Search

Access times

  • Total visits42,919,841

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Nguyên Ngọc - Đất và Nước

Xuân Cang

  • Tuesday, 03:52 Day 28/10/2008
  • Tôi và Nguyên Ngọc có chút kỷ niệm về Toán Hà Lạc. Ngày ấy biết tôi bắt đầu nghiên cứu về Hà Lạc, ông cho tôi biết ngày giờ sinh và bảo tôi làm cho một bài toán. Khi cấu trúc Hà Lạc của ông hiện lên, tôi ngắm nhìn, liên tưởng đến hành trình văn học của ông và bỗng giật mình: Hầu như toàn bộ sáng tác của ông phản ánh hết sức đầy đủ, rõ ràng, cái mệnh vận trời đất đã cho ông. Ta hãy coi: quẻ tiên thiên, tiền vận của ông là Địa Phong Thăng, nguyên đường hào 3, quẻ hậu thiên, hậu vận của ông là Thủy Địa Tỷ. Tượng thiên nhiên thẩm thấu vào khí chất con người ông là Đất, Cây (gió), Nước. Thế thì tác phẩm của ông mang những cái tên: Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Rừng xà nu, Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, Đất Quảng... Thậm chí khi ông đi thực tế một vùng công nghiệp, ông cũng viết: Mạch nước ngầm. Hình như ông không đi đâu ra khỏi Đất và Nước. Những nhận biết đầu tiên ấy, ý tưởng ấy cứ xoáy vào trong tôi để sau đó tôi làm cuốn sách này. Cấu trúc Hà Lạc ứng nghiệm với tất cả mọi người trên trái đất, nhưng đặc biệt ứng nghiệm với giới nhà văn (có thể rộng ra, với văn nghệ sĩ) là vì sao? Là vì nhà văn không bao giờ giấu được mình. Khí chất, mệnh vận, tính cách văn chương của anh nó cứ phơi bày ra trên trang giấy, không dưới hình thức này thì dưới hình thức khác. Văn chương của một người chính là một bản sao hành trình số phận của anh ta.

    Nhà văn Nguyên Ngọc sinh vào giờ Mão ngày 05 tháng 9 năm 1932 tức 05 tháng 08 năm Nhâm Thân. Năm ấy tiết Nắng nhạt, lệnh thời tiết của tháng Tám là vào ngày 08 -9-1932, ông sinh trước tiết lệnh tháng Tám, nên toán Hà Lạc không tính ông sinh vào tháng Tám mà vào tháng Bẩy.

    Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm bốn quẻ: Địa Phong Thăng, hào chủ mệnh là hào 3, quẻ hỗ là Lôi Trạch Quy Muội; Thủy Địa Tỷ, hào chủ mệnh là hào 6, quẻ hỗ là Sơn Địa Bác. Ông không có ưu tiên năng lượng của trời đất, không có nguyên khí của trời, nhưng rất giàu nguyên khí của đất. Địa nguyên khí của ông là quẻ Khôn. Trong cấu trúc Hà Lạc của ông có tới 3 quẻ Khôn. Ông có mệnh hợp cách. Địa là Đất. Phong là Gió ở đây hiểu là Cây. Thăng là Lên, là tiến lên, là phát triển. Hào 3 chủ mệnh bảo rằng: người này rồi sẽ tiến lên dễ dàng như (người xưa) vào cái ấp không người. Cuộc nam chinh dễ như phá ngói chẻ trúc. Nam chinh ở đây, Nguyễn Hiến Lê giảng không nên hiểu là tiến về phía Nam mà nên hiểu là tiến về phía trước mặt, nhưng riêng với Nguyên Ngọc thì hiện thực lại là có chuyện tiến về phía Nam. Lời hào còn nói rằng ở vào thời vận này, lớn (ý nói thời vận lớn) thì giữ đường lối, nhỏ thì (ít ra cũng) ăn lộc ấp, quận. Tượng quẻ trên là đất, dưới là cây, đó là cái tượng của một cái mầm cây len lỏi, len lách đi lên, vượt qua các tầng sỏi đá, nhiều trở ngại nhưng không gì ngăn cản được, hướng lên phía trên, phía có ánh nắng mặt trời. Như vậy người quẻ Địa Phong Thăng là người rất nhạy cảm với sự phát triển, tiến lên, là ngưới có chí khí vươn tới, không sợ trở ngại. Nếu là người có gốc vững về phúc nhà, về văn hóa, về đức, thì sẽ là người có sứ mạng tiến lên để thực hành đường lối (người xưa gọi là hành đạo). Còn với người thường được quẻ Thăng chí ít cũng ăn lộc ở vùng nhỏ địa phương. Người quẻ Thăng nhạy cảm với cái mới, như cái mầm cây nhạy cảm với hơi ấm và ánh nắng phía trên, ủng hộ cái mới hết lòng. Người quẻ Thăng rất giàu mơ mộng và tưởng tượng, rất giàu niềm tin, trong đó có cả niềm tin tâm linh. Nhưng cái tin tâm linh của người quẻ Thăng là tin ở trong lòng, với sự chí thành, lễ nhỏ và đơn sơ mà cảm được tới bề trên. Như cái mầm cây linh cảm thấy hơi ấm và ánh nắng phía trên mà vươn lên, với lòng chí thành, còn lễ lạt thì có gì đâu. Cho nên người quẻ Thăng thường được người phía trên thông cảm và ủng hộ, dù có người trên không bằng lòng đấy, nhưng không làm hại được người quẻ Thăng. Quẻ hỗ là Lôi Trạch Quy Muội cho biết rằng người quẻ Thăng cũng có những lầm lỗi, thường là do sơ sài, qua loa, đại khái, xong thì thôi, kiểu lầm lỗi của những người anh chị khi lo việc gả chồng cho em gái (Quy Muội là gả em gái), ít khi được chu đáo như cha mẹ. Cũng có khi đó là một thứ lầm lỗi đáng yêu như lời hào 5 quẻ Thăng lấy việc vua Đế ất gả em gái làm ví dụ. Vị vua này vì quá coi trọng về đức mà sơ xuất để cho cái tay áo của công chúa không đẹp bằng của nàng hầu, để người ta cười cho.

     Nguyên Ngọc đã sống và làm lụng đúng như những gì trời đất đã ban cho mình. Ông ra đời vào đúng thời của hào 3 quẻ Thăng: Lên, dễ dàng như vào ấp không người. Cái ấp không người đây là một gia đình có nền nếp, quý trọng sự học. Vừa đúng tuổi học là được đi học. Thông minh, học đâu biết đấy. Năm 1945, bị đứt đoạn mất một năm, tiếp tục học cho đến khi đỗ Tú Tài. Lời hào 4 quẻ Thăng cho biết ở tuổi mười lăm đã có lòng chí thành, nhu thuận, có chí lớn, sẽ được lợi khi hòa mình vào với núi rừng, cây cối. Quả nhiên, sang chặng đường hào 5 đẹp nhất thời Thăng thì Nguyên Ngọc vào bộ đội, lăn lộn với núi rừng Tây nguyên, vùng Ban Mê Thuột, gặp ngay các quý nhân, sớm vào nghề làm báo quân đội. Về sau Nguyên Ngọc kể chuyện đời, cho rằng cái thời làm báo chẳng khác nào cái phúc nhà: Nó tạo cho người viết những đức tính quý báu: xông xáo, nhạy cảm với thời sự và xã hội, sắc sảo khi tiếp cận hiện thực, đi nhiều, nghe nhiều, thấy nhiều, biết nhiều. (Nhà số 4 Lý Nam Đế. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 121). Còn cái lợi khi hòa mình với núi rừng được ông tổng kết như sau: Riêng tôi, có lẽ chiến trường khu 5 đã để lại cho tôi hai điều thật quý: một âm hưởng đậm đà của Tây nguyên, nơi tôi được tham gia chiến đấu gần suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, và những ấn tượng trong sáng của một đời sống văn hóa tinh thần giản dị mà lành mạnh của một xã hội thật kỳ lạ, một hòn đảo Nghiêu Thuấn giữa chiến tranh bốn bề... (Sách đd, tr. 122). Quẻ Thăng có sáu hào thì năm hào tốt, chỉ có một hào xấu, là hào 6 trên cùng. Hào đó nói rằng thời vận lên đã tới đỉnh, còn tham vọng lên nữa thì sẽ gặp họa, như cây đã hút hết nhựa đất, gốc không vững nữa, sẽ đổ. Nhưng đối với con người thì có hai cách sử lý: một là kẻ tiểu nhân không thức thời còn ham tiến lên về địa vị, danh lợi, thì tất không tránh khỏi đổ vỡ; hai là quân tử chỉ còn ham tiến lên về đức, tiếp tục tu rèn về đức với ham muốn khôn nguôi, thì lại rất hanh thông, biến xấu thành tốt, biến họa thành phúc. Như những cây cổ thụ biết dừng lại, trau dồi gốc cho vững trước bão táp phong ba, mà tươi xanh mãi. Nguyên Ngọc đã xử sự chính cái chặng đường 6 năm hào 6 quẻ Thăng ấy như thế nào. Năm Quý Tị (1953) quẻ Sơn Phong Cổ hào 6: là năm chàng nhà báo trẻ tuổi đã bộc lộ phẩm chất văn chương, giữ chí cao thượng, không màng danh lợi, không xu phụ bề trên, thanh cao khác người, ẩn mình đợi thời (Lời hào 6 quẻ Cổ, đối với mệnh hợp cách). Năm Giáp Ngọ (1954) quẻ Sơn Thiên Đại Súc, hào 1: Năm nay có người phía trên không cố ý mà ngăn cản