Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,038,154

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Đọc thơ Trần Nhân Tông

Nguyễn Lương Vỵ

  • Thứ sáu, 12:11 Ngày 19/02/2021
  • Trước hết, Điều Ngự Giác Hoàng dành 20 câu thi kệ đầu (4 đoạn) để chỉ ra sự nguy hại của thái độ định kiến, chấp thủ đối với hai phạm trù Có và Không. Những định kiến, chấp thủ (cũng gọi là chấp thủ trong vô minh) do không thấu hiểu về bản-chất-như-thật-của-chính-nó, thì rất dễ gây nên những tác hại nguy hiểm giống như “chàng đầu hạp não” (đập đầu méo óc), “phạm đao thương phong” (phạm vào dao kiếm, bị thương vì mũi nhọn) hay phí công vô ích như “đả ngõa toàn quy” (khoan rùa đập ngói), “đăng sơn thiệp thủy” (lên núi lội sông), “khắc chu cầu kiếm” (khắc thuyền mò gươm), “sách ký án đồ” (so tranh tìm ngựa),”lạp tuyết hài hoa” (lấy tuyết làm nón, lấy bông làm giày), “thủ chu đãi thố” (ôm gốc cây đợi thỏ).

    Nguyên nhân chính của việc định kiến, chấp thủ Có / Không này là không nhận rõ sự sanh khởi và đoạn diệt của tất cả các pháp là do Duyên Khởi (Nghĩa là: Do cái này Có nên cái kia Có / Do cái này Không nên cái kia Không / Do cái này Sinh nên cái kia Sinh / Do cái này Diệt nên cái kia Diệt - Kinh Phật Tự Thuyết). Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật nói: “Ai thấy Duyên Khởi tức là thấy Pháp. Ai thấy Pháp tức thấy Như Lai.” Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật nói: “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm sanh khởi.”

    Thật vậy, chúng ta sẽ không có bất cứ nhận thức hay cảm nhận nào về bất cứ Pháp gì nếu như trước đó, chúng ta không có sự hướng tâm hay Tác Ý tới Pháp đó. Nếu có Tác Ý, tức là ngay lúc đó, Ý tiếp xúc với Pháp, lập tức Ý khởi lên, sự phối hợp đó gọi là Xúc, nhân có Xúc cho nên có Cảm Thọ, nhân có Cảm Thọ nên có Ái Dục, nhân có Ái Dục nên có Chấp Thủ, nhân có Chấp Thủ nên có Hữu, nhân có Hữu nên có Sanh, nhân có Sanh nên có Già Chết, và toàn bộ Khổ Uẩn tập khởi. Khi Tâm không có Tác Ý, thì không có Tham-Sân-Si, tuyệt nhiên không có một vật nào xuất hiện (Bổn lai vô nhất vật - Câu cuối trong bài kệ đắc pháp của thiền sư Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn). Đây là điều hết sức vi diệu mà chúng ta cần tỉnh thức suy nghiệm và hành trì tu tập mới có thể thấu hiểu được. Vì sao? Vì đức Thế Tôn là người chỉ nói lời chân chánh, không có vọng ngữ: “Như Lai là người nói sao làm vậy, làm sao nói vậy.” Khi đức Thế Tôn nói: “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm Sanh Khởi”, đó chính là nói đến sự vận hành của Tác Ý: Nghĩa là khi có Tác Ý xảy ra, thì các Pháp sẽ sanh khởi và đưa tới chấp Hữu, nếu chúng ta không đích thực tuệ tri. Điều này đúng với tất cả các Pháp.

    8 câu thơ của 2 đoạn kế tiếp chính là tâm điểm, huyết mạch của bài thi kệ:

    Hình ảnh có tính ẩn dụ trong câu “chấp chỉ vong nguyệt” (nhớ ngón tay mà quên trăng) xuất phát từ câu trả lời của đức Phật khi có người hỏi: “Giáo pháp của Ngài có phải là một học thuyết hay chủ thuyết chăng?” Câu trả lời của đức Thế Tôn đại ý rằng: “Giáo pháp của Như Lai là một phương tiện để đi vào thực-tại-hiện-tiền chứ không phải để miêu tả thực-tại-hiện-tiền”. Vì vậy,"Giáo pháp của Như Lai giống như ngón tay chỉ lên mặt trăng.” (kinh Viên Giác, chương Thanh Tịnh Tuệ). Như vậy, ngón tay là phương tiện, mặt trăng là mục đích. Mối quan hệ giữa phương tiện và mục đích tuy có tính biện chứng mật thiết, nhưng người hành trì tu tập cần hết sức cẩn trọng để khỏi rơi vào hai cực đoan, nhầm lẫn hay chấp thủ giữa phương tiện và mục đích. Vì vậy, Văn-Tư-Tu chính là phương tiện thiện xảo giúp cho người hành trì tu tập đạt được Giới-Định-Tuệ, nhằm thể nhập vào thể tánh của thực-tại-hiện-tiền, tức chân tánh. Nếu cứ “Chấp chỉ vong nguyệt” (Nhớ ngón tay mà quên trăng) thì tất yếu sẽ dẫn đến “Bình địa lục trầm” (Vùi thây đất nọ), tức là chìm đắm vào bi kịch trầm kha trong vô minh tự cổ chí kim của con người mà thôi. Định kiến, chấp thủ thì không bao giờ đi vào Trung Đạo để Kiến Tánh được. Đây cũng là lời cảnh báo rất hệ trọng về phương pháp hành trì tu tập.

    “Bát tự đả khai” (Tám chữ tháo tung): Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “Tám chữ” trong câu nầy, xuất phát từ câu trích trong kinh Niết Bàn: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” (Sinh diệt nếu diệt rồi, thì tịch diệt là vui). Như vậy, khi đã thấu hiểu “Bát tự đả khai” (Tám chữ tháo tung) thì sẽ “Toàn vô ba tị” (Không còn gì để nói nữa!) Đến đây thì không còn chấp thủ gì với ngón tay (phương tiện) vì ngón tay đã chỉ đúng, đã giúp cho hành giả nhận ra mặt trăng (mục đích) rồi, thì hành giả cứ thong dong bước vào Trung Đạo, tự mình hành trì tu tập để đạt mục đích tối thượng là liễu ngộ chân tánh của vạn pháp!

    8 câu thơ của 2 đoạn thi kệ cuối cùng, Điều Ngự Giác Hoàng còn khuyên hành giả phải dẹp đi những “A thích thích địa / Náo quát quát địa” (Lải nhải lằng nhằng / Om sòm tranh cãi) và phải “tiệt đoạn cát đằng” (dứt bỏ mọi việc rối rắm như dây bìm leo) thì mới vượt lên được và không còn kiến chấp, chấp thủ với hai khái niệm Có và Không, lúc đó mới thấu suốt được thực-tại-hiện-tiền của pháp giới Duyên Khởi, đạt được tự tại thanh tịnh, tức chân tánh của vạn pháp.

    Có và Không cũng là câu hỏi lớn của nhân loại từ ngàn xưa của các nền triết học, tư tưởng lớn Đông Tây.

    Như được biết, nền triết học Hy Lạp cổ đại, khởi đi từ Parmenides, triết gia thời tiền Socratic, đã sớm nhận ra: “Thinking and Being is the same” (Tư Duy và Hiện Hữu là một). Điều này có nghĩa là Hiện Hữu, tức phạm trù Có mang ý nghĩa rằng, nó chỉ Có trong tư duy, trong khái niệm mà thôi. Cho nên, Có, chỉ là một phạm trù quy ước. Cái Có này là vô thường, luôn luôn biến hoại đoạn diệt. Vì thế, Có, chỉ nên được thiết lập tạm thời để phơi bày đặc tính duyên khởi của nó, không nên chấp thủ, khẳng định nó. Ngược lại, trong khi nó đang-là, không cần thiết phải mang khái niệm Không để phá hủy cái đang-là của nó. Khi nào hết duyên, nó sẽ tự nhiên Không.

    Lão Tử, nhà triết học Trung Quốc cổ đại, khi giải thích bản thể của vũ trụ, cũng đã nói trong Đạo Đức Kinh: “Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” (Vạn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ Hữu, Hữu sinh ra từ Vô).

    Từ Đạo Hạnh, một thiền sư lỗi lạc của nước ta, đời nhà Lý, cũng đã có bài thi kệ “Hữu Không” rất uyên áo thâm viễn:

    “Tác Hữu trần sa Hữu

    Vi Không nhất thiết Không

    Hữu Không như thủy nguyệt

    Vật trước Hữu Không Không.”

    (Khởi niệm, tác ý Có thì từ hạt bụi đến hạt cát li ti cũng Có. Khởi niệm, tác ý Không thì cả vũ trụ này cũng Không. Cái Có cái Không kia cũng giống như ánh trăng trên mặt nước. Đừng chấp vào cái Không của Có-và-Không!” [Đừng lầm tưởng cho rằng cái Có cái Không ấy là không có]).

    Thiền sư Huyền Quang, tổ thứ 3 của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử dịch:

    (Có thì Có tự mảy may

    Không thì cả thế gian này cũng Không

    Kìa xem bóng nguyệt lòng sông

    Ai hay Không-Có Có-Không là gì!)

    Bài thi kệ của ngài Từ Đạo Hạnh cũng là ngụ ý cảnh báo chúng ta không nên chấp thủ vào Có và Không để thấu suốt chân tánh của vạn pháp.

    Gần với chúng ta hơn, thế kỷ 15, câu “To be or not to be, that is question” (Tồn tại hay không tồn tại, đó là vấn đề), là câu hỏi lừng danh trong vở kịch “Hamlet” của William Shakespeare, nhà viết kịch, nhà tư tưởng vĩ đại của nước Anh. Đến thế kỷ 19, phạm trù về “Being” (Cái-đang-là, hữu thể, hiện thể, hiện tồn), là chủ đề chính về bản thể luận (ontology) của Martin Heidegger, nhà triết học lừng danh của nước Đức, chuyên nghiên cứu về Hữu thể và Thời Gian (Being and Time) cũng xuất phát từ câu hỏi lớn như trên. Với tác phẩm này, Heidegger tiếp tục tư duy theo chiều hướng của Parmenides, khảo sát Có (Being) trong mối liên hệ mật thiết với Dasein (Dasein, là thực tại Người được nhận diện qua hai đặc tính căn bản là một hiện hữu biết tư duy và có khả năng cảm xúc tồn tại trong một bối cảnh không gian và thời gian đang-là, tức là đang-đi-đến cái Không).

    Như vậy, Có và Không chỉ là qui ước tạm thời về nhận thức, không phải là cái để ta kiến chấp, chấp thủ. Hiểu được như vậy thì mới có thể thoát ra khung cửa nhị nguyên Có và Không, để trực nhận về Cái-Đang-Là, về Thực-Tại-Hiện-Tiền của nguyên lý Duyên Khởi.

    Thiết nghĩ, chỉ có thấm nhuần trí huệ của Phật pháp, cùng với nỗ lực tự tu, tự chứng, tự mình đoạn tận tất cả các kiến chấp, chấp thủ tiềm tàng ở nội tâm thì mới đạt được nhận thức viên mãn, siêu vượt lên Có và Không, thể nhập và liễu ngộ được chân tánh của vạn pháp, tức Phật tánh trong bản thân mình.

    Tóm lại, bài thi kệ “Hữu Cú Vô Cú” của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, cách nay đã trên 700 năm, với ngôn ngữ diễn đạt giản dị như một bài đồng dao đầy Việt tính, nhưng đã chuyển tải những ẩn dụ hàm súc, thâm diệu của Phật pháp, giúp cho chúng ta biết cách buông bỏ những kiến chấp, chấp thủ về Có và Không, đạt tới chánh kiến viên mãn, thấu suốt Thực-Tại-Hiện-Tiền để tự mình quay về chân tâm, liễu ngộ Phật tánh. Thật là điều rất đáng kính ngưỡng và tri ân vậy.

    *

    Sách Thánh Đăng Ngữ Lục có ghi đại ý rằng: Tháng Mười năm Mậu Thân (1308), nhận được tin công chúa Thiên Thụy ốm nặng, Điều Ngự Giác Hoàng từ Yên Tử về thăm. Sau khi vấn an công chúa, Ngài lại quay trở về Yên Tử. Đi được nửa đường, Ngài nghỉ tại ngôi chùa làng ở hương Cổ Châu. Sáng hôm sau, trước khi lên đường, Ngài viết lên vách tường của ngôi chùa bài thơ “Đề Cổ Châu Hương Thôn Tự” (Đề Thơ Nơi Chùa Làng Cổ Châu):

    “Thế số nhất tức mặc,

    Thời tình lưỡng hải ngân.

    Ma cung hồn quản thậm,

    Phật quốc bất thăng Xuân.”

    (Số đời, một hơi thở,

    Tình người, đôi mắt thôi.

    Cung ma nhốt chặt hết,

    Xứ Phật rợp Xuân rồi.)

    “Thế số nhất tức mặc” (số phận đời người giống như một hơi thở ra hít vào), thở ra mà không hít vào thì xem như một đời người sẽ kết thúc. Vì vậy, Sống-Chết mong manh như hơi thở mà thôi. “Thời tình” (tình của đời người) chỉ là “lưỡng hải ngân” (đôi mắt). Nếu thấy thấu suốt điều ấy thì sẽ liễu ngộ lẽ Sống-Chết, vượt thoát hết “ma cung” đã từng “hồn quản thậm” (hồn bị nhốt chặt, khóa chặt hết) mọi chúng sinh. Chỉ có liễu ngộ lẽ Sống-Chết được như vậy thì mới “Phật quốc bất thăng Xuân” (Xứ Phật tràn ngập màu Xuân khôn xiết kể) được.

    Cũng vậy, khi mở đầu cho một bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm bằng bài thi kệ 4 câu (trích trong sách Trần Nhân Tông Toàn Tập của giáo sư Lê Mạnh Thát, đặt tựa bài là “Thân Như”):

    “Thân như hô hấp tỵ trung khí,

    Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân.

    Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,

    Bất thị tầm thường không quá xuân.”

    (Thân như hơi thở ra vào mũi,

    Đời tợ gió vờn mây đỉnh xa.

    Đỗ quyên xót tiếng trăng ngày sáng,

    Chớ lụy tầm ruồng xuân luống qua.)

    Thiết nghĩ, đây cũng là sự chiêm nghiệm về Ngũ Uẩn Giai Không của Phật pháp. Phải thấu suốt bản chất mong manh, tạm bợ, vô thường, không thật của Năm Uẩn, để từ đó xa rời mọi kiến chấp, thủ chấp, sân hận, đố kỵ, tham luyến, nhằm đạt đến cảnh giới thanh tịnh, an lạc. Hai câu thi kệ cuối trong bài “Thân Như” nầy giống như lời cảnh báo, thức tỉnh: Hãy quay về chân tâm của chính bản thân mình mà tự thực nghiệm, thực chứng để thấu triệt, liễu ngộ Ngũ Uẩn Giai Không thì mới mong kiến tánh, giải thoát.

    “Kệ Vân” là bài thi kệ nằm ở phần cuối cùng, kết thúc cho bài Phú bằng chữ Nôm của Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Cư Trần Lạc Đạo Phú” (Bài Phú Sống Với Đời Vui Với Đạo). Đây là một bài phú tuyệt hảo, tuệ giác thâm diệu, tóm thâu tinh túy cô đọng nhất tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo” của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Bài phú gồm có 10 hội, kết thúc bằng bài “Kệ Vân” (trích nguyên văn dưới đây), đã trở thành tư tưởng cốt yếu, là kim chỉ nam tu tập hành trì của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cho đến tận ngày nay. Đối với Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Phật pháp đã, đang và mãi mãi hiện diện trong cuộc đời nầy. Cuộc đời rất Thật mà cũng rất Ảo. Vì vậy, không có sự cách ly phân biệt giữa Đạo và Đời. Phật pháp nằm chính ngay trong lòng cuộc đời. Người tu tập hành trì Phật pháp phải thấu triệt tư tưởng đó, ung dung tự tại, để đạt đến “vô tâm đối cảnh,” giác ngộ chân tánh:

    “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

    Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

    Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

    Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”

    (Ở đời vui đạo, cứ tùy duyên,

    Đói phải ăn thôi, mệt ngủ liền.

    Của quí trong nhà, tìm đâu nữa,

    Vô tâm đối cảnh, hỏi chi thiền?)

    Bài thi kệ “Thị Tịch”, cũng là bài thi kệ cuối cùng của Trần Nhân Tông. Trong sách Trần Nhân Tông Toàn Tập của giáo sư Lê Mạnh Thát có ghi, đại ý: “Ngày mồng một tháng 11.1308, vào lúc nửa đêm, sao mai sáng rực, Thượng hoàng hỏi Bảo Sát: “Lúc này mấy giờ rồi?”. Bảo Sát trả lời: “Giờ Tý”. Thượng Hoàng dùng tay mở cánh cửa sổ ra nhìn rồi nói: “Đây là giờ ta đi”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu?”. Thượng hoàng nói bài thi kệ sau đây:

    “Nhất thiết pháp bất sinh,

    Nhất thiết pháp bất diệt.

    Nhược năng như thị giải,

    Chư Phật thường hiện tiền,

    Hà khứ lai chi hữu.”

    (Hết thảy pháp không sinh,

    Hết thảy pháp không diệt.

    Nếu thấu suốt như vậy,

    Chư Phật luôn hiện tiền,

    Chốn nào đi đến nữa?!)”

    “Không sinh không diệt, không đến không đi”. Đó cũng chính là Chân Không Diệu Hữu của vạn pháp. Trong khoảng không-thời-gian vô thỉ vô chung, mọi sự vật, về thực chất, là sự vận hành do Lý Duyên Khởi tác động, chuyển đổi, chuyển hóa từ một thể dạng nầy sang một thể dạng khác. Do chấp thủ, định kiến nên chúng ta không thấy ra dòng chảy bất tận của vạn pháp, rồi cho rằng cái nầy sinh, cái kia diệt, cái kia đến, cái nầy đi. Nếu thấy được “Nhất thiết pháp bất sinh / Nhất thiết pháp bất diệt” thì “Chư Phật thường hiện tiền”, “Chư Phật” cũng là Chân Như, Chân Tánh. Đây cũng chính là bài kệ đắc pháp thâm diệu của vị Phật hoàng vậy.

    Lời Kết

    Thơ Trần Nhân Tông, bắt nguồn từ Phước Duyên rất lớn và cũng là kết quả của nỗ lực bản thân hành trì tu tập của thiền-sư-thi-sĩ.

    Trải qua quá trình Văn-Tư-Tu, thâm nhập Giới-Định-Tuệ một cách kiên trì, kham nhẫn ngay từ lúc còn rất trẻ cho đến cuối cuộc đời, ngài Điều Ngự Giác Hoàng đã liễu ngộ đươc lẽ Có-Không, Sinh-Tử, cảm nhận thấu đáo Ngũ Uẩn Giai Không nhờ cái thấy xuyên suốt Thực-Tại-Hiện-Tiền. Vì vậy, thơ Trần Nhân Tông không chỉ dừng lại ở giá trị nghệ thuật thi ca đơn thuần, mà đáng kể hơn là tầng sâu rộng hoằng viễn, uyên áo về tư tưởng của Phật pháp. Đặc biệt nhất là tư tưởng Cư Trần Lạc Đạo, cũng là linh hồn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, mà Điều Ngự Giác Hoàng là vị tổ sáng lập, dung hợp mật thiết giữa Đời và Đạo, vừa nhập thế tận hiến cho Nước cho Dân, vừa kiên trì kham nhẫn tu tập hành trì, liễu ngộ tâm Bát Nhã.

    Đọc thơ Trần Nhân Tông, kẻ hậu bối nầy tự biết sức đọc, sức học, sức thấy, sức cảm thụ còn thô lậu nông cạn. Nhưng do lòng kính ngưỡng, quí trọng ngay từ thời trai trẻ đối với một vị minh quân đỡm lược hiếm có trong lịch sử dân tộc, một vị thiền-sư-thi-sĩ liễu ngộ thâm sâu hoằng viễn Phật pháp, nên bản thân đã tự nguyện dồn hết tâm lực tra cứu, nghiền ngẫm, lắng lòng vào thơ vào kệ, viết xuống những dòng cảm nhận chân thành nầy, kèm theo bài thơ cảm ứng dưới đây (viết từ tháng 07.2015) tạm gọi là bày tỏ lòng kính ngưỡng và tri ân sâu nặng đối với bậc tiền bối:

    CẢM ỨNG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG

    1.

    người lính già kể chuyện nguyên phong

    rù rì theo sắc nắng thương mong

    đầu bạc bên chiêu lăng lặng lẽ

    tình quê nợ nước vẫn chưa xong

    2.

    một hơi thở một đời thế thôi

    gió cuốn đi thực mộng quên rồi

    chùa làng lưu lại câu tâm bút

    thơ bay đi theo mây rong chơi

    3.

    núi bảo đài thơm ngát ánh trăng

    đời đang trôi như thầm nhủ rằng

    năm tháng xa gần nâng sáo ngọc

    nửa bóng râm và nửa tuyết băng

    4.

    mây giăng ảo diệu trên yên tử

    chuông chiều thở nhẹ quanh thiền tự

    cánh hồng rụng nhớ cánh bướm bay

    nệm cỏ sư ngồi tứ niệm xứ

    5.

    thị phi hoa rơi rụng buổi sáng

    lợi danh lạnh theo mưa ban đêm

    bật một que diêm trong im vắng

    rít điếu thuốc tàn chẳng nghĩ thêm

    6.

    xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

    sơn hà thiên cổ điện kim âu

    đời nay ngu ác đày dân khổ

    trào đình hèn mạt sợ thằng tàu

    7.

    thơ là kệ hay kệ là thơ

    hỏi làm chi xác chữ cứng đơ

    thần hồn tạnh ráo sáng con mắt

    pháp không sanh không diệt sang bờ

    8.

    tịch mịch rền câu có câu không

    thuở anh niên đội nắng băng đồng

    trời chẳng nói và đất chẳng nói

    nắng đầu xuân gọi nắng đầu đông

    9.

    tịch mịch vui trăng non vừa nhú

    tịch mịch sầu vớt lên tuyệt cú

    sông thu vừa hớp ngụm sương mai

    trời thu vừa nở thêm một nụ.

    Calif., Westminster, hoàn tất bản thảo vào mùa Thu 2016, hiệu đính cuối tháng 12.2016

    Nguyễn Lương Vỵ

    __

    1. Phần trích thơ Trần Nhân Tông: Chỉ trích phần phiên âm nguyên tác chữ Hán và phần phỏng dịch thơ Việt của người viết. Riêng 2 cặp thơ lẻ (còn gọi là phiến) ngôn ngữ và ý nghĩa khá rõ ràng, người viết dựa theo các bản dịch thơ trước đây.

    2. Duyên khởi ( , Pali: Paṭiccasamuppāda), cũng được gọi là Nhân Duyên Sinh ( ), và vì bao gồm 12 thành phần nên cũng có tên khác là Thập Nhị Nhân Duyên ( ). Duyên Khởi là một trong những giáo lý trọng yếu nhất của Phật pháp. Thuyết này chỉ rõ là mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm các loài hữu hình cứ mãi vướng mắc trong Luân Hồi SinhTử. Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:

    . Vô minh ( ), sự không thấu hiểu Tứ Diệu Đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống.

    . Vô minh sinh Hành (), hành động tạo Nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý.

    . Hành sinh Thức (), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định.. Thức sinh Danh Sắc ( ), là toàn bộ tâm lý và vật lý của bào thai mới, do Ngũ Uẩn tạo thành.

    . Danh sắc sinh Lục Căn (六根), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu). Lục Căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc ().

    . Xúc sinh Thọ (), là cảm nhận của con người với thế giới bên ngoài.

    . Thọ sinh Ái (), tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh.

    . Ái sinh Thủ (), còn gọi là Thủ Chấp, là điều cá nhân muốn chiếm lấy cho mình.

    . Thủ dẫn đến Hữu (), là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.

    . Hữu dẫn đến Sinh (), là cuộc sống hàng ngày, bao gồm dục là tham ái và lòng ham muốn.

    . Sinh dẫn đến Lão Tử ( ), vì có Sinh nên có Già Chết.

    3.“Tất Cả Pháp Lấy Tác Ý Làm Sanh Khởi”: Nguyên bản Pali của câu này là: “manasikārasambhavā sabbe dhammā”. Bản dịch tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu là “All phenomena come into play through attention”. Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là : “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm sanh khởi”.

    4. Thiền sư Huệ Năng (638-713), là vị Tổ thứ sáu của Thiền tông nước Tàu, môn đệ của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Ngài là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là “Kinh” (một từ thường được dùng để chỉ những lời dạy của đức Phật Thích Ca), đó là “Pháp Bảo Đàn Kinh,” có ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Bài kệ đắc pháp của ngài Huệ Năng như sau: "Bồ đề bổn vô thụ, / Minh kính diệc phi đài. / Bổn lai vô nhất vật, / Hà xứ nhạ trần ai.” (Bồ đề vốn chẳng là cây, / Gương sáng cũng chẳng phải là đài. / Xưa nay không một vật nào cả, / Nơi nào dính bụi trần?).

    5. Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116): Tục gọi là đức thánh Láng, là một thiền sư thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại. Dân chúng lập đền thờ ông tại chùa Thiên Phúc (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội), tục gọi là chùa Thầy và chùa Láng, chùa Nền ở Hà Nội. Hàng năm, lễ hội chùa Thầy được mở vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, tương truyền là ngày ông viên tịch.

    6. Thiền sư Huyền Quang (1254-1334): Tên thật là Lý Đạo Tái, người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay là làng Vạn Tải, xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông học rất giỏi, đỗ cả thi Hương, thi Hội. Về sau, ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi khoảng năm 1272 hay 1274 và được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình nhà Trần, tiếp sứ Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau này, ông từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Là một Thiền sư Việt Nam, tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Ông là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa, ông được xem là một Đại thiền sư của Việt Nam.

    7. William Shakespeare (1564-1616): Là nhà thơ, nhà viết kịch người Anh, được coi là nhà thơ vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại. Ông cũng được vinh danh là nhà thơ tiêu biểu của nước Anh và là “Nhà thơ của Avon” (Avon là quê của Shakespeare, viết tắt của Stratford-upon-Avon). Những tác phẩm của ông, bao gồm cả những tác phẩm hợp tác, bao gồm 38 vở kịch,154 bản sonnet, 2 bản thơ tường thuật dài, và vài bài thơ ngắn. Những vở kịch của ông đã được dịch ra thành rất nhiều ngôn ngữ và được trình diễn nhiều hơn bất kì nhà viết kịch nào.

    8. Martin Heiderger (1889-1976): Triết gia người Đức. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: "Hữu thể và Thời Gian," đây là tác phẩm đã đưa ông trở thành nhà triết học có tầm vóc lớn trong thế kỷ 20 và có ảnh hưởng sâu rộng cho đến ngày nay, được xuất bản năm 1927; “Kant và vấn đề siêu hình học”; “Nhập môn siêu hình học” (1935); “Học thuyết Platon về chân lý” (1942); “Bức thư về chủ nghĩa nhân bản” (1947); “Những con đường rừng” (1950); "Những bài thuyết trình và những bài viết" (1952); “Tư duy là gì” (1954); “Nietzsche” (1961) và một số tác phẩm chưa ấn hành.

    Nguồn tham khảo chính: Thơ Văn Lý Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1989) - Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông Toàn Tập, NXB TPHCM, 2000 - Nguyễn Huệ Chi, Văn Học Cổ Cận Đại Việt Nam, Từ Góc Nhìn Văn Hóa Đến Các Mã Nghệ Thuật, NXB Giáo Dục, 2013 - Các trang mạng wikipedia.org - thuvienhoasen.org - thivien.net.

    Hết.

    Nguồn: Thơ Trần Nhân Tông. Nguyễn Lương Vỵ phỏng dịch và giới thiệu. NXB Q&P - Sống, California, kết hợp với Amazon phát hành trên mạng toàn cầu, 4.2017.

    Mục lục: 1 2 3

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,038,154

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/