Search

Access times

  • Total visits42,920,740

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà Văn: Văm Tâm, Người rũ bụi đường trường Văn học

Xuân Cang

  • Thursday, 13:23 Day 30/10/2008
  •  

    Nhà phê bình văn học Văn Tâm còn có bút danh là Tầm Dương. Tôi không được đọc đầy đủ những trước tác của ông, hiện trước mắt tôi chỉ có 3 cuốn sách: Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn; Góp lời thiên cổ sự; Đoàn Phú Tứ, con người và tác phẩm với tổng số trang là 1170 trang. Tôi thú nhận: có một sức lôi cuốn khiến tôi không thể dừng lại trước bất cứ một trang nào do Văn Tâm biên soạn. Khiến tôi phải băn khoăn: Con người này là ai, từ đâu ra và là người thế nào nhỉ? Tôi đã đến thăm nhà ông. Cần nói rằng những gì mà nhà văn Hoàng Lại Giang, biên tập viên Nxb Văn học, kể về ông trong Lời bạt cuốn Góp lời thiên cổ sự (GLTCS) sau đây là rất đúng: Tôi quen anh Văn Tâm qua một bài báo anh viết về nhà văn “Vũ Trọng Phụng thời ấy” trên tờ Người Hà Nội do chị Hằng người con gái duy nhất của nhà văn tặng tôi ở Sài Gòn.... Văn anh nhẹ nhàng, mà sâu sắc, tinh tế, nhưng mang tính khái quát. Anh phê bình người ta bằng cái cách nói dè dặt, cân nhắc, đôi khi có pha chút dí dỏm. Đọc xong rồi tối về ngẫm lại mới thấm nỗi đau những dòng anh viết. À ra thế, “thời ấy” có người đánh giá về Vũ Trọng Phụng như thế này: lớn lao, vĩ đại, người ta còn cho rằng Cách mạng phải mang ơn Vũ Trọng Phụng. Và rồi sau đó... người ta, cũng “người ta” ấy, lại dẫm đạp lên nhân cách của chính mình mà chửi bới Vũ Trọng Phụng... Không ai bắt bẻ anh (Văn Tâm. XC) được, bởi anh nói sự thật, tư liệu của anh chính xác từ ngày, tháng, năm, từ tên họ, chức vụ người viết. Vậy đấy, chẳng ai dẫm đạp lên lịch sử được. Tất nhiên phải có những người như anh Văn Tâm, tâm huyết với nghề nghiệp, âm thầm và lặng lẽ, nhặt nhạnh, tìm kiếm, sưu tập từng chi tiết, từng sự kiện, từng chứng cứ một, năm này qua năm khác... Mãi đến Đại hội nhà văn lần thứ IV, đến nhà anh, tôi mới hay đấy là một nhà giáo cấp III. Tất cả những gì của anh là hình ảnh của con người Hà Nội kết tinh lại: hào hoa phong nhã, cao lớn, đẹp lão, lịch sự, tế nhị trong cư sử, trong nói năng và bao giờ cũng thận trọng. Từ đấy tôi mới hay anh như một số nghệ sĩ cấp tiến một thời bị nhiều cơ quan báo chí, xuất bản khước từ; đồng nghiệp của anh là giáo sư cấp I, cấp II, chức này chức nọ toàn loại tên tuổi nổi như cồn một thời... Còn anh, anh vẫn lặng lẽ dạy phổ thông, lặng lẽ làm việc. Bạn bè nói với tôi rằng chưa bao giờ thấy anh nản chí muốn từ bỏ cái nghiệp chướng văn chương. Đây là một cây bút mà tôi thấy văn chương và con người hài hòa, đồng nhất:... nhẹ nhàng, từ tốn, đúng ra là khiêm tốn. Có lẽ anh chưa bao giờ nặng lời với ai, hằn học với ai, trong bài viết cũng như trong quan hệ đời thường.

    Đúng là Hoàng Lại Giang đã linh cảm thấy một cái gì trong mệnh vận của Văn Tâm.

    Ông sinh vào giờ Tị ngày 16 tháng Bảy năm Quý Dậu (05-9-1933). Ta hãy ngắm Cấu trúc Hà Lạc của Văn Tâm: quẻ Tiên thiên là Sơn Trạch Tổn, chủ mệnh hào 6, quẻ hỗ là Địa Lôi Phục. Quẻ Hậu thiên là Trạch Địa Tụy, chủ mệnh hào 3, quẻ hỗ là Phong Sơn Tiệm. Tượng quẻ là dưới Núi có Đầm (Sơn là Núi, Trạch là Đầm). Tổn là Giảm bớt, là Hao tổn. Vì Núi ở trên Đầm ở dưới, nên xu thế là bớt ở dưới để bù đắp cho trên, khác nào bớt cái nền gốc để đắp cho cao lên, vậy là tổn dưới mà ích trên; đã tổn dưới ích trên thì ích trên có bao giờ vững, nên cuối cùng hóa ra tổn. Lại có thể hiểu tổn dưới ích trên, khác nào khoét đất thành đầm đắp lên cao cho thành núi, đầm (chằm) càng sâu, núi càng cao thì núi càng không vững, tất phải đổ, vì thế người xưa gọi tên quẻ là quẻ Tổn.

    Người quẻ Tổn là người có thể nhiều danh lợi, có đời sống tăng ích, nhìn bên ngoài vào thấy là người có vị trí xã hội cao, quyền thế, hoặc thành đạt, dáng vẻ thường đẹp đẽ, ý chí thường đầy tràn, nhiều tham vọng, ham muốn, nhờ vào những nguồn lợi từ phía dưới bù đắp lên trên, bằng nhiều hình thức. Nhưng về cơ bản lợi ích đó không bền, không vững, ích đấy mà tổn đấy, bên ngoài là ích mà bên trong thì tổn, trước thì ích mà sau thì tổn, càng ích thì càng tổn. Cái ích thì dễ nhìn thấy, vì ở bên ngoài, ở phía trên; cái tổn thì khó nhìn thấy, vì ở bên trong, ở phía dưới. Cái ích thì nhỏ và tạm thời, vì là ích ở trên ngọn; cái tổn mới là lớn, và lâu dài, vì tổn ở nền gốc.

    Người quẻ Tổn vì thế thường là người suy nghĩ và ứng xử có chiều sâu, có lý trí, biết nhìn vào thực chất, không nệ vào cái bên ngoài mà đánh giá sự vật. Người quẻ Tổn thường ưa thích giải quyết những vấn đề có mâu thuẫn bên trong, có kịch tính. Người quẻ Tổn cũng là người có niềm thông cảm lớn với những hao tổn, mất mát trong cuộc sống. Họ cũng giống người có quẻ Tập Khảm thích phù suy hơn phù thịnh, thấy người hoạn nạn, tổn thất, suy vi thì thương và ra tay cứu giúp, nhưng họ cũng chỉ cứu giúp bằng tấm lòng thành mà thôi vì bản thân họ cũng trong thời suy.

    Quẻ Tổn trong Kinh Dịch tuy có tên là Tổn nhưng không nhất định là quẻ xấu, vì xấu hay tốt còn tùy ở người có quẻ. Biết mình ở thời Tổn, biết ứng xử đúng, giảm bớt cái gì, tăng thêm cái gì cho đúng thời, thì tổn đấy mà ích đấy. Ví như dân nghèo mà lấy của dân thêm vào cho trên thì là xấu, nhưng đối với dân có thu nhập cao thì bớt của họ mà đóng góp cho nhà nước thì vẫn tốt (ví dụ này là của Phan Bội Châu).

    Văn Tâm tuy được quẻ Tổn nhưng ông may mắn có Thiên nguyên khí (sinh năm Quý mà được hai quẻ Khôn) và Địa nguyên khí (sinh năm Dậu mà được hai quẻ Đoài), sinh tháng Bảy mà được quẻ Tổn là hợp mùa sinh. Đó là những tín hiệu thành đạt, công danh, phú quý. Hào chủ mệnh là hào 6 quẻ Tổn cho biết ông sinh vào cuối thời Tổn, là tổn đến cực rồi, sang thời ích, làm ích cho dưới rồi. Có nghĩa là người quẻ Tổn đến thời của hào 6 không còn là tổn dưới ích trên hoặc tổn người ích mình nữa, mà đã thành ích dưới tổn trên, ích người tổn mình, nên tổn đấy mà ích đấy. Những tín hiệu Tứ trụ và Ngũ hành cho biết Văn Tâm có phúc nhà do ông cha để lại, sẽ đi vào con đường văn chương và sẽ đạt được điều vốn tâm đắc, nhưng không nên hành động mạnh mẽ mà nên thường tìm nơi yên tĩnh, ẩn mình thì vẫn hơn.

    Khí chất thiên nhiên ảnh hưởng đến tính cách con người và thẩm thấu vào linh cảm nghề nghiệp, vào tri thức và cảm xúc văn chương là Núi, Đầm hồ, Đất, Sấm chớp. Tượng Núi cho biết đây người biết chứa chất tri thức và đạo đức, tích lũy lớn, tư duy tầng lớp, sâu sắc, dễ cảm nhận cái đẹp, biết tự ngăn giữ mình trước những ham muốn và sự giận dữ, đó là những phẩm chất của Núi. Ông có niềm vui tự thân, phóng túng, chan chứa như Đầm hồ (chằm); nhu thuận, dày dặn, thẳng thắn, vuông vức, thích sáng tạo, sinh sôi nẩy nở, như Đất; ham hành động, luôn phấn khích như Sấm. Những khí chất đó sẽ làm nên bản chất chủ thể và đi suốt với chủ thể trên hành lang số phận, và hiện ra trên các công trình nghiên cứu, trong công việc và các thú vui, ham thích. Và tất cả những cái đó sẽ thể hiện trong một niềm vui luôn biết nhường nhịn, chịu tổn thiệt về phần mình, làm ích lợi cho bên dưới, lấy cái ích lợi về tinh thần làm ích lợi của mình, biết hưởng phúc mà coi thường cái danh lợi bên ngoài. Sẽ tìm được cái sở đắc và chỗ đứng của mình thích ứng nhất. Đặc điểm người được quẻ Tổn là dễ đi vào việc triết luận, tìm cái ẩn tàng bên trong, cái sâu xa không hiện ra ở vẻ ngoài của sự vật. Tính cách quẻ và nghĩa quẻ nói lên điều đó: nhìn bề ngoài thì ích đấy mà thực ra thì tổn đấy.

    Những tín hiệu đó xuất hiện đan xen trên các chặng đường đời của Văn Tâm, nhưng tiêu biểu nhất là ở việc Văn Tâm chìm nổi ba đào với văn nghiệp Vũ Trọng Phụng. Năm 1956, nhà nghiên cứu văn học trẻ tuổi đang làm trợ lý cho Tổ bộ môn Văn học và Ngữ ngôn Việt Nam tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm này ông được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, hào chủ mệnh là hào 5. Đại Hữu là Có lớn. Quả là ông đang có trong tay một tài sản lớn. Vừa tốt nghiệp Đại học Văn khoa loại ưu, đã có hai tác phẩm đầu tay ra đời (kịch ngắn Ánh sáng hay bóng tối, in năm 1952, Giải tán, in năm 1953), lại đang làm việc trong một tổ bộ môn có những cây nghiên cứu danh tiếng: Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Thạch Giang..., với một thư viện tầm cỡ của Đại học Sư phạm. Hào 5 bảo rằng năm nay sẽ lập công to, nhưng phải tạo chút uy, ân uy đi đôi thì mới thuận lợi. Nhà nghiên cứu có quẻ Tổn (hào 6) đã phát huy ưu thế hào 5 quẻ Đại Hữu, ra sức làm ích cho người, làm một công trình sáng giá với bút danh tác giả Tầm Dương: Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực. Sách in năm 1957 là năm Tầm Dương được quẻ Lôi Thiên Đại Tráng, hào chủ mệnh là hào 6. Đại Tráng là Mạnh Lớn. Tượng quẻ là Sấm ở trên Giời, vang động bốn phương. Với một phong cách viết rạch ròi, sáng tỏ, đầy ngẫu hứng, đầy thương cảm, về một nhà văn tài năng nhưng có số phận nghiệt ngã, đường đời đầy thương tổn, tác phẩm đã gây một tiếng vang lớn trong dư luận. Nhưng Tầm Dương thời ấy hoàn toàn không biết rằng mình tuy ở thời Đại Tráng, nhưng hào 6 chủ mệnh trong năm cho biết: anh đang ở cuối thời Đại Tráng, hăng hái có thừa đấy, nhưng chẳng khác nào con dê non đang húc sừng vào dậu thưa, mắc sừng ở đấy, tiến không được mà lùi cũng không được, tai họa đang rình phía sau. Quả thật, cái gì phải đến đã đến. Anh kể: Năm 1958, tai bay vạ gió, danh phận những sáng tác của nhà văn họ Vũ bị cuốn nhanh vào một dòng xoáy dữ dội. Người ta bắt đầu vạch lá trong khu vườn tác phẩm sai quả của Vũ Trọng Phụng: mấy con sâu bị tóm cổ (khiêu dâm, tơrốt-kít) được phóng đại tô màu cho quần chúng thấy rõ vẻ gớm ghiếc của nó. Khu vườn này nhiều sâu quá, một cái biển trương lên: Cấm địa. Trong thư viện, tác phẩm Vũ Trọng Phụng bị đút vào khu vực nghiên cứu đặc biệt, phải có giấy giới thiệu đặc biệt mới được lục lọi đến. Vũ Trọng Phụng bị gạt ra ngoài chương trình ngữ văn phổ thông và đại học. (Vũ Trọng Phụng, 30 năm ấy bây giờ là đây báo Người Hà Nội ngày 15-10-1988). Sau đó lần lượt xuất hiện hàng loạt kết luận chủ quan, cực đoan khác về Vũ Trọng Phụng, dìm sâu văn nghiệp của ông xuống đáy sông. Và tất nhiên, cùng với dòng xoáy oan nghiệt đó là số phận của tác giả Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực. (Xin xem quẻ Lôi Phong Hằng, hào 1: Quá mong được giữ bền (thân mật lâu dài) với người trên - ở đây là Vũ Trọng Phụng -, cố chấp không liệu thời thế nên gặp họa. Không được lòng “cấp trên”. Khó gặp tri kỷ. Cuốn sách ra đời không đúng lúc). Tầm Dương rời khỏi tổ Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội, về làm ở Sở Giáo dục Hà Nội (5 năm) rồi dạy văn ở các trường trung học. Phải 30 năm sau, lần lần văn nghiệp của Vũ Trọng Phụng mới lại được những tiếng nói trung thực, khách quan cứu gỡ và tên tuổi nhà văn họ Vũ lại sáng rực trên văn đàn. Tuy nhiên, trong bài báo vừa kể trên, in lại trong Góp lời Thiên cổ sự (GLTCS), Văn Tâm không nói một lời về tác phẩm của mình. Chỉ một lần trong bài ngắn trả lời các nhà văn chủ trương làm cuốn sách Nhà văn Việt Nam, chân dung tự họa, Văn Tâm nhắc khéo đến sự kiện trên gọi đó là tai nạn lao động nghề nghiệp (Sách vừa dẫn, trang 259). Vậy là ích đấy mà tổn đấy. Văn Tâm (Tầm Dương) cũng phải mất ít nhất 5 năm trời vào vụ tai nạn nghề nghiệp ấy.

    Cái hào 6 quẻ Tổn tiếp tục vực ông dậy. Nghiệp chướng nghiên cứu văn chương còn theo đuổi ông. Lần này ông tìm đến với Tản Đà, thần tượng của hàng triệu bạn đọc một thời, nhưng cho đến những năm Sáu mươi vẫn còn nhiều dấu hỏi chưa được trả lời. Một công trình hao tâm tổn trí. Ông đã phải đọc và ghi chép không biết bao nhiêu tư liệu của Tản Đà và về Tản Đà trong điều kiện không còn ở cái kho tàng ngữ văn ĐHSP Hà Nội nữa, và trong hoàn cảnh tâm trí không thảnh thơi sau cái tai nạn nghề nghiệp. Nhưng ông đã vượt qua. Chúng tôi cho rằng cũng vẫn tinh thần quẻ Tổn xui khiến ông tìm về một thân thế văn chương đầy những thăng trầm, thử thách. Tầm Dương đặt tên cho cuốn sách của mình là Tản Đà khối mâu thuẫn lớn. Ông cố gắng làm rõ thân thế và sự nghiệp Tản Đà như một tấm gương phản chiếu một nét đặc biệt của xã hội Việt Nam trong khoảng 30 năm đầu của thế kỷ 20 này. Những trang viết về nghệ thuật thơ ca của Tản Đà không chỉ có cái minh mẫn, tỉnh táo, bao quát, còn có cả đằm thắm, rung động. Tầm Dương còn khẳng định công lao cách tân của Tản Đà cả trong lĩnh vực văn xuôi, và mạnh dạn phản bác ý kiến đánh giá của một nhà nghiên cứu có uy tín cho rằng văn xuôi của Tản Đà không còn giá trị gì cả.

    Nhưng Văn Tâm không dừng tại đây. 25 năm sau, trong cuốn GLTCS ông tiếp tục viết về Tản Đà, gọi Tản Đà là nhà văn hóa tiền đạo và kể ra 10 biểu hiện của tính tiền đạo, tiên phong ấy trên trận địa văn hóa đương thời (xem bài Tản Đà ánh chớp trong đêm thế kỷ).

    Lần giở các trang trong GLTCS (Nxb Văn học 1992) ta sẽ thấy người quẻ Tổn Văn Tâm tiếp tục tìm đến những hiện tượng thương tổn trong văn chương Việt Nam, chia sẻ, vực dậy, rũ bụi đường trường, làm sáng lên, như đã từng làm thế với hai nhà văn lớn Vũ Trọng Phụng và Tản Đà. Với Đèo Cả, đá mang đá quý (tr. 8), tôi đọc thấy không phải ông chỉ nói về bài thơ Đèo Cả mà chính là ông nói về nhà thơ Hữu Loan đã lui về ở ẩn chốn quê Thanh, nhưng theo ông vẫn sừng sững như một Đèo Cả, một trong những ngọn núi kháng chiến gian lao của một giai đoạn lịch sử chưa dễ đã ai quên. Bài về Dư Thị Hoàn cũng vậy, ông thấp thỏm lo rằng cái lối nhỏ (tên tập thơ của nhà thơ nữ này) cũng dễ bị vùi lấp chăng, nên ông hỏi: Bạn đã đọc chưa? Thơ Dư Thị Hoàn. Rồi đến “Đọc” Nguyễn Huy Thiệp, ông thẳng thắn đặt ra vấn đề văn hóa đọc đối với tác phẩm đa thanh đa nghĩa của nhà văn này, vì thế tựa đề bài đánh dấu ngoặc kép chữ đọc. Một loạt hiện tượng văn chương, văn học khác hoặc bị hiểu sai, hoặc do một phương pháp xã hội học dung tục (cụm từ Văn Tâm hay dùng) làm mất đi giá trị thực, được ông đem ra rũ bụi và làm cho tỏa sáng lên. Phải kể đến trước hết hai bài Về truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, và Về bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử. Hoàng Lại Giang nhận xét về bài sau: Bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ có bao nhiêu người nói, người viết trên nhiều tờ báo trung ương và địa phương. Nhưng tôi đọc đi đọc lại, vẫn thấy anh có cách nói riêng của anh, rất Văn Tâm, tỉ mỉ trong từng chi tiết, phân tích đến cùng trong từng dữ kiện, và cuối cùng tìm ra đáp số của riêng anh. Cũng có thể nói như thế đối với bài Về truyện ngắn Chữ người tử tù... Không có một văn hóa đọc tích luỹ nhiều năm không thể đọc được như thế. Đáng chú ý là Văn Tâm với sứ mệnh Tổn mình ích người không bỏ qua những gì anh thấy là tổn hại cho văn chương nước ta, từ lớn đến nhỏ. Nhỏ như việc thừa một cái dấu phẩy trong câu Kiều Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo. Văn Tâm phân tích rất thú vị về việc hiểu lầm mà đặt cái dấu phẩy vào giữa câu thơ như trên, cái dấu phẩy tuy nhỏ nhoi nhưng có thể gây sự cố chết người kiểu phúc thống phục nhân sâm tắc tử, như truyện vui dân gian đã bảo ban chúng ta một cách không đùa. Nhất là khi câu thơ ấy lại in trong sách giáo khoa cho hàng chục vạn học sinh toàn quốc học. Với hơn hai trang in, Văn Tâm đã lý giải hết sức thuyết phục và rất hay rằng nếu cần cái dấu phẩy thì nó phải ở sau chữ tình: Với khi khỏi cửa dứt tình, chẳng theo, để phân biệt Kiều là chủ ngữ ẩn của khỏi của dứt tình, còn Hoạn Thư là chủ ngữ ẩn của chẳng theo. Quả là đặt cái dấu phẩy vào giữa câu là giết chết luôn câu thơ. Đọc hai bài Nhiễu sự văn chương và Ngộ sự văn chương, ắt hẳn nhiều bạn đọc đã thầm cảm ơn nhà phê bình, giúp ích cho mình rất nhiều trong việc nâng trình độ thẩm mỹ văn chương. Cuốn sách GLTCS mặc dầu có rất nhiều lỗi in, vẫn được Ban Chấp hành Hội nhà văn, trao tặng thưởng văn học năm 1992.

     Tôi muốn nói về mấy chữ rất Văn Tâm và đáp số của riêng anh của Hoàng Lại Giang. Nó bao gồm cái văn hóa đọc vừa nói trên kia, cộng hưởng với một lối diễn cảm vừa có sức thuyết phục vừa cảm được lòng người. Và cả hai cái đó đều tiềm ẩn trong cấu trúc Hà Lạc của Văn Tâm. Trước hết là văn hóa đọc. Quẻ Hậu thiên của ông là Trạch Địa Tụy. Quẻ có 4 hào âm mở đầu cho 4 đại vận, mỗi đại vận 6 năm. Các đại vận 6 năm này đều kết thúc bằng quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Nghĩa là ông có đến 4 quẻ Đại Súc. Mà nghĩa quẻ Đại Súc cô đúc lại trong 4 chữ: Đốc thực Huy quang, (càng) dày dặn (càng) tỏa sáng. Cái nghiệp nghiên cứu văn học đòi hỏi thế: đốc thực thì mới huy quang. Và thế là hình thành trong Văn Tâm một quá trình kiên trì, kiên tâm chịu khó đọc và ghi nhận, hình thành một văn hóa đọc của riêng anh. Thứ hai phải kể đến quẻ Tiên thiên Sơn Trạch Tổn. Quẻ có 3 hào âm mở đầu cho 3 đại vận 6 năm. Các đại vận 6 năm này đều kết thúc bằng quẻ Trạch Sơn Hàm. Nghĩa là ông có đến 3 quẻ Hàm. Hàm là Cảm, là giao cảm, là làm cho người cảm. Muốn cảm được người thì trong lòng phải rỗng không, nghĩa là chí thành, vô tư. Phan Bội Châu giảng quẻ Hàm đưa quẻ Đại Súc ra đối chiếu. Nếu quẻ Đại Súc nhấn mạnh sự dày dặn (đốc thực) thì quẻ Hàm nhấn mạnh chữ rỗng không (hư), hai nghĩa đó bổ sung cho nhau. Có cả hai thứ đó: sự tích lũy dày dặn và lòng chí thành hướng về bạn đọc,Văn Tâm đã tìm ra một lối văn của riêng mình, vừa giàu sức thuyết phục vừa cảm được lòng người, một cái gì đó rất Văn Tâm không tìm thấy ở một nhà phê bình khác. Âu cũng là của trời cho.

    Quẻ Hậu thiên, hậu vận của Văn Tâm bắt đầu từ năm 46 tuổi (1978) là quẻ Trạch Địa Tụy. Tụy là Tụ, là tụ họp. Tượng quẻ là Đầm (trạch) ở trên Đất (Khôn), đầm ở trên đất thì nước có chỗ để tụ lại, là tín hiệu có hanh thông. Từ tượng đó, thánh nhân khuyên người có quẻ Tụy cần có tinh thần hòa thuận, vui vẻ; vì là tụ họp đông người nên có thi thố, thử thách, có vui có buồn, không lường trước được, nên cần tàng chứa đồ binh khí (có thể hiểu là tàng chứa của cải vật chất) để phòng sự bất ngờ xảy ra. Nhiều chuyện đã phản ánh ở trên xung quanh cuốn GLTCS vừa là tiếp tục thời Tổn, vừa là diễn ra trong thời Tụy của nhà phê bình văn học. Bản thân cuốn sách thu gom nhiều bài báo và bài phát biểu trong các cuộc hội thảo đã là một cuộc tụ họp vui vẻ, trong đó không ít thử thách, không ít buồn vui, và cuối cùng được tặng thưởng của Hội Nhà văn cũng chính là kết quả của một cuộc thi thố (hai chữ này có ở lời tượng quẻ Tụy, xin các bạn mở coi). Tôi chỉ lưu ý thêm: hào chủ mệnh là hào 3 quẻ Tụy. Hào 3 bảo rằng: những năm này của Văn Tâm tuy là tụ họp đông vui đấy, toại chí đấy (sau những năm tổn mình ích người), bốn bể là nhà, nhưng ông không tránh được nỗi buồn, không tránh được than thở đâu (Những chữ in nghiêng là trong lời hào). Hãy nhìn vào hào 3: nó là hào âm, thân phận nó là âm nhu, nó ứng với hào 6 trên cùng, nhưng hào này cũng âm nhu, vậy tụ họp thế còn thích thú nỗi gì. Là thể âm, nó thích nhóm họp với hào 4 dương ở trên nó, hoặc là hào 5 dương trên nữa, nhưng 4 dương có bạn 1 âm rồi (4 và 1 ứng nhau), 5 dương cũng có 2 âm ứng hợp rồi, vì thế mà đành than thở. Nhưng vì ở thời Tụy không thể đứng một mình, thôi đành lên với 6 âm, chính ứng, nhưng không hợp vì là âm với âm. Không hợp nhưng vẫn còn hơn.

    Tín hiệu là như thế, còn trong thực tế sự tình đã diễn ra thế nào? Cuốn sách dày dặn tôi đang cầm trong tay Đoàn Phú Tứ, con người và tác phẩm (Nxb Văn học - Hà Nội 1995. 661 trang) có lẽ là một chứng chỉ tiếp nối thời Tổn và sang giữa thời Tụy của anh. Một cuộc tụ hội vui vẻ. Bìa đẹp in họa phẩm chân dung Đoàn Phú Tứ của ngọn thần bút Bùi Xuân Phái. ảnh và danh mục toàn bộ tác phẩm văn học, báo chí, dịch thuật của Đoàn Phú Tứ. Một chân dung toàn vẹn Đoàn Phú Tứ (bằng chữ nghĩa) của Văn Tâm và rất Văn Tâm 213 trang, trong đó riêng việc trình bày về nhóm Xuân Thu Nhã tập nổi tiếng trong lịch sử văn học nước ta nửa đầu thế kỷ 20 mà Đoàn Phú Tứ là nhân vật chủ chốt, cùng bài thơ Màu thời gian hay tuyệt của ông chiếm gọn 50 trang. Các tác phẩm của Đoàn Phú Tứ: Kịch, thơ, tiểu luận, báo chí được sắp xếp theo thời gian xuất hiện dưới đầu đề chung: Còn chút của tin. Riêng bài thơ Màu thời gian được giới thiệu bằng bút tích của Đoàn Phú Tứ (trang 171). Cuối cùng là những bài viết của bạn bè về Đoàn Phú Tứ, của Trần Lê Văn, Nguyễn Lương Ngọc, Song Kim, Nguyễn Xuân Sanh, Vũ Đình Hoè, Phùng Quán, ảnh ký họa chân dung và phù điêu của Văn Cao và Phan Tại (dưới đầu đề chung: Thấy hiu hiu gió). Cuối cùng, Lời cuối sách của Văn Tâm cho biết tác phẩm của Đoàn Phú Tứ xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, trừ bài thơ Màu thời gian, mấy chục năm qua không in lại, bị mất mát, tán lạc nhiều; do đó những trang của ông được “tái xuất” trong tập sách này là kết quả của một quá trình sưu tầm, lần hỏi không dễ dàng. Một niềm an ủi lớn không riêng đối với Đoàn Phú Tứ quá cố và những người thân của nhà thơ, mà đối với tất cả những ai yêu mến nhà thơ, đối với nền văn học lãng mạn nước ta trong lịch sử.

    Lời quẻ Tụy có câu:...coi quẻ này hãy tàng chứa đồ binh khí, phòng sự bất ngờ xảy đến. Văn Tâm không biết có vấn đề này trong mệnh của mình, nhưng tôi biết ông bà sống cần cù, tiết kiệm. Có nghĩa là có ý thức tàng trữ. Và điều bất ngờ đã xảy ra. Năm 1997 ông gặp quẻ Thiên Trạch Lý, hào 1. Lời quẻ có câu: Dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn, hanh thông. Năm ấy đúng là ông gặp nạn, khác nào dẫm lên đuôi cọp. Ông bất ngờ bị một cơn gió, làm liệt thần kinh. May ở hào 1: Còn giữ được bản chất trong trắng mà đi trong đời. Nhân quả hào 1 quẻ Thuần Khôn có câu: Đi trên sương mỏng phải nhớ trời lạnh giá đông sắp tới. Lại thêm vận năm có câu: vận xấu có tang phục. Không câu nào thừa. Nhưng ông có cái may nữa, năm ấy có quẻ Đoài, có Địa nguyên khí. Vậy là đồ binh khí dự phòng (ở đây là lối sống cần cù, tiết kiệm tiền phòng thân) không thừa. Lại có lòng thành tín: cuối năm ấy, hàng ngày người qua lại đường Phan Bội Châu (Hà Nội) thường bắt gặp một con người có dáng vóc cao lớn, vầng trán nhô bướng bỉnh và thông minh, kiên nhẫn tập luyện nhấc từng bước chân, bên cạnh một người đàn bà có nét mặt dịu hiền, thương khó, bà vợ ông, ân cần dìu dắt. Và cọp đã không cắn ông. Nhà phê bình văn học suốt một đời chịu thương chịu khó rũ bụi đường trường văn học lại từng bước vượt qua khổ nạn, tìm lại sức mạnh của mình. Chúng ta mừng cho ông.

    10-1999

     

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Văn Tâm

    Sinh 16-7-Quý Dậu giờ Tị (5-9- 1933). Âm Nam. Nắng nhạt (Bạch Lộ) (tiết lệnh tháng 8): 08-09-1933. Giữa thu: 23-9-1933 (Hóa công Ly). Mệnh: Kim (bao kiếm). Trung nguyên. Sinh giờ khí dương. (Do sinh trước tiết Nắng nhạt nên Hà Lạc tính tháng sinh là tháng 7). Can Chi: Năm Quý Dậu, Tháng Canh Thân, Ngày Giáp Tuất, Giờ Kỷ Tị. Mã số Can Chi: 2, 4-9; 3, 4-9; 6, 5-10; 9, 2-7. Số âm: 28. Số Dương: 42.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    1*

    0

    0

    0

    1

    1

    33-41

    72-77

    66-71

    60-65

    51-59

    42-50

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    0*

    0

    0

    02-07

    93-01

    84-92

    78-83

    14-19

    08-13

    1

    1

    0

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    0

     Sơn Trạch

     Tổn

     

    Địa Lôi

     Phục

    Trạch Địa

     Tụy

     

    Phong Sơn

     Tiệm

    Địa Sơn

     Khiêm

     

    Hoá công: (Ly) Không. Thiên nguyên khí: Khôn ở Hỗ Tiên thiên, Hậu thiên. Địa Nguyên khí: Đoài ở Tiên thiên, Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách mức trung bình cao. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu các hào 1, 2, 4, 5, 6.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung Nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits42,920,740

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...