Search

Access times

  • Total visits44,436,178

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Articles

Nhớ thương nhà thơ Màu tím hoa sim

Nguyễn Sĩ Đại

  • Monday, 05:29 Day 22/03/2010
  • Suối mang bóng người soi những về đâu…

     

     Sáng ngày 19- 3-2010, tôi được anh Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam điện cho biết: Nhà thơ Hữu Loan đã qua đời!
    Ôi, thế là đời lại đổ mất một bóng lớn; dòng suối thời gian lại mang đi một tên người, xóa dấu bàn chân vĩnh viễn trên mặt đất. Cuộc đời cứ thế mà trôi chảy, mà vĩnh hằng ư? Ngay lập tức, tôi nhớ những câu thơ của Hữu Loan “Suối mang bóng người soi những về đâu” “Màu tím hoa sim, tím chiều hoang biền biệt ”… 

     

    Tối ngày 18 - 3 - 2010, Nhà thơ Hữu Loan đã ra đi trong một giấc ngủ ngon lành, giấc ngủ thần tiên, gửi lại cõi đời 95 tuổi thọ.

     

    Cuộc đời Hữu Loan là một cuộc đời bi hùng. Ông sinh ngày 2 – 4 – 1916 tại làng Vân Hoàn – xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn – tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình nông dân rất nghèo. Nhờ có ý chí, tư chất thông minh đặc biệt và sự giúp đỡ của một số gia đình hảo tâm, ông đã cố gắng theo học và đậu bằng tú tài từ trước cách mạng.

     

    Có bằng tú tài trong thời điểm đó, nếu đi làm công chức cho chế độ thuộc địa, có thể đủ nuôi sống cả gia đình một cách dư dật nhưng ông không chọn con đường đó mà lại chọn con đường đi theo cách mạng.

     

    Cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại của Hội nhà văn Việt Nam xuất bản chép tiểu sử của ông như sau: “Thuở nhỏ học thành chung ở Thanh Hóa, sau đó đi dạy và tự kiếm sống. Tham gia cách mạng từ năm 1936, hoạt động phong trào Mặt trận Bình Dân, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa. Năm 1943 về Nga Sơn, gây dựng phong trào Việt Minh ở quê, là Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Nga Sơn. Sau đó được cử làm Ủy viên văn hóa trong Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: giáo dục, thông tin, thương chính và công chính. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia phục vụ trong quân đội, phụ trách báo Chiến sĩ ở liên khu IV. Sau 1954, công tác tại báo Văn nghệ một thời gian rồi về sống ở Nga Sơn – Thanh Hóa.

     

    Hữu Loan là một trong những hội viên sáng lập Hội nhà văn Việt Nam năm 1957. Là một người cương trực, khí khái và nóng tính như lửa, không đồng tình với một số cách xử lý, thái độ văn nghệ của một số cán bộ thời đó, ông bỏ thẳng về Nga Sơn. Bỏ cơ quan nhà nước, hồi đó nghĩa là chẳng còn chế độ gì, từ lương bổng đến hộ khẩu, sổ gạo. Không những thế, nhiều người dân và cán bộ địa phương do mù mờ về thông tin, quan niệm rằng: từ Hà Nội phải về quê tức là bị Nhà nước đuổi. Bị Nhà nước đuổi tức là người xấu…

     

    Hành động, khí khái ấy đã buộc ông phải trả giá đắt, gần suốt cả cuộc đời phải bươn bả kiếm sống bằng những nghề nặng nhọc nhất như đào đá, làm xe thồ… để nuôi sống bầy con đông đúc, sống trong sự câm nín nhẫn chịu kiên cường. Thời kỳ Đổi mới, sau những năm 1986, ông được khôi phục danh dự, trả lại quyền lợi một Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Cái nỗi oan trái ấy, do xã hội một phần mà cũng do ông một phần, ông chịu đựng một phần mà vợ con ông có khi chịu đựng oan trái phần hơn!

     

    Tôi gặp nhà thơ Hữu Loan lần đầu vào năm 1984, trong chuyến đi công tác ở Nga Sơn để viết bài cho báo Nhân Dân; tôi đã đến thăm ông. Chánh Văn phòng huyện ủy lúc đó là anh Thế và một số đồng chí lãnh đạo đã phân công một cán bộ của huyện chở tôi đến Nga Lĩnh bằng xe đạp.

     

    Năm ấy, nhà thơ 68 tuổi. Trong căn nhà tuềnh toàng, ông đang ngồi hút thuốc lào, hút liên miên. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh ông lúc đó: chiếc quần nâu lụng thụng, áo may ô cháo lòng, ngoài sân vẫn còn chiếc xe thồ đá rọ sắt như người ta vốn kể. Ông cứ ngồi im như tượng, không nói câu gì, ngay cả sau khi tôi chào: “Thưa bác, cháu ở Hà Nội vào thăm bác…”.

     

    Chỉ có một cú liếc nhìn với ánh mắt sắc lẻm, ông không nói gì, nên làm tôi cứng họng. Không nói chuyện thì quan sát. Tôi chợt nhìn thấy trên cột nhà một bài thơ chữ Hán của Trương Kế, lối viết thảo rất khó đọc. “Thưa bác, đây có phải là bài “Phong Kiều dạ bạc” – Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên, Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền không ạ?”

     

    Nhà thơ Hữu Loan bỗng dưng giật giật, run run. Sợ ông ngã, tôi cũng vội vàng chạy lại đỡ lấy ông. Có lẽ cử chỉ thân tình ấy khiến ông có được cảm tình. “Chú có học văn không, làm sao biết chữ Hán?” “Cháu học Tổng hợp văn, cả lớp cháu ai cũng chép tay bài Màu tím hoa sim, cũng mơ ước được một lần gặp bác”.

     

    Đêm ấy, ông đã kể cho tôi nghe về cuộc đời mình. Từ đó, mỗi lần về Thanh Hóa, tôi lại rủ các bạn thân là nhà thơ Lã Hoan và Đỗ Xuân Thanh (nay đã mất), cùng làm ở Nhà xuất bản Thanh Hóa, cùng quê Nga Sơn về thăm bác Hữu Loan.

     

    Năm 1989, tôi cưới vợ. Bác Hữu Loan đánh đường từ quê mang ra một can rượu “cuốc lủi” để mừng; anh Đỗ Xuân Thanh mang ra một đôi chiếu Nga Sơn. Trong căn phòng 9m2  (được chia đôi từ 18m2) ở khu tập thể Nam Đồng của báo Nhân Dân, tôi không nhớ hết có những ai nữa, nhưng chúng tôi đã uống cạn can rượu nghĩa tình ấy, uống cạn những mối sầu vạn cổ của thế giới này để vui với cuộc đời mới, sau khi đã rót riêng một chai ra để lấy lộc làm kỉ niệm quý giá của một nhà thơ lớn, một ân tình lớn.

     

    Sau này, bác Hữu Loan ra Hà Nội nhiều hơn, thường ở nhà anh Chu Thành, tức nhà thơ Tú Sót, làm việc ở Nhà xuất bản Thanh Niên. Nhà thơ Tú Sót ( nay đã mất ), chính là tác giả của bài thơ “Hôm nay mồng tám tháng ba, Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi”…

     

    * * *

     

    Tác phẩm của nhà thơ Hữu Loan không nhiều, nhưng đủ lớn. Với Đèo Cả, Hoa lúa, Những làng đi qua, Màu tím hoa sim... có thể khẳng định ông là một trong số ít những nhà thơ tài hoa, đổi mới nhất trong số các nhà thơ thời kì kháng chiến chống Pháp. Đây là hình ảnh người chiến sĩ Vệ quốc quân, trấn thủ ở Đèo Cả, thiếu thốn mà hào tráng :

     

    Rau khe
    cơm vắt
    Áo phai
    màu chiến trường
    Gian nguy
    lòng không nhạt
    Căm thù
    trăm năm xa
    Máu thiêng
    sôi dào dạt
    Từ nguồn thiêng
    ông cha
    “Cần xây chiến lũy ngất
    đây hình hài niên hoa
    Xâm lăng!
    Xâm lăng!
    Súng thèm
    gươm khát… 

     

    Sau mỗi lần thắng
    Những người trấn Đèo Cả
    Về bên suối đánh cờ
    Người hái cam rừng
    ăn nheo mắt
    Người vá áo
    thiếu kim
    mài sắt
    Người đập mảnh chai
    vênh cằm
    cạo râu
    Suối mang bóng người
    soi
    những
    về đâu? 

     

    Riêng bài thơ Màu tím hoa sim có một giá trị đặc biệt. Sau khi được phổ nhạc, nó trở thành một bài hát của mọi thế hệ, của mọi bên chiến tuyến. Nó làm cho tình yêu và nỗi biệt ly mang tên màu tím. Hoa sim trở nên màu hoa của tình yêu và nỗi biệt ly. Bài thơ có một giá trị nhân văn cao cả, lời cầu mong hòa bình, chấm dứt chiến tranh trong mọi thời đại… Đó là bài thơ của chính cuộc đời ông.

    Bài thơ được viết năm 1949. Từ bấy đến nay, như mọi bài thơ hay khác, những hình tượng và mĩ cảm của bài thơ đã bước ra khỏi bối cảnh cụ thể, khỏi tình cảm của một người để đến với tình cảm của nhiều người và mỗi người tìm thấy trong lớp lớp tín hiệu ấy những tín hiệu có tần số tần số phù hợp với nhịp đập của trái tim mình.

     

    Khoảng năm 1937-1938, anh học trò Hữu Loan rời Nga Sơn lên học trường Collège ở thị xã Thanh Hóa. Tại đây anh được giới thiệu làm gia sư cho nhà ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng Thanh tra Nông lâm Đông Dương, sau này là Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thương vì tình, trọng vì tài, anh được bà Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Kỳ nhận làm con nuôi. Cô trò nhỏ Lê Đỗ Thị Ninh lúc đó kém “thầy học” 16 tuổi, càng đặc biệt quấn quít bên thầy. Năm 1941, Hữu Loan thi đỗ tú tài Tây ở Hà Nội, trở về Thanh Hóa vừa dạy học vừa tham gia Việt Minh. Trong buổi mít-tinh khai mạc Tuần lễ vàng sau Cách mạng, xúc động trước bài diễn văn của người thầy học cũ, từ trong hàng thiếu nhi danh dự đứng cầm cờ, cô Ninh bước ra tháo bỏ vòng xuyến vàng quyên cho Chính phủ. Sau đó, Hữu Loan vào quân đội, làm Tổng biên tập báo Chiến sĩ và vẫn được coi như con đẻ trong gia đình bà Chất, đâu để ý gì Ninh! Nhưng tình yêu thường có những con đường bất ngờ và độc đáo. Ngày 6-2-1948 đám cưới giữa người chiến sĩ Vệ quốc và em nuôi mình được tổ chức:

     

    Tôi ở đơn vị về
    Cưới nhau xong là đi

     

    Và ngắn ngủi thay, ngày 29-5 năm đó, khi đương là Trưởng ban Tuyên huấn của Sư đoàn 304 đóng ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, Hữu Loan được tin vợ chết. Nỗi đau nát lòng ấy, năm 1949, trong khi vào Nghệ An chỉnh huấn, mới được viết thành thơ. Bài thơ được viết trong hai tiếng đồng hồ vào một buổi trưa vắng, không phải sửa chữ nào. Bài thơ riêng ấy được cất trong túi áo coi như một thứ tình cảm riêng. Một hôm Hữu Loan đi vắng, Vũ Tiến Đức, biên tập viên cũ của ông ở báo Chiến sĩ, lấy được bài thơ về đọc cho bà Chất và mọi người nghe. Sau này Nguyễn Bính đăng lên trong tờ Trăm hoa của mình (1956) mà tác giả vẫn không hề biết. Đây là một trong số những bài thơ có sức lan truyền kì lạ. Những chi tiết trong bài thơ đều là những chi tiết rất thật, từ “Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân” trong đám cưới đến “Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc/ Biết tin em gái mất/ Trước tin em lấy chồng”… 

     

    Thưa bác Hữu Loan! Ít ai viết rợn ngợp hơn bác về cái chết:

     

    Tôi về không gặp nàng
    Má tôi ngồi bên mộ con
    Đầy bóng tối
    Chiếc bình hoa ngày cưới
    Thành bình hương
    Tàn lạnh
    Vây quanh         

     

    Trước cái bóng tối đã dày lên nhưng vẫn tiếp tục buông xuống, cái tôi bị đẩy ra. Chỉ còn lại một người đàn bà câm lặng khóc. Nhưng cũng chỉ có một người đàn bà mà thôi, với những tàn lạnh – những đốm tàn lạnh, những cụm bóng tối như lá rụng, như những giọt bạch lạp tàn cháy rơi rắc xung quanh.

     

    Khi Nguyễn Du viết:

     

    Sè sè nắm đất bên đường
    Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

     

    thì đó là một cái chết đã chết. Nhưng:

     

    Khi gió sớm thu về
    Cỏ vàng chân mộ chí

     

    thì là một cái chết đang chết. Cái rờn rợn của gió sớm thu về, rờn rợn nước sông đã thổi lạnh tác giả, còn thổi lạnh đến bao người!

     

    Cũng ít ai đến với cái chết thanh thản như bác Hữu Loan. Dường như đến lúc bác cần trở về với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, với Đỗ Phủ, Lý Bạch để đàm đạo văn chương ; đang trở về sum họp, cùng học tiếp những bài học với cô trò nhỏ năm xưa…

     

    Sinh thời, bác đã từng dắt cháu dạo quanh núi Vân Hoàn, ngọn núi tụ mây thiêng và linh khí của trời đất . Bác đã thành quê hương Xứ Thanh, thành mây núi Vân Hoàn. Trên mộ bác muôn đời sẽ ngan ngát hương hoa lúa, ngan ngát hoa sim của những lòng tưởng niệm.

     

    Cuốn sách viết về bác mà cháu và thầy giáo Nguyễn Sĩ Lục , anh Phạm Văn Sĩ ấp ủ mấy chục năm nay chưa thành, bác đã ra đi… Tự bác đã viết xong cuốn sách về cuộc đời đẹp, buồn nhưng cũng không ít phen đắc chí của một nhà thơ, một người yêu quê hương đất nước và lẽ công bằng.

     

    Hà Nội, 19-3-2010
    Nguyễn Sĩ Đại

    Nhandan.com.vn

     

    Người nhuộm tím thi đàn bằng màu hoa dại

    Khi xe của chúng tôi đi qua một làng quê, người ngồi bên cạnh tôi thì thầm: "Hình như nhà thơ Hữu Loan kìa". Theo tay anh chỉ, tôi thấy một người đàn ông trên 60 tuổi đẩy một chiếc xe thồ đầy đá. Chiếc U-oát chạy nhanh quá, tôi không nhìn rõ mặt người đẩy xe, nhưng thấy dáng ông đi tự tin và vững chãi...

    Hữu Loan - Người đi bộ ngược chiều

    Nhìn thấy Nhà thơ Hữu Loan, sau niềm vui gặp gỡ, tôi bỗng lo lắng mơ hồ. Đỗ Phủ đã nói "người thọ bảy mươi xưa nay hiếm", nay ông đã chín mươi tuổi có dư, liệu còn sống được bao lâu nữa? Dường như đọc được suy nghĩ của tôi, ông mỉm cười và nói: "Tôi vẫn còn uống được rượu và dắt cháu đi dạo; khi rỗi rãi, còn tìm câu chữ để đối đáp lại bà Hồ Xuân Hương"

    Người tôi mong gặp từ thủa học trò

    Khi học lớp chuyên văn của tỉnh Nghệ An, tôi chứng kiến cánh học trò chuyền tay nhau chép bài thơ Màu tím hoa sim và có cảm xúc rất lạ. Sau đó, trong những lần đi rừng hái củi, nghe mấy người bạn khe khẽ hát: "Ôi những đồi hoa sim, những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt..." tôi xúc động rất mạnh. Cái tên Hữu Loan găm vào tôi từ ngày đó.

    Ngoài chuyện bài thơ hay ra, người ta còn kể nhiều chuyện khá ly kỳ về Hữu Loan khiến tôi tò mò, mong ước được gặp và trò chuyện với ông càng ngày càng lớn. Nhưng là một học trò xứ Nghệ, gặp ông vào những năm 70 của thế kỷ trước, quả là không dễ.

    Không gặp được ông, tôi bỏ công sưu tầm và nghiên cứu thơ ông. Công sức bỏ ra khá nhiều, nhưng ngoài Màu tím hoa sim ra, tôi cũng chỉ biết thêm được Đèo cả.

    Thời gian cứ thế trôi, tôi tốt nghiệp đại học rồi đi làm báo. Công việc và chuyện "cơm áo gạo tiền" cuốn đi mải miết. Bạn bè cùng học, cùng uống rượu thành nhà văn, nhà thơ; họ in sách tặng tôi xếp đầy cả tủ. Bản thân tôi cũng bỏ tiền mua những tập không được tặng, nhưng tôi tìm mãi vẫn không thấy tập thơ nào của Hữu Loan. Tôi vẫn khắc khoải, mong ngóng một điều gì đấy.

    ... Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trong một lần đi công tác tại Thanh Hoá, khi xe của chúng tôi đi qua một làng quê, người ngồi bên cạnh tôi thì thầm: "Hình như nhà thơ Hữu Loan kìa". Theo tay anh chỉ, tôi thấy một người đàn ông trên 60 tuổi đẩy một chiếc xe thồ đầy đá. Chiếc U-oát chạy nhanh quá, tôi không nhìn rõ mặt người đẩy xe, nhưng thấy dáng ông đi tự tin và vững chãi. Cái tên - Hữu Loan - "làm tổ" trong lòng người yêu thơ hơn nửa thế kỷ nay. Tôi thầm hứa với mình là sẽ tìm cách gặp được tác giả Màu tím hoa sim.

    Mãi đến gần đây, tôi mới có dịp thực hiện mơ ước từ ngày bé của mình. Vào một ngày đẹp trời, có người rủ tôi đi thăm nhà thơ Hữu Loan. Tôi mừng húm vì nghĩ rằng, người này có mối quan hệ thân thiết với nhà thơ nổi tiếng. Nhưng hoá ra không phải vậy. Anh cũng chỉ biết nhà thơ Hữu Loan quê ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Dẫu sao thì cũng có địa chỉ rồi, lên đường thôi.

    Nếu rất muốn, cứ tìm là gặp

    Cách thành phố Thanh Hoá khoảng 26 km, trên quốc lộ 1A (hướng Hà Nội - Vinh), có biển chỉ dẫn "Nga Sơn" đi về phía biển. Theo con đường này đi được chừng 2 km, chúng tôi hỏi 2 cô gái đi xe máy cùng chiều. Thật may, 2 cô này quê ở Nga Lĩnh và biết nhà của thi sĩ Hữu Loan. Hai cô tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi. Trước khi về nhà mình, các cô nói: "Đi theo đường này khoảng vài trăm mét, thấy cái nhà 2 tầng, ông Hữu Loan ở đó."

    Tuy đã tìm được gần đến nơi, nhưng trong tôi cảm xúc lẫn lộn. Tôi chưa tưởng tượng được nhà thơ Hữu Loan hơn 90 tuổi, ở trong một ngôi nhà tầng sang trọng, lên xuống cầu thang như thế nào. Và nữa, ông có thể không có nhà. Nếu ở nhà ông có thể không tiếp chúng tôi, vì trước khi đến đây chúng tôi chẳng liên hệ, chẳng có thông tin gì cả, ngoại trừ cái địa chỉ ghi ngệch ngoặc trên tờ lịch cũ.

    Nhưng mọi sự không như tôi tưởng. Cái nhà 2 tầng hoá ra không phải của gia đình Hữu Loan, mà chỉ là một cái nhà nổi bật ở gần đó. Nhà thơ Hữu Loan ở trong một ngôi nhà cấp 4 chật chội, cũ kỹ; bù lại, có mảnh vườn khá rộng, cây cối xanh tốt và một ao cá nhỏ xinh. Tôi hồi hộp bước vào và thấy một ông già tóc bạc trắng. Đấy là nhà thơ Hữu Loan; ngồi cạnh một phụ nữ đã cao tuổi nhưng trông vẫn khoẻ mạnh, là vợ nhà thơ. Thấy chúng tôi vào, vợ chồng nhà thơ không ngạc nhiên, không tỏ ra vui mừng, đon đả, nhưng thân mật. Ông bà không hỏi chúng tôi là ai, đến đây làm gì, chỉ mời nước và quay quạt về hướng chúng tôi. Có lẽ những cuộc viếng thăm của các nhà văn, nhà báo, hay đơn giản chỉ là của những người yêu thơ đã trở nên quen thuộc với ông bà.

    Cho đến lúc này, người ta vẫn chưa biết nhà thơ Hữu Loan đã viết tất cả bao nhiêu bài thơ. Nhà thơ, nhà nghiên cứu Vũ Quần Phương thì khẳng định: Hữu Loan viết tất cả 24 bài. Một số nhà nghiên cứu khác nói ông viết được khoảng 40 bài. Một người con trai của ông đang tìm tòi, sưu tập bản thảo viết tay tất cả những bài thơ của ông. Anh chưa chính thức công bố vì chưa hoàn chỉnh, nhưng theo anh, toàn bộ sáng tác của bố anh không quá 60 bài thơ.

    "Màu tím hoa sim" qua lời "chính chủ"

    Cố nén xúc động, tôi chỉ ngồi im nghe mà hầu như không dám hỏi gì, cũng không ghi chép nốt. Nhưng những gì Nhà thơ Hữu Loan nói lại hiện rõ trong tôi.

    ... Chàng gia sư tài hoa và cô học trò xinh đẹp đã cảm mến nhau ngay từ khi chàng đặt chân đến nhà nàng. Chẳng thế mà nàng tự tay giặt là quần áo cho chàng, mặc dù trong gia đình có hàng chục người được thuê để lo việc nhà. Dù đã thầm yêu nàng tha thiết, nhưng vì "không môn đăng hộ đối" nên chẳng dám ngỏ lời. Nhưng người quyết liệt lại là nàng. Nàng chủ động bắt chuyện với chàng, đưa chàng đi dạo ở những dải đồi nở đầy hoa sim tím. Rồi nữa, áo nàng mặc tím màu hoa sim.

    Trong những ngày chàng lãnh đạo khởi nghĩa ở địa phương thì nàng cũng tham gia công tác quần chúng. Khi chàng làm việc ở Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá thì nàng là một trong những người tích cực vận động nhà giàu tham gia hưởng ứng "Tuần lễ vàng". Cái không khí phơi phới, lạc quan của những đầu cách mạng thành công đã khiến cho tình yêu của họ vốn đã lãng mạn, càng thêm lãng mạn.

     Trước một tình yêu chân thành, mãnh liệt, tinh tế và quả cảm của người con gái đẹp; thông minh, đa cảm, tài hoa như Hữu Loan không thể không tiếp nhận. Đây là hạnh phúc mà không phải ai cũng có được: Yêu và được yêu, rồi chính bố mẹ cô đứng ra làm đám cưới.

    Hữu Loan cưới vợ trong một lần về phép ngắn ngủi, rồi lại ra đi, mải miết theo đoàn quân trong cuộc trường chinh chống Pháp. Nhưng cuộc đời thật khó lường, "không chết người trai khói lửa, mà chết người con gái hậu phương". Người vợ trẻ đã mất khi mới 17 tuổi, số ngày sống với chồng chỉ tính trên đầu ngón tay.

    Nhận được tin dữ, Hữu Loan từ đơn vị trở về, thấy mẹ ngồi bên nấm mồ, bình hoa ngày cưới đã thành bình hương. Trong tim Hữu Loan - người lính, người tình, người chồng, người con dâng lên những đợt sóng trào. Tình cảm thiết tha, mãnh liệt và nỗi đau sâu thẳm đã sản sinh ra bài thơ "Màu tím hoa sim". Tất cả những tình tiết, sự kiện, con người trong bài thơ đều là thật. Có lẽ đây chính là nguyên nhân để bài thơ trở nên bất tử.

    Cả cuộc đời dài gần trăm năm của mình, Hữu Loan làm thơ không nhiều, không in tập lớn, tập bé; nhưng chỉ cần với một "Màu tím hoa sim", ông đã nhuộm tím thi đàn Việt Nam. Cái màu tím bình dị của một loài cây mọc lúp xúp ở đồi núi Việt Nam đã trở thành một trong những biểu tượng đẹp của thơ ca.

    Chỉ là chuyện đời thường mộc mạc

    Gia đình ông Lê Đỗ Kỳ là một gia đình trí thức cách mạng. Ông là kỹ sư canh nông, đã từng giữ chức Tổng Thanh tra canh nông Đông Dương. Vợ là con một nhà khoa bảng đất Thanh Hoá. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Kỳ là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên.Vợ ông trở thành cán bộ của Hội Phụ nữ. Ba người con trai đầu của ông đi bộ đội. Người con cả là Lê Đỗ Khôi, hy sinh trên đồi Him Lam ngay trước giờ chiến thắng Điện Biên. Người con thứ hai là Lê Đỗ Nguyên, chính là Trung tướng Phạm Hồng Cư. Người con thứ ba Lê Đỗ An chính là Nguyễn Tiên Phong, nguyên bí thư TW Đoàn, nguyên Phó Ban Dân vận TW. Người con thứ tư là Lê Đỗ Thị Ninh, vợ của nhà thơ Hữu Loan, nhân vật chính của bài thơ "Màu tím hoa sim".

    Người ta đã làm khổ nhà thơ Hữu Loan, đồng thời cũng đã dành cho ông những lời lẽ tốt đẹp nhất. Tôi đến nhà ông, chỉ ngồi ngắm nhìn ông, nghe ông kể chuyện, nghe ông đọc thơ. Ở tuổi ngoài chín mươi, vẫn với ánh mắt cười rất hóm, nhà thơ Hữu Loan chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời mình.

    ... Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, nhưng rất sùng bái chuyện học hành. Ngày bé, tôi tự học là chính. Năm 1938, tôi ra Hà Nội thi, gặp gỡ Nguyễn Đình Thi từ dạo đó. Trở về Thanh Hoá, tôi làm gia sư, vừa để kiếm sống, vừa để học thêm, vừa có điều kiện tham gia cách mạng.

    Khi tôi đến dạy học ở nhà một người quyền quý, cô con gái của gia chủ nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ. Tôi bị ánh mắt và gương mặt đẹp thánh thiện ám ảnh, nhưng không dám nghĩ tới chuyện xa hơn. Nhưng thật may mắn, tôi là chàng trai nghèo nhưng lại được cô học trò xinh đẹp là con của một người sang trọng và giàu có yêu. Chúng tôi đã được yêu nhau và hạnh phúc, tuy rất ngắn ngủi. Sau khi Lê Đỗ Thị Ninh chết, tôi nghĩ là mình chẳng bao giờ lấy vợ nữa, ấy thế mà...

     Ông dừng lời và đưa mắt tình tứ nhìn vợ là bà Phạm Thị Nhu ngồi bên cạnh. Đây là người phụ nữ gắn bó với ông suốt cả cuộc đời, sinh cho ông 10 người con, cùng ông chia sẻ (ngọt bùi thì ít, đắng cay thì nhiều, nhưng niềm vui rất là sâu lắng). Bà Nhu nhìn nhà thơ Hữu Loan âu yếm rồi nhẹ nhàng kể:

    ... Tôi yêu ông này vì ngày ấy hay ra nghe trộm ông giảng Truyện Kiều cho học sinh. Ông ấy giảng hay lắm.Trọng tài rồi mê người lúc nào không rõ nữa. Dù ông ấy hơn tôi những 20 tuổi, nhưng tôi vẫn mê ông và khiến ông bỏ ý định không lấy vợ nữa. Ông ấy lại còn viết bài thơ "Hoa Lúa" nịnh tôi nữa chứ.

    Nhà thơ Hữu Loan  dường như trở lại thời tráng niên, nhìn vào xa xăm rồi tiếp lời vợ:  "Màu tím hoa sim" là khóc người vợ đã chết, còn "Hoa Lúa" là bài thơ viết cho bà đang ngồi đây!

    "Ông ấy nhớ toàn bộ bài này đấy, bảo ông ấy đọc cho mà nghe!" Vợ thi sĩ thì thầm, nhưng cũng đủ cho tất cả mọi người trong căn nhà nghe rõ.

    Bằng một chất giọng khàn, ấm, nhà thơ Hữu Loan đọc bài "Hoa Lúa". Bài thơ khá dài, nhưng ông đọc thong thả, khi thì nhìn ra khoảng sân có giàn mướt đơm hoa, kết trái; khi thì nhìn về phía người đàn bà đã gắn bó cùng ông hơn nửa thế kỷ. Có hạnh phúc nào hơn khi người mình say mê trở thành chồng mình, làm thơ tình tặng mình, thỉnh thoảng lại dồn hết tâm trí vào đó và tha thiết đọc lên.

    Tôi thấy cái hạnh phúc bình dị này của vợ chồng nhà thơ là vô giá. Có lẽ chính điều này khiến ông sống thanh thản ở một làng quê nghèo và nhiều ân tình?

     

    "Thơ tôi làm ra không phải để bán"

    Thật khó mà tưởng tượng hết những khó khăn mà Hữu Loan vượt qua để duy trì cái gia đình có 12 miệng ăn giữa vùng quê nghèo khó trong những năm chiến tranh ác liệt của thế kỷ trước. Hơn nữa không chỉ phải đối phó với những khó khăn về vật chất, mà còn phải đối đầu với nhiều sự rắc rối khác. Nhiều người trong bộ máy chính quyền địa phương lúc ấy không hiểu ông, còn gây thêm cho ông những khó khăn như tịch thu xe đạp của ông với lý do ...phụ tùng không đồng bộ; xúi giục những người khai thác đá không bán cho ông...

    Bằng nghị lực và sự dẻo dai hiếm có cả về tinh thần lẫn thể chất, Hữu Loan đã vượt qua tất cả mọi thử thách, tai ương. Ông đã sống, làm việc bền bỉ, trung thực, ngay thẳng để vợ con yên bình, vững tâm mà sống, mà lớn. Người ta không bán đá cho ông thì tự tay ông khai thác và chở đi bán. Một mình ông gần như đã san bằng một ngọn núi. Ông cũng đã trở thành "chuyên gia" mò cua, bắt ốc ở nơi những cây cói mọc lên để thành chiếu Nga Sơn nổi tiếng. Có lẽ trước khi khăn gói rời Hà Nội, ông đã lường trước mọi khó khăn nên không điều gì có thể làm ông gục ngã.

    Nhưng theo ông, tình yêu và trách nhiệm với vợ con mới là nguồn sức mạnh lớn lao giúp ông đứng vững giữa cuộc đời. Ông bảo: "Tôi là người ương bướng, hay cãi. Ở lại làm trong cơ quan, đoàn thể, khó mà dung hoà với mọi người được. Nếu vậy thì làm sao nuôi nổi đàn con? Nghĩ vậy, tôi thấy về với vợ con là tốt nhất."

    10 người con của ông đã trưởng thành, có người là giáo viên, có người là kiến trúc sư, có người là nông dân... Bây giờ mọi thứ qua rồi nên ông nhớ lại mọi thứ, nhẹ nhàng, thanh thản.

    Cách đây mấy năm, Công ty Vitek đặt vấn đề xin được chuyển nhượng tác quyền bài thơ "Màu tím hoa sim" 100 triệu đồng. Lúc đầu ông không chịu với lý do "thơ tôi làm ra không phải để bán", nhưng khi thấy có những người con vẫn còn khó khăn về vật chất, ông đã đồng ý. Sau khi nộp thuế 10 triệu đồng, ông mang 60 triệu chia cho các con, chỉ giữ lại 30 triệu cho tuổi già.

    Hai vợ chồng nhà thơ Hữu Loan sống trong ngôi nhà nhỏ bé, ấm cúng, xung quanh là vườn cây xanh tốt. Không xe hơi nhà lầu, không hội họp, phê bình, kiểm điểm, không đọc báo cáo... Hàng ngày ông trò chuyện với vợ, đọc thơ và chơi với các cháu. Người nhuộm tím thi đàn Việt Nam sống bình dị giữa làng quê của mình với đôi mắt cười rất hóm.

    Tôi mong có dịp trở lại và ngồi uống rượu với ông, nhưng hôm nay ông đã ra đi vĩnh viễn. Tôi chẳng biết làm gì hơn ngoài việc viết đôi dòng về ông và mơ về màu tím mới sẽ làm lóng lánh làng thơ Việt Nam.

    Hồ Bất khuất

    Biết tin nhà thơ Hữu Loan ra đi, một độc giả Tuần Việt Nam gửi bài thơ tiễn biệt ông. Chúng tôi xin giới thiệu cùng độc giả:

    Vĩnh biệt nhà thơ Hữu Loan
    Tác giả: Khương Duy

    Cách trở phương trời không về thắp được nén hương
    Cho người mới lên đường bỏ lại màu sim tím
    Dẫu sinh tử lẽ đời rồi phải đến
    Vẫn nghe buồn len lén cõi tâm tư

    Kẻ đôi mươi, người chín chục tuổi dư
    Duyên nợ gì ư? Chỉ một câu thơ cũ
    Câu thơ có chàng trai nghèo trong quân ngũ
    Có người vợ hiền chết vì khói lửa chiến tranh

    Có mái đầu ngan ngát tóc xanh
    Có khói hương vờn bên cành sim tím

    Những vần thơ đã nằm trong ba lô người lính
    Đã chắp lời cho tiếng hát vút cao
    Đã đem hi vọng về từ tận đáy nỗi đau
    Đã thắp mãi một tình yêu bất diệt

    Vần thơ ấy cũng làm nên cuộc đời oan nghiệt
    Để người thơ phải đoạn tuyệt với thơ
    Để dở dang thời trai trẻ mộng mơ
    Để xác xơ chiếc xe gầy sau bao ngày nắng mưa thồ đá

    Thôi, đời người chỉ là chiếc lá
    Đắng cay hay ngọt bùi, một ngày gió cũng thổi rơi
    Chín mươi lăm tuổi đời, đã đến lúc nghỉ ngơi
    Đừng buồn nữa những người yêu sim tím

    Đêm nay, khi cơn gió đầu hè đã chớm
    Người đang sang sảng đọc Đường thi bên Phùng Quán, Trần Dần...
    Chén rượu nồng của những bậc thi nhân
    Mặc kệ bao nhọ nhem nơi hồng trần dương thế

    Rồi gió sớm thu về
    Cỏ sẽ vàng chân mộ chí...

    Hà Nội 19-3-2009

    tuanvietnam.net

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits44,436,179

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...