Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,950,940

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Bước đường cùng

Nguyễn Công Hoan

  • Thứ năm, 18:22 Ngày 25/03/2021
  • Bước đường cùng

    CHƯƠNG 11

    Về đến nơi, chị Pha vào ngay nhà bà trưởng Bạt để cho con bú, và kể lể sự tình, lạy van bà cho chịu món tiền mua lợn đến cuối tháng, sẽ trả cả gốc lẫn lãi. Chị cam đoan rất chắc chắn, vì chị đã định tâm từ nay phải bán tống bán tháo hàng họ đi, để lấy tiền trang trải chỗ tám đồng của ông nghị và ba đồng của bà trưởng. Thà chịu lỗ vốn một tý, còn hơn để món nợ nằm đó, cho nó đẻ lãi ra.

    Bà trưởng giận lắm, nhưng thấy tình cảnh chị thì cũng thương, nên chỉ nhiếc móc có một lúc, rồi bất đắc dĩ phải bằng lòng cho chị chịu tiền vậy.

    Vợ chồng con cái đoàn tụ một nhà rất vui vẻ. Nhiều người đến hỏi thăm, ai cũng mừng cho Pha ở hiền gặp lành. Anh đĩ Dự hứa cho anh ba hào để đền cái ô mất.

    Đến chiều, chị Pha âu yếm đưa con cho chồng bế, rồi cầm chiếc rá, nói:

    - Thầy nó coi nhà, tôi đi vay gạo thổi cơm chiều, nhà hết cả gạo.

    Pha thấy vợ chật vật thì động lòng thương. Anh buồn bã, dịu dàng nói:

    - Thôi, không cần, tôi nghĩ đến đoạn trường cửa quan vừa rồi lúc nào là thấy no lúc ấy.

    Vợ cảm động rơm rớm nước mắt:

    - Tôi thấy nhà được về mà mừng đến quên cả đói.

    Rồi cùng bảo:

    - Thế bữa chiều nay nhịn cũng được.

    - Được.

    Hai vợ chồng mỉm cười nhìn nhau. Một lát Pha nói:

    - Vả ai cho ta vay gạo? Những người thân, đều là những người nghèo, cùng hoàn cảnh được bữa nay lo bữa mai như ta.

    - Thôi, nhưng tôi cũng cứ muối mặt xem ai có cho vay được chăng. Mình còn có thể nhịn được đã đành, chứ con nó đã có tội tình gì mà bắt nó nhịn bú.

    Nói đoạn, chị ôm chặt con vào lòng, hôn hít hồi lâu, rồi cắp rá đi.

    Pha đăm đăm nhìn theo vợ. Anh lắc đầu, thở dài.

    Bỗng có tiếng chó cắn ngoài ngõ. Anh nhìn ra thì Phát, người nhà ông nghị đã nói:

    Anh Pha đến quan hỏi gì ngay.

    Tự nhiên Pha lộn ruột, căm tức con người lừa dối. Anh định không đi, nhưng vụt nghĩ đến món nợ tám đồng, anh mất cả hăng hái. Anh thở dài, cầm nón theo Phát. Nhưng căm giận không lẽ để mãi trong bụng, mà anh lại chẳng dám nói cho ông nghị biết anh đã rõ tâm địa ông, nên anh phải than thở với Phát, vì anh yên trí thế nào những câu trách móc cũng đến tai ông nghị. Anh nói cho Phát biết rằng ông nghị đã xui anh kiện, rút cục anh không kiện mà ông cũng bắt anh mất năm đồng cho quan, gia dĩ anh còn tốn bao nhiêu tiền ngoài mà vẫn phải tù, phải đánh.

    Không ngờ Phát cũng một cảnh ngộ như anh, nên chẳng vào hùa với ông nghị, lại lôi bao nhiêu chuyện xấu của chủ ra mà kể.

    - Ông ấy chẳng mấy tháng không bị kiện và không đi kiện. Chẳng chỗ này thì chỗ khác. Vì vậy đối với quan nào ông cũng phải chiều chuộng, dắt mồi cho ăn luôn. Ngay như mấy anh tây đoan không can thiệp gì, mà ông ấy cũng quy lụy. Để làm gì? Để bắt nạt chúng ta cho dễ. Chả vừa rồi, ông ấy bị nhà Ánh nó bỏ giấy về việc chiếm nhà nó. Này, chính ông ấy xui trương Thi nó kiện anh đấy nhé.

    Pha trố mắt ngạc nhiên như nghe truyện cổ tích.

    - Thật à? Thế mà hôm qua tôi thấy người ta trên huyện nói thế tôi cứ lại không tin.

    - Phải, mà đục nước béo cò, trương Thi cũng phải vay ông ấy hai chục, lại nhờ ông ấy khấn quan hộ.

    Pha cười lạt, ngẫm nghĩ.

    Anh căm hờn người xui nguyên giục bị, đòn xóc hai đầu. Anh quyết hăng hái nói hẳn đến tai ông nghị cho được hả giận.

    Nhưng đứng trước mặt Nghị Lại, Pha không giữ được ý định nữa. Khi nghe anh nói quan nha lính tráng tàn nhẫn, ăn không của anh mất ngót mười một đồng, lại khép anh vào tội vi cảnh vì chửi nhau, thì ông nghị ngọt ngào nói:

    - Con ngu dại thế không trách con chết. Tiền mất cho quan là tiền không đi đâu mà mất, sao con cứ tiếc? Mình làm thằng dân, bao giờ cũng dưới quyền cai trị của người ta, ngộ rồi khi con có việc gì, con có mong người ta bênh vực cho hay không? Quyền phép trong tay người ta, người ta ưa mình thì người ta che chở mình, mà người ta ghét mình thì người ta cứ thẳng tay. Há con chẳng thấy bao nhiêu người chịu tốn kém để kiếm chỗ đi lại mà không được đấy à?

    Bị ông nghị nhồi sọ, Pha đứng lặng và nguôi giận. Anh cho là lời có lý và không thiết tha tiếc tiền như trước nữa. Ông nghị nói tiếp:

    - Cho nên làm dân có bổn phận là phải kính trọng quan phụ mẫu. Không nên thấy mất những món tiền nhỏ đã vội oán thán. Làm con, ai oán cha mẹ bao giờ. Năm đồng bạc, mình cho là to, chứ người ta coi như cái rác cái bụi. Vả lại làm quan mà không ăn lộc thì ai làm quan làm quái gì? Mày không nên ngu dại, nghe hoặc bắt chước những đứa vô luân thường đạo lý, những đứa ngông cuồng, những đứa cộng sản, làm sách, viết báo, để chúng nó nói xấu quan này, nói xấu quan kia. Người ta xấu, người ta cũng là ông quan cai trị mình. Chúng nó hay, chúng nó giỏi, sao chúng nó không được làm quan? Chung quanh đây, mật thám đầy lên đấy. Vả lại phải suy xét mới được. Người ta ngũ lục phẩm triều đình, mình đã là thứ bực gì mà dám chống cự với người ta. Chẳng qua mình là thằng dân hèn.

    Pha lại như tôong thấy trước mắt một người phốp pháp và những khí giới giết người, tự nhiên anh lại bắt đầu sợ quan như thường, anh đáp:

    - Lạy quan, con đâu dám nghĩ thế.

    - Cho nên, mai mày lại phải đi tạ quan mới được.

    Pha thấy nói phải lên huyện thì khó chịu, hơi cau lông mày nhìn ông nghị và nói:

    - Bẩm con làm gì mà phải tạ? Quan huyện nhất định khép tội con chửi nhau, đã phạt con sáu hào rồi, thế là việc xong.

    Ông nghị cười ôn tồn hỏi:

    - Nhưng không có thư của tao, liệu việc con có xong không?

    - Như thế thì con phải tạ ơn quan chứ không phải ơn quan huyện. Quan bảo con kiện trương Thi, nhưng con không kiện nữa, thì việc gì con phải tạ?

    Ông nghị đuối lý, nhưng cũng gật đầu, nhăn mặt dằn từng tiếng:

    - Biết rồi, khổ lắm. Nhưng con phải biết rằng chỗ người lớn nói với nhau, tức là tao đã khấn với quan huyện như thế rồi, con nghe chưa? Nếu con định tâm quỵt ngài, rồi con sẽ thấy rằng con dại. Con đã vào cửa quan một lần, há lại chưa sáng mắt ra hay sao?

    Pha lại thấy nhụt, nhưng cũng cần nói cho vỡ lẽ:

    - Nhưng thưa quan, con cơm chả có mà ăn, áo chả có mà mặc, đến bữa chiều nay nhà con phải đi chạy gạo, thì làm gì có tiền mà lễ quan một cách vô lý.

    Thấy mình thuyết đã xiêu lòng thằng ngu ngốc mà thỉnh thoảng nó cứ chống chế, nên ông nghị càng hết sức nhồi sọ, đánh về mặt cảm tình. Vì vậy, ông lại nhăn mặt và dằn:

    - Khổ lắm, giảng từ hôm nọ thì không thèm hiểu cho. Tao đã bảo tao cho vay kia mà.

    Nói đoạn, ông mở tủ quẳng cuộn giấy bạc xuống bàn, nhìn Pha để dò ý và tủm tỉm nói:

    - Đây, tao là người lớn, chẳng lẽ tao nói hai lời với anh. Anh mất tiền tao cũng thương hại, nhưng anh phải mừng được làm đầy tớ chỗ quyền thế.

    Thấy Pha đứng ngây người, im lặng, ông nghị thở dài, và nói bằng giọng thân mật hơn:

    - Thế nhà mày thiếu gạo ăn hôm nay à, con? Thằng Phát đâu?

    - Dạ.

    - Vào bảo cô Tư hay cô Năm cũng được, nghe chưa, đong cho anh Pha hai đồng bạc gạo nhé. Khổ.

    Thấy Pha có dáng cảm động, ông than thở:

    - Gạo độ này kém lắm nhé. Đồng bạc chỉ đong có mười lăm bơ chiêm, sốt cả ruột.

    - Bẩm, được mười chín bơ ạ.

    - Láo.

    Rồi ông đánh trống lắp:

    - Thế hôm nọ tám đồng, hôm nay hai đồng gạo với hai chục nữa là đi ba mươi đồng, nhớ lấy nhé.

    - Dạ, lạy quan, từ nay đến cuối tháng, con xin nộp.

    Ông nghị mắng:

    - Chà, bao giờ nộp cũng được. Tao biết việc mất tiền này cũng hơi tại tao một tí, cho nên tao mới hối hận và tận lực giúp mày. Thì mày hãy cứ lo làm ăn chăm chỉ.

    Thấy ông nghị hình như thành thực tử tế với mình, Pha ngậm ngùi cầm rá gạo đem về nhà. Nhưng khi vợ anh khảo lại thì thấy hụt mất già nửa bơ và chị kêu rầm lên rằng thứ gạo hôi mọt này, ở chợ bán một đồng hai mươi bơ là đắt.

    CHƯƠNG 12

    Pha ở huyện về, cởi khăn áo xong, anh bắc chõng ra sân ngồi mát, thừ người tiếc ngẩn tiếc ngơn món tiền hai chục tạ quan. Vợ anh tặc lưỡi tự an ủi:

    - Thôi, thì cũng là cái số mất của, thế cho đỡ ốm.

    Pha không nói gì, thở dài. Thấy chồng thế, chị Pha ái ngại lại nói:

    - Người còn thì của còn. Bà Thọ hẹn hôm nay mua lại gánh hàng, hễ được giá thì bán phăng để trả nợ. Chân tay còn cứng rắn, hễ sạch nợ thì ta làm giàu cần gì.

    Pha chán nản:

    - Bu mày đừng nói đến chuyện làm giàu đi.

    Một tiếng cười ròn tan ở ngoài cổng. Chị Pha nhìn ra, thấy bác Tân, chị ruột chị, lấy chồng dưới cuối tổng, vui vẻ vừa tào lao vừa nói:

    - Từ ngày chú dì ở cữ cháu, tôi cứ bảo lên mừng mà nhà bận quá. Nào thằng cu ra bác bế nào.

    Bác Tân âu yếm đón thằng Bạch ngủ trên tay mẹ nó và nựng nó đủ điều để nó thức dậy.

    Pha đứng lên nhường chỗ cho chị vợ, rồi đi rót bát nước vối:

    - Bà uống tạm.

    Bác Tân nhìn Pha, hỏi:

    - Tôi nghe chú mới được cái bổng?

    Pha cười:

    - Vâng, cái bổng to.

    Vợ anh chép miệng:

    - Vợ chồng tôi trót nghe nhà ông nghị xui dại, thành ra bị cái vạ vịt.

    Rồi chị kể đầu đuôi, từ việc đặt tên con, việc trương Thi chửi cạnh mất gà, việc bỏ rượu lậu vào ruộng, đến việc Thi sinh chuyện để kiện, và trước sau chồng chị bị đòn, bị giam, bị mất tiền ra sao.

    Bà Tân ngẩn ra nghe, thỉnh thoảng chép miệng than thở:

    - Khốn nạn!

    Kể xong, chị Pha kết cục:

    - Thì ra ông ấy xui nguyên giục bị, để nhà tôi tự nhiên mất hơn ba chục đồng bạc có tai hại không? Thế mà vẫn làm ra ta nhân đức lắm, thương người lắm. Mà làm sao ông quan ông ấy ăn vô lý thế mà cũng ăn được.

    Bác Tân cười mỉa mai:

    - Làm quan lấy tiền đưa đến tận mõm lại còn phân biệt có lý với vô lý! Ông này ác chẳng kém ông trước. Này, thấy người ta bảo hễ nghe nhà nào có máu mặt trong huyện, là cho người đến gây sự kiện tụng để ăn tiền đấy.

    Thấy vợ Pha thở dài, bác Tân tức tối nói tiếp:

    - Ăn vừa vừa chứ, kẻo lại mất quan sớm.

    Pha cười:

    - Người ta khôn, ăn tiền đúng phép, chứ có để hớ hênh chỗ nào đâu mà sợ. Mình là dân, hễ cứ có việc gì dính đến quan, thì cứ là tuyệt nghiệp.

    Chị Pha bĩu môi:

    - Tại thầy nó nghe ông nghị nên mới đến nỗi, chứ người khác thì việc gì?

    Rồi chị nói với bác Tân:

    - Tôi định bán gánh hàng đấy bác ạ, để lấy tiền mà trả nợ ông nghị, ông ấy lấy lãi nặng quá. Mười lăm hai mươi phân là thường.

    Bác Tân cười, nói đùa:

    - Thảo nào ban nãy chưa chi chú dì đã nói đến chuyện làm giàu!

    Pha cười chán nản:

    - Nói đùa cho vui đấy chứ, nếu giàu được thì giàu rồi. Năm ngoái tôi dọn cái quan viên, mà mãi mới trả nợ hết.

    Bác Tân nói thêm:

    - Vả lại ở làng khác, còn mong nói chuyện làm giàu, chứ ở làng này, tục hương ẩm nặng lắm, mấy lại còn đời lão nghị thì cứ là dân đi tiêu hết, đấy chú dì xem bác Hai, bác Ba nhà này thì biết.

    Pha cảm động đáp:

    - Bà nói đúng đấy. Như bác đám Ích, kể là tay giỏi. Bao nhiêu ruộng nương mất sạch với ông nghị về cái năm cái đám, phải lên tận Tuyên Quang làm ăn. Thế mà mấy năm chả biết phát tài thế nào, bác ấy lại dành dụm được cái vốn, về ở làng. Thế mà cái nhà ông nghị cũng bất nhân, chẳng biết sinh sự thế nào với bác ấy, đến nỗi bác ấy lại mất nhà, hết sạch sẽ, và nay lại lên Tuyên Quang.

    Ba người cùng phá ra cười. Chị Pha tiếp:

    - Bác đám gái bẻ que thề rằng từ giờ đến lúc chết cũng không về làng nữa.

    Bác Tân nói:

    - Ở làng tôi, tiếng thế mà làm ăn dễ dàng hơn làng này.

    Chị Pha tiếp:

    - Là vì dưới làng còn có người nọ người kia biết tiếng tây, nhất là không ai giàu hẳn như ông Nghị Lại, chủ rặt những nhà sàn sàn đủ ăn như nhau thôi.

    - Thật đấy, chỉ những người cùng cảnh mới biết thương hại nhau, đùm bọc nhau, chứ hạng giàu có, họ coi mình như cái kiến cái bọ, giẫm lên mình lúc nào thì mình chết lúc ấy.

    Pha nói đùa:

    - Độ vài năm nữa, khi đất ruộng làng An Đạo này về tay ông Nghị Lại cả, thì ông ấy ăn lan sang đến làng trung, làng thượng, rồi đến làng Đông Thái nhà bác.

    - Bây giờ lại còn chưa, mới độ một phần tư ruộng của ông ấy thôi. Nghĩa là chúng tôi ở xa ông ta, thì ít người bị vạ.

    Pha căm hờn tiếp:

    - Nhưng không bị cái vạ nhà giàu thì bị cái quan, cũng thế.

    Bác Tân gật:

    - Ừ, vạ quan thì chẳng làng nào thoát.

    Rồi thở dài, bác tiếp:

    - Gớm, bao giờ ông ấy đổi đi cho dân nhờ.

    - Ông này đổi đi thì ông khác lại đến, bao giờ mình thoát được?

    Pha buồn nản, nhắc lại ý ban nãy:

    - Rút cục chỉ dân chết, chết vì nạn nhà giàu, chết vì nạn quan.

    Bác Tân trai ở ngoài cổng bước vào, cười vui vẻ nói tiếp một thôi một hồi:

    - Dân quê còn chết về nhiều cái nạn khác nữa, nạn ăn ở bẩn thỉu, dại dột, sưu cao thuế nặng, nạn lụt, nạn đại hạn, nạn hủ lậu, rút cục nạn gì cũng do cái dốt nát nó đẻ ra cả.

    Câu nói pha trò của người vui tính không làm ai cười, trái lại, nó khiến mọi người phải ngẫm nghĩ. Nói xong, bác Tân ngồi xuống chõng, vớ cái điếu hút sòng sọc.

    Bác Tân gái nhìn chồng, chép miệng buồn rầu mách:

    - Thầy nó ạ, chú dì định bán món hàng đi để trang trải nợ lão Nghị Lại.

    Pha kể đầu đuôi cái tai bay vạ gió mà mình vừa bị cho anh rể nghe. Bác Tân trai trầm ngâm hỏi:

    - Thì chú dì lấy gì mà ăn?

    - Chúng tôi còn tám sào đây, may cũng đủ ăn, rồi đi làm mướn kiếm thêm chứ gì.

    Khách lắc đầu, ngao ngán:

    - Chú dì sang ở với tôi, chứ đừng nên ở đây. Ta biết trước cái làng này bất lợi cho bọn nghèo ta, ta nên tránh trước nó đi.

    Bác Tân gái gắt:

    - Thầy nó nói mới hay chứ? Ai lại có làng có nước có nhà có ruộng hẳn hoi, mà bỏ đi ở nhà anh rể?

    Bác Tân trai không đáp, hỏi:

    - Thế chú dì bán xong gánh hàng, thì định làm cho ai?

    - Tôi hãy biết sạch nợ ông nghị là thoát được cái nạn to, còn thì trời sinh voi sinh cỏ, lo gì?

    Bác Tân gái hỏi:

    - Thế bà Thọ dạm mua cho dì à?

    Chị Pha thở dài:

    - Chắc gì? Còn trả rẻ thối ra, ai bán được?

    Bác Tân trai hỏi:

    - Bác Thọ nào nhỉ?

    - Là chị gái bà nghị Ba đấy mà, bà ấy mua cho con dâu tập buôn.

    - Thôi thế thì không bao giờ dì nên bán, mà cũng không bao giờ dì bán nổi.

    Chị Pha ngơ ngác nhìn bác Tân, bác này giảng:

    - Vì họ dìm giá. Họ biết rằng ngoài họ, không ai có tiền mua nổi thì bắt chẹt lúc mình cần tiền.

    Bác gái tiếp:

    - Mà biết đâu lại không chính ông nghị mua của dì đấy.

    Bác trai nghĩ ngợi rồi bàn với vợ:

    - Đẻ nó ạ, hay là ta mua giúp chú dì?

    - Chị em trong nhà với nhau, ai lại mua thế, người ta cười cho.

    - Thì ta trả cho dì như dì buôn ở hiệu ấy chứ gì? Đừng để dì thiệt.

    Chị Pha giãy nảy:

    - Không, tôi không bán cho hai bác đâu.

    - Thì dì đừng ăn lãi chúng tôi, chúng tôi không mua rẻ của dì. Như thế nhà tôi đỡ công đi cất hàng, mà dì không phải bị người ngoài họ trả giá hạ quá.

    Chị Pha thở dài, cảm bụng tử tế của anh rể. Chị nhìn chồng ngồi thừ cúi mặt gằm xuống.

    CHƯƠNG 13

    Vì lòng tử tế của chị gái và anh rể, chị Pha bán được gánh hàng ba mươi hai đồng.

    Vợ chồng rất mừng, tuy mất mối sinh nhai hàng ngày, nhưng có tiền để trả món nợ nặng lãi, đỡ phải ngày đêm lo ngay ngáy. Vậy tuy rồi anh chị sẽ phải vất vả hơn để kiếm ăn, nhưng được ăn ngon, chứ không phải vừa ăn vừa lo.

    Hôm nhận đủ tiền, chị Pha bảo chồng:

    - Thôi, thầy nó khăn áo lại nhà ông nghị, rồi đến mừng bác San, kẻo người ta mời vào giấc này, mình lại đến chậm.

    Pha nhăn mặt đáp:

    - Mình có phong lưu mới nói chuyện mừng, chứ túng kiết thì hẵng chịu đấy, ở làng ở nước, thiếu gì dịp trả nợ nhau.

    - Không coi được, ngày ông mất, bác ấy làm giúp bao nhiêu, lại phúng những năm hào. Cho nên bây giờ mình có kiết cũng phải mừng ba hào.

    Pha gạt đi:

    - Tiền mừng ra tiền mừng, tiền phúng ra tiền phúng, để bao giờ bà trùm bảo anh Sũng chết, lúc ấy ta mới phúng lại, thì mới phải. Con bác ấy đỗ Sơ học yếu lược, bác ấy khao mời bà con thân thuộc, thế là việc vui chơi, cần gì phải mừng. Mấy lị xưa nay ở làng này làm gì có lệ mừng Sơ học yếu lược?

    - Nhà nghĩ thế không phải. Là bởi xưa nay đã có ai đỗ đâu mà khao với mừng. Bây giờ mới có con bác ấy thành đạt về chữ Tây là một. Vả lại bác ấy cũng chưa đóng góp gì với làng, chả lẽ cứ ăn của người ta mãi mà không trả, cho nên bác ấy mới làm thế.

    Pha cười lắc đầu:

    - Thế thì bu nó chưa rõ tại sao có đám khao này. Nguyên là tại ông nghị đến nhà bác San, dỗ dành bà trùm với bác ta nên khao, cũng viện lẽ ngày xửa ngày xưa, bây giờ mới có con bác ấy danh giá cho làng. Ông ấy bỏ tiền ra cho bác ấy vay, rồi chính ông ấy bán lợn bán bò bắt bác ấy mua.

    Chị Pha nghĩ ngợi rồi nói:

    - Thế là phải viết nhà viết ruộng cho ông ấy chứ?

    - Khỏi được? Người nhà khuyên can mãi, nhưng không biết bác ấy bị ông nghị phỉnh khéo thế nào mà nhất định không nghe ai. Lại dơ nữa là chỗ, phải lễ thầy giáo đâu mất mười đồng, thế mà bố khệnh khạng như ông cụ cố, chiều không dám đi bón hàng cho vợ, thỉnh thoảng có dắt trâu đi tắm, bác ta cũng đội khăn, mặc áo dài và đi guốc. Dởm đời thế thì có mất nghiệp cũng đáng kiếp!

    - Nhưng đã được lân la với ông phó Nhị, danh giá bao nhiêu. Bây giờ bác ấy mời thầy nó, mà thầy nó không đi, rồi bao giờ mình có việc, mời bác ấy, bác ấy lại không đi nữa.

    Pha trầm ngâm một lát, rồi gật:

    - Được, tý nữa tôi đi.

    Nói xong, anh mang ba chục đến nhà ông nghị.

    Phát ra mở cổng, bảo trong nhà đương có ông lý, ông chánh hội đến từ trưa để trình sổ thuế mới năm nay. Pha vào, ngồi chờ ở hè bên cho khuất. Nhưng những tiếng bàn tán bên trong làm anh chú ý nghe:

    Ông nghị hỏi:

    - Các anh thấy lẽ gì mà đánh tôi lên hạng năm mươi đồng?

    - Bẩm quan là gia trưởng. Đã đành là ruộng tên quan ít, nhưng những ruộng đứng tên các bà, và các cô các cậu, người ta quy cả vào quan để quan đóng thuế thân hạng nhất.

    Ông nghị ngạc nhiên:

    - Thế ra sang tên cũng vô ích à?

    Nhưng hút xong điếu thuốc, ông nói:

    - Không, tôi chỉ chịu hạng ba mươi nhăm đồng là quá lắm. Năm ngoái tôi chỉ phải mất có hai đồng rưỡi. Năm nay có tăng, thì đến hai mươi bốn đồng, cùng lắm là băm nhăm đồng, cứ làng nước với nhau, các anh bắt tôi nộp năm mươi đồng thì nghe sao được?

    - Bẩm, đáng lý ra quan nộp thuế hạng hai trăm kia đấy ạ, vì cộng cả quan có cả bốn trăm mẫu. May các quan nghị xóa trước phần nhiều là điền chủ to, các quan bênh những người nhiều ruộng mới cố xin rút xuống năm chục đấy ạ.

    Ông nghị ngẩn ra lắng nghe rồi bĩu môi, nói:

    - Hạng nghị viên ấy là hạng nghị viên chó má, nhà nước định thế, sao không cãi cho bằng được, để y nguyên thuế cũ nhất loạt hai đồng rưỡi có hơn không. Lý gì thằng mõ cũng là người như tôi, mà chỉ nộp có một đồng thuế thân. Hay tôi tưởng sự sung sướng của nhà nước ban cho năm mươi lần hơn nó? Thực là mất cả công bằng. Đáng lẽ càng người giàu càng đáng nộp một đồng, quanh năm, như tôi đây, có ra ngoài mấy khi đâu, cho nên chẳng cần gì đến đường xá cầu cống của nhà nước. Nhà tôi lại xây tường kiên cố để giữ trộm cướp, chả cần gì đến lính tráng tuần đinh. Nhà giàu thường hay nuôi thầy giáo riêng trong nhà để dạy con, hoặc cho chúng nó đi Hà Nội, đi sang Tây, học tháng nào mất tiền tháng ấy. Tôi không hiểu sao, viện dân biểu trong đó biết bao nhiêu ông nhà giàu, mà không biết bênh lấy quyền lợi cho chu đáo. Thực là tiếc cái thời buổi cũ. Nghị viên ngày xưa danh giá lắm chứ, ai cũng được kim khánh, mề đay, phẩm hàm. Bây giờ nhà nước coi rẻ quá, chả thưởng cho cái gì cả.

    Nói đoạn, ông thở dài. Lý trưởng thưa:

    - Khóa sau, mời quan ra nghị viên.

    - Anh tính tôi ra làm gì? Giàu có tôi cũng giàu rồi, sang tôi cũng sang rồi, hơi đâu mà tranh giành, vất vả. Mà có chạy được, bất quá mình cũng lại vẫn chỉ là quan nghị, chứ hơn gì? Hễ nhà nước có mở quốc trái phòng thủ Đông Dương nữa mà có thưởng hàn lâm, thì tôi quyên cái ấy hơn, vừa danh giá, vừa không mất đi đâu đồng nào, vừa được lãi.

    Nói đoạn tiếng xè xè thuốc phiện kéo thật đều. Rồi ông nghị bảo:

    - Nghĩa là vui chuyện, tôi nói cho các anh nghe chơi, chứ băm nhăm năm mươi đồng, thì tôi cũng chẳng phải nộp đồng nào.

    Chánh hội vội vàng đáp:

    - Lạy quan, như năm ngoái, mỗi xuất thẻ chả là bao, chỗ chúng con làm việc trong làng này như tôi con quan, nên không dám thu của quan, nhưng năm nay, bẩm nó cao quá.

    - Chà, các anh phải bỏ tiền túi ra nộp cho tôi đấy hẳn? Chẳng qua các anh thu lạm của anh Cò, nhà Binh, thằng Sét với những đứa chúng nó. Bất quá các anh thí cho tôi xuất sưu, thì tôi che chở cho các anh. Chứ tôi đã làm việc với làng chán, lại không biết hay sao? Xuất sưu của tôi năm nay năm chục chứ giá hai trăm như nhà nước định, mà các anh trừ đi cho tôi, các anh cũng chả thiệt đi đâu đồng nào, đâu có đó cả.

    - Quan tha tội cho, làm nghề nào ăn nghề ấy ạ.

    - Ừ, thế chứ lỵ. Sao lúc đầu các anh lại nói ghét rằng năm nay quan bắt thu hơn năm ngoái nhiều? Tôi bảo cho các anh biết, tôi không phải đóng một xu thuế thân nào cả, các anh liệu làm thế nào thì làm. Chứ đừng giở luật lệ lý sự với tôi mà không xong đâu.

    - Vâng, bẩm quan đã cho phép, chúng con mới giám quyết định. Vì chúng con chắc năm nay thuế mới, nhiều người phải đóng góp nặng hơn năm ngoái, họ kêu.

    - Kêu thì vả tan họng chúng nó ra. Thế bao nhiêu đứa đóng vào hạng vô sản?

    - Bẩm, đáng lý trăm rưởi người, nhưng quan trên chỉ cho có năm mươi người.

    - Bao nhiêu thì bao, các anh cũng phải để dành mười xuất cho những đứa người nhà tôi.

    - Bẩm tên những người nộp một đồng, đã kê vào sổ bổ cả rồi.

    - Đâu, đưa xem nào.

    - Không được. Thằng Cò, thằng Sét, với những thằng này, bắt nó đóng lên hạng sáu, hai đồng rưỡi cũng được. Mọi năm nó còn lo nổi kia mà. Có đứa nào đấy không, lấy đĩa trầu chứ.

    Chẳng có tiếng thưa, Pha chạy xuống nhà dưới để gọi thì đã thấy ông nghị cởi trần trùng trục ra hiên, rồi vừa đi vừa xoắn cạp quần cháo lòng. Gặp Pha ông hỏi:

    - Thằng Pha đấy à?

    Đứng ngoài sân, Pha quay lại, vái chào:

    - Dạ, lạy quan ạ.

    - Có việc gì thế?

    Pha rón rén bước lên hè, qua ngưỡng cửa, móc túi lấy cuộn giấy bạc, gãi tai thưa:

    - Bẩm đội ơn quan cho con nhờ món tiền hôm nọ, hôm nay con xin nộp.

    Ông nghị ra dáng giận dữ lắm. Còng lưng, nhăn mặt mà phàn nàn:

    - Khổ lắm, ai đòi mà mày nộp?

    - Lạy quan, quan nhận cho, con sợ để lâu không tiện.

    - Tiện với chả không tiện gì. Thôi, tao chưa cần mà mày lại vay cào vay cấu ở đâu đấy chứ gì?

    Pha nói thực:

    - Lạy quan không, con bán gánh hàng của nhà con.

    Ông nghị cau có để tỏ lòng thương hại, rồi chửi yêu mà mắng:

    - Thế đấy. Ai đòi mà dại dột thế? Thôi được, tao biết bụng cho vợ chồng nhà mày, nghe chưa. Chỉ có gánh hàng để kiếm ăn, lại đem đi bán, lạ quá.

    Rồi ông đặt tay lên vai anh Pha, đưa anh vào trong nhà âu yếm nói với ông chánh hội:

    - Mình thương chúng nó mà chúng nó có hiểu lòng mình đâu.

    Pha nhăn nhó năn nỉ:

    - Bẩm quan, tiếng thế con cũng còn vài sào ruộng, và hai vợ chồng khỏe khoắn.

    Ông nghị lại mắng át:

    - Thôi đi, tao thương thì để tao thương, đem tiền về. Tao bảo không nghe, rồi tao ghét thì không ra gì đâu.

    Pha yên lặng ngẫm nghĩ. Ông nghị nói:

    - Nhân tiện có ông lý đây, để tao viết cho mấy chữ rồi điểm chỉ vào, nhờ ông ấy cho cái triện. Tao nhiều việc hay quên, biên thế cho nhớ.

    Nói đoạn ông nghị loay hoay viết, rồi giảng qua loa cho anh nghe và đưa anh điểm chỉ.

    - Anh lý cho nó cái triện.

    Lý trưởng cầm tờ giấy ra sáng, đánh vần đọc:

    - Tôi tên là Nguyễn Văn Pha. . .

    Ông nghị tặc lưỡi:

    - Xem thôi mà, đọc to làm gì, văn tự nào không giống nhau.

    Lý trưởng hiểu ý nói:

    - Quan thương nhà anh nghèo. Chứ người ta còn thầy thợ, lạy sứt trán. Quan không cho vay đấy.

    Pha nhăn nhó cố cười. Ông nghị cầm lấy bức văn tự đã đóng triện, bỏ vào tráp, và bảo Pha:

    - Liệu kiếm cơi trầu tạ ông lý, nghe chưa?

    Pha thở dài, cầm tập giấy bạc, chào mọi người rồi thui thủi ra về.

    Anh rất bất mãn và lo lắng cho số phấn ba chục bạc này sẽ chẳng được lâu bền. Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.

    CHƯƠNG 14

    Khỏang hai ba giờ chiều mùa Hè là khoảng bức nhất trong một ngày. Nhưng ở nhà quê, người ta ăn vào lúc ấy. Cả ăn cỗ cũng vậy.

    Nhà bác San khách khứa đông ăm ắp, như bị luộc trong cái lò lửa. Hình như quên cả nực, người ta vẫn khăn lược, áo dài, ngồi bốn người bốn góc phần, dù có quen nhau hay không, cái đó không can hệ đến sự ghép ngồi cho tiện. Họ nghiêm chỉnh và phe phẩy quạt, không nói với nhau một câu nào, ngoài tiếng mời uống nước, hoặc nhờ quẳng hộ cái điếu. Trời thì oi bức. Nhà thì ba mặt vách quây, nên những tấm thân, tấm áo, tấm khăn, chỉ quen nước mồ hôi, chứ không quen nước lã, tự do xông lên một mùi chua chua.

    Ngoài rạp ở sân che lượt cót, tuy thoáng, nhưng nực hơn. Ánh mặt trời xuyên qua những khe hở của nan nửa ghép không khít, mạnh mẽ chiếu lỗ chỗ xuống sân gạch. Khách đã đến chậm chân đều ngồi cả đấy, trên hai hàng phản kê gần nhau.

    Sau khi đặt ba hào vào cái dĩa, tươi cười nói mấy câu mừng khách sáo. Pha được San trịnh trọng nhìn xem phản nào thiếu người để mời ngồi tạm. Và bác từ tạ rằng nhà khí hẹp, và ghế giữa, trước bàn thờ phải để dành mời cụ chánh tổng, cụ lý trưởng và hai cụ chánh, phó hội.

    Chờ một lát, ba ông sau này ở nhà Nghị Lại đến, nét mặt vẫn còn đầy căm hờn. Sự căm hờn ấy, duy Pha có thể hiểu, nhưng nếu anh không hiểu thì thôi.

    San ra tận cổng đón và mời khách vào. Ông lý nói:

    - Chúng tôi mắc tí việc, thành ra đến chậm.

    Ông chánh hội nhấc cặp kính đen lên trán, mở to mắt nhìn vào trong nhà, và không để ý đến lời chào mọi người, ngạc nhiên hỏi:

    - Ừ, thế chưa ăn à?

    - Vâng, con chờ các cụ, mà cụ chánh cũng chưa đến.

    - Gớm, thế mà ông phó cứ giục rối lên, để yên đằng này làm thêm mấy điếu của hắn nữa có đỡ ức không?

    Rồi ông càu nhàu một mình:

    - Làm chánh tổng mà khệnh khạng như ông quan.

    Ông phó hội đi thẳng ra bể, vục gáo xuống nước, giội vào tay, xoa lên mặt, vuốt lên tóc và râu. Ông cứ để nguyên mặt ướt cho tự nó khô, đi vào, sung sướng nói:

    - Mát quá. Chào các cụ.

    Rồi tự nhiên, ông móc túi lấy củ tỏi, quả ớt và miếng gừng đặt trước mặt. Chừng mười lăm phút, ông chánh tổng đến, theo sau có thằng đầy tớ cắp tráp và xách điếu.

    Cử tọa đứng cả lên phản chào. Ông chánh mỉm cười, nhìn mọi người gật đầu, đáp:

    - Phải, phải.

    Ông chánh hội trách đùa:

    - Người ta mời cụ hai giờ, bây giờ bốn giờ cụ mới đến.

    Ông chánh tổng vuốt chòm râu chổi xể, đáp:

    - Khốn như đến sớm thì lại bảo là háu ăn.

    Nói xong, ông vội vàng cười để mọi người hiểu là câu pha trò đầy những duyên. Ai nấy đều nặn cười để lấy lòng ông chánh tổng.

    Một người cũng muốn đùa, mách:

    - Bẩm cụ, cụ chánh hội cháu cũng vừa đến đấy ạ.

    Nhưng ông chánh tổng không cười.

    Từng mâm đầy những miếng trắng xóa, thái to, ở bếp bưng lên và đặt ở giữa bốn người một. Nhưng chỉ trừ bàn giữa, chủ nhân lại ghép thêm mỗi phản một người lớn và có phân thêm cả một thằng bé con nữa, nói rằng người nhà, xin phép cho ngồi tiếp khách. Đoạn bác San dắt con ra giữa, chắp tay lễ phép nói:

    - Trời sinh ra thế, chúng tôi có cháu nhờ tổ ấm đỗ được bằng sơ học yếu lược, gọi là thế có sữa con lợn trước lễ thần, sau mời làng, được cụ chánh với các cụ chiếu cố, chúng tôi cảm ơn lắm. Xin rước các cụ.

    Thằng Sính, một nhân vật đen trùi trũi, béo, cao, ước chừng mười bảy tuổi, mặt lù đù, khăn áo chỉnh tề, đứng cạnh cha, trịnh trọng chắp tay vái từng mâm một. Rồi không biết làm gì hơn nữa, nó mủm mỉm cười, xuống bếp. Mọi người gật gù nhìn theo nó.

    Ngoài sân, pháo bắt đầu nổ. Trong nhà rượu bắt đầu xông lên một mùi hăng nồng. Người ta thấy bác San và thằng Sính đi theo một người đội mâm đồng, chỉ trông rõ có chiếc thủ lợn. Bác đem biếu ông nghị.

    Ông chánh tổng gọi thằng mới đứng khoanh tay hầu gần đó:

    - Xuống dưới nhà hỏi bác San gái, xem có rượu ngang không nhé.

    Bác San chạy lên, khép áp ngực, xoa hai bàn tay vào nhau, lễ phép nói:

    - Lạy cụ, để nhà cháu cho đi mua, chứ nhà cháu không trữ sẵn, vì hôm qua cụ lý cháu lại gán cho những ba mươi chai rượu thầy rồi.

    Ông lý trưởng bị oán, vội phân trần:

    - Phải, đó là lệnh quan. Lệ mổ mỗi con lợn là phải mua mười lăn chai.

    - Vâng ạ, cháu có dám nói gì đâu ạ. Là cụ hỏi thì cháu bẩm thế, cháu đã cho đi mua rượu ngang rồi.

    Nhân câu chuyện rượu, phản nọ phản kia mới đỡ im lặng. Người ta mới bớt những tiếng mời nhau ăn, và khi nhai xong, bớt nghiêm trang ngồi quạt, nét mặt trầm ngâm ra vẻ nghĩ ngợi.

    Rồi những chai cạn đi bao nhiêu, những mặt đỏ lên bấy nhiêu. Mà hơi men bốc ra bao nhiêu, tiếng nói nhiều dần và to dần bấy nhiêu. Ồn ào. Ỳ ộp. Những câu chuyện vẫn chỉ có tính cách địa phương, bỗng:

    - Ông đếch sợ thằng nào.

    Sự im lặng thành ra công cộng, ai nấy quay nhìn cả một chỗ.

    Pha mặt đỏ gay, giật chếc khăn xếp bẹp, quật mạnh xuống phản. Chiếc khăn bẹp thêm và méo mó như cái mồm mếu. Anh không để ý đến ai, lại nói:

    - Mười đời nhà nó cũng không kiện nổi ông.

    Bác San trai khi ấy đã về, tất tả chạy đến, trợn mắt, trỏ vào mâm cụ chánh và thì thào. Pha đáp:

    - Tôi có say tôi chết. Có cụ lý biết đấy, mấy năm trước, lệ uống rượu còn ngặt, tháng nào cụ không gán cho tôi một chai, mà tôi có uống say bao giờ đâu.

    Ông lý vừa nhằn xương vừa nói:

    - Phải rồi, đó là lệnh trên, mỗi người dân phải nộp một chai một tháng, chứ tôi ép anh thì tôi được cái gì?

    - Không, là tôi tức bác ấy kia, bác ấy bảo tôi say, tôi nói càn.

    San ôn tồn:

    - Thôi, tôi xin, bác nói thế nó mất cả vui.

    Một người phản bên kia giơ chén lên nói khích:

    - Bác Pha không say thì không uống với tôi một chén.

    Pha giương mắt nhìn người khách, rót rượu, ngửa cổ uống ừng ực. Ông lý gọi:

    - Này, anh Pha, tỉnh rượu mà nghe tôi hỏi chuyện. Anh làm gì mà phải gán ruộng cho ông nghị thế?

    Pha trợn mắt:

    - Tôi gán bao giờ?

    - Thì ban nãy anh điểm chỉ vào văn tự nợ ông ấy năm chục mà.

    Pha há hốc mồm ra. Anh mê hơn là say:

    - Đích cụ thấy thế à?

    - Tôi nói dối anh làm gì?

    Chợt mang máng, anh nhớ lại lời Tân: rút cục nạn gì cũng do cái dốt nát nó đẻ ra. Và trong lúc chếnh choáng, anh cũng nhận thấy rằng vì dốt nát nên anh quá tin ông nghị, vì dốt nát nên anh không biết trong văn tự ông ấy đã tự do viết gì. Thấy Pha ngồi thừ buồn bã, ông lý gọi bác San:

    - Kìa, chủ nhân mời anh Pha uống đi chứ. À, anh Pha này, chén xong tổ tôm nhé. Có ba chục bạc trong túi ấy.

    Pha nốc một hơi, rồi chán nản, anh nhăn mặt, khà một cái, đáp:

    - Vâng, tôm. Cần gì?

    Người ta ép nhau uống thật say thật túy lúy. Và khi cơm xong cụ chánh tổng ngả lưng cạnh bàn đèn, hỏi bâng quơ:

    - Ồ buồn nhỉ. Con Năm độ này có nhà hay đi hát? Đâu nhỉ?

    Chủ nhân hiểu ý, cho người đi gọi cô đầu. Trong khi ấy Pha nôn mửa tung tóe cả ra lẫn chiếu.

    CHƯƠNG 15

    Chị Pha vui vẻ mớm cho con ở đầu hè, bỗng thấy một người cõng chồng trên vai. Chị hết hồn. Mặt chồng chị đỏ dừ, gục lả đầu xuống, chân tay mềm thõng như người chết, bác San đi theo nói:

    - Bác ấy say quá. Nôn mửa cả ra. Đã cho hút thuốc phiện để dã rượu. Song không tài nào kéo được.

    Chị Pha nhăn nhó:

    - Trời ơi, nốc cho lắm vào.

    Pha nằm xuống phản, thở phì phò, hăng nồng cả nhà. Vợ anh lấy vôi bôi vào bàn chân bàn tay cho anh. Bác San móc túi lấy gói giấy bạc:

    - Đây là của bác ấy, còn hăm tám đồng, cụ lý lấy mất hai đồng góp tổ tôm.

    Chị Pha kinh ngạc hỏi:

    - Tiền đâu ra thế này? Mà sao cụ lý lấy hở bác?

    - Tôi không biết, chỉ thấy cụ lý lấy góp tổ tôm rồi đưa tôi giữ. Đâu là tiền áp triện vào văn tự thì phải.

    - Ô hay, văn tự nào?

    Chị Pha không hiểu ra sao cả. Bác San an ủi:

    - Nhưng cũng may bác trai say quá, chứ không thì đã thách nhau với cụ lý đánh tổ tôm. Đánh với cụ ấy, có mà cúng hết, tay cờ bạc gạo, ai còn lạ?

    Nói đoạn, bác San về, để lại trả chị Pha người chồng đỏ như quả bồ quân, và sự suy nghĩ vẩn vơ, mà sức một người đàn bà, nhất là nông nỗi, dốt nát như chị, không tài nào hiểu được.

    Mãi đến sáng hôm sau, Pha mới tỉnh. Anh bàng hoàng ngồi dậy, chống tay xuống phản, và ngơ ngác nhìn. Có lẽ anh thấy làm lạ sao lại ở nhà anh.

    Chị Pha vội vàng hỏi ngay chồng về số tiền hăm tám đồng hôm qua. Pha kể lại cho vợ biết ông nghị nhất định chưa nhận trả nợ. Chị Pha cười nói:

    - Thế thì lại có vốn buôn, càng hay, càng đỡ vất vả.

    Pha xua tay:

    - Nhưng không phải ông ấy cho đâu mà vội mừng. Không thể giữ món tiền của ông ấy được, phải lập kế mà trả, không thì ông ấy lừa đấy.

    - Có đời nào?

    - Này, ông ấy tự tiện viết vào văn tự tôi nợ năm mươi đồng hẹn gán ruộng. Tôi tưởng ông ấy thực thà, nên lúc bảo điểm chỉ, tôi cứ điểm chỉ.

    Vợ anh kinh ngạc, xoám xoét người ra, tru rầm lên:

    - Chết chửa, sao lại ngược đời thế?

    Pha nhăn nhó, vật chân vật tay:

    - Chỉ tại mình không biết chữ, nên không biết ông ấy viết hươu viết vượn gì. Giá ông ấy viết hẳn một trăm, có lẽ mình cũng nhắm mắt mà chịu.

    Chị Pha mếu máo, đặt con xuống phản, kệ cho nó nhoe nhoe khóc. Một lát chị nói:

    Thế thì chết đến nơi rồi. Bây giờ làm thế nào?

    Pha than thở:

    - Từ hôm nọ đến nay, mình mất bao nhiêu tiền một cách vô lý, chẳng qua chỉ tại mình dốt nát.

    - Thôi, hãy hỏi bây giờ thầy nó định làm thế nào?

    Pha bắt đầu chán nản, lẩm bẩm:

    - Nợ ba mươi đồng, lý trưởng lấy hai đồng tiền áp triện, thành thử còn có hăm tám đồng.

    - Nhưng tôi còn hai đồng, vậy vẫn là ba chục. Thầy nó chịu mất hai đồng cho lý trưởng vậy, cứ đem ba chục đến trả, lạy van ông ấy để ông ấy nhận cho mà lấy văn tự về không có thì chết mất.

    - Nhưng còn lãi? Chắc ông ấy ghét thì ních đến hai mươi phân cho bõ.

    Chị Pha nghiến răng:

    - Dù ba mươi phân mà thoát được món nợ này cũng là phúc. Vả từ xưa đến giờ ông ấy có cho ai vay lãi mười phân đâu.

    - Mà món này đã làm gì được nửa tháng, nhất là cái rá gạo hôi mà ông ấy cũng tính vào tiền này để lấy lãi thì ông ấy đểu quá.

    Chợt bác trai Tân đến chơi, thấy vợ chồng Pha đang to tiếng thì ngờ ngợ hỏi:

    - Kìa, tôi tưởng chú dì đã xong nợ, tôi có hai đồng đây, định đưa chú dì tiêu.

    Pha cảm động, kể lại cho anh rể nghe sự thể, và ý kiến của vợ chồng vừa bàn. Bác trai Tân lắc đầu nói:

    - Thế thì thế nào lão cũng ních đến hai mươi phân.

    Chị Pha quả quyết:

    - Bao nhiêu thì bao, trả cho bằng được.

    - Nhưng tất lão làm khó khăn, tính lãi cả tháng là sáu đồng.

    Vợ chồng Pha ngồi ngây như tượng. Bác Tân nghĩ một lát rồi nói:

    - Thế ngộ lão vẫn cứ ngọt ngào, nhất định không lấy nợ thì sao? Ý lão muốn ngâm để lấy ruộng kia.

    Phải rồi, thành ra mình có tiền cũng khó lòng mà trả được, ác quá.

    Bác Tân gật gù cười:

    - Rồi chợt lúc mình không có tiền, hắn mới đòi, và bắt mình viết văn tự mới, cho cả lãi lên làm gốc. Cái lối này, hắn vẫn dùng xưa nay.

    Rồi chợt nghĩ ra, bác nói tiếp:

    - Được, tôi đi với chú đến. Tôi làm chứng cho. Hễ lão lật lọng thì ta đem việc này lên quan.

    Chị Pha cáu tiết:

    - Thế thì chỉ chết thằng dân đen thôi à?

    Bác Tân gật gù đáp:

    - Phải, bao giờ nhà cầm quyền với nhà tư bản cũng về hùa nhau để bóp hầu bóp họng bọn ta.

    Ba người im lặng, chẳng khác gì ba ông tướng trơ trọi lại không khí giới, đang cố tìm cách giải đám vây mà bên địch có quân hùng tướng mạnh. Chợt bác Tân long lanh nhìn hai người, nói:

    - Được rồi, chú với tôi, hai ta cứ đi. Chú nói rằng nhờ tôi đến bầu chủ và xin cho tôi ký vào văn tự. Tôi nói xin viết ruộng của tôi ở cánh đồng Sớm.

    Pha cảm động nói:

    - Như thế thì tôi để khó cho bác.

    - Chú đừng kỳ quản. Chỗ anh em nghèo, ta nên giúp đỡ lẫn nhau. Tôi thường vẫn bảo chỉ có mình mới biết thương nhau, chứ họ lúc nào cũng rình để bóc lột mình. Vả lại trong hai ta, tôi còn khá hơn chú. Nhưng đó là kế lừa lão nghị mê lên về ruộng tốt của tôi. Hễ hắn lòi văn tự ra, chú nắm phắt lấy, để trả tiền.

    Ba người hớn hở, chị Pha xui chồng:

    - Hễ thấy nó nắm được văn tự, thì xé tan xé nát ngay đi.

    Bác Tân nhiều mưu trí bàn:

    - Hãy khoan, tất lão cáu, sinh sự, cho người ta đánh và vu là ta đến cướp văn tự để kiện ta.

    Chị Pha đáp:

    - Thà tù tội còn hơn mắc nợ. Người ta bảo nhất tội nhì nợ, nhưng bây giờ mới biết nhất nợ nhì tội. Người tù có thể lúc được tha còn trông thấy ruộng nương, nhà cửa, chứ người nợ thì không những khánh kiệt mà sau còn tù là khác nữa. Nhất là nợ ông Nghị Lại thì không biết thế nào mà đoán trước được.

    Ba người cùng thở dài im lặng. Một lát bác Tân giục:

    - Thế ta đi chứ?

    Hai anh em đi. Chị Pha nhìn theo, chan chứa những hy vọng. Pha bồi hồi, lo lắng, không biết lần này đi có kết quả gì không. Anh thở dài, bác Tân hiểu ý an ủi:

    - Thế nào lão cũng mắc.

    Hai người đến cổng ngách nhà ông nghị. Pha giơ tay run run ra giật chuông. Phát đứng trên chòi, bảo chờ để bẩm trước. Trong lúc đợi, Tân và Pha dặn dò nhau kế hoạch một lượt nữa và vui sướng cùng rúc rích cười. Pha hồi hộp, trống ngực nổi to dần. Như người đi bể gặp bão đã giạt đến gần bờ, anh tâm niệm lạy trời phù hộ cho được thoát nạn. Chờ nóng ruột, anh gí chân xuống đất, và lấy tay cạo rêu tường. Có tiếng Phát gọi ở trên chòi, hai người hăm hở ngẩng lên, nhưng bỗng tiu nghỉu nhìn nhau như cùng tắt thở:

    - Quan đi vắng.

    CHƯƠNG 16

    Hôm sau Pha lại đến. Và cố nhiên ông Nghị Lại không tiếp. Liền liền trong năm hôm, không hôm nào người ta mở cổng cho anh vào.

    Nhưng đến hôm thứ sáu, anh không đến nữa.

    Anh không đến, không phải vì chán nản. Anh rất kiên tâm, nhất là anh biết nỗi nguy hiểm vì nợ ông Nghị Lại. Anh không đến, vì anh không dám đến. Cái tin anh có ba chục bạc từ bữa khao, nó đồn đi khắp làng, cho nên từ bà trưởng Bạt đến đòi nợ hôm nọ, anh Tý đến bắt đền thêm hai hào tiền ô, đến con Cù, thằng Lãnh cũng đến hỏi những món vặt. Chị Pha trốn không kịp. Chị cứ phải bẻ que thề sống thề chết, nói là người ta ghét bịa đặt ra, chứ chị làm gì có tiền. Chị đành nghe hết những lời nặng nhẹ, những câu chửi bới nhục nhã. Chị nhất định ỳ các món nợ khác mà ngày nào người ta cũng đến thúc và nói khó chịu để chồng cố lăn lưng vào trả cho được món nợ ông nghị không đòi.

    Thì xảy ra kỳ thuế đến nơi.

    Hôm ấy buổi chiều, có mõ rao mời làng ra đình bổ thuế. Chị Pha chán nản bảo chồng:

    - Thế là lại chết. Chốc nữa thầy nó đi mà nghe xem mỗi xuất sưu năm nay bao nhiêu. Nhân tiện có gặp cụ Lý thì trách cho cụ ấy mấy câu.

    Pha lắc đầu:

    - Nghe làm gì? Để bảo cậu Dự đi. Cậu ấy bạo ăn bạo nói, vả mình vào thứ bực nào, mở miệng ra ai nghe, nhỡ người ta mắng cho, mình ra thù ghét thì dại.

    - Người ta làm ức, mình không chịu được, thì phải nói. Từ hôm nọ đến nay, mình đã tai hại bao nhiêu về nhịn nhục rồi, còn nhịn nhục đến đâu nữa?

    - Nào ai nhịn nhục? Năm nay nhà nước bổ thuế mới không nhất loạt hai đồng rưỡi như mọi năm. Vậy mình có mươi thước đất với tám sào ruộng thì nộp vào hàng sáu, nghĩa là như năm ngoái, không lợi mà cũng không thiệt.

    Chị Pha ngồi yên một lát rồi nói:

    - Các cụ bổ thuế hôm nay, chắc mai thế nào chả niêm yết ra đình cho làng biết.

    Pha thở dài:

    - Đã hẳn, nhưng mình có biết chữ đâu mà hiểu các cụ viết những gì.

    - Có, chán người biết chữ.

    - Nhưng ai không biết chữ thì thiệt riêng người ấy. Từ hôm nọ đến nay, tôi bị bao nhiêu tai vạ về dốt nát. Lắm lúc tức, muốn đi học.

    Vợ cau mặt, mắng:

    - Thôi đừng dơ. Già đời còn cắp sách đi học không sợ người ta cười cho. Vắt mũi cũng chẳng đủ đút miệng lại còn vẽ. Định làm vương làm tướng gì mà học?

    Pha cười:

    - Học có phải như trẻ con cắp sách đến trường đâu. Mà trường thì mãi tận trên huyện xa lắc xa lơ, ai đi được? Học nghĩa là lúc rỗi, ở nhà mượn người biết chữ dạy cho. Tôi thấy bảo chữ quốc ngữ dễ học chứ không như chữ nho ngày xưa, chỉ độ nửa tháng là đã đọc, viết được.

    Chị Pha bĩu môi:

    - Nếu học dễ như thế, thì nước Nam này ai không thể ra làm quan được?

    Pha lại cười:

    - Học để mà biết chữ chứ có phải để ra làm quan đâu. Mà đời này thiếu gì nghề lương thiện, và học để mong kiếm được tiền thì trước hết phải là con nhà giàu. Bà Tân khuyên tôi cố học cho biết quốc ngữ rồi bà ấy cho mượn sách mượn báo mà đọc. Bà ấy bảo sở dĩ hiện nay bà ấy biết một đôi chút cũng là nhờ biết chữ.

    Chị Pha ngẫm nghĩ rồi gật, hỏi:

    - Thật thế, ngày trước cả nhà chê anh ấy lù đù.

    - Mà có khi lù đù thì ở chốn thôn quê mới đỡ bị bắt nạt. Tôi căm ông Nghị Lại bao nhiêu, tôi oán ông huyện bấy nhiêu. Cho nên tôi quyết định thế nào cũng phải học cho biết chữ quốc ngữ.

    Chị Pha im lặng nhìn chồng. Rồi hai người bàn nhau đến các món nợ vặt, và cùng đồng ý là nên trả hết cả để cho khỏi mỗi lúc phải nhức óc. Đến sẩm tối, Dư, áo the vắt vai, vào chơi, mặt hầm hầm, lắc đầu nói:

    - Chẳng nước mẹ gì cả. Mất cả buổi vô ích.

    Pha cau mặt hỏi. Dự đáp:

    - Chánh hội chẳng cho ai xem sổ nghị định mới và sổ kiến điền. Ông ta chỉ nói qua loa rằng làng chỉ có ngần này đinh, ngần này điền, tổng cộng ngần này tiền, vậy thì cộng với ngoại phụ, hạng nhất đóng ngần này, hạng nhì đóng ngần này, điền mỗi mẫu ngần này.

    Chị Pha hỏi:

    - Ngần này là bao nhiêu?

    - Nào ai nhớ được, nhưng nhiều chỗ mập mờ lắm.

    Pha hỏi:

    - Thế không ai xin ông ấy tính toán rành mạch à?

    Dự trừng mắt:

    - Bắt chứ lại xin. Chính tôi bắt, nhưng ông lý về hùa ngay với ông chánh hội, gắt um lên, thách rằng thuế bổ thế nào, đã có quan phê bằng lòng rồi, ai không chịu đóng, cứ đi mà kêu. Được rồi tôi rủ người đi khiếu cho mà xem. Chứ các ông ấy cứ quen thói làm bừa như mọi năm gieo tai vạ cho làng, ai chịu được?

    Pha lắc đầu:

    - Vô ích như năm ngoái đấy, chả có người bỏ giấy là gì. Nhưng quan có xét đâu?

    Chị Pha thêm:

    - Các ông ấy đấm mõm quan rồi.

    Pha cười:

    - Nhưng nghĩ cho kỹ, ai hơi đâu cơm nhà lo việc cho làng. Các ông ấy cũng phải tốn kém nhiều khoản, nào trình sổ, nào đầu đèn, nào đốc thuế, nào lính đi tuần, nào kiểm thuế, nào đi lại, nào tạ thuế, nhất nhất cái gì cũng tốn kém quá chừng, thì người ta không bổ vào dân, chẳng lẽ người ta nai lưng ra chịu à?

    Dự xua tay:

    - Thế thì anh lầm. Chỉ nên có món tiền thưởng cho chức dịch phần thu, tức là đền công khó nhọc, đầu đèn và phí tổn hành lý. Còn chỉ là những tiền dân è cổ ra góp nhau để học có tiền lễ quan để quan làm ngơ đi cho họ tha hồ mà bóp dân.

    Pha ngớ ra. Dự giảng:

    - Thì quan là lính ăn lương nhà nước, tức là ăn lương, trích ở thuế dân đóng, thì họ phải làm việc cho dân, sao hơi có việc gì dân cũng phải cho tiền họ lần nữa? Thế thì mình ngu, mình dại. Bổn phận họ phải trông nom canh thuế. Không gì vô lý bằng trình sổ cũng lễ tiền, tạ thuế cũng bằng thuế. Làm gì mà phải tạ? Đấy chẳng qua là tiền hoa hồng mà bọn mọt dân trích ra để quan bênh họ, nếu họ bị khiếu nại.

    Pha mỉm cười:

    - Chẳng trách người ta kêu cậu bướng quá.

    - Thế nào là bướng? Tôi không bướng. Tôi chỉ muốn có lẽ phải. Bọn cầm quyền cứ thấy ai hiểu lẽ phải, ngăn cản không cho họ làm bậy, thì họ bảo là bướng. Thế hãy hỏi quan, lính trên huyện ăn lương để ngồi không à? Sao động có việc gì bắt họ phải làm thì mình lại cứ tống tiền vào cho họ hư quen đi. Là tại mình ngu, cho nên họ mới bắt nạt mình được.

    Pha hiểu, cười vang. Dự tiếp:

    - Dân quê ta nơi nào cũng bị quan lại, hương lý đục khoét, chỉ tại dân ngu, vô học.

    Pha cảm động, thở dài nhìn vợ, nói;

    - Đấy, thế mà lúc nãy tôi bảo nhà tôi rằng tôi học quốc ngữ, nhà tôi cứ không bằng lòng.

    Chị Pha cãi:

    - Rõ bịa nào. Ai không bằng lòng?

    Dự nói:

    - Làng ta không có trường là một điều hết sức tai hại. Những tiền làng tiêu về việc ăn uống cùng để nay lễ quan, mai lễ quan, tôi tưởng làm được mấy cái trường và nuôi được mấy thầy giáo chứ lỵ. Tôi may được bác Tân khuyên bảo học hành, nên bây giờ mới rạng một tí, biết thế nào là lẽ phải, thế nào là áp bức. Chứ trước kia, cứ bị người ta nhồi sọ mãi, cho nên cũng cứ tưởng những món hương lý tạm bổ ở thuế để chi phí lễ lạc là công bình, hợp lẽ phải.

    Ba người ngồi im. Một lát, Dự lại nói:

    - Những làng có người đứng đắn trông coi công việc, thì chỉ ba năm bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là đủ có đường trải gạch, có trường dạy trẻ, và làm được bao nhiêu công việc ích. Làng ta, dân vô học, nhà cửa ẩm thấp, đường sá lầy lội, nhất là cái ao nửa để tắm giặt rửa ráy, nửa để gánh nước ăn, thật là bẩn thỉu tai hại.

    Chị Pha nói để trút nỗi uất trong lòng:

    - Giá ông nghị như người ta thìn làng được nhờ khối. Làm gì ông ấy chẳng công đức cho làng được cái trường, cái đường, cái giếng?

    Dự nghiến răng;

    - Nói làm gì đến thằng ăn cướp ấy, nó chỉ mong cho ta ngu, và cố kìm cho ta ngu lâu để nó bóc lột dễ dãi. Lắm lúc thấy nó chướng mắt, tôi cứ muốn cho nó một nhát dao.

    Vợ chồng Pha giật mình. Dự lại nói:

    - Chúng mình phải coi nó là kẻ thù chung.

    Vì khát khao sự học, Pha lắc đầu chữa:

    - Ông ấy chưa phải là kẻ thù. Vì nếu tính kỹ ra thì còn nhiều cái đáng thù lắm, nhưng xét cho đến gốc thì do ở mình dốt nát.

    Dự cãi:

    - Nếu không có thằng nhà giàu nó bóc lột dân ta không còn cái khố mà đeo, thì đâu đến nỗi làng ta tiều tụy, dân ta dốt nát. Vậy kẻ thù của chúng ta là cái nghèo.

    Chị Pha đương têm trầu, nhăn mặt kêu:

    - Ừ, thì cả cái dốt lẫn cái nghèo. Ghê gớm. Nói sốt cả ruột.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Bước đường cùng. Tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, 1938. NXB Văn học in nhiều lần.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập49,950,942

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/