Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,949,230

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Bước đường cùng

Nguyễn Công Hoan

  • Thứ năm, 18:16 Ngày 25/03/2021
  • Bước đường cùng

    CHƯƠNG 1

    Pha nằm trên phản nhà ngoài, một tay vắt ngang trán, một tay cầm cái quạt mo, thỉnh thoảng đập phành phạch xuống chiếu. Anh không nực nhưng phải phẩy luôn như thế để đánh tiếng rằng mình vẫn còn thức.

    Làm lụng quần quật suốt ngày ở ngòai đồng, Pha mệt lắm. Mọi tối, vào lúc này, anh đương đánh một giấc ngon, nhưng hôm nay vì bận rộn, nên anh có sức để nghe ngóng và chờ đợi. Và để lo lắng nửa, vợ anh đương dở dạ đẻ.

    Phải, anh không lo sao được. Ngày năm kia cái hôm vợ ở cữ, con bé dại, Pha đã một phen chí khổ. Vì đẻ con so nên chị đau đớn quần quằn quại hàng mấy giờ đồng hồ. Rồi đến khi cuốn queo, chị không chịu nổi cứ réo mãi tên chồng lên mà chửi:những là mày làm khổ bà. Bà trùm Sủng, một bà tắm trong ba mươi năm nay, đã đỡ cho gần khắp người hàng tổng, hôm ấy cũng sợ mê, giục anh phải lập tức trèo qua nóc nhà rồi lại lội ao từ bờ nọ sang bờ kia, tuy trời rét như cắt ruột.

    Bây giờ Pha nghĩ lại việc ấy mà còn rùng mình, sợ như người phải đi sứ.

    Bởi vậy, từ lúc bà trùm đến, mỗi khi nghe tiếng bà giục vợ rặn, và chị ấy ì ặch thở như người sắp tắt hơi, anh lại thương vợ và lo cho mình. Mải vẩn vơ nghĩ bao nhiêu, Pha cảm cảnh trơ trọi bấy nhiêu.

    Thực vậy, ba anh em ruột của Pha: Quấy thì chết, Quậy thì đi làm ăn ở trên mỏ Thái Nguyên, Hòa thì cữ tháng chạp năm ngoái, sau hồi đói kém, đi bạt tận đâu đâu chẳng nhắn tin về. Anh vẫn tưởng hắn ra ngoài tỉnh, nhờ ông bát Hương là chú họ, vì ông này buôn bán giàu có. Nhưng không phải. Chị ruột anh, chị Sáo, nhờ trời được phong lưu nhưng lại lấy chồng xa. Pha hơn anh em được cái vợ có vốn đi chợ. Gánh hàng xén đang giá bộ ba chục đồng ấy, đã cung cấp cho hai miệng đủ ăn, không phải chạy ngược chạy xuôi, và chỗ tám sào ruộng của cha mẹ chia cho, không đến nỗi chết non chết yểu.

    Nhà Pha ở vào đầu sớm Chũm làng An Đạo, làm trong miếng đất thiên thẹo, rộng độ mươi bước. Đất ấy của ông bà nhạc cho vợ chồng anh mới cười. Từ khi ăn riêng, anh mới cố dúm lấy một cái nhà, thôi thì để che mưa che nắng, đỡ mang tiếng là có đất mà đi ở nhờ người khác.

    Nhà ấy cũng như phần nhiều nhà trong làng chúng ta, nó là 2 cái mái lợp tranh, hờ hững úp trên những bức vách thấp lè tè và mỏng rinh rính. Nó có hai gian ngoài và một gian buồng, mà đầu nhà và dưới có rãnh nước đen đặc và nổi váng, dùng làm chổ đun nấu. Ánh sáng đáng lẽ được đường hòang lọt vào trong bằng cả một khỏang rộng không gian. Song, từ sáng đến chiều thẳm, người thì đi chợ người thì ra đồng, nên ngay từ lúc mặt trời còn lắp ló sau bụi tre, cái liếp dùng làm cửa phải hạ xuống. Cũng bởi lẽ ấy hai vợ chồng, chẳng ai có lúc nào rỗi được ở nhà mà chăm non quét tước cả.

    Nhà này tuy mới làm được có hai năm, nhưng thì giờ ấy cũng đủ nhiều cho nó phải làm đúng bổn phận với chu quá lãnh đạm của nó. Cho nên đã lâu nay, cái nhà ấy lấn cả ra ngoài cái giới hạn của công dụng.

    Mái tranh đầy mạng nhện rủ lủng lẳng xuống hàng tràng, là một chỗ hứng rất được nhiều nước mưa, và tiện thể cho chảy vào nhà tong tỏng. Từ dưới cái mái ghẻ lỡ ấy đến mặt phản ồm yếu, là một kho to tát để giữ khư khư lấy một thứ hơi vừa ẩm vừa hôi, một công trình trộn lẫn rất ít công phu của các thức ăn, để mặc, để dùng, để ở. Dưới gằm phản tối tăm là ací trại muỗi, chỉ chờ lúc có người là thả đội quân du kích. Mắt nền là cái nền rât tốt, đầy xanh rêu, có điểm từng đống mùn mọt hung hung. Dưới tầng đất là chổ ở rất bình tỉnh của những gia đình đủ các thứ chuột to nhỏ, tha hồ mà sinh năm đẻ bảy. Và khắp cả, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ phải sang trái, nhà ấy lại cà cái hủ, đặt quyền sự nhốt vi trùng các chứng bệnh. Xung quanh hũ, ngay khi chủ hạ liếp xuống để đi vắng đã hiện ra hàng trăn, nghìn khe và lỗ để ánh sáng vào, chẳng khác gì từng ấy con mắt ghê gớm của các vị hung thần vay quanh tứ phía chòng chọc nhìn vào, để canh cho một thứ giết người nào ở trong được lọt ra ngoài vậy.

    Vậy mà vợ chồng Pha ở mấy năm nay, đã không tự biết là can đảm. Hơn nửa lần nào đẻ, chị vẫn nằm trong buồng và mời bà trùm Sũng đến đỡ cho.

    Bà trùm bước chân lên hè lúc nào, là bắt chị rặn lúc ấy. Bà vạch cái khăn bằng the che đôi mắt đã về già để cố nhìn cho rõ, rồi bước chân vào buồng.

    - Gớm, sao mà tối thế này, có cho xin cái đèn không?Nào cứ cố lên. Trời phật đền cho thằng Cu thì tha hồ mà mừng.

    Rồi cười ra ý bằng lòng, bà bảo:

    - Được, buồng gái đẻ kín đáo thế này càng tốt.

    Một lát, sờ sọang chán bà lại cười hỏi:

    - Ồ, thế kêu ở đâu đấy, tôi chẳng trong thấy gì cả. Có cái đèn vào đây hay không?

    Lúc ấy Pha đã châm xong cái đèn rồi. Anh cầm đèn đến cửa buồng, đặt ở ngưởng và gọi với vào trong:

    - Đèn đấy, bà ơi.

    Bà trùm gắt:

    - Gớm, cậu hạng vừa vừa chớ, vợ đẻ chứ ai đẻ mà sợ bẩn không dám vào.

    Pha chưa kịp đáp thì vợ đã hì hạch thở, vừa giải thích:

    - Nhà tôi giữ vía lắm bà ạ.

    Bà trùm dỗ dành:

    - Cố lên, cố nhìêu lên, nó sắp ra rồi. Nín hơi lại mà rặn.

    Ngọn đèn Hoa Kỳ khói um, theo tay răn reo của bà trùm đem vào. Ánh lữa đỏ chiếu ra ngoài đi lệch về phía cửa.

    Pha nằm lặng trên phản để nghe

    Bên trong vợ anh nghiến răng lại vừa thở hổn hển vừa kêu ngắt từng tiếng:

    - Đau lắm bà ơi, bà có thể làm cách nào cho tôi không chết mất.

    Bà tắm gắt tự nhiên:

    -Iả vào mồm dại nào?

    Bà pha trò:

    - Sướng lắm thì khổ nhiều, ai bảo! Cố lên tí nữa thôi, nó đã ra được cái đầu rồi.

    Từ nãy, Pha trống ngực thình thình, bấy giờ thấy nhẹ bỗng ngừơi hẳn. Anh thấy vợ thở rất mạnh, chắc là lấy hết hơi sức.

    Nhưng chị bỗng quằn quại kêu:

    - Khổ lắm, bà ơi, nó đã ra đâu! Tôi tắt hơi mất!

    - Phải gió, lại cứ kêu. Cố lên, im mà rặn!

    -Khốn nạn nào có im được đâu. Đau lắm! Mệt lắm!

    Mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu, Pha lại nhăn nhó mặt theo, tưởng chừng như chính mình đau vậy. Gía có thể đau thay được, chắc anh chẳng từ. Nhưng biết làm thế nào? Pha lắc đầu thở dài.

    Bỗng bà đỡ đập tay đánh đét một cái và gắt:

    -Ghê gớm muỗi! Bác Pha có cho tôi mượn cái quạt không?

    Pha ngồi nhổm dậy, đứng ngoài cửa, thò tay vào liếc mắt nhìn trộm và gọi:

    - Qụat đây, bà ơi!

    Chị Pha tưởng chồng xông xáo vội vàng nằm quay mặt vào vách, kéo chiếc quần che cái thân thể lõa lồ. Rồi vừa thở dốc, vừa nghiến răng, cố nói ra tiếng, chị đuổi chồng ra quần quật:

    - Đi ra, khỉ!Phỉ hổ đàn ông

    Bà trùm đứng dậy càu nhàu:

    - Bác ấy có vào đâu nào! Chồng chứ ai mà thẹn!

    Pha sợ tái mét mặt, Anh yên trí vợ bắt đầu tức, thì chắc lại nhớ đến việc chửi lần trước. Cho nên lúc đưa quạt cho bà Anh hỏi khẽ:

    - Sao lâu thế hở bà?

    Bà trùm ghé miệng vào tai anh nói thầm, mùi quết trầu lại rõ hơn tiếng nói. Song, Pha cũng hiểu là bà muốn dặn gì rồi.

    Lập tức anh lẳng lặng ra sân, xuống cái chuồng nhỏ xíu trước kia nuôi lợn. Anh víu vào cọc đóng ở cửa, cố hết sức lay, và dần dần nhổ lên đủ bốn cái.

    Làm xong anh vui vẻ đi rất nhanh lên nhà, anh tin rằng như vậy vợ anh sẽ đẻ dễ dàng, đẻ ngây bây giờ, và anh không lo nạn sang sứ nữa. Bà trùm đã bảo anh từ hôm nọ làm phép như thế rât hiệu nghiệm.

    Nhưng chị Pha cứ kêu, kêu mãi, và mỗi cơn đau nỗi lên mảnh liệt, mà chị quần quại thì bà đỡ lại mắng:

    - Rặn đi, chứ cứ kêu thì bao giờ nó ra, gớm, sốt cả ruột!

    Chồng thì giục cuống người ta đến, mà nào đã đẻ! Để yên ở nhà, người ta đã ngủ được một giấc.

    Mỗi lúc thấy vợ như kiệt lực, Pha lại thở dài và thất vọng, anh lo thế nào cũng phải chửi, nên vẫn phải cầm canh bằng chiếc quạt.

    Nhưng một lát trong buồng im lặng. Anh lắng tai để nghe, Vợ anh không kêu, mà bà trùm cũng không giục rặn nữa. Có lẽ hai người cũng mệt và cùng ngủ thiếp đi.

    Bỗng độ đầu trống canh ba, Pha thấy vợ rú lên gọi dồn:

    - Bà ơi, bà trùm ơi!Khổ thân tôi, đau quá!

    Không có tiếng trả lời, chị Pha gọi chồng:

    - Nhà ơi! gọi hộ bà trùm dậy đi, mau lên.

    Pha cuống quýt nhỗm dậy gọi:

    - Bà trùm, bà trùm, nhà tôi gọi bà!

    Pha đón vợ sắp đẻ. Anh lo lắng hơn trước, bà trùm ú ớ thưa:

    -Ơi, biết rồi! Cố gặng một lúc nửa đi

    Bà quạt phành phạch dăm cái rồi ngồi dậy.

    - Nó đương ra bà ơi, bà đỡ nó cho tôi

    - Ờ, tôi đây.

    Chị Pha rặn, cố nhín hơi để rặn. Pha hổi hộp, một lát tiếng nhoe nhoe đưa ra. Pha mừng rỡ lại hồn.

    - Ồ, thằng Cu

    Pha sung sướng quá. Sướng cuống cả lên. Thế là vợ anh qua cơn vượt cạn. Mà trời cho đứa con trai. Thôi thế cũng bỏ cái công vợ chồng ăn ở hiền lành.

    Đứa bé vẫn nhoe nhoe khócBà trùm tắm cho nó. Tiếng nước dội róc rách. Nó càng khóc. Bà trùm làm gì một lát, rồi bảo:

    - Nó đói đấy cho nó ngậm vú để nó đỡ khóc.

    Một lát nửa bà bảo:

    - Thôi tôi về.

    Chị Pha ể ỏai nói: -

    - Bà ngủ chơi đằng này, khuya rồi, về làm gi.

    -Thôi chả ngủ đây, mai mất buổi chợ.

    Bà nói đọan, ánh đỏ trong buồng chiếu ra nhà ngoài, bà trùm cầm đèn buớc ra cửa buồng, chào:

    - Bác gái nằm chơi.

    Pha đứng dậy đưa gậy cho bà và đỡ lấy cây đèn. Anh dắt bà xuống sân. Bà trùm vạch đôi con mắt chỉ còn lòng đen bạc phếch để nhìn Pha, rồi nói thầm:

    -Cũng may đây, không có thì đến đêm. Thôi, thong thả, bác trai chơi nhé.

    - Để tôi đưa bà về.

    - Giã ơn bác, sáng trăng như ban ngày đây mà.

    Pha dặn:

    -Mai bác đến sớm tắm cho cháu

    - Ừ, à này, nhớ mua nước giãi cho bu nó uống nhé. Chả thuốc nào bằng, tôi nghiện đấy ngày nào đi chợ về cũng một bát.

    Pha đặt đèn trên hè, dắt bà trùm Sủng đi. Tuy vậy bà vẫn sờ lối bằng gậy, vì chẳng trông rõ gì. Đường trong làng bà chỉ thuộc lòng mà thôi.

    Bà trùm qua vạt nước kê cạnh cây cau, thì dừng lại, bà múc một gáo để uống và sung sướng kêu lên.

    - Mát ruột!

    Bà đổ chỗ nước còn thừa vào chum, rồi lại sờ soạng đi.

    Pha nâng cổng lên để bà qua, rồi chào:

    - Bà về,

    - Phải, không dám, bác chơi.

    Đàn chó bắt đầu làm náo động cả xóm Chũm.

     

     

     

    CHƯƠNG 2

    Bừng mắt ra, Pha ngồi nhổm dậy, Tuy ít ngủ, nhưng anh tỉnh táo lắm, Anh lắng tai nghe tiếng vợ thở đều đều, bèn khẽ ra nâng hé cái liếp để đi lại nhà bếp.

    Trời xanh ngắt, Vừng đồng đã đỏ ửng, nhưng ánh nắng chưa láng đến tận sân. Gío hiu hiu làm xào xạc bụi tre, bỏ rơi những chiếc khô bay tơi tả.

    Đứng một nơi râm mát và nghĩ đến vợ đẻ con trai. Pha sung sướng, khoan khoái lạ. Anh đã lẩn quẩn mãi đêm qua về nghĩ đặt tên con, và định hôm nay trước khi ra đồng cấy nốt cho bà trưởng Bạt, anh rẽ vào nhà thơ ký, nhờ ông ấy vào sổ sai sinh cho.

    Bỗng một con gà mái đi kiếm mồi từ sau nhà ra sân trước, làm anh chú ý. Tự nhiên anh nghĩ đến cách sinh nhai vất vả của vợ. Mấy hôm trước chị vẩn tỏ ý tiếc mấy buổi chợ khi phải nằm một xó.

    Con gà lò dò đến gốc cau, bớt đất rỉa sâu, rồi ngẩn cổ lên nhìn, và nhún một cái, nó nhảy đứng bám vào thành vại.

    Pha sợ bẩn nước giơ tay ra đuổi. Con vật hỏang dang rộng hai cánh, nhảy xuống. Bất đồ con chó mực xồ ra theo đuổi. Con gà cuốn queo, vỗ cánh bay đành đạch, và cục cục kêu. Chó vồ theo. Gà quang quác chạy. Và hai con đuổi nhau sang vườn bên cạnh.

    Pha chắc tiếng động này làm vợ thức giấc. Anh không thổi cơm vội, hãy đứng ở gốc nhà xem tình hình. Thì quả nhiên, chị đã ló cái mặt xanh nhợt ra ngoài cánh liếp “

    -Gớm, gọi mãi mà chả thưa!

    Người đàn bà ấy có dáng rất mệt nhọc, và vì mới đẻ, nên lại như gầy thêm. Chị tùm hum cái khăn vuông, mặc áo nâu dài và lận đôi dép một. Người ta bảo phụ nữ thuộc về phái đẹp. Song sự thực, với chị Pha hiện giờ, câu ấy hòan tòan có nghĩa mĩa mai.

    Pha nhìn bộ dạng ốm yếu, chán nản của vợ thì thương hại. Anh nói:

    -Tôi thổi cơm cho bu nó ăn, rồi đến đĩ Dự báo tin và xin cành cau, mang lại nhà ông Ký Chỉnh nhờ khai sinh cho thằng cu mới được.

    -Thôi, phiền lắm.

    -Đĩ Dự với tôi thì hắn tiếc cái gì.

    Pha chắc chắn như vậy, vì Dự là em vợ, và hai anh em vốn thân với nhau. Nhưng vợ anh lại nói:

    - Đi đâu mà vội. Trẻ con mà cứ chụp ảnh là một, khai sinh là hai, là chúa đội đấy.

    - Pha cười:

    - Vẽ! Con bé dại trước thì ai khai sinh cho nó.

    - Đọan anh vui vẻ mở rộng liếp ra và cùng vợ ngồi trên phản bàn việc:

    - Này, bu nó ạ. Tôi định đặt tên cho thằng cu là Trộn. Bu nó bảo thế nào ?

    Chị nhăn mặt, lắc đầu:

    -Không gọi thế, tên xấu lắm. Hôm nào đến nhờ ông làng Sáng đặt tên cho nó.

    -Ồ, chả, chữ nghĩa gì, giỏ nàh ai quai nhà ấy, không cần, Quấy, Quậy, Hòa, Sáo, Pha! Thì tên thằng cu là Trộn, thế phải.

    -Nhưng các bác có đặt tên cho lũ cháu thế đâu!

    -Thì con bác Quậy chả là Sỏi, là Sành là gì

    Vợ chồng đương dỡ câu chuyện, bỗng bên hàng xóm, có tiếng the thé của bác Trương Thi gái mắng con:

    -Thằng Yển hư thật, mày có tìm xem nó đâu không, ban sáng nó vừa lảng vảng đây mà.

    Bác trương trai ồ ồ nói:

    -Tao thấy nó chui qua hàng rào bác Pha đấy

    Bác trương gái lại the thé:

    -Thế thì sang mà tìm, thấy đứa nào ăn cắp, đem mà đào mả bố nó lên!

    Pha bị nói cạnh, bỗng nảy ra ý kiến:

    -Bu nó ơi, phải rồi.

    Rồi anh nói thầm, chị Pha cau mặt gắt:

    -Cái gì nói to lên nào!

    -Tôi nghĩ ra tên thằng cu rồi

    -Tên là gì ?

    - Để tôi bàn với cậu Dự rồi mai hãy khai sinh. Mai tôi bảo:

    Chị Pha càu nhàu:

    - Lại còn mai với chả kia. Thế nói bây giờ làm sao ?

    Pha vui vẻ, bảo vợ:

    - Đặt tên nó là Bạch

    - Sao là Bạch ?

    - Thì nhé, trương Thi nó đặt tên con nó là Yểng, tội gì mình không gọi tên mình là Bạch.

    Vợ Pha tươi tỉnh, thân mật nói khẽ:

    -Thế tên bố nó là Bạch à ?

    Pha vênh váo đáp:

    -Ừ!

    -Ừ, chỗ hàng xóm với nhau, mà nó đi lấy tên bố mình đặt cho con nó thì tội gì mình không báo thù ? Không đặt thế làng nước lại bảo mình lép.

    Hai vợ chồng đồng ý với nhau. Nhưng trong buồng thằng bé con khóc, làm cho tắt câu chuyện đương nồng nàn.

    -Ồ, gớm, khỏe chửa, đã ra ngoài đấy à.

    Pha nhìn ra ngỏ, thấy bà trùm Sủng đương chống gậy đi đến, và theo sau là bác San gái, con dâu bà. Bà trùm nói:

    -Chứ ly người ta yếu như mày ấy. Mẹ Mới nó đẻ xong, nó lội xuống ao ăn trộm liền, để sáng hôm sau đem ra chợ bán.

    Pha chạy ra đón hai người. Bà trùm bảo:

    - Hôm nay tôi nghĩ buổi chợ. Độ này cũng ế hàng.

    Bác San dừng lại giơ roi đánh chó, và nói:

    -Tôi thấy bà tôi nói bác gái ở cữ nên sang thăm đây.

    -Tạ ơn bác.

    - Thế bác gái ở cữ thằng cu hay cái đĩ ?

    Tuy Pha cho câu trả lời là thừa nhưng cũng đáp cho phải phép:

    -Thằng cu bác ạ.

    Bác San chẳng ngạc nhiên và cũng chẳng mừng hơn tí nào, tuy vậy bác cũng:

    -Ồ, thề à! Thế bác gái nằm đâu ?

    Pha cho câu đáp mình là vô ích, vì bác San vừa thấy vợ mình vào buồng:

    -Bu cháu nằm trong kia bác ạ.

    Bà trùm chồng gậy, cố dướn mình bước lên thềm nhà rồi quay bảo con dâu:

    -Chốc nửa về, mầy nhớ xin bác ấy nắm lá dành dành nhé. Tối qua tao thức khuya, mắt lại kệnh lên rồi.

    Bác San không đáp, vẫn thân mật với Pha:

    -Thấy nói bác gái ở cữ gọi là thế, tôi có chục trứng cáy đem sang bác ăn kiêng.

    Pha cảm động đáp;

    -Bác lại cứ cho! Bà tắm cho cháu, tôi chửa có gì cho lại, thế mà ….

    Bà trùm quay lại nói

    -Nhà nó biếu bác, bác cứ nhận đi cho nó được không. Ngày trước nhà bác ở cữ thằng cu Chắt, bác gái cho những năm quả trứng gà kia mà!

    Pha từ chối cho phải phép, tuy vẫn bíêt mình có quyền nhận đồ biếu trả nợ. Anh chẳng ngần ngại lâu, giơ tay cầm lấy xâu trứng cáy và mời khách ngồi chơi ở quán. Vợ anh bế con ra. Bác sau đỡ lấy thằng bé, nhìn mặt nó hôn hít nó

    Một lát Pha đứng dậy nói

    -Mời mấy bác ngồi chơi, tôi đi đằng này có tí việc

    Bà trùm, cơ chừng vì thông minh hay hoặc vì lịch duyệt, đóan ngay chủ nhân định đi làm cái gì, vội vàng gạt:

    -Đi đâu ? đừng làm cơm nước gì đấy, chúng tôi ăn cả rồi.

    Chị Pha nhếch mép cười:

    -Không phải chúng cháu định đến ngày đầy cữ, mới mổ con gà, trước là cúng mụ, sau là mới bà mời bác đến uống rượu.

    Bà trùm chữa then cười, ha hả:

    -Ừ, bây giờ có gà cứ nuôi cho béo đi.

    Pha nói cho lạc câu chuyện:

    -Tôi đi khai sinh cho thằng cu đây

    Vốn quen sống giản dị, bà trùm trịnh trọng mắng một cách thân mật:

    - Thôi đừng vẽ. Lên năm, lên muời, nhờ trời chúng sống, lúc nào khai chẳng được.

    - Thưa bác Tân cháu phải phép nhà nước bây giờ như thế, không có bố mẹ phải phạt.

    - Thôi đi phép vua thua lẹ làng. Tục ở đây không có khai sinh như thế. Lúc nào người ta phạt cứ bảo ông già bà cả ở làng này ngày xưa có khai sinh bao giờ, sao vẫn sống lâu bảy, tám mươi cả.

    Bác San hỏi:

    -Thế hai bác đặt tên cháu chưa ?

    -Rồi.

    -Vẫn giọng thân mật, bà trùm mắng:

    -Gớm tên tuổi làm gì cho sớm. Cứ thằng cu mà gọi.

    Chị Pha ngồi vững lại vì chị cần phải kể lể:

    - Bà với bác tính thế thì ai nhịn được. Bên ấy hắn đặt tên cho thằng bé trùng tên với ông cháu, thì tôi tội gì không lấy ngay tên bố hắn đặt cho con tôi, để tôi réo cho sướng cái mồn.

    Bà trùm làm như cũng giận lắm, hỏi dồn để thỏa chí tò mò:

    - Ai ?

    Chị Pha trỏ sang bên nhà trương Thi:

    -Lại còn ai!

    -Thế bác định đặt thằng cu là Bạch à ?

    -Ừ.

    Bác San can:

    -Thôi người ta không bíêt, bác sang bảo người ta một tiếng, để người ta đổi tên đi, chứ hàng sớm láng giềng với nhau mà!

    Chị Pha vạch xuống chiếu, tức tối nói:

    -Tôi nói dối tôi chết, còn bao nhiêu cái uất ức, tôi chịu nhịn bảy tám tháng nay, nó làm như bắt nạt tôi không bằng ấy.

    Bác San vẫn can:

    - Thôi máu non đừng nghĩ ngợi

    Ba trùm hất tất cả cái mặt đanh đá vào con dâu, thưỡi môi ra mắng:

    -Câm mồn đi, chứ ly như vợ chồng nhà mày ấy.

    Bác San lườm cãi:

    -Bà bảo vợ chồng nhà tôi làm sao ?

    Bà trùm quai mồm ra:

    -Thôi, già này xin! Mẹ kiếp!Bà chả thấy chúng nó làm gì cũng phải câm họng!Bà thì bà chửi cho ủng mồ ông tam đại tứ đại chứ bà lại chịu à!

    Bác San sừng sộ toan cãi nữa, nhưng chị Pha can:

    -Thôi xin bà, xin bác, để đến bận khác. Bà tính tôi làm như thế có phải không ?

    Bà trùm khen:

    - Phải ăn miếng trả miếng, chứ cứ chịu nước lép thì có họa …

    Chả có thì kiện nhau đếm tam phủ, tứ phủ chứ chắc đã làm gì nhau tốt.

    Nói đọan bà trùm lấy nước tắm cho thằng Bạch rồi vẫn tức con dâu, bà mát mẻ “ chào hai bác” rồi về trước. Bác San bế thằng bé, vạch vú cho nó bú, rồi khi thấy mẹ chồng ra khỏi cổng, bác bảo:

    -Tôi ghét cái lối bà ấy cứ đem chuyện nhà nọ đi nhà kia nói. Ấy rồi thế nào nội ngày hôm nay, bên bác trương cũng biết chuyện này cho mà xem. Ở trong làng trong nước, nhất là hàng sớm láng giền, ta nên chín bỏ làm mười, chứ không thì thù hận nhau đời đời.

    Dứt câu nói, đôi bạn đã nghe tiếng bà trùm léo xéo bên nhà trương Thi, và chỉ độ mươi phút sau, ngay bên hàng rào, cạnh vách, tiếng the thé của vợ trương Thi, đã nổi lên để bình một bài văn bất hủ:

    -Làng trên sớm dưới!Bên sau phía trước!Bên ngược bên xuôi!Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào ở gần đây mà qua, đứa ở xa mà lại, nó day tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha nó ra, không thì tôi chửi cho đơơới!

    Chém cha đứa bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua bà cho nó ăn hãy còn, sáng hôm nay, con bà gọi hãy còn, mà bây giờ mày đã bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì mày buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào thằng tam đại tứ đại nhà mày lên, bà khai quật san bằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đò mỏ, nó mổ chồng mổ con, mổ cái nhà mày cho mà xem. Ớ cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia!Mày mà giết gà nhà bà, thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba, mày xuống âm phủ mày bị quỷ sứ thần linh rút ruột ra, ớ cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia ạ!

    Chị Pha câm tức như chính chị bị chửi. Chị run lên, nghiến răng, xỉa xói bảo bác San:

    -Đấy, bác xem, ai mà nhịn được ?

    CHƯƠNG 3

    Chị Pha bôi thêm tí nghệ vào mặt và chân tay, rồi sắp quang gánh, hạ cửa liếp để đi chợ.

    Nằm ở nhà mấy hôm, chỉ tiêu mà không kiếm ra đồng nào, chị sốt cả ruột. Nhiều lúc vật tay xuống chiếu, chị thở mạnh ra những tiếng rên rất nảo nùng thảm thiết.

    Bởi vậy, để được yên tâm lo việc sinh nhai, chị đã nói với bà trưởng Bạt cho cái Bống cháu bà nó bế hộ thằng Bạch, thì chị xóa công làm của chồng chị cấy cho bà mấy hôm nay mà bà còn chịu.

    Bà trưởng bằng lòng ngay, vì cái Bống năm nay đã lên tám, bố mẹ chết cả rồi, nó ở nhà chơi cũng thế, phải tập làm đi thì vừa. Hễ thằng Bạch nó khóc, đã có bác tư Dậu, con dâu bà, cho nó bú chực. Khi trừ xong nợ, chị Pha hứa trả cho cái Bống mỗi ngày một xu.

    Chồng chị chẳng nghỉ làm buổi nào cả. Cấy xong cho bà trưởng, anh định cấy đến ruộng nhà. Con nhà nông, trời cho sẵn bộ xương đồng da sắt để chống nắng với mưa. Ngày hè thiêu đốt, cũng như ngày đông tê tái, quanh năm anh phải lợi dụnh hai cánh tay nổi bắp, để đở mang tiếng con trai nhờ vợ, để được ăn ở lương thiện, và để mong đóng góp với làng cho người ta khỏi khinh.

    Bởi thế cũng như phần nhiều dân quê, sự biết của anh rất hẹp, sự nghĩ của anh rất gần. Nó hẹp, nó gần trong vòng lũy tre quây quanh làng. Xa hơn nữa, là cánh đồng đời đời phẳng lặng. Cuộc sinh họat mộc mạc làm anh bằng lòng sống hiền lành yên phận, không ước muốn cao xa phiền phức, sống như ông cha anh đã sống từ trước, như phần đông người làng hiện đương sống bây giờ.

    Mục đích cuộc đời chị Pha cũng không có gì khó hiểu. Nó theo nếp những người khác, là lấy chồng để nương tựa, buôn bán để có việc và đẻ con để nuôi.

    Chị Pha đặt gánh lên vai. Thấy nặng, chị biết chị vẫn còn yếu. Nhưng mặt trời đã lên cao, rọi những tia chói lọi qua khe đám lá cây. Chị nghĩ đến chồng lúc này ở ngòai ruộng. Chị được sung sướng nhàn hạ hơn, vì khi nắng khi mưa, lúc nào cũng ngồi dưới mái lều. Chị bước rảo cẳng theo đà của hai chiếc bồ rún lên rún xuống.

    -Này, chị Pha tôi nói cho mà biết, có về bảo anh ấy đổi tên cho thằng bé, không có chẳng ra gì với tôi đâu.

    Chị Pha đứng dừng lại, đặt phịch gánh xuống đất. Chị hung hăng nhìn vơ trương Thi, mặt nóng bừng bừng. Nhưng chưa nói chị đã thấy run lên, đầu chóang váng, và mệt rốc hẳn người. Định thần một lát, chị mới đáp:

    Ừ đấy, cứ đặt thế đấy, nghĩ là sinh sự thì sinh sự, chứ bụt trên tòa gà nào dám mổ mắt.

    Trương Thi chạy ra, tay cầm thanh củi nói:

    Phải, muốn sinh sự sự sinh thì rồi xem

    Chị Pha nghẹn hơi đến cổ, song biết thế không làm gì nổi. Nhưng không lẽ chịu nước lép, chị giở giọng chua ngoa:

    -Nhà tôi không chứa nổi thổ đổ hồ, chồng tôi không ăn trộm ăn cướp, tôi không theo trai đánh đĩ không buôn lậu bán vụng, mười đời nhà đứa nào cũng không làm gì nổi tôi tốt!

    Trương Thi bị chạm nọc, cười gằn trỏ vào mặt chị Pha, dọa:

    -Ừ, mày xem tao có làm gì nổi mày không.

    Chị Pha căm giận toan cũng mày tao, và chửi nhau một trận đáo để, nhưng bên địch đã kéo nhau vào nhà

    Sao hàng rào, bà trưởng Bạt, đứng lấp ló nhìn qua lớp lá dâm bụt can,:

    -Thôi mà, chị Pha, một câu nhịn chín câu lành

    Chị Pha uất lên, chùi nước mắt đáp:

    -Đấy, bà tính xem ai sinh sự trước.

    -Thôi, đi chợ đi, trưa rồi

    Vẫn còn hậm hực, chị Pha cất gánh lên vai. Chị tiếc sao lúc nãy không cứ xông vào xé con mẹ ấy một mẻ. Nhưng chị tự an ủi:ở đời bao giờ hiền cũng gặp lành mà những kẻ gian ngoan tai quái như trương Thi, tự khắc đã có trời biết mà trị tội. Hạng ấy dứt khoát không thể giữ của bền được. Trương Thi là một tay chơi có tiếng ở làng An Đạo. Cứ một vết sẹo dài chéo trên tráng hắn cũng đủ tố cáo hắn sinh nhai bằng nghề gì. Ở tù ra hắn không ăn trộm cướp nửa, những hắn lại nấu rượu lậu. Việc ấy, cả làng biết đấy, nhưng chưa lần nào hắn bị bắt. Nhà Đoan ở cách làng có 6 cây số, cả Tây lẫn Việt Nam về sục sạo nhà hắn luôn, nhưng lần nào hắn cũng tẩu thoát được hết tang vật. Mà một khi người ta đã quay gót trở ra khỏi làng, hắn lại công nhiên nhóm bếp nấu một mẻ rượu lớn.

    Cả làng ai cũng kiêng hắn, vì người ta không muốn day dưa với con người ngông ngược. Hắn tưởng thế là giỏi, càng chẳng sợ, chẳng nể ai. Ông lý trưởng, ông chánh hội, cho đến cả quan Nghị hách dịch là thế, mà hắn cũng chẳng coi vào đâu.

    Chị Pha càng nghẫm nghĩ càng căm hờn. Chị không hiểu sao những người thù nhau với hắn, không nghe ngóng đích xác lúc nào hắn làm việc phi pháp, lập tức đi với Đoan về. Chỉ cách ấy mới làm con người nham hiểm phải tuyệt nghiệp, tù tội. Mà vùng này mới được yên ổn làm ăn, thỉnh thỏang đở thấy bóng những người mặc áo vàng, xồng xộc vào làng, để họ nhũng nhiễu, có khi không khám được rượu lậu, họ đâm cả vào nàh người ta ghẹo gái.

    Đến chợ chị Pha chui vào lều, lấy nón quạt một lát, rồi vởi đôi bồ hàng ra bầy. Người quen kẻ thuộc ai thấy chị vắng mấy buổi, và nay bụng chị bé đi cũng biết là chị ở cữ. Với những người hỏi thăm, chị kể rành rọt cả cho nghe câu chuyện bực mình vừa rồi. Nói được như thế chị mới hả.

    Chẳng mấy chốc, những hộp gỗ vuông có lòng kính trên mặt đã bày la liệt trước chị, trên chiếc vỉ buồm rộng bằng cói trải xuống đất. Thực là một cuộc triển lãm về công nghệ quốc tế:khuy, phấn, pin, gim, ví, xà phòng con mèo, thuốc lá, lưu hòang, thuốc lậu Từ Ngọc Liên, cỗ bài, dầu cô ba, truyện, vân vân. Trên xà rũ xuống những áo tích cô, khăn mặt bông, pít tất và giải rút.

    Chị Pha ngồi trên chiếc ghế thấp thỉnh thỏang mỡ hộp trầu ra lấy một miếng để nhai cho đỡ buồn, và luôn luôn mời chào người qua kẻ lại.

    Nắng như quăng lửa. Càng về trưa chợ càng đông. Mùi người trộn lẫn với mùi cá, mùi thịt, theo bụi bậm xông lên.

    Chị Pha thấy đói bụng mỡ gói, lấy cơm nắm ra, chấm với trứng cáy.

    Bỗng vợ đĩ Dự hớt ha hớt hải chạy đến bảo:

    -Chị về nàh xem anh ấy làm sao kia kìa!

    -Chị Pha giật mình hỏi:

    -Nhà Tôi làm sao hở mợ ?

    -Ai biết được, thấy người ta túm đông túm đỏ ở sân đình ây.

    Chị Pha vội vàng bỏ cả ăn lẫn hàng, nhờ em dâu trông hộ, tức tốc về. Chị cắm cổ chạy quên cả mệt. Chị cố đóan mà không sao biết được việc gì

    Đến đầu làng chị thấy đám đông đi về phía cổng đồng. Vì không gặp ai để hỏi nên chị cứ chạy theo, nhịn thở, nhăn mặt, ôm bụng mà chạy cho kịp. Gần đến nơi chị mới gặp một người mắch:

    Có ruộng chôn ở ruộng anh ấy.

    Tin sét đánh làm chị rụng rời tay chân. Chị hiểu ngay. Chị thấy chồng đầu không nón, mình không áo, mà mình nắng chang chang thì thương hại quá. Pha phải trói giật cánh khủyu, đầu dây chảo có người tuần cầm. Người tay đoan mặt đỏ, vẫn như mọi bận, đội mũ vải vàng rộng bìa, mặc áo sơ mi nịt và quần cụt, chống cái ba toong thật to. . Đi với người tây có 02 ngừơi lính áo vàng, nón vàng, giẫm chân không, nhưng có vẻ oai vệ lắm. Sau bọn nhà Đoan thì Lý Trưởng, chánh hội, phó lý, khán thủ, hai người tuần và đến trăm người kéo nhau đi xem. Những người này đều nhìn Pha bằng đôi mắt ghê tỡm, khinh bỉ. Tự nhiên họ ghét bỏ một người bất lương, hành động trái pháp luật như kẻ cướp, kẻ trộm vậy.

    Nguyên nha thương chính trên huyện được báo tin có rượu lậu chôn ở đông An Đạo, nên phái người về. Người nhà Đoan đến làng, gọi lý trưởng ra ruộng để nhận thực, và tìm bắt chủ ruộng là Nguyễn Văn Pha. Lý trưởng tuân lệnh, phán khán thủ và 01 tên tuần đến ruộng bà trưởng Bạt.

    Pha đương cấy, thấy tự nhiên có người vồ lấy mình và trói, anh sợ hãi chẳng hiểu việc gì, ngơ ngác hỏi. Nhưng không ai trả lời cả, Họ thít rõ chặt, giòng anh về nhà.

    Trong khi ấy lính đòan vào nhà Pha, lấy thuốn sắt nhọn chọc chẳng còn thiếu chổ nào, trong nhà, ngoài bếp đống tro, đống quần áo, chỉnh tương, mặc kệ.

    Lục lọi không thấy gì mọi người trở ra, thì vừa lúc tuần giải Pha đến. Biết rằng bị khám rượu lậu và chắc nhà Đoan lầm. Anh nói:

    -Thưa các quan tên con là Nguyễn Văn Pha đấy ạ

    - Phải rồi ruộng mày có chôn rượu lậu

    Pha tái mét mặt nhìn sang nhà truong Thi, thấy người đứng lố nhố dòm sang rào. Anh hiểu ngay vì đâu rượu lại bò đến ruộng Anh. Anh biết tội này là quan trọng và đành chịu chứ không thể cãi oan được.

    Nhưng muốn anh phục nhà nước không bắt lầm ai bao giờ, người ta gảii anh ra đồng để được nhìn bằng hai mắt chính ruộng anh có rượu và ký nhận vào biên bản.

    Chị Pha thấy chồng oan uổng, vội chay đến trước mặt người tây đoan, chắp hai tay vái lấy vái để và khóc lóc, nói:

    -Lạy quan lớn quan tha cho chồng con, chồng con không biết nấu rượu bao giờ. Chẳng qua người ta thù.

    Người tây trợn mắt giơ ba toang lên dọa. Hàng trăm người chạy ồ như vịt, ngã cả lên nhau. Nhưng không có gì cản nổi người đàn bà ngu xuẩn va 2liều lĩnh, tuy mặt người ấy nhợt nhạt vì mệt, vì sợ.

    - Lạy quan lớn, chồng con vẫn lương thiện không dám làm những chuyện phạm pháp. Đây, có mặt các cụ lý, cụ cánh, quan lớn hỏi ngay thì rõ

    Lý trửởng quắc mắt

    - Ơ hay cái chị này, việc gì đến tôi chỗ ấy. Tôi không biết đâu. Bước! Quan lớn đánh cho bây giờ.

    Người tây đoan thản nhiên đánh diêm hút thuốc lá và chữa cái quai mũ. Chị Pha vẫn khóc lóc av2 nói lải nhải:

    - Nó thù nó chôn rượu và ruộng nah 2tôi

    Rồi cảm động quá chị nức to lên:

    Ai làm thế nào mà canh ruộng ở ngoài đồng được, hỡ trời!Khốn nạn thân tôi quá trời ơi

    Người tính đoan xua tay đuổi

    - Đi lên Hà Nội mà lý sự, đây không biết. Rồi tù mất nhà, mất ruộng.

    Thấy chị Pha khóc một cách lố bịch, người tây đoan nhăn răng ra cười. Hình như hắn đã chai mắt chai tai về hàng nghìn hàng vạn tấn kịch có tiếng khóc lóc thắm thiết như thế.

    Thấy tiếng kêu vang của mình vô công hiệu, chị Pha quay lại nói với Lý trưởng bà chánh hội:

    - Lạy các cụ, các cụ làm phúc nói với quan hộ cho. thật là oan nhà cháu quá. Có người đáng bắt thì các quan không bắt.

    Người lính đoan quắc mắt:

    - Im mồm!

    Chị Pha tức quá không chịu được bèn nói liền:

    - Các ông làm việc vô lý, chỉ bắt ức người ta thôi. Ruông ở tận ngoài đồng, chả lẻ ra đấy mà ngồi canh suốt đời ờ ?

    -Mặc kệ. Lên Hà Nội mà kêu.

    Từ nảy Pha không van lạy gì. Anh cũng phản nhiên như người tay đoan, vì anh coi việc phải trói và giải đi, rồi phải tù, mất nhà, mất ruộng chăn nửa là một việc dĩ nhiên.

    Ở gần nhà đoan từ thưở nhỏ, làm gì anh chẳng thấy được mắt thấy tai nghe biết bao nhiêu việc như việc này.

    Bởi vậy, tuy thương vợ còn yếu đuối, anh chỉ lẳng lặng mà chịu tội, còn hơn là cữơng, là kêu, lỡ bị tát, đá đánh, thụi, lại thêm khổ vào thân nữa chứ ích gì.

    Pha theo người ta dẫn đến cánh Mả Giơi có ruộng mình có người lính đoan thứ ba nữa đang đứng đợi và ý chừng để canh tan vật.

    Bỗng chị Pha chạy vòng lên trước như có việc gì lạ vậy. Rồi tự nhiên chị quay lại, mừng rỡ, cuống quýt, chấp tay lạy người tay đoan và nói:

    - Lạy quan lớn, ruông này không phải của nhà con. Cả ngần ấy mắt trố lên. Ai nấy ngạc nhiên hết sức. Pha cô nhìn, thì bỗng nhẹ hẵng người, như được sống lại

    Chị Pha cười khanh khách nói:

    - Bẫm đấy là ruộng của quan nghị lại ạ.

    Mọi người tưng bừng ngơ ngác nhìn nhau, ra ý sợ hãi. Pha tươi tỉnh trỏ ruộng bên cạnh, nói:

    Ruộng nàh con đây chứ không phải ruộng ấy

    Người ta đoan hất hàm, hỏi lý trưởng. Lý trưởng và chánh hội đồng thời đáp:

    - Bẩm ruộng này của tên phạm lại thật ạ

    Người ta nhúng vai, giơ ngang hai cáhnh tay:

    May quá! Pha lại lương thiện như thường.

    CHƯƠNG 4

    Dinh cơ Nghị Lại ở đúng giữa làng An Đạo. Song, sự thực, làng An Đạo với dinh cơ ông là hai thế giới tách biệt hẳn nhau.

    Đó là một khu đất rộng ước hai mẫu, bốn mặt tường cao ba thước tây xây gần kín khắp, trừ nhà cụ Ánh ở oái oăm vào một góc. Những mảnh chai sáng nhoáng, tua tủa cắm thẳng trên tường, như lưỡi lê của đội quân canh đứng đều răm rắp. Giữa dãy tường theo đường cái, nổi lên cái cổng cực lớn, có chòi canh, nhưng họa hoằn hai cánh mới có dịp mở. Thường thường, người ta vẫn ra vào bằng cái cửa tò vò bên cạnh, rộng độ năm mươi phân tây, nhưng cả ngày đóng im ỉm.

    Nghị Lại giàu có một cách hỗn láo. Tiền, thóc, ruộng, nhà của người khác lọt vào tay ông dễ dàng như trở bàn tay.

    Với ông, sự học vấn không làm gì. Thưở bé, ông coi sách vở là kẻ thù số một. Bây giờ ông vẫn còn khoe một việc năm ông mới mười lăm tuổi. Hồi ấy ông học ở lớp tư. Một hôm không thuộc bài, ông bị thầy giáo mắng nhiếc. Lập tức, ông đứng phắt dậy, cắp sách ra khỏi nhà trường. Và từ đó, dù cha mẹ khuyên dỗ, mắng chửi thế nào, ông cũng không trở lại cái ngục thất nó chiếm đoạt hết cả tự do của tuổi sung sướng của ông nữa.

    Rồi năm sau, khôn hơn, ông mới nhận ra rằng tự thuở nhỏ, ông vẫn bị giam hãm trong cái ngục thất nghiệt ngã hơn nhà trường, là gia đình, mà những người coi ngục còn nghiêm khắc bằng mấy mươi thầy giáo. Ông bèn tìm dịp thoát ly. Một tối, ông lấy cắp năm trăm bạc, theo một người bạn hơn tuổi, lên Hà Nội, hai anh em tập cách ờ xã hội.

    Vì ở xã hội sớm thế, nên ông sớm học được đủ các ngón, mà ngón nào cũng tinh. Ông lấy làm hãnh diện rằng mới mười sáu tuổi đã giỏi trống cô đầu, mới mười bảy tuổi đã hút nổi hai mươi điếu thuốc phiện một lúc, và mới mười tám tuổi, đã có vô số nhân tình Hà Thành.

    Ông chỉ chửi lại cha mẹ có hai lượt vì ngày xưa, ông ở nhà rất ít để phụng dưỡng song thân. Và nếu năm mười chín, không, đã mang điếu thuốc điếu sái, lâm vào cảnh túng bẫn, thiếu ăn thiếu tiêu, ông đã chẳng trở về với gia đình, và đã thực hành được câu thề không đời nào chịu gọi vợ chồng thằng chánh Hòe là bố mẹ. Chỉ vì nghĩ ngợi rõ kỹ lưỡng một đêm đói thuốc, ông mới tỉnh ngộ rằng ông đã dại mà không hưởng quyền làm con của một nhà giàu có hàng vạn.

    Ông chánh Hòe thấy con về thì mừng, cho là đã biết hối, bèn dỗ dành cho con nên tu chí làm ăn, và cưới cho con người vợ. Một cô vợ đẹp, một ả phù dung, là hai cái dây chắc chắn nó ràng buộc ông với nơi chôn rau cắt rốn. Hai cụ liền huấn luyện cho ông cái phương pháp làm giàu. Và từ khi đứng chủ cơ nghiệp này, ông mới phục ông còn giỏi bằng mấy song thân ngày trước.

    Nguyên khi ông bà chánh mất đi, thì dinh cơ mới rộng độ tám sào, mà ruộng vườn tất cả ngót trăm mẫu. Thế mà thấm thoắt trong mười năm trời, tường quanh nhà xây gần kín hết, mà ruộng nọ để ra ruộng kia, đến tháng này, ông có vừa đúng bốn trăm mẫu.

    Bây giờ ông chỉ nằm khểnh, hút cho sướng cái tuổi năm mươi, thỉnh thoảng có dịp thì lại làm giàu chơi, chứ ông cũng lấy làm mãn nguyện lắm rồi.

    Bọn hương lý đưa người nhà Đoan đến cổng lớn nhà Nghị Lại. Lý trưởng giơ tay giật dây chuông, thì đồng thời đàn chó cũng cắn dậy lên. Một lát, trên chòi có người nhìn xuống:

    - Ai hỏi gì?

    - Vào bẩm với quan rằng có quan Đoan đến nhé.

    Năm phút sau phía trong cổng có tiếng tháo gióng gỗ và mở khóa. Hai cánh cửa theo hai bánh gỗ lộc cộc lăn trên gạch, mở toang, để hiện ra một anh lực điền cởi trần đứng choãi hai chân, đương cố sức mở cho hết cánh lim dầy dặn.

    Người tây Đoan quen lối, đi thẳng vào sân, mặc dầu lũ chó xồ ra, lăn xả vào mà cắn. Ông qua chuồng trâu bò, lẫm thóc, để lấy bóng rợp, rồi bước chân lên thềm, vào buồng khách.

    Buồng khách ấy khá gọi là tình tứ.

    Đây là một cô gái Trung Hoa trắng hồng như trứng gà bóc, mũm mĩm, nằm hớ hênh trật cả đùi lẫn vế. Ở góc, lại một cô nữa, chẳng mặc gì để che tấm thân trắng phau béo phốp, nhưng lại thẹn thò chua ngoa, một tay bịt ngay chỗ chẳng nên bịt, và một tay giơ lên trời, cầm một cái. . . Một cái đây, hiểu ngầm là một ngọn đèn cụt đầu.

    Những thức ấy, đáng lẽ khêu gợi lắm thì phải, song tiếc thay, nó chỉ là những bức tranh màu và pho tượng trắng đầy bụi bặm. Gia dĩ, may cho khách đa tình không đến nỗi ngây ngất, là trong buồng lại sẵn nhiều sức phản động, khiến người ta phải cụt hứng ngay.

    Đầu tiên là một mùi tanh tanh ở trong gầm xông ra. Nó là mùi hanh đồng của những đỉnh, những đèn, những mâm, những nồi xếp la liệt dưới sập. Những thức ấy khó lòng lấy ra được, vì khi cất vào đó, người ta phải rất đông người cùng khênh bổng cái sập lên, mà khi hạ xuống, thành ra sập sát gần chấm đất.

    Rồi đến những bàn ghế, tranh ảnh, cùng trăm thứ trang hoàng trên tường, không ra lối lăng gì. Cái thì thực đẹp, cái thì thực xấu, cái thì thực mới, cái thì thực cũ. Hình như những đồ ấy chủ nhân đã góp nhặt dần dần của các nhà khác. Sự bày biện bảo cho ta biết chủ nhân là một tay bất chấp nghệ thuật, nhưng là một người chịu khó tiếc của trời.

    Nhưng cái phản động lực lớn lại là cái ảnh truyền thần Nghị Lại. Ta nên nhớ rằng ông Lại mới làm nghị viện. Song người làng phải nghe ông ta mà gọi ông là quan, nên ông không cần nể ai, chụp ngay cái hình mặc mũ áo đại triều và thuê vẽ. Họa sĩ lại là tay đồng chí của chủ nhân càng không cần nể ai nữa. Y đã tô màu tía lên trên áo rồng và vẽ thêm đôi giao long dưới đầu mũ có rắc kim nhũ. Song, trời ạ, cả một bộ triều phục uy nghi ấy lại dùng để trang hoàng cho một tấm thân có bộ mặt hom hem, nhăn nhúm, khủng bố người ta bằng hai nét nhăn xoạc cong sang bên má, làm cho đôi mắt xếch càng xếch thêm. Họa sĩ muốn tôn người có của, đã hòa màu hồng cho khéo để tô da mặt hồng hào như người Mỹ tráng kiện. Song sự thực, Nghị Lại là dòng dõi một giống người thuộc chủng tộc thứ sáu trên toàn cầu.

    Thực vậy, nếu trắng, ông đã là người Âu, nếu vàng, ông đã là người Á, nếu đỏ, ông đã là người Mỹ, nếu nâu, ông đã là người Úc, và nếu đen, ông đã là người Phi. Đằng này ông lại xanh xanh, đích là da của chủng tộc người nghiện.

    Nghị Lại ngạc nhiên, đớ người nhìn khách:

    - Cái gì vậy?

    - Ruộng ông có rượu lậu.

    Nghị Lại tròn mắt nhìn:

    - Có rượu lậu?

    - Phải, thầy lý trưởng nói rõ để ông Nghị biết là ruộng nào.

    Lý trưởng nói:

    - Bẩm quan, cái thửa bảy thước ở cánh Mả Giơi, của nhiêu Sinh nhường quan tháng trước, mà quan cho nhà Lành cấy rạ ấy ạ.

    Nghị Lại cau mặt, gõ mấy đầu ngón tay xuống bàn:

    - Cái thửa ruộng ở cạnh thằng Pha ấy à?

    - Dạ.

    Ngẩn người một lúc, rồi Nghị Lại cười:

    - Quái. Nhưng quan lớn bảo nhà tôi như thế này còn nấu rượu làm gì?

    - Đành vậy, nhưng ông là chủ ruộng, thì theo luật, ông có lỗi. Hiện tang vật còn đó, ông ra đồng với tôi để xem và ký vào biên bản.

    - Phát.

    Một tiếng gọi trong lúc giận dữ, ai nấy giật mình.

    - Dạ.

    - Mày bẩm với cô Năm, đi theo lý trưởng ra xem có phải đứa nào nó bỏ rượu vào ruộng nhà không nhé.

    Rồi ông nói với ông Đoan:

    - Thôi, ta bất tất phải đi. Mời quan lớn cứ ở đây. nắng lắm.

    Ông quay vào trong gọi:

    - Mau lên, sao chậm thế?

    - Dạ.

    Tức thì một tên đầy tớ bưng khay rượu ra. Hai cốc sâm banh trong sáng lanh canh chạm vào nhau làm sóng sánh rượu vàng. Nghị Lại giơ tay mời:

    - Rước quan lớn.

    Khách chạm cốc rồi ngửa cổ uống một hơi. Nghị Lại rót thêm và nói:

    - Cái cốc này người ta làm nông quá. Giá quan lớn cho phép, tôi lấy bộ cốc vang thì rót được nhiều hơn. Chắc quan lớn khát lắm.

    Người tây đoan mỉm cười:

    - Tùy ông.

    - Thứ rượu này ngon lắm. Hồi sinh thời, cụ tôi không dùng, đem cất vào xó lẫm thóc đến ba mươi chai ấy. Bây giờ tôi mới biết, suýt nữa quên thì phí.

    Rồi ông cười thực to để che lấp sự lo lắng và nghĩ ngợi.

    - Về việc rượu này, chắc ông phải phạt nặng.

    - Tôi không hiểu sao pháp luật lại quá bất công thế? Tôi đã làm nghị viên, rất trung thành với hai chính phủ, không nhẽ tôi lại dám làm điều phi pháp?

    - Phải, điều đó tôi vẫn hiểu và không ngờ gì ông cả, nhưng pháp luật là pháp luật.

    - Ruộng của tôi rất nhiều, không những ở tỉnh này, mà còn ở tỉnh khác nữa, chẳng lẽ thửa nào tôi cũng phải cho người đi canh hay sao? Mà nếu lệ nhà Đoan nghiêm ngặt thế này, thì những đứa ghét tôi, chỉ một ngày có thể dễ làm tôi khánh kiệt cả cơ nghiệp được.

    Khách không đáp, chỉ mỉm cười. Nghị Lại nói tiếp:

    - Làng tôi có một thằng xưa nay sinh nhai về nghề nấu rượu, tên nó là thằg trương Thi, chắc nó bỏ rượu lậu vào ruộng nhà tôi.

    Chánh hội mách:

    - Bẩm nó định bỏ vào ruộng nhà thằng Pha kia đấy ạ, vì hai đứa xưa nay vẫn thù hằn nhau.

    - Phải, chính thằng Thi đi báo tôi.

    - Đấy, việc rõ rệt như thế, mà quan lớn phạt tôi, thực là oan tôi quá.

    Người Tây nhún vai:

    - Nhưng tôi biết làm thế nào? Ông với tôi vốn là chỗ bạn bè thân.

    Vừa lúc ấy cô Năm về, nhận đích là ruộng nhà. Nghị Lại nghĩ lung lắm.

    Rồi ông sực nhớ ra, mắng đầy tớ:

    - Kìa, chúng mày sao không mời các thầy xuống nhà ngang xơi nước?

    Đợi khi trong buồng vắng, ông Nghị cười thân mật, nói:

    - Đành tôi chịu cái vạ vịt, nhưng chỗ quan lớn với tôi, quan lớn có thể cứu tôi không? Tôi thì không văn hoa lễ phép được như ta, nên mới hỏi thẳng quan lớn như thế.

    Người tây đoan lắc đầu:

    - Không thể, việc tôi về đây khám rượu ở sở có biết, và người làng này cũng biết cả.

    - Thì tôi tưởng như quan lớn làm như khám không thấy gì.

    - Không được, có hẳn hoi và có hương lý làm chứng.

    - Ồ, làm gì. Hương lý ở đây là đầy tớ của tôi cả, tôi bảo gì chúng nó không phải nghe? Quan lớn làm ơn cứ xé biên bản đi, thế nào tôi cũng không dám quên ơn quan lớn.

    - Không được, ông ạ.

    - Tôi làm nghị viện, rất trung thành với hai chính phủ. Cho nên tôi không muốn có dấu vết gì xấu trong lý lịch tôi với nhà nước. Tôi chỉ ngại điều ấy, chứ sợ gì món tiền phạt. Nhà tôi như thế này, tôi thiếu gì? Chắc quan lớn cũng biết, tôi hầu hạ các quan, có lúc tốn kém đến bạc ngìn, mà có tiếc gì. Đấy, ngay như mấy lần tết nhất, tôi vẫn đi lại hầu quan lớn thì quan lớn biết.

    Ông Đoan gật gù, đáp:

    - Nhưng tôi không muốn làm việc phi pháp.

    - Thôi, tuy vậy nó hợp với tình bạn bè. Tôi không quên ơn quan lớn đâu mà. Trước kia tôi chưa nhờ vả gì quan lớn, mà còn đi lại hậu hĩ, nữa là bây giờ tôi hàm ơn quan lớn.

    Người tây đoan nghĩ ngợi một lúc, rồi hỏi nhỏ:

    - Thửa ruộng ấy, ông cho đứa nào cấy?

    - Tên Nguyễn Văn Lành.

    - Nó ở đâu?

    - Nó ở tổng Hà Tràng, cách đây chừng mười cây số.

    Người tây đoan nghĩ ngợi rồi gật đầu. Nghị Lại vui vẻ xui:

    - Tuy ở xa, nó có thể chịu trách nhiệm về việc rượu lậu này vì tôi đã giao ruộng cho nó. Xin quan lớn cứ bắt và làm tội nó. Thế thì công bình hơn là bắt tôi.

    Người tây đoan đứng dậy cười, bắt tay ông nghị và lắc đầu than thở:

    - Tôi vất vả về ông.

    Ông nghị khúm núm đáp:

    - Không dám.

    Rồi ông tiễn khách ra cổng, nhìn theo ân nhân với một nụ cười.

     !

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập49,949,230

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/