Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,812,898

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

Xây dựng văn hóa là cụ thể và thiết thực

Nguyễn Hòa

  • Thứ tư, 17:04 Ngày 13/07/2011
  • “Thần đồng” và “thi nhân hiện đại”!

                Ngày nọ, tại một cuộc họp về văn chương, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà văn TĐ. Nghe các diễn giả loanh quanh những điều “khổ lắm biết rồi nói mãi…” tôi đâm ra chán nản, mà bỏ về thì e bị coi là khiếm nhã, tôi quay sang mượn cuốn sách đặt trên mặt bàn trước nhà văn TĐ để đọc giải khuây. Đây là tập thơ mới xuất bản của một cây bút đang ở tuổi thiếu niên mà tôi đã thấy một vài tờ báo giới thiệu như một “tài năng thơ trẻ”. Đọc kỹ quãng chục bài thơ đầu tiên, các bài sau tôi chỉ đọc lướt qua để biết. Khi tôi trả lại tập thơ, nhà văn TĐ hỏi: “Ông thấy thế nào?”, tôi trả lời nửa đùa nửa thật: “Đây là thơ của “bố thiếu niên” chứ đâu phải là thơ thiếu niên!”. Chiều hôm ấy, tôi lại được rủ rê đàm đạo với mấy nhà văn nhà thơ, và vì thế mới biết “tài năng thơ trẻ” mà tôi may mắn được thưởng thức tác phẩm sáng hôm đó chính là con trai của một nhà thơ cũng đang có mặt. Nghe ông đọc lên bổng xuống trầm rồi phân tích cái hay, cái đẹp trong thi phẩm cùa cậu con trai mà tôi ngao ngán hết cả người. Xem ra nhận xét của tôi cũng có ý nghĩa nhất định chứ chưa hẳn là nửa thật nửa đùa. Thời gian gần đây, tác phẩm của “tài năng thơ trẻ” nọ thua thớt dần, báo chí cũng ít nhắc tới. Không biết là do anh đã chán làm thơ hay còn mải lăn lộn trong cuộc mưu sinh?

                Với một dân tộc có rất nhiều người yêu thơ và thích làm thơ như Việt Nam ta, vào thời buổi thơ được in ấn la liệt như hôm nay, việc ai đó có một bài thơ đăng báo cũng không phải là sự lạ. Hình như là nhà thơ cũng có cái “oai” riêng của nó nên tôi thấy có người chủ yếu “vận văn vần” nhưng vẫn hãnh diện khoe đó là… thơ, và tỏ ra không bằng lòng khi có người chỉ đề cập tới anh ta, chị ta dưới danh nghĩa “cây bút thơ”! Rồi một vài doanh nhân sau khi “công thành” trong làm ăn về kinh tế lại nảy sinh ước muốn được “danh toại” qua con đường thi ca thì câu chuyện còn vui hơn nhiều. Chẳng thế mà có lần tôi phải nhận xét thơ của một doanh nhân (hội viên đàng hoàng, giải thưởng đàng hoàng) na ná như “cửa hàng nhuộm hấp” vì trong tập thơ của ông tràn trề các câu đại loại như: “Nắng và gió nhuộm màu hoa trái”, “Người đem nhuộm úa câu thơ”, “Chiều đang nhuộm xuống sông gầy”…!... Trong cái không khí thi ca sang trọng đó, quãng chục năm nay thi thoảng trên thi đàn lại xuất hiện một “thần đồng thơ”, mà sáng láng nhất có lẽ là “ái nữ” một nhà báo. Trong mấy năm liền, một vài tác giả thi nhau tán thưởng, một vài tờ báo thi nhau giới thiệu… cứ ngỡ thi ca nước nhà đã có người “nối dõi tông đường”. Dè đâu, vào lúc sự nghiệp của nhà báo nọ xuống dốc thì thơ phú của “ái nữ” của ông cũng xuống dốc theo, chẳng mấy khi thấy thơ cô được đăng tải cũng không thấy ai bàn tán như trước. Tôi được biết ở Hà Nội hiện nay cũng có một nhà thơ khá cần mẫn giới thiệu tác phẩm của con cái trong nhà, song không rõ vì thơ còn “dở” hay vì đã được trang bị tinh thần cảnh giác nên ít thấy báo chí quảng cáo rùm beng? Do đã vài lần gặp hiện tượng như thế, nên lâu nay trong tôi nảy sinh một thói quen “rất xấu” là hễ thấy cô cậu thiếu niên nào có thơ đăng báo và lại được khen ngợi tít mù là tôi dò hỏi xem cô cậu đó có họ hàng thân thích gì với nhà thơ, nhà văn hay không. Nếu đúng là con cái nhà thơ, nhà văn thì tôi không đọc nữa, vì lo ngại ông bà thân sinh “thần đồng” lại cho xơi… “quả lừa”! Mà cũng lạ, ngoài một hai nhà văn gây dựng tên tuổi cho con cái bằng giải thưởng văn xuôi khi “cậu ấm cô chiêu” đã qua tuổi thành niên, tôi còn nhận ra một điều là các “thần đồng văn chương” đều chủ yếu xuất hiện qua con đường thi ca. Liệu có phải là do làm thơ “dễ hơn” nên “nổi tiếng” bằng thơ cũng “dễ hơn” không nhỉ? Nhưng dẫu thế nào thì là phụ huynh tôi vẫn áy náy nếu chẳng may con cái phải è cổ còng lưng mang vác gánh nặng của sự nổi tiếng, nhất là trong trường hợp gánh nặng ấy lại do chính… cha mẹ của chúng chất lên!

                Thỉnh thoảng vào Nam ra Bắc, tôi còn gặp một loại hiện tượng cũng không kém phần thú vị là phương cách làm ăn của một vài thi sĩ - “đầu nậu” chuyên nhè vào khát khao được nổi tiếng của một vài người làm thơ ở độ tuổi cao niên để kinh doanh. Năm trước tôi đến thăm bạn bè ở Hội Văn nghệ tỉnh kia. Anh em ở đây đưa tôi xem bức thư của ông X thông báo việc ông ta quyết định đưa mấy người bạn tôi vào danh sách “81 thi nhân Việt Nam hiện đại”. Tiếp đó ông đề nghị họ gửi mấy bài thơ tự chọn, ảnh chân dung, tiểu sử và 300 nghìn đồng để ông làm một tuyển tập đặng “mai hậu lưu lại cho con cháu” (chữ dùng trong thư của ông X! - NH). Thú thật là quá nửa danh sách “81 thi nhân Việt Nam hiện đại” do ông X liệt kê tôi không biết là ai, huống hồ là thơ của họ. Tôi bình luận: ông này láu thật, ông đánh thức tính hiếu danh của người khác để kiếm lời, nếu toàn bộ “81 thi nhân Việt Nam hiện đại” hưởng ứng lời hiệu triệu, ông sẽ có 24.300.000 đồng in sách vừa kinh doanh không phải bỏ vốn vừa được tiếng là người biết tôn trọng, gìn giữ, nâng niu các giá trị văn chương cho đời sau. Anh bạn vong niên của tôi bảo: “Ông X muốn nghiên cứu, muốn làm sách thì cứ tự đi mà làm, sao lại lôi chúng tớ vào. Chắc ông ta tưởng bọn tớ háo danh. Bỏ ra 300 nghìn đồng là có tên trong danh sách “thi nhân Việt Nam hiện đại” ai mà chẳng thích, nhất là anh giáo về hưu như tớ đây, vài năm mới có một bài thơ đăng báo. Nhưng 300 trăm nghìn đâu phải vỏ hến, nộp rồi biết đâu đến tháng sau ông X yêu cầu gửi thêm vài trăm nghìn nữa để in bìa cứng hoặc giấy lụa, in màu thì chẳng nhẽ tớ lại từ chối”. Tôi nói vun vào: “Mỗi người làm sách đều có tiêu chí đánh giá riêng, biết đâu với tiêu chí của ông X, bác lại xứng đáng thì sao?”, bạn tôi liền cáu sườn: “Chú định lỡm anh như ông X đấy à?”. Không biết nhiệt tình của các “thi nhân Việt Nam hiện đại” đã đạt tới mức độ nào và tôi nghĩ nhiều người trong số họ còn tỉnh táo, nên tới hôm nay trong phạm vi khảo sát của mình, tôi vẫn chưa thấy cuốn sách “81 thi nhân Việt Nam hiện đại” kia xuất hiện, hay là do hậu thế còn chưa ra đời, hay là do giá in ấn “leo thang”? Gần đây lại thấy bạn tôi thông báo mới nhận được thư mời của bà Y, vẫn nội dung là đề nghị gửi thơ, ảnh, tiểu sử cùng 300.000 đồng song lần này “chiếc bánh vẽ” có vẻ thơm tho ngon lành hơn, vì nghe nói là thi phẩm sẽ được phát hành ở cả hải ngoại!

    Vâng, thơ quả là đáng quý, song từ dạo thấy người ta có thể dựng nên “thần đồng”, làm ra “thi nhân Việt Nam hiện đại” đến giờ, mỗi khi thấy ai đó tán thưởng thơ ca của một hai tên tuổi lạ lẫm là tôi phải đọc kỹ, đọc rộng hơn để có một đánh giá mang tính cách cá nhân. Trong những trường hợp như thế, tiếc thay không ít sự tán thưởng dường như là hơi… quá lời. Và tôi tự lý giải mãi mà vẫn không hiểu tại sao?    

               

                “Hữu xạ” tự tự nhiên… khoe!

                Năm ngoái đi công tác ở một tỉnh xa, khi về tôi đi tầu hoả. Sẩm tối lên tàu, khoang giường nằm mới chỉ có một anh ngồi trước. Sắp xếp tư trang xong xuôi, tôi làm quen với anh. Anh tự giới thiệu là phó giáo sư tiến sĩ K, lên đây dậy tại chức. Bỗng có hai chị tuổi quãng bốn mươi, ôm hoa bước vào chào thầy rối rít. Biết họ là học trò của anh, tôi đứng lên định ra ngoài, nhưng anh giữ lại. Thầy trò tặng hoa, chúc thượng lộ bình an…, rồi một chị vừa líu ríu gì đó vừa dúi một chiếc phong bì vào túi thầy. Thầy trò đẩy qua đẩy lại vài lần, rồi chiếc phong bì mất hút. Tôi tò mò tự hỏi, không biết học trò nhờ thầy chuyển thư cho người nhà dưới xuôi, hay nội dung chính của cuộc chia tay đã được giải quyết. Hai chị học trò về rồi, anh em tiếp tục trò chuyện. Không rõ anh đã quên hay sợ tôi quên, một lần nữa anh lưu ý tôi rằng anh là phó giáo sư tiến sĩ. Đêm đó tôi không ngủ được, phần vì tiếng bánh sắt tầu hoả xập xình, rít ken két, phần vì mông lung suy nghĩ về nhà khoa học đang nằm ở tầng dưới!

                Qua những gì đã chứng kiến, đôi khi tôi cứ thấy buồn cười, từ ngày “bằng cấp lên ngôi” xem ra đôi ba vị cũng có những hành xử khác thường, hình như họ có một nỗi canh cánh trong lòng là sợ thiên hạ không biết mình là ai. Gần mười năm trước, vào thời in được cuốn sách đóng bìa cứng, có hộp hẳn hoi vẫn còn là ước mơ của nhiều người, tôi có may mắn tiếp xúc với một cuốn như vậy của giáo sư Đ. Cuốn sách là tập hợp một số bài vở mà nếu không in lại thì tôi cũng không biết chúng từng có mặt trên đời, nhưng đáng chú ý là sau mỗi bài viết, bất kể dài ngắn ra sao, vị giáo sư đều cho in một cái cacvidit to bự, cỡ nửa trang sách, đầy đủ chức danh, học vị, địa chỉ, điện thoại… Từ cuốn sách này, chịu khó đọc và theo dõi, tôi rút ra kết luận: giá như một số vị đừng trình chức danh học hàm ra bìa sách hay lên đầu mỗi bài viết thì còn khả dĩ, dù sao năng lực thực tế của họ còn có vẻ “bí mật”, chứ đọc một số điều các vị đã viết, lại thấy chúng không “xứng tầm” chút nào. Ai đời tiến sĩ triết học T chủ nhiệm khoa đàng hoàng lại viết xanh rờn rằng “đầu công nguyên, tầng lớp trí thức và Nho sĩ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo”; còn vị giáo sư tiến sĩ H thì đưa ra một định nghĩa về văn hoá như thế này: “Văn hoá cũng như nghệ thuật là một lĩnh vực rộng lớn, chúng bao gồm toàn bộ những quan hệ của con người, do con người tạo ra và trở thành sản phẩm thúc đẩy các hoạt động của con người” và tôi coi đây là một định nghĩa “kỳ khu”, vì theo đó, hoá ra ông giáo sư tiến sĩ coi nghệ thuật không phải là một lĩnh vực của văn hoá…

    Viết lách thì như vậy, đến khi lên bục giảng bài, một vài vị còn “diễn” hoành tráng hơn. Ngày nọ đến trường đại học X, thấy tôi hỏi về thầy V, sinh viên liền kể cho tôi nghe một giai thoại không biết thực hư ra sao. Chẳng là từ việc thấy mỗi lần lên lớp bài mở đầu bộ môn, bao giờ thầy cũng dành vài tiết để giới thiệu bản thân và gia đình, nhiều thế hệ sinh viên đã tổng kết và truyền bá cho nhau kết cấu bài mở đầu gồm: “tiết 1: Về tôi”, “Tiết 2: Về vợ con tôi”…! Đến khi mục sở thị tiến sĩ K trước khi giảng bài liền lấy phấn chia bảng đen thành 3 phần: một phần nắn nót viết học vị, hai phần viết đề mục, thì tôi “ngại” quá, suốt buổi sáng cứ phải ngắm nghía cái học hàm to tổ bố trên bảng. Thêm lần thấy một giáo sư suốt buổi giảng chỉ viết lên bảng mỗi một “BEER” như muốn gửi đến người nghe một thông điệp rằng ông muốn uống bia, tôi nảy sinh ý định triển khai một đề tài nghiên cứu về các nhà khoa học “hữu xạ” tự nhiên… khoe. Tôi tiến hành sưu tầm tài liệu bằng cách nhờ sinh viên ghi âm một số bài giảng, với lý do: “Phần này chú chưa am hiểu lắm, nhưng không có điều kiện đến dự, cháu ghi hộ lúc nào rỗi rãi chú mở ra nghe”. Thu thập được một đống băng ghi âm bài giảng của các vị phó giáo sư tiến sĩ B, giáo sư tiến sĩ C…, tôi lại không nghiên cứu nữa, chủ yếu vì buồn cười. Đại loại tôi nghe thấy ông T đã dành cả tiết giảng chỉ để “khoe” với sinh viên hôm qua vừa cà phê vừa đàm đạo văn chương với nhà văn K, hôm kia bia bọt với nhà thơ H… Có vị giảng xong, kết luận: “Sau này các em có thể làm nghiên cứu khoa học, song nếu đi theo con đường của bộ môn Z học thì đến cuối đường các em sẽ gặp tôi”. Hài hước nhất là đoạn mở đầu bài giảng một cách đầy tự tin của một tiến sĩ: “Tôi là tiến sĩ Y, tôi giảng bài cho lớp này là một vinh dự cho các anh các chị, vì đây là kiến thức của một tiến sĩ chứ không phải là kiến thức như của một số giáo viên khác”… Trộm nghĩ nếu tôi dỡ băng công bố thì có vị đến phải bỏ nghề!

    Viết đến đây, tôi nhớ đến một người thầy tôi từng vinh dự được theo học là PGS Từ Chi. Với GS Từ Chi, nếu ai không biết ông, khi gặp đều không thể tin rằng đó là một nhà khoa học không chỉ nổi tiếng vào lúc đã qua đời, mà cả khi sinh thời ông cũng luôn luôn được đồng nghiệp kính trọng. Một hôm trời nắng đang đạp xe trên đường La Thành, tôi thấy ông áo quần xuềnh xoàng, lũi cũi đi giữa trời nắng chang chang. Tôi dừng lại mời thầy vào quán uống nước, định bụng hỏi xem thầy đi đâu rồi đèo thầy đi. Ngồi trong quán, tôi tò mò hỏi thầy được phong phó giáo sư từ bao giờ, ông bảo: “Người ta bảo làm hồ sơ thì làm, người ta phong thì nhận, chứ mình thì phó giáo sư cái gì!”. Tôi tin người như ông không biết “khiêm tốn giả vờ” và chỉ có những người như ông mới đích thực là “hữu xạ tự nhiên hương”./.

     

                Hội thảo khoa học thời nay!

                Cách đây không lâu, dự hội thảo về văn học so sánh tại trường Đại học S tôi thấy giáo sư X đọc bài tham luận so sánh giữa Trêkhốp với Nam Cao. Ít ngày sau trong hội thảo về Trêkhốp, tôi lại thấy giáo sư mang tham luận này ra đọc và tôi đồ rằng ông sẽ còn đọc lần nữa trong một hội thảo về… Nam Cao. Nếu đúng như thế thì chỉ với một bản tham luận, giáo sư có thể tham dự chí ít ba cuộc hội thảo, đúng là “nhất cử tam tứ tiện” và sự linh hoạt của giáo sư làm tôi liên tưởng tới hai chữ “thâm canh”. Nghĩ đi thì thế, nghĩ lại có khi cũng nên thông cảm cho vị giáo sư, hội thảo nhiều như thế, lời mời nhiều như thế… trong khi chữ nghĩa đâu phải là cát trên xa mạc muốn xúc bao nhiêu thì xúc, nên làm sao ông có thể “sản xuất” tham luận như mì ăn liền để theo kịp với các yêu cầu khoa học!

    Thật vậy, dường như lâu nay hội thảo đã trở thành một thứ “mốt”, không chỉ với các ngành nghề ít nhiều có tính chất chuyên môn, mà hội thảo còn thâm nhập vào hoạt động của nhiều cơ quan đoàn thể, nhiều địa phương miễn là có một lý do nào đó để... làm một cái hội thảo. Và tương tự như các lễ hội được tổ chức rình rang đó đây thường được tiến hành theo một “kịch bản” na ná nhau, với các màn trình diễn bao giờ cũng thấy loanh quanh với “nón, tay khuỳnh và chạy vòng tròn”, các hội thảo cũng tuân thủ khá nghiêm ngặt một kịch bản như đã được “đúc khuôn” với phần mở đầu là giới thiệu quan khách, rồi ông (bà) chủ trì trình bày bản “đề dẫn” và sau đó là đọc tham luận. Tham luận đọc tràn lan, tham luận đọc thoải mái, dù ban tổ chức có lưu ý diễn giả nên tóm tắt các điểm chính hoặc khống chế thời gian, dù dưới hội trường càng về sau cử tọa càng tản mát dần hoặc trò chuyện như pháo ran. Dự nhiều hội thảo, tôi để ý thấy tiến sĩ Y là một người khá đặc biệt, khi người khác đọc tham luận thì tiến sĩ cười nói hồn nhiên, tới lúc đăng đàn thì tiến sĩ lớn tiếng yêu cầu mọi người lắng nghe, và phát biểu xong thì tiến sĩ... về! Có lần tôi dự một hội thảo gói gọn trong buổi sáng, nhưng diễn giả đầu tiên đã “xài” hơn một giờ đồng hồ, quỹ thời gian còn lại trở nên hạn hẹp, các vị đọc sau chỉ nói được dăm ba câu, cuối cùng chủ tọa cảm ơn và kết luận!

    Không cần chú ý lắm người ta rất dễ nhận ra “vấn đề quan trọng” của nhiều hội thảo thường tập trung quanh chiếc bản của nhân viên phát “thù lao”. Với một số người, khi “vấn đề quan trọng” đã được giải quyết thì việc lẳng lặng “chuồn” lập tức trở thành mục đích cuối cùng. Cho nên để chống lại tình trạng số lượng cử tọa giảm dần trong lúc thời gian hội thảo tăng lên, nói cách khác là để “giữ chân” quan khách, nhiều ban tổ chức đã sáng chế ra một “đấu pháp” khá hữu hiệu là chỉ phát “thù lao” trước lúc tàn cuộc. “Đấu pháp” này quả là cao tay nhưng lại làm cho nhiều cử tọa ngồi trong hội trường nhưng mắt lại luôn liếc nhìn ra cửa, hoặc nhấp nhổm một cách bất bình thường!

    Dẫu thế nào thì mọi hội thảo đều phải đạt tới nội dung khoa học được đặt ra hoặc phải giải quyết được vấn đề muốn tháo gỡ... Các yêu cầu này phụ thuộc vào chất lượng các tham luận và ý kiến thảo luận. Nhưng, nếu như việc thảo luận lâu nay thường trở nên vắng bóng (do thời gian eo hẹp? do e ngại diễn giả “cãi nhau”? do cơ quan tổ chức không có khả năng kết luận?...) thì chất lượng nhiều tham luận theo tôi là rất đáng ngờ, nhất là tại các hội thảo thuộc lĩnh vực KHXH - NV. Ngày nọ tại một hội thảo, phần muốn tìm hiểu phần do tò mò, tôi mượn ban tổ chức và photocopy toàn bộ tham luận, về nhà đọc xong tôi chỉ biết nhận xét rằng số tham luận có trình độ cao hơn tiểu luận hết môn ở trường đại học chiếm tỷ lệ quá lớn. Đặc biệt tôi nhận ra giáo sư Z có hai bài ký hai tên khác nhau và đọc chúng tôi chỉ dám đưa ra một ý kiến là... không nên gọi đó là tham luận khoa học của một vị giáo sư! Tôi còn thấy tình hình ở một số hội thảo tỏ ra phức tạp khi có vị trình bày một tham luận khoa học mà nội dung tương tự như bản tổng kết cuối năm với đầy đủ đặc điểm tình hình, đánh giá ưu điểm - nhược điểm, cuối cùng là phương hướng sắp tới. Kỳ lạ nhất là loại tham luận hầu như không dính dáng gì tới chủ đề đã được thông báo từ trước, như tại một hội thảo về văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 tôi lại thấy có tham luận về văn học Việt Nam thời trung đại (!). Và không khó khăn lắm, tôi từng nhận ra một số tham luận được tác giả “trích” từ tác phẩm của họ đã xuất bản... Hình như người ta quan niệm chỉ cần có tham luận gửi tới hội thảo là mọi sự an bài, không ai dám “cắt thù lao”.

    Xét từ tính mục đích, việc tổ chức hội thảo bao giờ cũng nhằm đáp ứng một vấn đề lý luận - thực tiễn khoa học thiết thực. Bởi vậy nếu thật sự coi trọng khoa học, thiết nghĩ người ta phải dám loại bỏ, không chấp nhận các tham luận không đáp ứng yêu cầu. Quan sát trong phạm vi cá nhân tôi nghĩ trong một số trường hợp, có thể đặt câu hỏi rằng phải chăng hội thảo chỉ là một phương cách lập “thành tích” trong nghiên cứu khoa học, chỉ là một cách thức “tiêu tiền”, chỉ là...? Trước thực trạng đáng lo ngại về hiệu quả khoa học ở nhiều hội thảo, thiển nghĩ đã đến lúc việc tổ chức cần phải được đặt ra một cách nghiêm túc, để tiền bạc của Nhà nước, của nhân dân đầu tư cho khoa học không được hiểu là… lá đa! 

     

                Giải thưởng... “trò chơi vô tăm tích”?

                Cách đây chưa lâu, tận mắt chứng kiến từ đầu đến cuối chuyện “bếp núc” của một giải thưởng văn học nghệ thuật, tôi thật sự hãi hùng. Ở đó, chỉ cần một hai vị giám khảo có trọng trách thực thi vài ba xảo thuật đơn giản là họ có thể đạt tới mục đích cuối cùng là trao giải thưởng cho tác phẩm của một người cùng “cạ”, bất chấp việc các thành viên còn lại có đồng thuận hay không. Theo đó mà suy, hình như những chuyện xì xào trong giới văn học nghệ thuật về việc xét và trao giải thưởng bấy nay ít nhiều cũng có thật (?), kiểu như hai câu lục bát nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có lần đọc cho tôi nghe: “Họ Trần, họ Đỗ, họ Tô - Vừa thi vừa chấm vừa vồ giải luôn”! Nên thường khi kết quả một cuộc thi, một giải thưởng được công bố, nhiều người dễ thất vọng vì tác phẩm dự đoán đoạt giải thì không có, tác phẩm tưởng sẽ “rụng” thì “ẵm” giải ngon ơ, thậm chí có tác phẩm không có mặt trong danh sách chung khảo nhưng trong danh sách giải thưởng lại thấy... thù lù! Đấy là chưa kể các loại giải thưởng như chồng trao cho vợ, bố trao cho con, cơ quan đứng ra tổ chức trao cho người trong cơ quan trong cơ quan đứng ra tổ chức (có mượn vài văn nghệ sĩ người ngoài làm “quân xanh”)... Và theo tôi, chính những điều này đã làm cho chất lượng các giải thưởng văn học nghệ thuật đôi khi trở thành... khôi hài!

    Có lẽ vì thế sau khi lên nhận giải Nhất một giải thưởng âm nhạc, nhà thơ T đã trả lời phỏng vấn rằng anh vừa thấy vui vừa thấy buồn vì không lý giải được mình: “đang lạc quan hay sống chung với một sự bi quan lớn về số phận và những tảng đá ong định kiến trong đầu của những con người?”. Cũng là sự lạ, người được trao giải Nhất hẳn hoi mà lại thấy... buồn. Về sau, nếu không có một vị nhạc sĩ tài danh thổ lộ thì người ta cũng không biết Hội đồng nghệ thuật của cuộc thi này chỉ có ý nghĩa “tư vấn”, còn trưởng ban tổ chức và chủ tịch hội đồng nghệ thuật mới là những người đưa ra quyết định cuối cùng. Vui thật, không biết năng lực thẩm định âm nhạc của trưởng ban tổ chức - không phải là nhạc sĩ, “siêu” đến mức nào?

    Đã thành thông lệ, lâu nay trong danh mục chi tiêu tài chính hàng năm của các hội văn học nghệ thuật bao giờ cũng có ngân khoản dành cho giải thưởng (giải cuối năm và giải cho một hai cuộc thi, vận động sáng tác). Tiền đã được Nhà nước cấp rồi, không chi tiêu thì nộp lại. Thế là bằng mọi giá người ta phải trao giải thưởng, và hình như cố gắng này đã tạo dựng nên một cụm từ khá độc đáo đó là “chạy giải” (tương tự như bên giáo dục người ta “chạy điểm”, “chạy trường”, bên thương mại người ta “chạy quota”...!). Tôi cũng đã nghe phong thanh đó đây chuyện này chuyện nọ về văn nghệ sĩ “chạy giải”, văn nghệ sĩ “vận động hành lang” (lobby), nhưng “khẩu thiệt vô bằng”. Về phần mình, chỉ nhớ dạo nọ sau khi tôi được cử chấm sơ khảo một cuộc thi văn xuôi, có nhà văn bỗng dưng rất nhiệt tình mời tôi “chén chú chén anh”, ngỡ nhà văn quý mến, nể lời tôi cũng đi. Sau mới tá hỏa vì ông này có lời “nhờ vả” và ông đặt tôi vào tình thế “há miệng mắc quai”. Giải thưởng trao xong, ông không được “khoản” nào, thế là tình thân hữu về “mo”, thi thoảng gặp nhau chỉ còn mấy câu chào hỏi “đãi môi”! Dẫu thế cũng chưa buồn cười bằng lần tôi đến dự khai mạc một liên hoan truyền hình. Lễ lạt xong xuôi, dắt xe ra về, tự nhiên một anh lạ hoắc chạy ra tay bắt mặt mừng, chuyện trò rối rít như rất thân quen. Không muốn làm cho anh bạn “tẽn tò”, tôi cũng hồ hởi chuyện trò, hỏi thăm con cái. Ai dè anh thân ái tặng tôi một túi quà nhân ngày gặp lại. Quá bất ngờ, tôi càng từ chối anh càng hăng hái. Bài toán tuy khó song phải có ngay lời giải, trí óc tôi làm việc cật lực và phát hiện tôi trùng tên với một vị giám khảo. Tôi phá ra cười và giải thích ngọn ngành. Anh bạn tiu nghỉu, lúng búng chào tôi rồi... chuồn. Kể lại với bạn bè, có tay lại trêu tôi “dại”, cứ nhận phéng, biết đâu lại chẳng kiếm được một món!

     Nếu ở một số cơ quan đoàn thể, việc tổ chức xét giải và thi văn học nghệ thuật giống như một “trò chơi vô tăm tích”, thì đối với một số văn nghệ sĩ “ham hố” giải thưởng thì còn... “vô tăm tích” hơn nhiều. Tỷ như nghệ sĩ A, cứ sắp đến thời điểm xét giải ông có dự thi là bốc điện thoại “chửi yêu” vài vị giàm khảo kèm theo vài lời “gửi gắm”. Nhưng nghệ sĩ A còn thua nghệ sĩ K. Ông này dự một giải thưởng, dù được vài người o bế ông cũng chỉ kiếm nổi một cái giải nho nhỏ xinh xinh. Tức khí, ông không thèm nhận, bê luôn sang dự giải khác. Ở giải khác, ông giở đủ mọi ngón nghề, từ việc yêu cầu ban tổ chức cho ông được thuyết trình để phân tích về tác phẩm giúp giám khảo “hiểu thấu” tác phẩm của ông đến việc xông vào tận nơi người ta bỏ phiếu để... theo dõi (!) Cuối cùng vẫn chỉ một cái giải nho nhỏ xinh xinh và ông lại không thèm đến dự lễ trao giải thưởng!

    Còn một chuyện rất lạ lùng là mỗi khi xuất bản tác phẩm, tất thảy các giải thưởng đều được giới thiệu ở mức “đồng hạng”, đọc danh sách ở bìa 4 hay bìa “gấp” thấy toàn những “giải thưởng X”, “giải thưởng Y”... nhưng thực ra chỉ là giải khuyến khích hoặc tặng thưởng. Mới có chuyện năm ngoái, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập, ngành Q quyết định xuất bản tác phẩm của các nhà văn trong ngành đã được trao giải thưởng Nhà nước, giải thưởng của ngành, của Hội Nhà văn, sách in có bìa cứng, bọc giấy bóng kính đàng hoàng. Nhưng không biết thế nào lại lọt vào đó tác phẩm của hai nhà văn “vô danh”, hai ông này cũng tự giới thiệu giải này, giải nọ... và trong thực tế, đó là các giải thưởng mà khi công bố trên báo chí, người ta thường viết: “Ngoài ra còn một số tác phẩm khác”. Hỏi kỹ mới biết hai ông làm biên tập và đưa tác phẩm của mình vào để sánh ngang với các bậc đàn anh. Và tôi lại nghĩ, phải chăng các hiện tượng như thế này càng làm mù mờ thêm tính chất “vô tăm tích” của vô số giải thưởng văn học nghệ thuật ở Việt Nam lâu nay?

     

                Xây dựng văn hóa là cụ thể và thiết thực

    Vài chục năm nay, chúng ta từng nói rất nhiều tới vai trò của văn hóa, và trong thực tế, hệ thống các cơ quan văn hóa đã được thành lập, và Nhà nước cũng đã đầu tư rất lớn để triển khai các kế hoạch văn hóa, để các nhà khoa học tiến hành công trình nghiên cứu. Các kế hoạch và công trình này thường được quảng bá rầm rộ song hầu như đều kết thúc một cách khác thường. Vì nhiều kế hoạch văn hóa sau khi hoàn thành thì việc muốn làm dường như lại vẫn đâu vào đấy. Vì nhiều công trình nghiên cứu văn hóa sau khi nghiệm thu thì kết thúc “không kèn không trống”, thậm chí không được in thành sách để công chúng có điều kiện tiếp xúc.

    Phải chăng các kế hoạch văn hóa chỉ là hoạt động hình thức? Phải chăng các công trình nghiên cứu văn hóa này quá “bí mật” hay chúng ta chỉ có ngân sách để nghiên cứu mà không có ngân sách để in ấn? Phải chăng đó là một trong những nguồn cơn đưa tới tình trạng ngân sách dành cho văn hóa được khai thác triệt để, được “giải ngân” đều đều nhưng sự “xuống cấp” của nhiều khu vực, nhiều lĩnh vực văn hóa vẫn tiếp tục diễn ra…? Đã đến lúc phải nói thẳng, nói thật rằng các số liệu về tỷ lệ trẻ em và sinh viên đến trường, danh sách hàng vạn học vị và chức danh khoa học, lượng đầu sách xuất bản hàng năm, số điện thoại và TV tính theo đầu người, sự bùng phát của internet, số nhà văn hóa và “bưu điện văn hóa”… có thể làm nức lòng các nhà hoạch định chính sách, nhưng theo tôi, tất cả những số liệu đó đã và đang đứng trước nguy cơ giảm thiểu ý nghĩa nếu đánh giá một cách khách quan. Chúng ta không thể lảng tránh một sự thật là văn hóa đang phát ra những tín hiệu đáng lo ngại, và trong rất nhiều nguyên nhân có một nguyên nhân quan trọng là chúng ta đang phát triển văn hóa trên bàn làm việc nhiều hơn là trong thực tế, hay diễn đạt cách khác là chúng ta nói nhiều hơn làm. Hơn thế nữa, có một câu hỏi đang đặt lúc này là những giá trị văn hóa mà chúng ta cổ vũ sẽ được hiểu như thế nào một khi nhiều hiện tượng tiêu cực có tính “phản văn hóa” như quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí, cờ bạc, nhậu nhẹt… lại có nguồn gốc từ chính những con người mà lẽ ra họ phải là những tấm gương về văn hóa?

    Do tính chất đa dạng và đa diện của nó, văn hóa trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, rộng hơn là văn hóa trở thành một đề tài để bất cứ cá nhân nào có đôi chút tri thức cũng có thể đề cập. Có lẽ vì thế đã đẩy tới tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” và sự xuất hiện nhiều ý kiến mà thực chất là khó đóng góp vào quá trình phát triển văn hóa. Những nghiên cứu văn hóa đại loại như vậy có thể kể ra rất nhiều và thiển nghĩ chẳng những chúng không giúp ích mà còn làm rối loại quan niệm về văn hóa của xã hội.

    Từ khởi thuỷ, văn hoá đã bao hàm những nội dung chỉ thuộc về con người, chỉ dành cho con người. Đã có hàng trăm khái niệm văn hoá được đưa ra và trong đó không có khái niệm nào coi văn hoá là hệ thống giá trị chống lại con người; nghĩa là văn hoá luôn luôn được xem như những giá trị mang “tính người”, là nền tảng duy nhất cho phát triển. Những giá trị ấy đã tạo dựng nên “thiên nhiên thứ hai” - thiên nhiên đã được “nhân hóa” qua hoạt động thực tiễn xã hội - lịch sử của con người. Trong thực tế con người và xã hội là một chỉnh thể thống nhất không thể chia cắt. Con người sáng tạo ra văn hoá, liên tục “nạp” vào xã hội các giá trị văn hoá thông qua thành quả lao động sáng tạo của các thế hệ, đó là căn nguyên quyết định hệ thống các giá trị văn hoá là một hệ thống mở và liên tục vận động phát triển để ngày càng hoàn thiện. Lại nữa, cần khẳng định rằng tính đa trị là một thuộc tính quan trọng của các sản phẩm văn hoá. Sự khẳng định này giúp trả lời câu hỏi tại sao một sản phẩm văn hoá vật thể được coi là Đẹp cũng đồng thơì bao hàm các giá trị thuộc về Thiện và Chân. Và như thế, nói đến vấn đề “phát triển văn hóa để thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội” cần tính đến cả “tính tinh thần” của các sản phẩm văn hóa vật thể. Nếu không tính đến nội dung trên thì rất dễ hiểu một cách phiến diện rằng văn hóa chỉ thuộc về lĩnh vực tinh thần. Từ quan niệm này để xem xét thì dường như những người hoạch định chiến lược văn hóa vẫn chưa có một cái nhìn toàn diện và triệt để?

    Lao động sáng tạo của các thế hệ người trong môi trường văn hoá có không gian và thời gian đặc thù đã kế tiếp nhau tạo dựng nên tính liên tục của văn hóa từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Lao động sáng tạo ấy là cụ thể và thiết thực. Ở thời hiện đại, khi trình độ nhận thức của con người đã cao hơn rất nhiều thì tính cụ thể và thiết thực trong sáng tạo văn hóa cũng ngày càng cao hơn. Nó đòi hỏi chúng ta phải thể hiện bằng hành động chứ không phải bằng những khẩu hiệu suông!

     

    Khi người ta mua danh, bán danh

    “Mua danh” có cả mạng người

    Cách đây chục năm, một trong những việc đầu tiên của tôi sau khi dọn đến nhà mới là thăm thú hàng xóm láng giềng. Căn hộ bên kia hành lang còn trống tuềnh trống toàng nhưng lại có một anh tuổi ngoại tứ tuần, gày khẳng gày khiu, “oánh” mỗi chiếc xà lỏn nằm xoài trên nền nhà cắm cúi viết lách giữa bộn bề sách vở. Thích thú vì có hàng xóm là trí thức, tôi bắt chuyện làm quen, dần dà trở nên thân thiết. Anh tên là PH, làm việc tại Viện X, anh bảo do phải hoàn thành một đề tài khoa học nên mượn căn hộ này để làm việc cho yên tĩnh. Qua lại một thời gian thấy anh hay hay tôi rất khoái nhưng ngại nhất là hay bị anh mời rượu, cái chai 65ml anh để góc nhà liên tục được nạp thêm, lúc nào cũng đầy ắp. Một lần rượu đã ngà ngà, anh nói: “Công chức như tớ kiếm ăn khó lắm, ngôi nhà ở Đội Cấn rách nát mà chưa có tiền tu bổ, công trình này là luận án tớ viết thuê cho một thằng nghiên cứu sinh nhiều tiền nhưng ít chữ!”. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên, anh bảo: “Chỗ anh em, không biết nó trả bao nhiêu, mới ứng trước 2 triệu, còn mỗi ngày nó cấp 5 nghìn để cơm nước”. Thời đó với 5 nghìn đồng anh PH sống cũng tạm qua ngày. Anh nấu cơm lấy, buổi sáng ra chợ mua thức ăn cho cả ba bữa.

                Một tối, ra đầu cầu thang tôi gặp anh PH vừa đi đâu về, tay cầm khúc bí đao, nách cắp chai rượu. Anh em nói chuyện đôi câu rồi anh rẽ vào nhà. Sáng hôm sau tôi sang anh chơi, nhìn qua cửa thấy anh nằm sõng soài giữa nhà, ngang bụng vắt chiếc chăn chiên, khúc bí đao ném chỏng chơ một xó, ngỡ đêm trước anh làm việc khuya nên ngủ muộn, tôi về. Gần trưa tôi lại lò dò sang, anh vẫn nằm y như buổi sáng, gọi mấy câu không thấy anh trả lời, nghĩ có điều chẳng lành tôi vội báo cho cảnh sát khu vực, mọi người vào nhà và phát hiện anh đã qua đời. Tôi nói họ tên và nơi anh làm việc để người ta liên lạc. Hay tin dữ, mọi người đến rất đông. Nghe nói anh PH mất vì uống rượu say bị cảm gió. Bẵng đi một thời gian, đọc báo thấy người ta đưa tin ông CH bảo vệ một cái luận án có nhan đề đúng như nhan đề công trình anh PH viết hôm nào, tôi mới tin là anh nói thật. Căn hộ nơi anh PH qua đời đã vài lần đổi chủ, song đôi lúc đi qua tôi vẫn nhớ đến anh. Cái danh của ông CH đã mua xong, còn anh PH thì đã về nơi chín suối. Không biết vợ con anh có đủ tiền sửa sang lại căn nhà mà vì nó anh đã phải hy sinh cả trí tuệ lẫn cuộc đời, không biết cái ông CH kia mỗi lần ghi hai chữ TS trước họ tên mình có thấy băn khoăn không nhỉ?

                Đầu năm 2002, tôi từng có ý định đến “mò” đến nơi bảo vệ luận án tiến sĩ của một ông có tên là HXL. Không phải là vì cái luận án này có điều gì hay ho mà tôi muốn gặp ông để cảm ơn trước đó trong luận án Thạc sĩ ông đã dành cho tôi một vinh dự là được ông “thuổng” mấy trang (chính xác đến từng dấu phảy) từ bài viết “Thời đại ngày nay và vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc” của tôi đăng trên Tạp chí Cộng sản. Một người bạn của HXL nghe tôi nói vậy liền bảo: “Làm sao ông biết người ta thuổng của ông?”, tôi trả lời: “Văn tôi mùi khác thường, ngửi là thấy ngay!”. Biết chuyện này, ông Trần Hữu Sơn nay là Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Lào Cai lắc đầu chán nản: “Trong cuốn sách hắn in ở NXB Văn hoá dân tộc năm 2000 còn “thuổng” rất nhiều từ một cuốn sách của tôi nữa cơ!”. Lại nhớ ngày nọ cùng một người bạn đến hiệu sách Đông - Tây trên phố Bà Triệu, trong khi tôi lục lọi sách vở thì bạn tôi đứng chuyện trò với một người. Lúc ra về, hắn rỉ tai: “Tay ấy tên là NVT trước đây dạy ở trường ngoại ngữ, sau đi phiên dịch cho xuất khẩu lao động ở Liên Xô cũ. Sang bên đó, hắn chuyên viết luận án thuê, một mình hắn đã “đẻ” ra hàng chục ông tiến sĩ rồi đấy”. Tôi lại phải ló cổ nhìn vào để nhận diện dung nhan và kính phục một cử nhân lại có khả năng “luyện tiến sĩ”!

                “Bán danh” phóng bút, ai cười mặc ai!

                Độ này trong dân làm báo ở đất Hà Thành người ta bàn tán về một hai cây bút đang tỏ ra đắm đuối với các đơn vị sản xuất kinh doanh. Người ta bàn tán vì không biết do các vị này thật thà, cả tin nên bị “tà lưa” lợi dụng tên tuổi hoặc… (?) mà bài viết của các vị hừng hực khí thế làm ăn “nhớn”… nhưng thường chỉ sau một thời gian là đơn vị kinh tế kia nếu không vỡ nợ, giải thể thì mấy ông “sếp” cũng dắt tay nhau ghé thăm nhà đá. Sau vài lần như vậy, người ta bình luận: đấy là viết “điếu văn” chứ đâu phải viết “tụng ca”. Song hình như đối với các vị thì “điếu văn” hay “tụng ca” cũng không quan trọng, họ vẫn viết, một vài tờ báo vẫn đăng và ai quan tâm đến hiện tượng độc đáo này thì mỗi lần đọc những bài viết như thế lại tự hỏi liệu công ty X, xí nghiệp Y mà họ vừa động bút có “phốt” gì không đây. Về phần mình, tôi coi các vị là “khắc tinh” của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Trộm nghĩ nếu may mắn được làm giám đốc, hễ thấy vị nào trong số này đến thăm là tôi sẽ cử cô thư ký mắt xanh mỏ đỏ mặc mini juyp nhún nhảy đi ra thỏ thẻ: “Thưa quý anh, giám đốc em vừa đi công tác…!”.

                Chuyện “bán danh” thời nay thật muôn hình muôn vẻ, và vô khối nhà văn nhà thơ cũng tham gia vào hoạt động này bằng cách sử dụng tên tuổi như một “thương hiệu” để bảo kê cho các trò ma mãnh hoặc lăngxê cho những cuốn sách ế chỏng ế chơ, có số lượng phát hành thường chủ yếu đi kèm với hai từ “kính biếu”. Trong số các VIP, các doanh nhân từ “thương trường” nhảy sang “thi trường” và được tán tụng lên tận mây xanh, tôi thấy nổi lên ba gương mặt là NL, HA và NVH. Không hiểu trời đất xoay vần ra sao mà ông HA chưa kịp trở thành thi nhân đã chuyển sang nghề “bóc lịch”, ông NL thì dính dáng đến chuyện gì gì… Còn lại NVH, xem chừng thi phẩm cũng làng nhàng. Đọc mấy tập thơ ông đã xuất bản, tôi thấy vốn liếng từ vựng của nhà thơ này cũng nghèo, bởi chúng hay lặp lại. Đặc biệt, ông thường có cảm hứng biến thơ mình thành cửa hàng “nhuộm hấp” các sự vật hiện tượng, như: “Nắng và gió nhuộm màu hoa trái”, “Người đem nhuộm úa câu thơ”, “Chiều đang nhuộm xuống sông gầy”… Còn đọc mấy câu đại loại như: Chợ quê người chộn rộn - Những lá dong, trái cà - Gương mặt người sắm tết - Cứ ấm nồng quê ta” có thể hình dung trong khi cố gắng “gò” cho thơ có nhịp điệu, vần vèo, NVH lại đặt “lá dong” cạnh “trái cà” như là những sản vật tượng trưng cho chợ tết, nghĩ đến chuyện ngày tết đi “sắm cà” cũng đã thấy buồn cười. Những câu thơ mang phong cách “báo tường” như trên có mặt khá nhiều trong tập thơ của NVH vừa được trao Tặng thưởng của Hội Nhà văn, té ra thơ ông cũng long trọng ra phết!

    Với ĐHT - người trong năm 2000 đã cho ra bốn tập thơ trong đó có một tuyển tập, thì thơ phú còn vui hơn nhiều. Thử dẫn lại một bài trong Tuyển tập thơ của ông: Trăng lấp ló trong ta - Giọt vàng chênh Quỳnh nở ra - Hương thơm chắt lặng trong vắt - Thương nhớ trời ơi kiếp hoa (Quỳnh). Thưởng thức hoa quỳnh nở, xót thương một “kiếp hoa” bằng bốn câu khấp kha khấp khểnh, ý tứ bí rì rì… như thế mà vẫn có người khen tít mù, kể cũng lạ đời. Đấy là thơ đã tuyển chọn rồi, chứ thơ chưa tuyển chọn của ĐHT thì liệu có còn “hay” hơn nữa không đây? Tiếp đến xin dẫn lại lời ông THN bốc thơm một “thi sĩ VIP” trên một tờ báo lớn: “Anh tâm sự cho tôi hay năm nay cũng nhiều anh em bè bạn trong đó có nhiều nhà thơ anh yêu quý như các anh: Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Y Phương… đều chúc mừng sự “lên tay”, “khởi sắc” trong thơ ca của anh. Chính những động viên này, cùng một sự đam mê sáng tạo mạnh mẽ và sự cần cù “cày cấy” như một nông phu lao lực trên cánh đồng thơ không kể mưa nắng đã là những nhân tố quan trọng cho những thành công của thơ anh”. Mang danh đi bán, hẳn do quá nhiệt thành nên nhà thơ TNH còn viết những dòng “tán thối” kỳ cục như thế này: “Thật tình tôi chưa từng thấy một ai say mê sáng tác như anh. Gần như cứ sau công việc, là anh lại ngồi… làm thơ. Đêm còn chong đèn làm thơ đã đành. Mà tinh mơ mờ đất chưa ai kịp tỉnh dậy, thì cũng đã thấy anh ngồi… làm thơ… Anh viết lúc nào cũng đầy say mê, hào hứng, hệt như khi còn là một chàng trai trẻ viết thư tình cho bạn gái của mình”. Còn ông NTT thì véo von hơn: “Thơ Tuyết Nga thường buốt nhói những cái rùng mình của một tâm hồn đa cảm: từng trải mà ngây thơ, khát khao và tuyệt vọng, thông minh và dại khờ, khắt khe mà vị tha, trong trẻo mà cuộn xiết. Đấy là thơ của người biết hoá thân vào con chữ để hiện ra hình ảnh của chính mình… Tuyết Nga đã tạo dựng được một giọng thơ riêng cho mình, một giọng thơ đẹp, sang và vang, tất nhiên nó không phải là sự bắt chước vẻ nhăn mặt của Đông Thi xưa, mà là vẻ đẹp thực sự của cái chau mày Tây Thi thời hiện đại”…

    Những bản tụng ca được sáng tác theo trường phái “xôi nát” đã và đang được các nhà văn, nhà thơ diễn tấu thì còn nhiều lắm. Đến đây đành chỉ biết xin lỗi mà rằng: nếu các vị cứ phung phí cái “danh” của mình như thế thì chả mấy nỗi “thi đàn” xứ ta sẽ trở thành sàn diễn hí kịch!

    Nguyễn Hòa

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,812,898

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/