Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,436,228

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

"Cỗ xe phê bình ì ạch" và một chiếc "đầu máy phì phào"

Nguyễn Hòa

  • Chủ nhật, 19:29 Ngày 09/06/2013
  • Đọc và suy ngẫm trên bình diện tương ứng với khả năng thâu nhận của mình, tôi nhận thấy ở Việt Nam có những nhà khoa học tỏ ra khá lành nghề về mặt lý thuyết song nhiều lúc họ cũng lại tỏ ra khá bất lực trước một số tác phẩm văn chương cụ thể, và từ sự sai chênh ấy, tôi thường đặt ra câu hỏi có tính nghi ngờ về khả năng nắm bắt những lý thuyết mà nhà khoa học như ngỡ rằng họ thành thạo. Cho nên hầu như đã đọc toàn bộ các cuốn sách ông đã xuất bản và dù quý trọng ông, nhưng tôi vẫn cho rằng Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử là một người như vậy, và cũng vì quý trọng ông mà trong một thời gian khá dài tôi chưa tính đến chuyện viết về ông một cách thẳng thắn. Chỉ tới khi ông công bố một số ý kiến trong cuộc phỏng vấn của báo Quân đội Nhân dân thì tôi buộc phải cầm bút, dù biết rằng việc làm ấy có thể làm tôi mất đi một mối quan hệ thân tình. Nhưng biết làm sao được!

    1. Phê bình văn học đang lâm vào khủng hoảng - đến hôm nay nhận định này không còn là điều “lạ tai” đối với mọi người khi đề cập tới thực trạng của phê bình trong đời sống văn chương. Trước mối quan ngại của xã hội và công chúng, trước yêu cầu của sự phát triển, nếu thật sự lo lắng cho hiện tại và tương lai của phê bình, không còn cách nào khác những người làm phê bình phải nghiêm túc nhìn thẳng vào sự thật để xem xét, đánh giá công việc của mình. Và trong thực tế, nhiều tác giả - với những cách thức khác nhau - đã và đang cố gắng tìm hiểu nguồn gốc bản chất của vấn đề, nói cách khác là cố gắng đi tìm câu trả lời, ngõ hầu đưa phê bình vượt thoát ra khỏi tình trạng trì trệ. Tuy nhiên bên cạnh đó lại thấy nảy sinh một loại hiện tượng kỳ quặc mà dù người viết bài này đã cố gắng tìm hiểu song, không thể lý giải được. Đó là tại sao lại có một số vị khoái la lối thất thanh nhiều hơn là bắt tay cùng nhau khắc phục. Điển hình cho hiện tượng trên đây là ý kiến của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Quân đội nhân dân ra ngày 6. 6. 2003. Sau khi ý kiến của Giáo sư Tiến sĩ được đăng tải, ngày 15. 6. 2003, sinh viên Đỗ Hòa Bình ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhờ Tòa soạn báo Văn nghệ Trẻ chuyển đến Giáo sư Tiến sĩ một câu hỏi có liên quan trực tiếp tới ý kiến của ông. Nhưng cũng trên Văn nghệ Trẻ ra ngày 22. 6. 2003, người ta cho biết Giáo sư Tiến sĩ đã không trả lời với lý do “rất bận, đang tranh thủ từng giờ từng phút, và không có thời gian”. Qua sự kiện trên, là người quan tâm tới vấn đề, tôi không thể không đặt câu hỏi: Phải chăng Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử “bí quá” nên tảng lờ không trả lời câu hỏi của sinh viên, hay đây là một biểu hiện của thái độ học phiệt, của cung cách hành xử rằng người đọc phải “kính nhi viễn chi” chứ không được phản bác, vặn vẹo...?

    Nguyên văn các nhận xét, ví von của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử có nội dung thế này: “Nhiều người kêu, kêu rất to. Họ vò đầu, bứt tai, vỗ ngực. Có người tỏ ra xót xa, đau khổ, thống thiết vì phê bình văn học đang giảm sút. Nhưng họ không làm gì cả, trong đời sống phê bình văn học đang cần những tiếng nói nghiêm túc, những kiến giải cụ thể, những biện pháp thực tế giải quyết vấn đề của phê bình văn học hiện nay. Nói như vậy để thấy rằng nếu chỉ xót xa, đau khổ mà không làm gì thì đương nhiên phê bình văn học cũng giống như cỗ xe có đầy đủ bộ phận nhưng lại thiếu đầu máy, thành ra muốn xe chuyển động lại phải xúm vào khiêng, ì ạch hơn cả người đi bộ”. Nhận xét trên làm cho tôi “hơi bị” ngạc nhiên, bởi đọc các bài phê bình văn học đăng tải trên báo chí lâu nay tôi nhận thấy ý kiến trao đổi qua lại (thậm chí trái ngược nhau) rất nhiều, những ý kiến bày tỏ nỗi lo lắng về thực trạng phê bình văn học cũng không ít. Song tôi chưa thấy bất kỳ ai đó “kêu rất to” rồi “vò đầu, bứt tai, vỗ ngực”, và “xót xa, đau khổ, thống thiết” cả. Lẽ nào qua lối diễn đạt ấy, ông Trần Đình Sử đã không nhận ra rằng phóng đại và giễu cợt nỗi ưu tư chính đáng của người khác về bản chất là thiếu tôn trọng, là thái độ tự thị hợm hĩnh mà một Giáo sư Tiến sĩ đáng lẽ không nên tự đẩy mình vào hay sao. Về phần mình, chưa tính đến các câu hỏi như có thể ví phê bình văn học giống với cỗ xe (?), thế nào là một cỗ xe có đủ bộ phận nhưng lại thiếu đầu máy (?) và phê bình văn học có cần đến “đầu máy” hay không (?) chỉ riêng việc ngắm nghía hình ảnh ví von do ông Giáo sư Tiến sĩ đưa ra tôi cũng đã thấy buồn cười. Xin phép được “múa rìu qua mắt thợ” khi mạo muội thưa với ông rằng xưa nay phàm đã nói đến “cỗ xe” là nói đến một phương tiện giao thông đã tương đối hoàn chỉnh, bản thân từ “cỗ” đã giúp làm sáng tỏ điều này. Bên cạnh đó, thông thường tôi không thấy người Việt gọi “cỗ xe hỏa”, mà chỉ thấy gọi cỗ xe ngựa, cỗ xe bò, cỗ xe cải tiến… Và vì “đầu máy” là “máy có sức kéo mạnh, chạy trên đường ray, dùng để kéo hoặc đẩy đoàn tầu”(1) nên chỉ tàu hỏa mới có đầu máy chứ chưa thấy một loại xe cộ nào khác lại có đầu máy. Phải chăng Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử mới chế ra một cỗ xe có đầu máy nhưng chưa đăng ký phát minh, chưa công bố rộng rãi?

    2. Bằng vào một quá khứ phê bình văn học chưa hẳn đã le lói một chút hào quang, sau khi phê phán: “Nhiều người kêu, kêu rất to… ì ạch hơn cả người đi bộ” như đã dẫn ở trên, ông Giáo sư Tiến sĩ nói: “Tôi muốn trở lại vấn đề “kêu” nhưng không làm. Họ kêu để làm dáng, mà làm dáng thì nên chấm dứt. Làm thế là có lỗi với văn học, với bạn đọc”. Đặt các ý kiến trên trong mối quan hệ với công việc phê bình văn học của ông Trần Đình Sử, tôi băn khoăn tự hỏi Giáo sư Tiến sĩ phát biểu ý kiến theo tinh thần của câu thành ngữ: “Lão thảo tắc trách” hay là từ một tấm lòng yêu nghề. Theo dõi văn đàn năm bảy năm nay, hầu như tôi chưa thấy ông trình làng một bài phê bình nào thật sự có ý nghĩa xã hội - nghề nghiệp, hay có khả năng thu hút sự chú ý của đồng nghiệp và công chúng, chỉ thấy tên tuổi cùng học hàm học vị của ông được trang trọng in trên trang bìa của một lô những cuốn sách bình giảng văn học chọn lọc, những cuốn sách có nội dung gần gũi với cái gọi là “để học tốt môn văn”... Xa hơn nữa, theo tôi sự nghiệp phê bình của ông cũng đâu có được đầy đặn cho lắm. Tôi không phủ nhận một số đóng góp của ông Trần Đình Sử đối với việc dịch thuật, giới thiệu, quảng bá và bước đầu ứng dụng một hai lý thuyết mới để nghiên cứu văn học, nhưng không vì thế lại không cần phân biệt ranh giới (dù tương đối) giữa một Trần Đình Sử làm nghiên cứu - lý luận và dịch thuật với một Trần Đình Sử viết phê bình, nhất là đối với việc ông thẩm định một số tác phẩm văn chương cụ thể. Khảo sát tác phẩm của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử, tôi thấy ông chủ yếu dành công sức khám phá những giá trị văn chương vốn đã định hình, vốn đã được khẳng định, hầu như chưa thấy ông “động bút” vào các tác phẩm thơ văn mới xuất bản, vào các vấn đề văn học mới nảy sinh,… để phát hiện một tác giả, để đánh giá một xu hướng, để đưa ra ý kiến và nhận định riêng. Qua đó tôi cho rằng ông là một cây bút phê bình nghiệp dư chứ không phải là nhà phê bình “chuyên nghiệp” theo cái cách ông đã định danh trong bài phỏng vấn đã nhắc tới ở trên. Và từ sự quan sát trên một bình diện rộng ấy, theo tôi, dường như ông chỉ biết đòi hỏi giới phê bình văn học phải như thế này phải như thế kia mà quên phéng câu “hãy làm như tôi nói, đừng làm như tôi làm”!

    Thật ra không ai có quyền yêu cầu người làm phê bình phải quan tâm tới tác phẩm này hoặc tác phẩm kia, quan tâm tới vấn đề này hoặc vấn đề khác, nhưng về đại thể nếu không “sống với văn chương cùng thời” thì làm sao người viết phê bình có thể tham gia thẩm định văn chương một cách cập nhật, làm sao có thể giúp công chúng phê phán điều dở, lĩnh hội điều hay… Đến đây có thể ai đó sẽ thắc mắc tại sao ở phần trên tôi nhắc tới “một quá khứ phê bình văn học chưa hẳn đã le lói một chút hào quang” của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử mà không chứng minh, ít ra cũng phải được vài ba điều. Tuy nhiên nếu bạn đọc lưu ý tới hai từ “chưa hẳn” sẽ thấy đó chỉ là một nghi vấn, nhưng đây là một “nghi vấn” có cơ sở. Thiển nghĩ, việc tìm về với các tác phẩm, các vấn đề văn học đã có tuổi thời gian (nói cách khác là đã được khẳng định) thường là phương cách tốt nhất để vừa có được tiếng tăm vừa không phải đối mặt với những hiện tượng, những vấn đề văn học đương đại chưa biết đúng - sai ra sao. Đối với Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử, bước đầu có thể tìm hiểu ông đã cố gắng “cày xới” văn chương quá khứ như thế nào qua việc thống kê nhan đề các tác phẩm ông đã công bố như: Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam… Trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ của ông, tuyệt nhiên không có một bài phê bình văn chương đương đại, chỉ thấy Nguyễn Trãi với Nguyễn Du, Truyện Kiều với Tống biệt hành… Ngay với cuốn Văn học và thời gian, ông cũng chưa vượt qua những giới hạn “an toàn”, tức là ông vẫn quanh quẩn với Trang Tử và Chí Phèo, Xuân Diệu và Nguyễn Tuân, Thơ Mới và Thơ Đường… (Ở đây xin không tính tới những tác phẩm dịch như: Những vấn đề thi pháp Đôxtôievski, Dẫn luận nghiên cứu văn học… hoặc các cuốn sách đầy rẫy những thẩm định hời hợt như: Phân tích bình giảng văn học lớp 12, Thực hành tập làm văn lớp 6, 7, 8, 9…). Không phủ nhận ý nghĩa và tầm quan trọng của việc trở về với các tác phẩm, tác giả, các vấn đề của văn chương quá khứ, nhưng theo tôi việc “trở về” đó phải mang tính phát hiện, phải là kết quả của những khám phá; đặc biệt ở những mức độ khác nhau, sự “trở về” ấy còn có vai trò đưa lại một / những cái nhìn mới, đưa lại bài học kinh nghiệm cho việc khảo sát văn chương đương đại… Song dẫu sao thì những công trình “kiểu” như vậy lại gần gũi với nghiên cứu nhiều hơn là gần gũi với phê bình, dù hai công việc này có quan hệ mật thiết với nhau. Khẳng định hay phê phán một tác phẩm văn chương mới xuất bản, một tác giả mới xuất hiện… phụ thuộc trước hết vào sự sắc sảo, tinh tường, vào năng lực định giá, vào trí tuệ, bản lĩnh, vào nhiệt tâm theo dõi đời sống văn chương… của người phê bình. Mấy năm nay trước bao nhiêu sự kiện phức tạp trong đời sống văn học nói chung và phê bình nói riêng, chỉ thấy Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử “mũ ni che tai” đóng cửa ngồi nhà, cắm cúi biên soạn các sách tham khảo mà xét đến cùng, bản chất của các công trình này là góp phần làm teo tóp cái “hầu bao còm cõi” của cánh học trò, trong đôi ba trường hợp lại góp phần bình giảng tác phẩm văn chương theo hướng đi xuống (!). Một thời gian dài “im hơi lặng tiếng” đứng ngoài sinh hoạt phê bình, ông vẫn phê phán đồng nghiệp “kêu nhưng không làm, kêu để làm dáng”, và còn khệnh khạng chỉ bảo họ “làm dáng thì nên chấm dứt”, “làm thế là có lỗi với văn học, với bạn đọc” thì quả là Giáo sư Tiến sĩ đã xem nhẹ lời cổ nhân từng dạy rằng “tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Nên tôi tiếp tục băn khoăn phải chăng Giáo sư Tiến sĩ chỉ đặt vấn đề nhận xét đồng nghiệp mà “quên” phắt chính mình, phải chăng ông cũng có khát vọng đứng vào đội ngũ những người “làm dáng”, “kêu nhưng không làm”?

    3. Cách đây không lâu, luận bàn về cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ của ông Trần Đình Sử, một người bạn hỏi tôi đọc cuốn sách có nhận thấy điều gì “bất thường”? Tôi trả lời: Chỉ nhận thấy vài ba “bất thường vặt vãnh”. Tỷ như tiểu luận Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam xem ra cũng không có gì mới, chỉ là sự khuếch đại và cập nhật hóa một số ý tưởng của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam; hoặc ở trang 107 khi bàn về “tha hóa” ông Trần Đình Sử có trích một câu của C. Mác từ công trình ông gọi là Bản thảo triết học 1844 nhưng tên chính thức của công trình này của C. Mác lại là Bản thảo kinh tế - triết học 1844…chẳng hạn. Anh bạn cười và đưa ra một gợi ý về tình trạng “đạo văn”. Tôi không tin một Giáo sư Tiến sĩ lại có thể làm việc đó. Song chính tôi cũng không biết lý giải thế nào khi thấy từ cuối trang 23 đến đầu trang 25 của cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ(1) (bài Thơ cổ điển) ông Trần Đình Sử dành phiên âm, dịch nghĩa, phân tích “tính biểu trưng” trong bài thơ Giang Hán của Đỗ Phủ, nhưng nếu làm một so sánh sẽ thấy sự giống nhau kỳ lạ giữa đoạn phân tích này với những gì do Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân viết về bài thơ Giang Hán và đã được dịch - in trong cuốn Về thi pháp thơ Đường(2). Cuối phần phân tích bài thơ Giang Hán trong Những thế giới nghệ thuật thơ, ông Trần Đình Sử ghi chú “Xem: Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân, Sức quyến rũ của thơ Đường - Cổ tịch xuất bản xã, Thượng Hải, 1989, tr. 38 - 43”. Ghi chú như vậy, nếu người đọc hoặc không có trong tay văn bản chữ Hán của bài Sức quyến rũ của thơ Đường, hoặc không sử dụng được chữ Hán, sẽ không thể biết ông Trần Đình Sử hay Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân là tác giả của cả đoạn phân tích bài thơ Giang Hán, hoặc Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân chỉ là tác giả của câu cuối cùng: “Ngữ pháp không liên tục làm cho các biểu trưng soi vào nhau theo lối tương đồng, tương phản làm bật ra nhiều ý vị khách quan.”? Sau khi cuốn Về thi pháp thơ Đường được xuất bản, nếu quan tâm tới sự chuẩn xác, đáng lẽ tái bản Những thế giới nghệ thuật thơ vào năm 2001 ông Trần Đình Sử phải sửa lại ghi chú giúp người đọc nếu cần có thể tham khảo từ cuốn Về thi pháp thơ Đường, nhưng ông không tiến hành thao tác nghiêm túc này. Thế là sự mơ hồ trước sau vẫn không thay đổi, nó tiếp tục được nối dài, thực hư khó phân biệt. Nó gợi lên sự liên tưởng tới một hình thức “đạo văn” thật điệu nghệ!

    Trở lại với bài trả lời phỏng vấn trên báo Quân đội nhân dân, Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử nhận định phê bình văn học ở Việt Nam không được “chuyên môn hóa” và “thiếu chuyên môn thì nhìn nhận, đánh giá vấn đề khó mà sâu sắc. Không sâu sắc tất thẩm định hời hợt, thiên lệch dẫn đến hậu quả sai. Rốt cuộc “cá đối bằng đầu”. Người không có chuyên môn coi thường chuyên môn, hậu quả đương nhiên tai hại”. Với một tác giả khác có thể tôi sẽ không dừng lại ở nhận định này, với Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử thì tôi nghĩ ông đang trình diễn tiểu phẩm “làm dáng”, nói cho “oai” và lờ tịt “gót chân Achilles” của mình. Xin dẫn ra vài “thành tựu” của chính ông để chứng minh sự “không sâu sắc tất thẩm định hời hợt, thiên lệch dẫn đến hậu quả sai” như thế nào. Trong phần Lời nói đầu của cuốn Từ đọc văn đến học văn xuất bản lần đầu năm 2001, tái bản lần thứ nhất vào năm 2002 với tên gọi Đọc văn học văn, Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử xác định đây là tập sách “giới thiệu những bài giảng văn - đọc văn của tác giả viết rải rác trong nhiều năm” và qua đó “mong nêu ra những cách hiểu khác, để khêu gợi, làm giàu vốn đọc chung và kích thích những tìm tòi mới”. Thoạt đầu tôi rất háo hức đọc cuốn sách, nhưng qua vài chục trang đã thất vọng vì nhận ra “sự đọc” của Giáo sư Tiến sĩ hơi bị “có vấn đề”. Ví dụ:

    - Với nhan đề bài kệ Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư, ông phân tích: “Cáo tật là cáo bệnh, “thị chúng” ở đây là bảo mọi người hay. Đây là bài kệ biểu hiện tư tưởng của nhà thơ khi ốm nặng”, rồi “Nhan đề bài thơ rõ ràng là nhan đề bài kệ, không có vẻ gì là thơ. Nhưng nội dung thì lại khác”. Theo tôi, trong nhận xét của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử trên đây, ông đã hai lần tỏ ra bất cẩn. Thứ nhất, bài kệ chỉ có thể là suy nghĩ của thiền sư khi ốm nặng chứ không thể coi đó là “tư tưởng của nhà thơ khi ốm nặng”. Thứ hai, về nguyên tắc thì “kệ là kệ” và “thơ là thơ” chứ không thể nhập nhằng “thơ” với “kệ”. Lý thú hơn, có lẽ vì tay nghề chuyên môn quá cao nên khi đề cập tới nhan đề bài kệ ông đã không chú ý ở cuối trang 299 cuốn Thơ văn Lý - Trần tập I(1) người ta ghi rõ “Đầu đề do Lê Quý Đôn thêm”, tức là nhan đề Cáo tật thị chúng được “thêm” vào bài kệ sau khi Mãn Giác thiền sư đã viên tịch đến mấy thế kỷ. Thế là cái mẩu ghi chú con con này đã bác bỏ toàn bộ những suy luận và “khêu gợi” của ông, phải chăng đó không phải là hời hợt?

    - Với bài kệ Hưu hướng Như Lai, Giáo sư Tiến sĩ phân tích còn lý thú hơn. Trong mấy trang sách, dường như ông muốn chứng tỏ sự thâm hậu của trí tuệ nên nhắc đi nhắc lại một khái niệm của giáo lý nhà Phật, ấy là khái niệm “đốn ngộ”. Ông viết: “Điều đó có nghĩa là muốn tu hành hướng nội để cầu đốn ngộ thì mỗi người có chí phải tự tìm riêng cho mình một con đường”, “Câu thơ khích lệ một tinh thần tự chủ, tự lập trên con đường đốn ngộ”… Thiển nghĩ, tinh thần “phá chấp” của Thiền tông quan hệ mật thiết với một quan niệm tu hành “phóng khoáng” nhằm đạt tới “giác ngộ”. Còn khái niệm “đốn ngộ” được Giáo sư Tiến sĩ nhắc tới trên đây liệu có liên quan tới vấn đề này không, bởi “đốn ngộ” là một trong hai cách thức (“đốn ngộ” và “tiệm ngộ” - NH) mà Phật giáo sử dụng để phân biệt hai khả năng đạt tới Niết Bàn. Nếu hiểu “đốn ngộ” là gì chắc chắn Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử không đặt bút viết ra cái gọi là “con đường đốn ngộ”. Buông dao xuống là thành Phật, đã “đốn ngộ” thì nói chi tới “con đường”, phải chăng theo Giáo sư Tiến sĩ thì “đốn ngộ” là quan niệm tu hành của Thiền tông? Nếu đúng thế thì các Thiền sư Việt Nam đâu cần phải học hành, nghiên cứu kinh sách, đâu cần phải tâm thành tu luyện, đâu phải lọ mọ trèo lên Yên Tử… mà chỉ cần chờ đợi đến một lúc nào đó “pắc” một cái là được giải thoát khỏi chốn “vô minh”, trở thành chính quả!

    Đọc ba bài viết của Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử về ba bài: Cáo tật thị chúng, Hưu hướng Như Lai và Ngôn hoài, tôi tự hỏi không rõ ông có thật sự nắm vững những điều cao siêu ông đã viết ra hay chỉ để “lòe” thiên hạ. Vả lại, đọc tác phẩm văn học trong chương trình Trung học mà rối rắm như thế này: “Trong câu thơ đầu tiên (bài Hưu hướng Như Lai - NH) đều nhắc đến các từ “tịch diệt” và “vô sinh”. Đó là các từ chữ Hán dùng để dịch tiếng Phạn Nirvana, là “Niết Bàn”. Nghĩa đen của Nirvana là loại bỏ, dịch thành “tịch diệt”, tức là tĩnh lặng, chết lặng, hoặc “vô sinh”, “vô vi”. Bởi vì “vô sinh” tức “vô diệt”. Thiền tông chủ trương “vô sinh”, mà đã “vô sinh” thì không có ngã, vô ngã, mà vô ngã thì không còn khổ đau nữa. “Vô ngã” tiếng Phạn là Anâtman, là một trong những tư tưởng cơ bản của Phật học, nhằm phủ nhận sự tồn tại có tính vật chất (“ngã”)…” thì thật là thách đố chứ đâu phải để “khêu gợi, làm giàu vốn đọc chung”! Xin nói thêm, những kiến thức trừu tượng được ông trình bày như ở đoạn trích trên là nằm ngoài sự hiểu biết của đa số sinh viên Đại học chứ chưa nói tới học sinh trung học phổ thông.

    - Về bài thơ Khi con tu hú, với sáu câu: “Khi con tu hú gọi bầy - Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần - Vườn râm dậy tiếng ve ngân - Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào - Trời xanh càng rộng càng cao - Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không” (Khi con tu hú - Tố Hữu), ông Trần Đình Sử viết: “Đây là cảnh tượng trưng, nhưng là cảnh tượng tái hiện những cảm xúc mùa hè rất trẻ trung. Tất cả đều như đang hứa hẹn: lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần, ngô lỗ đỗ có hạt vàng, ve đang bắt đầu kêu. Nắng hè đang rất tươi. Tất cả chưa có gì kết thúc hết. Tất cả như tuổi trẻ của tác giả mới bắt đầu… Tất cả đều được hưởng một cuộc sống tự do, tự nhiên” (Đọc văn học văn, tr.360). Qua đoạn văn trên, ông Trần Đình Sử đã phát kiến ra một ý tưởng táo bạo rằng mùa hè là mùa tượng trưng cho tuổi trẻ để gán ghép một cách khiên cưỡng giữa tuổi đời mười chín của tác giả bài thơ với mùa hè. Rồi nữa, “nghĩa đen” cực kỳ giản dị của câu thơ: “Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào” là ngô đã vàng hạt, ngô đã “già câng” phơi đầy trên sân, vàng như nắng, lại được Giáo sư Tiến sĩ hiểu là “ngô lỗ đỗ có hạt vàng” nghĩa là bắp ngô vẫn còn nguyên trong bẹ, vẫn vắt vẻo trên cây thì thà… đừng phân tích còn hơn! Nhưng khôi hài hơn ở đây là câu chuyện xung quanh việc ông phân tích câu thơ “Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không”. Suốt từ năm 1995 đến nay, trong mấy cuốn sách khác nhau ông Trần Đình Sử đều cho rằng: “Diều sáo lộn nhào tầng không đây có thể là chim diều, chim sáo, có thể là con diều giấy trẻ con thả chơi trên bầu trời…”. Có lẽ do thấy Giáo sư Tiến sĩ bình giảng kỳ cục quá nên trên tờ Làng Cười (Phụ san của báo Nông thôn Ngày nay) số 26 năm 2003 người ta phải làm mấy câu lục bát để bình lại: “Chim diều, chim sáo lộn nhào - Bình thơ mà loạn cào cào thất kinh - “Đôi con diều sáo” giật mình - Bình thơ như vậy, thiệt tình giết thơ”! Không được trang bị những lý thuyết cao siêu, không có bút lực “thâm hậu” như Giáo sư Tiến sĩ, kẻ viết bài này chỉ dám nói rằng bài thơ Khi con tu hú là một trong những bài thơ hay viết về tâm trạng của người tù. Bài thơ rất giản dị. Nó không có lấy một chữ nói về tù tội, không có bóng dáng giám thị, cai ngục… nhưng nó mang không khí tù túng, ngột ngạt. Tiếng chim tu hú đã gợi nên tứ thơ. Âm thanh từ bên ngoài vọng vào làm cho các hình ảnh của ký ức hiện ra, và làm nặng nề thêm cuộc sống của người tù. Thế mà Giáo sư Tiến sĩ lại sử dụng thị giác để phân tích các hình ảnh của ký ức, rồi bình tán linh tinh ngoài văn bản và còn ngó thấy “chim sáo” với “chim diều” thì oái oăm thật. Qua đây còn “tòi” ra một điều nữa là Giáo sư Tiến sĩ không biết trong thực tế sáo và diều không bao giờ hào hứng vui vẻ “lộn nhào tầng không”, gặp nhau chúng chỉ có “choảng” nhau. “Đọc văn” như vậy mà ông vẫn có thể dõng dạc viết: “Đọc văn là việc của mọi người. Đã đến lúc phải chuyển việc giảng văn trong nhà trường thành việc dạy đọc, dạy cách đọc để học trò tự đọc lấy, thì việc học văn mới thật sự có kết quả. Phải đọc văn để người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên” (Đọc văn học văn, tr.8) thì quả là không biết ngại bút và nếu bình giảng như ông ở trên thì người đọc chỉ có “bé đi” chứ làm sao mà “lớn lên” được!

    4. Tự đáy lòng, tôi hoàn toàn nhất trí với Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử về quan điểm: “Nên dân chủ và đa dạng hóa các ý kiến khác nhau. Nếu phê bình chỉ có trao mà không đổi thì đó chính là “đất màu” cho cái sai nảy nở… Không có sự cọ sát sẽ tạo ra phê bình giả… Các nhà phê bình luôn có ý thức về lợi ích quốc gia và trách nhiệm bảo vệ quyền lợi dân tộc. Nhưng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật thì không nên “bảo kê” cho cá nhân nào. Những vấn đề phức tạp thuộc về chuyên môn phải đưa ra tranh luận công khai, xác định rõ đúng - sai… Trong lĩnh vực chuyên môn phải trung thực, thẳng thắn, gọi đúng tên sự vật, không nên thóa mạ, vu khống, xỉ vả một chiều, khi có ý kiến trao đổi thì không được công khai trên mặt báo. Điều này làm cho nhiều Giáo sư có uy tín không muốn nói, vì cái đúng và cái sai không sáng rõ”. Giáo sư Tiến sĩ đã có ý kiến khá xác đáng về tình hình phê bình văn học, nhưng tôi nghĩ ý kiến của ông không có gì mới cả. Và tôi phân vân không hiểu tại sao ông lại nói trước tình trạng phức tạp của phê bình văn học: “nhiều Giáo sư có uy tín không muốn nói, vì cái đúng và cái sai không sáng rõ”. Từ đó suy ra thì các Giáo sư có uy tín chỉ lên tiếng khi đúng - sai đã rõ ràng, còn khi thiên hạ tranh luận, trao đổi (thậm chí cãi nhau!) thì các vị đứng ngoài cuộc, “toạ sơn quan hổ đấu” hay chờ khi “đục nước béo cò”? Cuối cùng, dẫu biết rằng nhận xét và phê phán nhược điểm, hạn chế của phê bình văn học là quyền của mọi người, nhưng cần phân biệt sự khác nhau giữa ý kiến của công chúng nói chung với ý kiến của người trong cuộc nói riêng. Không thể yêu cầu công chúng phê phán rồi phải tham gia làm phê bình văn học, nhưng với người trong nghề thì điều đó là cần thiết - nhất là đối với các tác giả đã và đang làm công việc phê bình. Đặt một số công việc văn chương mà Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử đã thực hiện trong tương quan với ý kiến ông mới công bố, tôi nhận thấy giữa chúng có một khoảng cách khá xa. Vì thế qua đây tôi muốn gửi đến ông một góp ý chân thành rằng: Nếu thật sự có thiện chí với phê bình văn học nước nhà, Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Sử nên góp sức cùng đồng nghiệp đưa phê bình ra khỏi cơn khủng hoảng mà nó đang lâm vào. Còn nếu chỉ đứng ngoài cuộc để hùng hồn phê phán thì biết đâu lại chẳng là “có lỗi với văn học, với bạn đọc” như Giáo sư Tiến sĩ đã khẳng định và biết đâu lại chẳng làm cho chiếc “đầu máy” kéo “cỗ xe” phê bình phì phào được vài hơi rồi tắt ngóm như ước mơ viển vông về “động cơ vĩnh cửu” vậy!

     

    Nguồn: Bàn phím và … “cây búa”. Tiểu luận, phê bình của Nguyễn Hòa. NXB Văn học, 2007.

     www.trieuxuan.info

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,436,228

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/