Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập36,532,009

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Đất nước quê hương - Kỳ cuối

Võ Phiến

  • Thứ ba, 11:19 Ngày 09/02/2021
  • Đô thị hoang sơ

    Ở Gia Nghĩa, nơi chung sống đề huề nhiều thế kỷ, giữa đô thị tôi đã bắt gặp những giờ phút xứng đáng cho một cảnh ẩn cư khuát tịch nhất.

    Có những buổi sáng thức dậy trong tĩnh mịch hoàn toàn: không có tiếng xe cộ, tiếng động cơ nào, trong sương mù chỉ có tiếng gà e é vọng từ ngọn đồi này sang ngọn đồi kia.

    Có những buổi trưa, nằm lười trên chiếc ghế bố đặt dưới một bóng cây ngoài vườn, mắt lim dim, tai mơ màng nghe tiếng trẻ con lội tắm đùa giỡn chí chóe dưới suối Dak Nong gần đó. Thỉnh thoảng một tiếng la lớn làm giật mình. Trước con mắt bỡ ngỡ của người vừa thức giấc: một đám mây trắng sáng rực trên đầu một câu chò sao ngất trước nhà, một cặp bướm vàng đuổi nhau bay nhanh qua khu vườn, rồi dừng lại chờ nhau chờn vờn trên bụi cây mép suối: hai con bướm đẹp “làm thơ” giữa trời, giữa thanh thiên bạch nhật. “Hạnh phúc thật đơn sơ”.

    Rồi giấc ngủ trở lại. Trong khi thần trí lơ mơ, bên tai văng vẳng tiếng trò chuyện rì rầm của mấy thiếu phụ ngồi trên chiếc cầu doi ra mặt nước hay trên một thân cây gãy nằm là sà sát mặt nước mà giặt giũ rửa ráy, tiếng rì rầm nghe như xa như gần lúc dứt lúc nối… Cũng trong khi thần trí lơ mơ, loáng thoáng qua đầu hình ảnh một dáng cây khô toàn xương trên đỉnh đồi, hình ảnh một lằn khói đốt rẫy uể oải, như đang mải miết trầm ngâm hồi tưởng về trăm nghìn câu chuyện huyền hoặc của cuộc sống núi rừng từ muôn vạn năm xưa… Hồi tưởng vu vơ trên từng sợi khói mỏng rã dần, rã dần, tự xóa trong không. Khói xanh âm thầm tỉ tê với trời xanh về một quá khứ xa vời, như thế lặng lẽ từng buổi trưa dài, như thế ngay trong lòng đô thị diễn ra những hồi tưởng âm thầm của rẫy bái. Rẫy trong thị xã? Vâng, cái lạ đời ấy vốn là đặc điểm của nơi này.

    Những buổi trưa như buổi trưa ấy tựa hồ bất tận. Thời khắc biếng nhác, nhẩn nha. Khách tha hồ ngủ rồi thức, thức rồi lại ngủ, tha hồ tận hưởng cái thú nhàn dật. Cho đến khi chán chê, khách vươn vai đứng lên, ngó quanh quất bên nầy bên kia: bên phía sau đồi khói vẫn lờ đờ, bên phía chợ đàn én vẫn còn bay tan tác…

    Đàn én ở chợ Gia Nghĩa ấy, vào những tháng xuân tháng hạ, buổi sáng chúng bay thấp tua tủa như ong; trưa xế, chúng lên thật cao, tản mạn, tơi tả, tan tác đầy trời; đến chiều, chúng lại hạ thấp như một niềm vui rộn ràng quấn quít trên nóc chợ…

    Và chiều, có những buổi chiều, bên cầu Vườn Ương, tôi tưởng chừng đụng đầu với sự Tịch Liêu hiện hình, một Tịch Liêu sừng sững trước mặt mình, cụ thể, cơ hồ sờ mó được.

    Khoảng sáu giờ rưỡi, sương bắt đầu đổ. Bảy giờ, đường sá vắng vẻ. Không một ngọn gió, không một chiếc lá lay động. Có tiếng con chim gì kêu thưa thớt muộn màn. Một con sóc từ trên ngọn cây tuột xuống, tiến ra tận giữa mặt cầu ván, chạy qua chạy lại, tìm kiếm loanh quanh… Trong lúc đó, tiếng ve phát lên rầu rầu…

    Tiếng ve vào cái giờ ấy bên dòng suối Dak Ut mới thật là lạ lùng. Nó rỉ rả, thâm trầm. Như vừa kêu vừa suy ngẫm. Nó âm thầm, thu lắng. Bắt đầu phát ra riu rỉu, vươn dần lên; đến một lúc, tự thấy sắp trở nên ồn ào, nó giật mình tự hãm lại, rồi bắt đầu một đợt khác rỉ rả. Như một dòng duy tưởng hết sức khiêm tốn, suy tưởng miên man, tự phán về một thân phận hẩm hiu.

    Thật lạ. Tiếng ve là thứ âm thanh khua động mùa hè chói chang. Nó rộn rã, ồn ào. Hăm bảy năm trước có lần lên chơi Bạch Mã, đến giờ tôi chưa quên được buổi trưa hôm ấy đứng bên đường nhìn xuống thung lũng sâu thẳm xanh ngắt, bỗng tai nghe lần đầu phát lên thứ tiếng ve chuông khua vang rộn rổn, kinh động núi rừng. Tôi cũng không quên lũ vè hỗn hào náo nhiệt ở Huế làm cho mùa hè chỗ cố đô thêm phần gay gắt… Không có ở đâu ve kêu như bên cầu Vương Ương Gia Nghĩa: nó kêu như than thân trách phận, như để tăng thêm cảnh quạnh quẽ khuất lấp, như để than vãn một nỗi niềm cô tịch…

    Rồi đêm đến. Thôi hãy dừng nói đến những đêm thâm u không đèn không trăng, hãy bỏ qua chuyện u tịch… Hãy nói qua loa về cái gió mùa ở đây.

    Trên Cao nguyên dễ không có tỉnh nào gió dữ bằng ở Gia Nghĩa. Ở Trung nguyên càng không thể có. Ở những thành phố khác, gió bất quá rung mái tôn, đập cánh cửa, bẻ gãy cây v.v… Gió ở đây, cách xa hàng cây số đã nghe nó lay động ầm ầm như đoàn công-voa xông tới. Trước khi nó ập tới, nó đã ra uy hung tợn.

    Ngựa trong phim cao bồi Viễn Tây phải chạy lộp cộp trên sườn núi lởm chởm làm lăn lóc từng viên đá trái. Ngựa dữ người hách mà chạy lịch bịch trên cỏ vườn, trên bãi cát, cũng mất cả hiên ngang. Gió cũng vậy. Gió có cái uy phong của nó. Nó cũng đòi một khung cảnh của nó.

    Chuyện cá trên núi

    Có nhà khảo cứu ngoài Bắc để ý đến một sự trùng hợp kỳ lạ trong tiếng nói của rất nhiều dân tộc sống trên đất ta và trên cả miền Đông Nam Á, sự trùng hợp ở danh từ dùng để gọi con cá: Tiếng Mường cũng là cá, tiếng Xá là ca, tiếng Puộc là ca, tiếng Mãng Ư là a, tiếng Thái là pa, tiếng Tày và Nùng là pia, tiếng Arem là ke, tiếng Vân Kiều là xia, tiếng Rục là ca, tiếng Bana và Stieng là ca, tiếng Lào và tiếng In-đô-nê-xi-a cũng là ca.

    Hãy viện trợ thêm vài bằng chứng nữa thuộc ngôn ngữ các dân tộc Tây nguyên Trung phần: tiếng Mnông và tiếng Mạ là ca, tiếng Sédang là ka, tiếng Radhé và Jarai là kan.

    Điều ấy có ý nghĩa gì? - Nhà khảo cứu suy diễn rằng có lẽ từ rất xa xưa, từ khi ngôn ngữ mới thành hình trong các dân tộc cùng sống trên dải đất Đông Nam Á, khi tiếng nói của từng dân tộc chưa chia biệt tách riêng, ngay từ thuở ấy con cá đã có tên gọi, đã được chú trọng, đã có vai trò lớn trong đời sống của các dân tộc nọ, đã quen thuộc, đã gần gũi với các dân tộc nọ.

    Cá quen thuộc và gần gũi với người theo cách riêng biệt của nó: cách chui đầu vào nơm vào đó, cách cắn câu!

    Bởi vậy, tại Bảo tàng viện Ba-lê, nhà khảo cứu để ý rằng trong sưu tập các loại dụng cụ đánh cá đan bằng nan trên thế giới, thì dụng cụ của dân Đông Nam Á là phong phú nhất.

    Tôi không được chứng kiến cái sự phong phú ấy tại Ba-lê. Nhưng một đêm ở Gia Nghĩa, được nghe kể về dăm ba hình thức bắt cá của người M’Nông và Mạ khá lý thú.

    Ông bạn người địa phương - một ông bạn từng đi lính dưới thời Pháp thuộc, đóng quân gần khắp nơi ở Cao nguyên, quá nửa đời người dành rất nhiều thì giờ cho các trò săn thú, bắn chim, đánh cá v.v… - Ông bạn ấy kể:

    - Người ở đây họ có thứ đó đan bằng ống lồ ô chẻ ra, khá hẹp. Bên trong, theo chiều dọc, họ buộc những cọng mây. Gai mây quay về một chiều, xuôi vào phía cuối đó: cá đi vào thì được, nhưng lúc muốn lui ra, ngược chiều gai mây, cá bị gai móc vào thịt.

    Anh Y Y… người Mạ, ngồi bên cạnh lấy làm thích thú về cái mưu mẹo của đồng bào mình. Anh phát lên cười, giải thích:

    - N’glẽ! Cái ấy, tên nó là n’glẽ.

    - Lại còn thứ này nữa, tựa như cái bẫy chuột ở dưới ta. Họ vây lại một khoảnh nhỏ, ngay lối ra vào có một cái cửa treo cao lên bằng cần bẩy. Khi cá vào bên trong đông đảo, tranh nhau ăn mồi, làm động cần bẩy, cửa sập xuống, giữ cá lại…

    Anh Y Y… sáng mắt lên, hãnh diện kêu:

    - Mar!

    Cái mar và cái n’glẽ không biết có chăng trong đám sưu tập phong phú nọ tại Bảo tàng viện Ba-lê, điều ấy không dám quyết. Duy hình thức bắt cá sau đây thì chắc chắn không được trình bày tại Ba-lê:

    - Người ta buộc con ong vào một đầu sợi chỉ, buộc trái bưởi vào đầu khác. Thứ bẩy ngộ nghĩnh nọ được quăng xuống nước: con ong bay lên bị sợi chỉ giật rơi trên mặt nước, lại bay rồi lại bị giật rơi xuống… Cứ thế đến một lúc con ong bị cá chú ý vì những xao động gây trên mặt nước. Nó bị một con cá đớp, nuốt. Ong đốt cá. Ban đầu cá còn sức mạnh để lôi trái bưởi chạy tung tăng, rút trái bưởi chìm sâu. Nhưng rồi cá đuối sức, trái bưởi lại nổi lên, trôi lững đững… Người ta đón ở phía dưới dòng nước, vớt bưởi và cá lên.

    Anh Y Y… lần này lắc đầu, không biết lối bắt cá ấy tên gọi là gì. Người Mạ không có lối đó chăng? Anh Y… về thành phố học hành quá sớm, không thông thạo về nghề cá của đồng bào mình chăng? Tôi ghi lại cả những lối anh Y… biết tên và cả lối mà anh không biết tên gọi. Một cuộc tìm tòi khảo sát nghiêm chỉnh của một người có kiến thức chuyên môn chắc chắn sẽ phát giác thêm nhiều cách thức kiếm sống gợi lại hình ảnh cuộc sinh hoạt của tổ tiên ta xưa kia.

    Trong lúc chúng tôi chuyện trò, ông cụ ở nhà trọ ngồi đánh chắn. Bên ngoài, trời tối như mực. Thành phố không đèn. Đóm bay thưa thớt lạc loài mấy con. Sương xuống ướt đầm cây lá trong vườn… Mười hai giờ đêm còn trông thấy ông cụ tám mươi tuổi già trong đám chắn; ba giờ sáng, chợt thức giấc, thấy ông cụ cây đèn cầy đi tìm cái điếu hút một điếu thuốc lào; năm giờ sáng lại bắt gặp ông cụ ngồi uống trà. Ông cụ phân trần: “Không ngủ được, ông ơi. Lắm đêm tôi chỉ chớp mắt được mươi phút, nửa giờ. Thế này còn khá; vào mua gió dữ thì suốt đêm thao thức. Ông nghĩ: Cả nhà con cháu ngủ cả, một mình thức chòng chọc, lẩm thẩm, quanh quẩn, như lén như lút! Tôi chỉ mong cho được chết. Sống chừng nầy như cái cây đã khô bên trong: không còn sinh thú gì nữa…”.

    Lên đây, nhà xã hội học lần dò về cuộc sống cổ sơ; còn những vị có đầu óc triết lý, trong khung cảnh này, bên cạnh các sức mạnh thiên nhiên hoang dại, các vị ấy sẽ có chán chê thì giờ để miệt mài suy tưởng về các vấn đề của cuộc sống, về ý nghĩa kiếp người.

    (10-1971)

    Cha cậu Thuột

    Ban Mê Thuột là một thị trấn lớn của Cao nguyên Trung phần. Có thời lừng lẫy, hồi 1955, nó từng là thủ phủ hành chánh cấp vùng. Từ đó, nó là một tên quen thuộc trong địa lý nước nhà. Ít người nghĩ rằng Ban Mê Thuột quen thuộc lừng lấy ấy, nằm giữa cao nguyên để nêu lên một vấn đề thân tộc học từ bao lâu nay mà không được chú ý đến.

    Ban Mê Thuột là lối phiên âm của người Pháp. Theo một cách giải thích tại địa phương, thực ra đó là “Buôn Ama Y Thuột”, nghĩa là: Làng của cha cậu Y Thuột.

    Không phải chỉ cậu Thuột mới có một người cha được xưng hô như thế: bao nhiêu đàn ông Rhadé khác đều thế cả. Tại thị xã Ban Mê Thuột hiện nay có con đường lớn mang tên Ama Trang Lơng (Cha của Trang Lơng là một chiến sĩ chống Pháp).

    Thiết tưởng không dễ tìm thấy những tên đường tên xứ đặt theo kiểu ấy ở nơi nào khác, trong nước hay ngoài nước ta, mặc dù lối gọi tên người của đồng bào Rhadé có phần nào giống với lối gọi của người Việt Nam dưới Kinh. Ở ta, tại thôn quê, đối với một người đã có con, ta cũng tránh gọi tên tục và chỉ gọi bằng tên con: ông Danh tức cha cậu Danh, bà Hòa tức mẹ cô Hòa v.v… Nhưng giữa ta và Rhadé vẫn có một chút khác biệt: Ta gọi tắt, đồng hóa tên cha với tên con; người Rhadé thì nói đầy đủ, minh bạch: ama, cha của…

    Chút khác biệt ấy đưa tới những dị đồng xa hơn.

    Người Rhadé sở dĩ phải minh bạch là vì một người đàn ông trong đời mình không phải chỉ “mượn” một tên con mà thôi. Lúc bé, cậu A được gọi là A; khi cậu có vợ, được gọi là chồng (ung nũ) cô B chẳng hạn; khi có con, được gọi là cha (ama) thằng C; đến ngày có cháu, lại được xưng là ông (ae nũ) bé D… Rắc rối thế, cho nên không thể không minh bạch.

    Trong tục lệ của ta dường như chỉ có một dụng ý tế nhị, tránh kêu đích danh một kẻ đã trưởng thành. Còn ở người Rhadé, trong cuộc sống sinh lý của con người sinh trưởng và truyền giống lại mai sau, mỗi thắng lợi đều được ca ngợi, tuyên dương trước tập thể: mỗi một lần đổi tên, người đàn ông như được thăng lên một trật… Nhưng ai dám vội nói nhiều về các ý nghĩa? Một địa danh, một chút xíu chứng cớ đó, bất quá nó chỉ có thể gợi lên vấn đề, khiến ta ngờ rằng ở đây có một quan niệm về tương quan thân thuộc ngộ nghĩnh. Trước khi rút được cái ý nghĩa của những khác lạ ngộ nghĩnh ấy, còn nhiều tìm tòi.

    Lối gọi tên của người Rhadé cũng thấy phổ biến ở xã hội M’Nông (ông Trang Lơng kể trên là người M’Nông), và ở sắc dân Jarai sống tại Phú Bổn. Nhưng người Jarai ở Pleiku không dùng lối gọi ấy.

    Người Jarai Pleiku thì lại có cái ngộ nghĩnh trong sự xưng hô. Ở đây, rể và dâu đều gọi chung là ană pơtâu; cha chồng, mẹ chồng, cha vợ, mẹ vợ, đều là tơhmua cả; anh rể, chị dâu đều là ai cả… Không phải người Jarai không phân biệt phái tính: chị là amai, anh là ayong, cha là ama, mẹ là ami v.v… Nhưng chỉ có sự phân biệt phái tính trong thân thuộc mình, còn đối với những thành phần “ngoại nhập” thì sự xưng hô thật là sơ lược, không cần quan tâm đến chuyện nam nữ.

    Những cách xưng hô của các sắc dân nọ hẳn là có phản ảnh cơ cấu thân tộc riêng biệt của họ, đối với của chúng ta có những chỗ khác nhau đáng chú ý. Những chỗ khác ấy không chắc sẽ còn tồn tại lâu dài, nếu không ghi nhận kịp thời, có thể một ngày kia sự tìm hiểu sẽ thành khó vì quá muộn.

    Hiện nay, tại các đơn vị quân đội trên cao nguyên, thỉnh thoảng gặp trường hợp một binh nhì mười tám tuổi khai tình trạng gia đình: một vợ chín con. Anh ta không nói dối: theo tục lệ, sau khi các người anh lớn qua đời, anh ta cưới chị dâu và nuôi tất cả đàn con của anh.

    Cũng hiện nay, trên Cao nguyên, nhiều gái thượng đi làm sở Mỹ, cũng lừa chồng đẻ con da trắng tóc vàng; cũng có đám con gái Thượng “bụi đời”, chống đối cha mẹ; lại cũng có những cô gái thượng lấy chồng Mỹ, và trao đổi thư từ ra rít với Californie, Texas v.v… Anh Dj… một người bạn Jarai đã lớn tuổi, kể lại nững nông nỗi ấy, rồi lắc đầu: “Vậy đó ông, không khác gì người Kinh”. Anh vội vàng tiếp theo: “Xin lỗi!” (Anh xin lỗi vì đã bảo người Thượng không thua người Kinh, hay bắt đầu ngao ngán về người Kinh?) Dù sao, quả thực trong nếp sống người Thượng đang có những biến chuyển nhanh chóng. Nhất là từ ngày buôn ấp bất an, người Thượng phải dồn về ấp tân sinh, các trại tạm cư gần đô thị.

    Con gái Thượng đã “bụi đời”, đã tiến hăng thế, sức mấy mà con trai mười sáu mười bảy chịu tiếp tục ôm lấy một bà chị dâu nhăn nheo với đàn con chín đứa? Cơ cấu thân tộc cũ chẳng bao lâu nữa sẽ tan vỡ.

    Thân tộc, cơ cấu, Claude Lévi-Strauss v.v… những món thời thượng đó, nhiều người vui lòng nói đến lắm. Nhưng nói với những dẫn chứng về dân Trobiandais, dân Pueblos, dân Iroquois, dân Esquimaux v.v… kia. Mấy khi có dẫn chứng về cuộc sống quanh ta? Những hành trình ra hành trình vào dân tộc học vẫn theo các con đường lạ hoắc. Giá có được cuộc hành trình bằng con đường ama Trang Lơng, ama Trang Gưh!

    Người không có mặt

    Trong trường hợp tiếng cá, ngôn ngữ đã gợi ý những suy đoán về một khía cạnh trong cuộc sống kinh tế của tổ tiên chúng ta và của nhiều dân tộc khác trên cùng giải đất Đông Nam Á xưa kia.

    Suy đoán như thế không thể không nguy hiểm. Chẳng hạn trong các thứ tiếng Bahnar, M’Nông, Mạ, thì “rẫy” đều được gọi chung là mir cả, “ăn” đều được gọi chung là sa cả. Tốt quá, chúng ta sắp sửa kết luận về sự gần gũi giữa ba ngôn ngữ này. Nhưng kìa, “đi” thì M’Nông nói hán, người Mạ nói lot, người Bahnar nói bỗk! Ô hay, tại sao ăn thì giống nhau mà đến khi đi lại hoàn toàn khác nhau, chia rẽ nhau?

    Lại chẳng hạn Việt Nam ta gọi lá, người Chàm gọi hala, người Rhadé gọi hla v.v… Được lắm. Nhưng đến “cây” thì mỗi đàng nói mỗi khác.

    Lại nữa, Việt gọi đất, Mạ gọi tiah, M’Nông gọi neh, Bahnar gọi teh… Nghe gần nhau lắm. Nhưng hỡi ôi, khi nói đến trời thì Mạ bảo là tơngai, M’Nông bảo là nar.

    Vì sao đi không được như ăn, cây không được như lá, trời không được như đất? Những rắc rối đó, kẻ phàm tục không nên lao vào, hãy dành cho các tay chuyên môn. Những tay này chịu khó lần dò, chắc chắn có ngày sẽ phát giác ra lắm điều bất ngờ về những liên hệ phức tạp, phiền toái mà sâu xa, giữa các dân tộc anh em trên đất nước ta.

    Vậy kẻ phàm tục khôn ngoan lẽ ra nên dựa cột đứng ngoài. Nhưng kẻ phàm tục đôi khi không dễ dàng giữ được thái độ khôn ngoan trước một vài cám dỗ mạnh mẽ.

    Ở đây, sự cám dỗ là cái mặt.

    Đối với các bộ phận nhân thể, nhiều sắc dân ở Cao nguyên vẫn mượn ngôn ngữ của nhau để gọi: cái “lưng” thì người Jarai, Bahnar, Sedang đều gọi là tơneo; cái “ngực”, người Jarai, Bahnar đều gọi là rơtơh; cái “đầu’, người Rhadé, người Sedang, người Jarai cùng gọi là ko, người Chàm gọi ako… Những tiếng ấy không có gì gần giống với tiếng Việt Nam.

    Nhưng đến cái mặt, thì người Mạ, người Bahnar, người M’Nông đều dùng hẳn tiếng Việt, người Sedang dùng một tiếng tương tự là ma. Như vậy phải chăng trước khi tiếp xúc với người Kinh, nhiều sắc dân thiểu số ở ta chưa có tiếng dùng để chỉ cái mặt? Họ đã có những tiếng chỉ từng lỗ mũi, con mắt, cái tai v.v…, nhưng cái mặt thì chưa.

    Trường hợp bất thường trong ngôn ngữ này ngộ nghĩnh vì nó có chút phù hợp với một đặc điểm trong lối điêu khắc của các sắc dân thiểu số Cao nguyên.

    Một họa sĩ miền Bắc, ông Nguyễn Phi Hoanh, nhận xét rằng ở các sắc dân Sedang, Jarai v.v… có thứ nghệ phẩm đặc sắc là những tượng gỗ để chung quanh mồ mả. “Chỗ lý thú trong tượng này là quan niệm về tạo hình của đồng bào. Hình dáng thân người và tay chân thì rất đơn giản không có gì lạ: chỉ có cái mặt là đáng chú ý. Cũng như nhiều dân tộc ở châu Phi, đồng bào Gia-rai, Sơ-đăng v.v… không nhìn vào hình khối của khuôn mặt mà chỉ thấy chi tiết như mắt, mũi, miệng trên một nền bằng có chu vi theo khuôn mặt; do đó đầu người giống như một phù điêu cắm trên thân là tượng tròn”.

    Mặt đã không có trong tiếng nói, lại không có trên tượng người. Vậy, những đồng bào thiểu số ấy trông không thấy cái mặt, nghĩ không ra cái mặt.

    Trông không thấy? Không thể bảo giữa người Kinh và người Thượng ấy có sự hơn kém, sự khác biệt về thị giác. Thực ra, đây là chuyện nhận thức, quan niệm. Sở dĩ không thấy được là vì không quan niệm được cái mặt.

    Mà cái mặt nó có là gì đâu? Chân tay, mũi, miệng v.v…, chúng là những bộ phận cụ thể; còn cái mặt, cái ót, cái gáy, cái màng tang (thái dương) v.v… thì đó chỉ là những phía, những khu vực khác nhau của một vật cụ thể là cái đầu mà thôi. Đối với đầu thì mặt chỉ là một phía; đối với lỗ tai, con mắt, cái mũi…, mặt chỉ là một cái nền. Có tên gọi cũng được, không có tên gọi cũng được. Nó không phải là một bộ phận riêng rẽ, độc lập. Để tách rời cái gọi là khuôn mặt khỏi cái khối cụ thể là đầu người, phải có một cố gắng trừu tượng hóa. Một cố gắng trong sự quan niệm, suy tưởng; không phải một cố gắng của thị giác để nhìn cho rõ.

    Một số dân tộc thiểu số ở ta, nhiều dân tộc khác ở châu Phi không biết có khuôn mặt, một cái sờ sờ trước mắt, như thế phải chăng là ở một trình độ nào đó, khả năng trừu tượng hóa chưa phát triển đủ để khiến con người nhận ra cái mặt? Nếu có vậy, trình độ khả năng này hình như cũng không cần cao lắm: người Việt ta, người Chàm, người Tàu v.v… đều có tiếng riêng để gọi cái mặt từ xa xưa; khi tiếp xúc nhau thì bên nào bên ấy đều đã có sẵn, không cần mượn của nhau. Một số sắc dân Thượng ở Cao nguyên cũng đã có tiếng riêng để chỉ cái mặt.

    Dù sao, suy diễn đến thế đã là chuyện phiêu lưu, rất đáng ngại.

    10-1971

    Hết.

    Nguồn: Đất nước quê hương. Tùy bút của Võ Phiến. Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn, 1973. Bản điện tử của www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập36,532,010

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/