Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,612,269

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Chùm tiểu luận của Uông Triều: Nhà văn và nhà phê bình/ Quy hoạch sự viết/ Tuyệt kĩ vô chiêu

Uông Triều

  • Thứ năm, 11:34 Ngày 11/03/2021
  • Nhà văn và nhà phê bình

    Có lẽ câu nói gây hấn nhất về mối quan hệ giữa nhà văn và nhà phê bình là của Nguyễn Tuân: Khi tôi chết hãy chôn theo tôi một nhà phê bình để còn tiếp tục cãi nhau. Câu nói có vẻ hài hước của Nguyễn Tuân đã “định nghĩa” tình bạn giữa nhà văn và nhà phê bình trong một thời gian dài.

    Mối quan hệ giữa nhà văn và nhà phê bình thường là “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt.” Và dường như sự phàn nàn thường đến từ phía các nhà văn. Tại sao lại có sự mâu thuẫn này? Vì chẳng phải tác phẩm và cuộc đời của các nhà văn là đối tượng của các nhà phê bình đó sao. Những người chuyên nghiên cứu về tác phẩm của mình, cuộc đời mình lại bị ghen ghét bởi chính những người được nghiên cứu! Câu trả lời nằm ở việc đánh giá của nhà phê bình đối với tác phẩm của nhà văn - đối tượng lao động của họ.

    Tôi lí giải vấn đ ở những điểm cụ thể hơn. Tôi thường nghe một số nhà văn phàn nàn rằng, các nhà phê bình không hiểu tác phẩm của họ. Họ viết về vấn đề A thì nhà phê bình lại bàn về vấn đề B. Ý tưởng của họ là xuôi chiều thì nhà phê bình đánh giá ngược chiều. Nhà văn dụng công ở những vấn đề lớn thì nhà phê bình lại chú trọng ở những điểm nhỏ, vân vân và vân vân!

    Nhưng có đúng là các nhà phê bình không hiểu các nhà văn? Tôi cho rằng điều này cơ bản là sai lầm. Một tác phẩm được viết ra, người đọc (bao gồm cả nhà phê bình) có vô vàn cách hiểu khác nhau. Nhà văn viết theo chủ ý của anh ta nhưng người đọc có thể không nhận thấy hoặc không đánh giá cao điều ấy. Hoặc nhà văn có những ý tưởng riêng nhưng ý tưởng của anh ta không thành công nhà phê bình cũng như bạn đọc không quan tâm hoặc có cách hiểu khác. Câu hỏi mấu chốt đặt ra là người đọc (bao gồm cả nhà phê bình) có nhất thiết phải hiểu đúng ý tưởng của nhà văn không? Câu trả lời là không cần”.

    Tôi là nhà văn và cũng là một người đọc. Tôi khẳng định rằng, người đọc không nhất thiết phải hiểu chính xác suy nghĩ, ý đồ của nhà văn. Vì như thế sẽ rất khiên cưỡng và ép buộc. Văn bản văn học là một tác phẩm nghệ thuật, nó không phải là khoa học chính xác nên không thể áp đặt một cách hiểu duy nhất. Ví dụ thế này,  với một đám mây trắng bay trên trời, người đầu tiên trông thấy thì bảo nó giống con chim đại bàng, người thứ hai bảo giống ngọn núi, người thứ ba cho rằng đó là chiếc máy bay, người thứ tư quả quyết đó là con rùa… Có bao nhiêu người đọc thì có bấy nhiêu cách hiểu về tác phẩm. Những cách hiểu này đồng nhất với tác giả hoặc hoàn toàn khác biệt thì cũng không có gì nghiêm trọng. Điều ấy tạo nên sự hấp dẫn, đa nghĩa của văn chương cũng như cộng hưởng với trí tưởng tượng, kinh nghiệm, cảm xúc, tầm đón đợi của độc giả.

    Nhưng nhà văn sẽ tiếp tục phản bác rằng, nhà phê bình là nhà khoa học, đã là khoa học thì anh phải chính xác và chuẩn mực. Đúng thế, nhưng thưa rằng đây là khoa học về sự cảm thụ cái đẹp nghệ thuật. Nhà phê bình cũng chỉ là một độc giả mà thôi, anh ta hoàn toàn có thể diễn giải tác phẩm theo cách hiểu của mình và người viết không thể phật lòng. Nhà văn Nguyễn Khải từng kể câu chuyện mà tôi cho rằng nó không mang chút tiếu lâm nào hết. Con trai nhà văn đi học và cô giáo giao cho cậu bé phân tích tác phẩm “Mùa lạc” của ba mình trong sách giáo khoa. Cậu bé mang bài về hỏi ba. Nguyễn Khải đã dành một buổi tối để phân tích tác phẩm giúp con trai. Khi cậu bé mang bài đến lớp, cô giáo đọc bài và phê rằng: “Dùng từ sai, không phân tích đúng ý tác giả!

    Tôi nhắc lại rằng câu chuyện này không có gì đáng cười. Cô giáo kia, ở một thời điểm nào đó cũng giống vị thế của một độc giả, một nhà phê bình. Cô giáo đã không sai. Nguyễn Khải là tác giả và ông hiểu tác phẩm theo ý của mình và cô giáo hiểu tác phẩm theo ý cô và cả hai có cái lí của mình. Nhà văn sau khi đã hoàn thành tác phẩm anh ta cũng chỉ còn là một độc giả và sở hữu cách hiểu của riêng mình.

    Tôi đã từng rơi vào trường hợp này. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã phát hiện ra những ý hàm ẩn trong tác phẩm của tôi mà trong quá trình viết tôi không hề nghĩ đến nó. Không phải anh ta bịa đặt ra điều đó mà trong quá trình sáng tác, có sự điều khiển của vô thức hoặc bởi sự hữu hạn của mình, chính tác giả đã không nhận ra. Tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng” của tôi từng được một nhà phê bình gọi là “thuyết ngôn tình” nhưng tôi chẳng sững sờ về điều ấy, đó là một cách hiểu và tôi chấp nhận điều ấy.

    Vậy những nhà phê bình-đã-có-thể-không-hiểu nhà văn thì anh ta giúp ích gì? Bất chấp sự không hài lòng của đối tượng bị phê bình, không thể phủ nhận rằng các nhà phê bình đã giúp cho tác phẩm văn học có nhiều người đọc hơn, mở rộng các chiều kích và chiều sâu của tác phẩm, giúp cho nhà văn và tác phẩm của anh ta trở thành bất tử nếu nó thật sự xứng đáng như thế.

    Tôi cho rằng nếu không có những công trình nghiên cứu phê bình công phu và giá trị của M. Bakhtin “Sáng tác của François Rabelais và nền văn hóa dân gian thời Trung cổ - Phục hưng” và “Thi pháp tiểu thuyết Dostoevski” thì Dostoivsky và Rabelais đã không sớm bước lên đài bất tử cao vọi như thế. Tất nhiên nếu không có Bakhtin thì hai nhân vật trên vẫn vĩ đại nhưng chính Bakhtin đã làm cho họ rực rỡ, tỏa nhiều hào quang hơn. Và ảnh hưởng của M. Bakhtin là không nhỏ và vì thế, đối tượng nghiên cứu phê bình của ông, Dostoivsky và Rabelais tiếp tục hành trình bất tử của mình.

    Còn ở Việt Nam, đã có người lên tiếng đánh giá lại cuốn phê bình lừng danh “Thi nhân Việt Nam” của anh em Hoài Thanh - Hoài Chân. Nhưng một sự thật rõ ràng không thể phủ nhận, những tác phẩm, tác giả được Hoài Thanh chọn đưa vào cuốn sách phê bình đã khiến nó sống lâu hơn. Rất nhiều tác giả được trích dẫn trong đó, nếu không có “Thi nhân Việt Nam” thì người ta đã lãng quên từ lâu hoặc thậm chí không biết những người ấy là ai. Các nhà phê bình đã có công rất lớn trong việc chọn lựa, định hướng, tôn vinh tác phẩm ở một khía cạnh nào đấy.

    Tất nhiên ta phải công nhận rằng vẫn có sự phê bình ác ý hoặc xu nịnh của một nhóm người nào đấy. Vì thù hằn cá nhân, nhất là sự khác biệt về quan điểm ý thức hệ, tầm nhìn và những mục đích khác, có những nhà phê bình đã cố tình làm méo mó, hiểu sai tác phẩm nhằm mục đích hạ bệ, chối bỏ và phủ nhận. Chính điều này góp phần dẫn đến mâu thuẫn, hiềm khích giữa nhà văn và nhà phê bình. Và thêm một sự thực là, bất cứ ai cũng thích được khen ngợi, kể cả các nhà văn, khi thấy đứa con tinh thần của mình được tụng ca (vài trường hợp là giả dối) thì họ vẫn thấy hài lòng; còn khi bị chỉ trích, phê phán (vì nó xứng phải như vậy) thì buồn bực, tức giận. Nhiều người viết cũng ảo tưởng về tác phẩm của mình mặc dù giá trị của chúng ở mức rất thấp.

    Cho nên có một thực tế, nhiều nhà văn tuyên bố rằng, họ không quan tâm nhà phê bình viết gì, nghĩa là nhà phê bình khen chê thế nào cũng mặc kệ. Tôi cho rằng đây là một thái độ rất tiêu cực vì bất cứ tác phẩm nào cũng cần những người đọc, rất là những “siêu độc giả”, tức là các nhà phê bình trung thực. Nhà văn có thể không quan tâm đến đánh giá của nhà phê bình, chủ yếu là do anh ta cho rằng nhà phê bình hiểu sai và không tôn vinh tác phẩm của anh ta nhưng bất cứ sự phê bình nào, dù có khó nghe đến đâu hay chứa đựng những phê phán tiêu cực, nó có cái lí nhất định. Những đánh giá của nhà phê bình có thể không tác động đến nhà văn, anh ta tiếp tục viết theo ý thích của mình nhưng người sáng tác cũng nên biết rằng, có một bộ phận, hoặc rất đông độc giả đã đánh giá tác phẩm của anh ta theo hướng ấy. Tác phẩm văn học là một sản phẩm tinh thần dành cho công chúng anh ta phải chấp nhận những đánh giá khác nhau của thị trường. Ở mặt nào đó, các nhà phê bình cũng là những người tiêu dùng, họ có quyền và năng lực đánh giá chất lượng tác phẩm, để thậm chí khuyên nhủ, tác động đến người khác có nên mua và sử dụng hay không. Nếu nghĩ rộng được như vậy thì có lẽ, khi nhận được bất kì ý kiến đánh giá thế nào, người viết sẽ bình thản và thoải mái hơn.

    Còn về phần tôi và những thế hệ người viết trẻ cùng thời, tôi có quan hệ khá hữu hảo với những nhà phê bình. Đơn giản là tôi nghĩ thế này, trong thời buổi văn học đang mất giá, ít người đọc, ít người quan tâm thì có những người bỏ công sức và thời gian ra đọc tác phẩm của mình (tất nhiên một phần chính là công việc của anh ta) thì đó chẳng phải là điều đáng quý hay sao. Tôi coi các nhà phê bình là các độc giả khó tính và có nghề. Chẳng phải sẽ thích thú khi có những người không bỏ qua một thứ gì mình viết ra, từ ý tưởng, bút pháp, thậm chí cả đến từ ngữ, dấu chấm, dấu phẩy... Ở góc độ đó tôi thấy lao động của mình được tôn trọng và quan tâm. Ở khía cạnh nghề nghiệp, tôi đôi khi nhờ một vài nhà phê bình đọc bản thảo của mình và nhận xét. Tất nhiên tôi không nhất thiết phải nghe theo anh ta, đúng thì tôi công nhận, chưa đúng thì tôi giữ lại tham khảo.

    Nói cho cùng, nhà văn và nhà phê bình nên là những người bạn thẳng thắn và trung thực của nhau hơn là trở thành kẻ thù. Vì điều ấy có lợi cho cả nhà văn và nhà phê bình, thậm chí cả nền văn học.

    Quy hoạch sự viết

    Tôi tin chắc rằng đa số các nhà văn viết bằng bản năng, nghĩa là có gì viết nấy, nghĩ gì viết nấy, thấy cái gì hay, phù hợp thì viết mà ít khi có người để ý xem sự viết ấy diễn tiến thế nào, có cần một bản “quy hoạch” về sự viết hay không?

    Vì thế ta dễ thấy trong một tập truyện ngắn có những truyện có chủ đề, phong cách khác nhau,  đủ các món, có truyện viết về lịch sử, có truyện về miền núi, truyện về nông thôn,  truyện về chiến tranh… Cuốn sách như một nồi lẩu! Một tập thơ cũng thế, dăm bài thơ tình, dăm bài thơ tả thiên nhiên, dăm bài thế sự... Thậm chí tôi đã từng gặp những tập sách bao gồm cả thơ, phê bình, truyện ngắn, câu đối… như một hàng xén!

    Những tập sách không có sự “quy hoạch” như thế thì dễ dàng cho người viết. Gặp bất cứ đề tài nào hứng thú đều có thể viết ngay, khi in thành sách thì cho đại vào, miễn là đủ số trang in và độ dày. Đó là biểu hiện của sự thiếu chuyên nghiệp. Ta có thể thấy những người viết lâu năm in nhiều tác phẩm nhưng gọi tên một tập sách có giá trị đích thực thì hiếm thay, cũng một phần vì sự lộn xộn, dễ dãi khi sắp xếp, tập hợp sự viết của mình. Hoặc sâu xa hơn, đó là sự thiếu quy hoạch về nghề viết, không có một kế hoạch bài bản, một chiến lược dài hơi.

    Các nhà văn chuyên nghiệp, có ý thức về nghề nghiệp của mình thì không thế. Thường tác phẩm sẽ được sắp xếp có chủ ý, có chiến lược rõ ràng. Tập truyện ngắn “Dạ khúc” của nhà văn người Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro, người đoạt giải Nobel văn học 2017, gồm năm truyện ngắn. Mỗi truyện trong tập đều có điểm xuyết của âm nhạc và tổng thể cả tập truyện làm thành một bản giao hưởng hài hoà và dễ chịu. Nguyễn Tuân có tập “Vang bóng một thời” và cả tập truyện ngắn này đều viết về thời quá vãng, sự hoài cổ, xa vắng. Hơn mười truyện ngắn trong “Vang bóng một thời” cùng có cái hương vị phảng phát cổ điển, chỉ cần đọc những cái tên truyện đã cảm thấy điều đó: “Chém treo ngành”, “Chữ người tử tù”, “Ngôi mả cũ”, “Báo oán”…

    Tôi đã đọc series tiểu thuyết của nhà văn người Pháp Patrick Modiano, người đoạt giải Nobel văn học năm 2014 và rất thích thú. Đây là những tiểu thuyết mỏng được dịch ra tiếng Việt và có tông gần giống nhau: “Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối,” “Từ thăm thẳm lãng quên”, “Đừng để em lạc trong khu phố”… Cả một series sách có sự đồng điệu, đó là sự truy tìm quá khứ đã mất, những vương vấn, u sầu, ngọt ngào của thời tuổi trẻ đã qua. Đọc một cuốn và muốn những cuốn tiếp theo, nhà văn đưa ta vào một thế giới đầy hoài niệm tưởng chừng không dứt ra được…

    Như thế, nhiều nhà văn ý thức về sự viết của mình lắm chứ. Có khi họ chỉ viết về một chủ đề duy nhất mà làm nên những thành công phi thường. Mạc Ngôn dành phần lớn sự nghiệp của mình viết về vùng đông bắc Cao Mật quê hương   và được cả thế giới ca ngợi. Oe Kenzaburo, nhà văn lớn của Nhật Bản viết nhiều tác phẩm lấy cảm hứng từ chính đứa con bị tàn tật của mình và đoạt giải Nobel năm 1994. Những tác phẩm viết trước năm 1945 của Nguyễn Tuân đều mang dấu ấn về một thời quá vãng và cũng là những thành tựu văn học lớn nhất của đời ông. Gần đây ta có thể thấy những trường hợp khác như Đỗ Phấn và Nguyễn Việt Hà chỉ viết về Hà Nội và hai người này cũng là những gương mặt rất đáng chú ý của văn chương đương đại.

    Không chỉ viết về một đề tài, nhiều nhà văn thậm chí còn đi xa hơn. Họ viết rất nhiều chỉ về một cuộc đời một nhân vật. Philip Roth viết chín cuốn tiểu thuyết về anh chàng Nathan Zuckerman và nó đã mang lại thành công lớn cho tác giả. Và John Updike, một nhà văn nổi tiếng người Mỹ khác đã viết năm cuốn tiểu thuyết về người đàn ông có biệt hiệu "Rabbit" Angstrom, từ khi anh ta trưởng thành đến lúc chết và đó cũng là bộ tác phẩm đáng kể nhất của ông. Cả hai tác giả kể trên đều là những gương mặt lớn của văn chương Mỹ thế kỉ XX.

    Như thế, một chiến lược dài hơi cho sự viết là rất cần. Ở đó nó sẽ kết tinh phong cách của tác giả hoặc những đề tài được khai thác rất sâu. Nhưng sự chuyên chú này có sẽ nảy sinh một mẫu thuẫn. Khi nhà văn chuyên viết về một chủ để, một giọng điệu, một phong cách, anh ta sẽ tự chán với chính mình và tìm cách thay đổi. Rất nhiều người không thích sự bí bách này và tìm cách thoát ra. Mạc Ngôn là một ví dụ tiêu biểu, ông viết rất nhiều về vùng đông bắc Cao Mật quê hương nhưng mỗi cuốn lại có một giọng điệu, phong cách khác nhau. Cái tài của Mạc Ngôn là ở một đề tài chung nhưng trong mỗi tác phẩm, ông lại tạo ra sự khác biệt, người đọc không thấy sự nhàm chán. Điều đó khác nhiều so với H. Murakami khi hầu hết tác phẩm của ông đều kể chuyện bắt đầu với ngôi “tôi”, sự khác biệt không nhiều. Nhưng có thể đấy là cái “tạng” của nhà văn và anh ta cũng không thoát ra nổi. Chính H. Murakami đã thú nhận rằng, ông từng tìm cách không kể câu chuyện bằng ngôi “tôi” nhưng cơ bản đều thất bại.

    Chắc chắn sẽ có ý kiến tranh luận rằng, các tác phẩm cùng đề tài, tông giống nhau sẽ tạo ra sự chán chường ở người đọc. Điều đó đúng, nếu chuỗi tác phẩm đơn thuần có chung đề tài, giọng điệu nhưng không tạo ra được sự độc đáo riêng và ý tưởng mới thì rất dễ tạo ra sự lặp lại và mệt mỏi. Ở những trường hợp kể trên, Nguyễn Tuân, Mạc Ngôn, Modiano đã vượt qua được tình trạng ấy,  trong sự giống nhau ấy các nhà văn vẫn tạo ra sự thú vị và hấp dẫn nhất định. Một cụm từ từng rất mốt một thời là: “thống nhất trong đa dạng” có lẽ đúng trong những trường hợp này.

    Nhưng tôi vẫn đủ ý kiến để phản bác lại luận điểm này. Người ta viết để tạo ra một phong cách riêng, sự nghiệp của mình chứ anh ta không viết để thoả mãn nhu cầu của độc giả. Thoả mãn nhu cầu của độc giả cũng tốt nhưng không phải là mục đích tối thượng của người viết. Mục đích tối thượng của văn chương là sáng tạo. Nếu chỉ chạy theo thị hiếu của độc giả, để độc giả thoả mãn tâm lí của họ thì nhà văn rất dễ trở thành những nhân vật tầm thường cùng với những tác phẩm tầm thường của chính mình.

    Như vậy thì sự “quy hoạch” sẽ diễn ra thế nào và làm thế nào để người viết không tự gò mình vào một cái khuôn cố định hoặc bị hạn chế sự phóng túng trong sáng tạo và đề tài? Sự quy hoạch sự viết ở đây đơn thuần là một chiến lược lớn và những bước đi cụ thể để tạo những dấu ấn khác biệt. Cả một bầu trời hoài cổ nhưng mỗi truyện của Nguyễn Tuân là một thế giới riêng. Khi thì về thú chơi chữ, uống trà, uống rượu, thả thơ, khi thì về một kiểu nghề rất dễ gây phản ứng: đao phủ. Cái chung của “Vang bóng một thời” là sự hướng về cái đẹp và quá khứ đã mất.

    Còn ở Patrick Modiano, sự lặp lại về đề tài và phong cách ở vẫn tạo ra sự tò mò. Người đọc cảm thấy những nhân vật có sự liên quan, chìm ẩn vào nhau. Nhân vật ở tác phẩm này có một mối liên hệ với nhân vật ở tác phẩm khác và người ta thấy thích thú khám phá ra điều đó. Thậm chí ở series tiểu thuyết về những nhân vật giống nhau của Philip Roth và John Updike, người đọc được theo dõi nhiều cung bậc của cuộc đời nhân vật, từ lúc trưởng thành, lên đỉnh, già ốm và chết đi. Sự thành công của những chuỗi tiểu thuyết này chứng tỏ chúng không nhàm chán và được độc giả mong đợi. Điều tương tự trong nền điện ảnh Mỹ, nếu một bộ phim thành công lớn thì chắc chắn nó sẽ có phần hai, phần ba, dù ban đầu ý định của các nhà làm phim có thể chỉ là một tác phẩm duy nhất.

    Quy hoạch sự viết, hay nói khác đi chiến lược của một nhà văn nói nên tài năng và tính chuyên nghiệp của anh ta. Người viết sẽ không tạo ra một tác phẩm quá dễ dãi mà đặt nó vào một bối cảnh hay khu biệt nhất định. Trong một thời đại mà mọi ngành nghề đều đòi hỏi tính chuyên nghiệp và cạnh tranh cao thì rõ ràng người viết cũng cần những kế hoạch khoa học và bước đi khôn ngoan để thực hiện hoài bão của mình. Đã qua rồi cái thời chỉ viết bằng bản năng và những cảm xúc nhất thời, hoặc là phương châm của những người viết nghiệp dư hoặc chưa bao giờ ý thức nghiêm túc về nghề nghiệp của mình. Lịch sử văn học chỉ ghỉ nhận những tên tuổi sáng giá, có giá trị nhất, đóng góp vào lịch sử phát triển. Bão tố sẽ quét qua mọi thứ và chỉ rất ít có thể tồn tại và trụ lại được với sự bào mòn khủng khiếp của thời gian.

    Tuyệt kĩ vô chiêu

    Vô chiêu là một thuật ngữ trong tiểu thuyết võ thuật Kim Dung dùng để chỉ người đã đạt đến độ “thượng thừa” về kĩ thuật. Nghĩa là đòn đánh ra không cần vận dụng một chiêu thức cụ thể nào, tiện đâu đánh đấy nhưng mang lại hiệu quả rất cao và đối phương không thể chống đỡ. Tôi nghĩ vô chiêu có thể áp dụng trong văn học khi nhà văn viết nhuần nhuyễn như không, viết rất kĩ thuật mà lại như không có dấu vết kĩ thuật nào cả.

    Nhà văn Paul Auster, nhà cách tân tiểu thuyết nổi tiếng của nước Mỹ từng tâm sự rằng, khi viết ông chỉnh sửa bản thảo rất nhiều, sửa đến khi nào cảm thấy những lời mình viết ra tự nhiên như không, không cảm thấy bất kì sự khiên cưỡng hay lên gân nào mới thôi. Nghĩa là lời văn hoàn toàn tự nhiên, nhà văn dùng kĩ thuật, dùng lao động cơ học để biến những dụng ý có tính toán của mình thành một thứ văn trôi chảy, “trong suốt”, tự nhiên như nước mưa hay ánh nắng và người đọc không cảm thấy bất cứ sự can thiệp nào.

    Nhà văn Hồ Anh Thái cũng có lần kể rằng, có độc giả than phiền rằng ông viết ngẫu hứng quá, cảm tưởng như có gì viết nấy mà không cần phải nghĩ ngợi quá nhiều. Hồ Anh Thái lại cho rằng lời nói ấy là khen nhiều hơn chê. Vì sao, vì khi nhà văn viết ra trôi chảy tự nhiên thì cảm xúc và kĩ thuật của người viết đã chín muồi. Mỗi dòng chữ đã được hun đúc từ trong tiềm thức hoặc lưu trữ sẵn trong não bộ, chỉ đợi có cơ hội là tuôn ra.

    Tôi thích các nhà văn viết thật kĩ thuật, nghĩa là cảm phục những tác giả có sự dàn dựng cầu kì, tinh vi, các chi tiết trong tác phẩm ăn khớp với nhau như một bộ máy vô cùng phức tạp nhưng vẫn hoạt động trơn tru. Một cái lá cây xuất hiện ở đầu cuốn tiểu thuyết dày cả trăm trang rồi có thể lại vẫn dùng ở đoạn kết, một vết chân chân cát tưởng như mơ hồ ở đoạn mở đầu lại dẫn đến những kết cục lớn lao. Những ví dụ kiểu đó có thể thấy ở những bậc thầy, ví dụ như Victor Hugo, Milan Kundera... Đó là những nghệ nhân của kĩ thuật viết văn, tiểu thuyết của họ như một công trình kiến trúc có tổng thể rất hoành tráng mà vẫn  được chăm chút ở những chi tiết rất nhỏ và hài hoà với bối cảnh lớn.

     Nhưng tôi thích hơn những nhà văn viết rất kĩ thuật nhưng lại cảm giác không dùng kĩ thuật gì hết, nghĩa là rất tự nhiên, vô chiêu. Tất nhiên vô chiêu cũng có vài loại. Loại thứ nhất là đầu tư rất nhiều cho kĩ thuật và lao động cơ học, biến nguyên liệu từ một tảng đá xù xì, thô nhám thành một cô gái có thân hình tuyệt mĩ và người xem không cảm thấy có bất cứ sự đục đẽo, can thiệp, cảm giác tác phẩm đã có sẵn trong thiên nhiên và người ta chỉ việc mang về và trưng bày. Đó là cách của Paul Auster và đa số các nhà văn khác cố gắng đạt tới. Sử dụng lao động nghệ thuật một cách tối đa để tiến tới sự hoàn mĩ tự nhiên.

    Thông thường ta hay gặp những kiểu văn trúc trắc, dấu vết kĩ thuật rất rõ. Đó vẫn có thể những tác phẩm hay, thậm chí là những tác phẩm rất lớn. Ví dụ như trong những tiểu thuyết của Victor Hugo như: “Những người khốn khổ”, “Lao động biển cả”, “Nhà thờ Đức bà Paris”... Nhà văn hầu như không bao giờ đưa ra những chi tiết thừa, những tình tiết rất nhỏ ở đầu chuyện tưởng rằng được viết thoảng qua nhưng xuyên suốt tác phẩm hoặc đến tận cùng, nhà văn vẫn sử dụng những sắp đặt ấy đầy thuyết phục và chính xác. Đó là cái tài của nghệ thuật dàn dựng, bố cục. Nhà văn giống như một kiến trúc sư tài năng và mẫn tiệp, chăm chút đến từng những họa tiết trang trí nhỏ nhất trên một tòa lâu đài khổng lồ.

    Làm được như Victor Hugo là quá vĩ đại và khó lặp lại nhưng đứng về góc độ nghề nghiệp tôi lại thấy đó là những kĩ thuật quá lộ liễu. Bạn đọc thông thường và ngây thơ lần đầu bắt gặp có thể phục lăn tác giả nhưng những người có nghề dần dần sẽ đoán ra được ý định của nhà văn. Tôi sẽ dự đoán được câu chuyện sẽ đi theo hướng nào và những chi tiết “gài bẫy” sẽ được dùng ở đâu. Về mặt kĩ thuật, tôi thấy Victor Hugo và F. Dostoevsky rất giống nhau. Hai người khổng lồ này thường có những dàn dựng lộ liễu và dễ bị bắt bài. Ta chỉ cần đọc độ hai cuốn là có thể dự đoán được đường hướng của những cuốn khác. Victor Hugo và Dostoevsky thường tạo ra những sự bất ngờ và ngẫu nhiên, nhưng sự bất ngờ và ngẫu nhiên này lại quá tính toán và vì thế chúng thiếu một sự tự nhiên vốn có. Và có thể nói thêm rằng, một trong lí do văn học trinh thám đôi khi không được đánh giá cao bằng văn học chính thống nó quá dàn dựng, gài bẫy người đọc.

    Một trong những nhân vật vĩ đại nhất của trường phái vô chiêu là Franz Kafka. (Tất nhiên Franz Kafka sinh ra trước Kim Dung rất lâu và tôi chỉ muốn tìm một ví dụ). Franz Kafka viết ra những câu chuyện chẳng có gì là giống với hiện thực cả. Đa số những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông mang tính bịa đặt, phi lí hoàn toàn, khó có thể tồn tại trong đời. Nhà văn bịa đặt “trắng trợn” mà người đọc vẫn không tỏ ra nghi ngờ hoặc không muốn nghi ngờ. Người ta chấp nhận câu chuyện mà không thấy khiên cưỡng hoặc cảm thấy chúng quá lố. Vì sao vậy, vì Kafka viết rất tự nhiên, cảm giác ông không dùng chiêu thức hay kĩ thuật nào cả, những gì nhà văn viết ra nước chảy, không dàn dựng hoặc ít nhất không bị cái ấn tượng ấy ám ảnh.

    Đây chính là sự khác thường và độc đáo của F.Kafka và người ta đã tôn vinh ông một những nhà cách tân tiểu thuyết vĩ đại nhất của thế kỉ XX, xếp “cùng mâm” với Marcel Proust và James Joyce. Nhưng có đúng F.Kafka là nhà cách tân lớn nhất cùng với hai người kia? Marcel Proust và James Joyce cách tân thì đúng rồi còn Kafka, tôi không nghĩ ông là nhà cách tân tiểu thuyết. Kafka là một thiên bẩm, cảm giác ông không cần rèn luyện gì nhiều, ông viết khác thường, lạ lẫm nhưng cứ thế tuôn ra, tự nhiên vô cùng. Nếu ta muốn lần dò những dấu vết kĩ thuật trong đó thì hầu như không có. Và tôi cho rằng một trong những lí do quan trọng mà Kafka từng có ý định thiêu hủy bản thảo của mình và di nguyện cho người bạn là Max Brod làm điều đó vì chính ông cảm thấy bất lực hoặc chán chường với kiểu viết của mình. Thứ văn này nếu đọc một cách thoáng qua hoặc không được trang bị ít nhiều lí thuyết, hoặc chút kinh nghiệm thì nói chung rất khó để “tiêu hóa.

    Một lần tôi hỏi nhà văn Nguyễn Bình Phương cuốn tiểu thuyết nào của anh được chính tác giả yêu thích nhất. Ở thời điểm tôi hỏi, Nguyễn Bình Phương chưa xuất bản “Mình và họ” và “Kể xong rồi đi”. Lúc đó Nguyễn Bình Phương trả lời rằng, là cuốn “Ngồi”. Tôi hỏi tại sao là “Ngồi”. Nguyễn Bình Phương trả lời rằng, vì nó là cuốn nhuyễn nhất. Nhuyễn tức là tự nhiên nhất, còn các cuốn khác của anh, ví dụ “Thoạt kì thủy”, tôi không thích lắm vì dấu ấn kĩ thuật và ý đồ của tác giả khá lộ liễu.

    Qua ví dụ ở Paul Auster, Nguyễn Bình Phương và ở nhiều tác giả khác nữa thì thấy rằng người viết luôn mong tác phẩm của mình mang vẻ tự nhiên nhất. Rất nhiều kĩ thuật nhưng được tinh luyện ở mức cao người ta không cảm thấy sự tồn tại của chúng nữa.

    Tất nhiên vô chiêu sẽ còn một ý khác mà tôi phải nói cho kín kẽ. Có những kiểu vô chiêu là tác giả quá non nớt, viết mà không biết mình sẽ viết như thế nào. Khi gặp một tình huống phát sinh thường không đưa ra được giải pháp xử lí hợp lí, để cho câu chuyện trôi đi mất kiểm soát. Tác phẩm rơi vào kiểu viết “thả rông”, không định hướng, không làm chủ được nhân vật và câu chuyện. Kiểu viết này thường rơi vào tình huống, ban đầu tác giả muốn câu chuyện dẫn đến điểm A nhưng thực tế viết lại dẫn đến điểm M, nghĩa là quá xa và mất phương hướng so với mục tiêu ban đầu. Tình trạng này thường xảy ra ở những người mới viết hoặc chưa có đủ một sự rèn luyện chuyên nghiệp hoặc chưa đủ trưởng thành.

    Còn đạt đến độ “vô chiêu” hiểu theo nghĩa “tuyệt kĩ” thì xảy ra hai trường hợp. Thứ nhất là ví dụ của Paul Auster và đa số các nhà văn, đó là người viết phải khổ luyện rất lâu cả về cảm xúc cũng như kĩ thuật thì tác phẩm mới đạt tới mức độ tự nhiên như ý muốn. Còn trường hợp thứ hai là những người như Kafka. Sự khác thường của Kafka chính là thiên bẩm, Kafka đã rất may mắn được thừa hưởng một “điểm vượt” nào đó mà lịch sử văn học không dễ lặp lại, viết rất khó mà lại như không. Tuyệt kĩ vô chiêu có lẽ vì thế là ước mơ của rất nhiều người cầm bút.

    UT.

    Bài sẽ in Nguyệt san Văn Chương Ngày Nay số 9- Giai phẩm kỷ niệm ngày đất nước Việt Nam Hòa Bình Thống Nhất, phát hành đầu tháng 5-2021.

    www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,612,269

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/