nhấn” này còn đưa lại một liên tưởng rằng “nó” cũng chỉ là một dị bản được Bùi Việt Thắng “sáng chế” bằng cách nói theo Hoàng Ngọc Hiến!

    5. Trong Truyện ngắn hôm nay, ngoài việc “tạt ngang” bàn về tiểu thuyết Tuổi hai mươi yêu dấu của Nguyễn Huy Thiệp, có lẽ Bùi Việt Thắng đã quên phắt luôn tên tuổi và tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Khải, Anh Đức, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh… để đi tới kết luận: “Sức sống của văn xuôi hiện đại Việt Nam thế kỷ XX là nhờ hẳn vào truyện ngắn”. Và ông còn đưa ra một xác tín: “Dẫu sao thì thơ và truyện ngắn là hai lĩnh vực nhiều thành tựu nhất của nền văn học dân tộc suốt nhiều thế kỷ”. Theo tôi, riêng về thơ thì nhận định trên còn khả thủ, nhưng về truyện ngắn mà nói như vậy thì đúng là “dọc ngang chẳng biết trên đầu có ai”. Qua đây, tôi tha thiết kính mong ông Bùi Việt Thắng hãy chỉ giáo cho tôi cùng bạn đọc được biết: trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX thì thành tựu về truyện ngắn ở Việt Nam là gì và được thể hiện qua những tác phẩm nào?

    Về tương lai của truyện ngắn Việt Nam, thiển nghĩ người yêu văn chương đều hy vọng “nó” sẽ phát triển, nhưng nếu quả quyết truyện ngắn sẽ phát triển dựa trên hai cơ sở: một là truyện ngắn “tiện lợi đối với nhịp độ sống khẩn trương của con người hiện đại”, hai là để đối phó với chiều hướng gia tăng, lấn át của văn hóa nghe - nhìn đối với văn hóa đọc, “nhà văn buộc phải tính toán, lựa chọn thể loại phù hợp” như Bùi Việt Thắng trình bày thì có điều gì đó hơi bị bất bình thường. Cứ theo ông để suy ra, có lẽ văn học đương đại ở các nước Pháp, Mỹ mỗi năm có hàng nghìn đầu tiểu thuyết được xuất bản chắc hẳn vì các quốc gia đó chưa có “nhịp độ sống khẩn trương của con người hiện đại”. Và những người xét giải Nobel văn chương nhất định “có vấn đề”, nếu không thì tại sao hàng năm họ lại cứ chủ yếu nhè vào các tác giả tiểu thuyết để trao giải thưởng!

    6. Cách đây năm năm, trong bài Tổng quan về văn học Việt Nam năm 1999, Bùi Việt Thắng đã tiến hành một động thái văn chương hiếm thấy trên văn đàn là tự ca ngợi mình như thế này: “Cuốn Bình luận truyện ngắn (Nhà xuất bản Văn học) của Bùi Việt Thắng đã bổ sung vào mảng sách phê bình văn chương lối viết kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực tiễn vừa bao quát được các vấn đề thể loại vừa phác vẽ diện mạo truyện ngắn đương đại”(1). Từ đó đến nay, sau mấy năm nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam đương đại ông vẫn chưa tiến thêm được một bước nào, vì tôi nhận thấy bài Truyện ngắn hôm nay chỉ là “bổn cũ soạn lại” nếu đối chiếu với các ý kiến của ông trong Bình luận truyện ngắn.

    Nên cuối cùng, điều muốn nói ở đây là nghiên cứu khoa học nghiêm túc không có chỗ dành cho các thao tác hời hợt, chủ quan, thiếu sự chuẩn bị thấu đáo về lý luận - thực tiễn. Những công trình như Truyện ngắn hôm nay được công bố sẽ không mang lại hiệu quả khoa học tích cực nếu không nói sẽ góp phần làm “nhiễu loạn” sinh hoạt khoa học, và mặt khác, còn góp phần giảm thiểu sự tin cậy của người sáng tác đối với sản phẩm của một số tác giả viết phê bình - hiện tượng đã và đang tồn tại trong sinh hoạt văn chương ở Việt Nam lâu nay. Đáng quan tâm hơn, nếu những nội dung khoa học dễ dãi như vậy được giảng dạy trong nhà trường thì chắc chắn sẽ làm méo mó nhận thức của người học và điều này hẳn là nằm ngoài mong muốn của chúng ta.

    NH.

    Nguồn: Bàn phím và … “cây búa”. Tiểu luận, phê bình của Nguyễn Hòa. NXB Văn học, 2007.

    www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,812,099

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/