Search

Access times

  • Total visits42,919,214

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà văn: Khương Hữu Dụng

Xuân Cang

  • Friday, 12:11 Day 31/10/2008
  • KHƯƠNG HỮU DỤNG
    THƠ MỘT THỜI MÂY SẤM GIAN TRUÂN

    1

    Nhà thơ Khương Hữu Dụng sinh đúng vào giờ Tý ngày mồng một tháng Giêng năm Đinh Mùi (13-02-1907), nghĩa là giờ đầu tiên của năm mặt trăng. Mọi người dành những lời tốt đẹp nhất của năm mới chúc mừng cậu bé. Nhưng không ai biết rằng bắt đầu từ giờ khắc ấy, giời đất đã dành cho cậu bé một cuộc đời gian truân. Cấu trúc Hà Lạc của Khương Hữu Dụng mở đầu bằng quẻ Thủy Lôi Truân. Thủy là Nước, ở đây hiểu là Mây, Lôi là Sấm. Truân là rối ren, gian truân. Tượng quẻ là sấm ở trong mây, mây sấm còn đan chen, chưa thành mưa được. Vì chưa thành mưa nên còn bức bối, gian khó. Chưa mưa nhưng sẽ mưa, nghĩa là sẽ có cơ hội. Người xưa còn gọi quẻ này là Vân Lôi Truân. Truân còn nghĩa là Đầy. Phan Bội Châu giảng rằng: Quẻ Truân phản ánh thời vạn vật mới sinh ra, lúc âm dương giao hoà, mọi vật đang sinh sôi, nẩy nở đầy khắp, vận trời mới tạo dựng, còn hỗn mang mờ tối, khi ấy chưa lấy gì làm hanh thông nên còn khốn khó. Quẻ ngoại là Khảm. Khảm là nước, nên hiểm (không gì hiểm bằng nước sâu). Quẻ nội là Chấn, là Sấm, sấm thì động. Trong lúc hiểm mà hành động được, phải là người mạo hiểm, có chí, có tài. Nhưng ở thời Truân, có tài đức chưa đủ, còn phải có hỗ trợ từ bên ngoài, nghĩa là cần có bạn hiền tài giúp đỡ. Lời Tượng nói rằng: Người quân tử gặp thời Truân coi tượng quẻ mà sửa sang việc trị nước, giống như việc sắp xếp các đường tơ để dệt vải trên khung cửi. Như vậy người quẻ Truân là người ở đầu thời hiểm nạn, khi vạn vật mới sinh sôi, trước hết là người này nhậy cảm với những khó khăn ban đầu, cũng là người có niềm tin sâu xa vào sự vật rồi đây sẽ hanh thông. Người quẻ Truân mà là người quân tử thường ý thức được sứ mạng mở đường của mình trong giai đoạn hỗn mang, tăm tối, lúc mọi vật mới sinh thành. Cũng như người quẻ Kiển ở giữa thời gian khó (xem chân dung Trần Nhuận Minh), người quẻ Khốn ở thời cực khốn, người quẻ Truân ở đầu thời hiểm nạn có niềm thông cảm sâu sắc với những thời và hoàn cảnh hiểm nạn, gian truân. Người quẻ Truân cũng là người nhậy cảm với việc tổ chức, sắp xếp cuộc sống, lớn như việc của quốc gia, nhỏ như việc nhà, đi vào công nghệ như việc dệt vải (sắp xếp các đường tơ), bằng lòng với những kết quả nhỏ, làm những việc nhỏ tích lại thành việc lớn...Người quẻ Truân thường khao khát gặp các quý nhân, bậc hiền tài để dựa vào họ mà phát huy tài trí của mình. Tính cách người quẻ Truân thường là kiên trì, chịu khó, xông pha, vượt hiểm, không biết sợ hiểm, nhưng thánh nhân khuyên không nên liều lĩnh, liều lĩnh như người đuổi hươu trong rừng, mà không người dẫn, sẽ gặp hoạ. Biết làm chỗ dựa cho người, coi trọng việc kết bạn, bởi vì ở thời truân một mình thường không gánh nổi việc lớn. Phan Bội Châu ví như Nguyễn Huệ xưa lập nghiệp, bắt được Nguyễn Hoàng Đức, là người tài giỏi, người của Gia Long, đã mời lên ngủ cùng giường với mình. Người thời Truân biết thân phận mình thường tìm người hợp với mình mà kết bạn, cốt được người đắc lực giúp mình, không chơi trèo, làm thân với người quý, để bị coi thường.

    Khương Hữu Dụng may mắn sinh trong mùa đông (sau Giữa Đông) lại có hai quẻ Khảm nên có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hoá công). Sinh giờ Tý nên mệnh (nguyên đường) ở Hào 1: Gặp thời khó khăn, dễ bị kẹt vào nơi hiểm trở. Tiến thì làm việc dân việc nước, lui thì giữ phận mình. Hào này là hào dương, có chí hướng, nhưng vị trí còn thấp, lại bị bốn hào âm phía trên chèn ép, lại chưa đủ tài (do thời Truân), phải tập hợp bạn bè, xây dựng từ cái nhỏ. Do bị chèn ép, muốn tiến mà không được, nên phải đi quanh co, dùng dằng, có lúc còn thiếu quả quyết.

    Đường đời và tính cách Khương Hữu Dụng (thể hiện trong sự nghiệp văn chương) đã diễn ra đúng như vậy. Ba tuổi mồ côi mẹ, lớn lên trong tình thương của bố và bà nội... Học trường kiêm bị Phai-phô (tức Hội An, Đà Nẵng, quê hương ông) đỗ Sơ đẳng tiểu học năm 1921. Năm 1922 thi vào Quốc học Huế, đụơc học bổng, học hết ban thành chung. Thi ra (1926) bị đánh hỏng và ghi tên vào sổ đen mật thám. Đầu 1927 mới được bổ đi dạy học ở Bình Định. Chưa được một tháng, Công sứ Pháp ở Quy Nhơn coi ông là “cái loa của Phan Bội Châu”, nên trả lại Nha học chính Trung Kỳ. Khương Hữu Dụng bị đổi ra Quảng Bình rồi chuyển đi nhiều nơi, cả những vùng nước độc. Cuối cùng vào tháng 10 năm 1941 ông bị cách chức tại Công-Tum vì “lòng trung thành đáng nghi ngờ và những hoạt động chính trị đáng khiển trách”. (Tuyển tập Khương Hữu Dụng, NXB Văn Học Hà Nội, 1992 tr.9). Năm 1940, hai anh em Khương Hữu Dụng, một người bị tù ở Trà Kê, một bị đày ở Côn Đảo. (Sđd. tr.16). Những năm này còn những tai biến khác: vợ qua đời, nhà cháy...

    Năm 1945, ông tham gia tổng khởi nghĩa ở Đà Lạt, trong Thường vụ Việt Minh tỉnh Lâm Viên, phụ trách tuyên truyền. Sau được điều về Tân văn hoá (Việt minh Trung bộ), rồi chuyển sang Thanh niên Cứu quốc Trung bộ, phụ trách xuất bản và phát thanh. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, tập kết ra Bắc, Khương Hữu Dụng làm biên tập viên Nhà xuất bản Văn học cho đến khi nghỉ hưu. Về sự nghiệp thơ ca, ông bắt đầu có thơ đăng báo Tiếng Dân từ năm 21 tuổi (1928) nhưng phải đến năm 45 tuổi (1951) thành tựu văn chương mới được khẳng định trên phạm vi toàn quốc bằng tác phẩm anh hùng ca Từ đêm Mười chín.

    Vài nét đơn sơ thế cũng đủ để thấy thế nào là một thời Truân. Nhưng nhờ có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hóa công) mà Khương Hữu Dụng đã vượt lên tất cả. Ngay từ thưở bé ông đã chịu khó học và tiếp thu cái niềm vui thẩm mỹ thơ ca của người cha truyền cho. Năm 19 tuổi ta (1925) đã làm bài thơ mừng thọ bà nội 80 tuổi được bạn bè tấm tắc khen và nhớ đến bấy giờ:

    Bảy chục xưa nay dễ mấy người

    Mà bà tớ đã tám lần mươi

    Thờ chồng dốc một theo con trọn

    Nuôi cháu lên ba mất mẹ rồi

    ......

    Người ta thấy hai câu ba, bốn, chàng trai đã rất thành thục thể thơ Đường: đối nhau cứ là chan chát (thờ với nuôi, chồng với cháu, một với ba, con với mẹ) mà vẫn thoải mái.

    Quẻ Truân bảo rằng ở thời Truân cần có bạn bè, tập hợp nhiều người hiền tài, tìm quý nhân dìu dắt, thì mới qua được gian truân và phải bắt đầu xây dựng từ những đơn vị nhỏ. Không ai mách bảo điều ấy nhưng Khương Hữu Dụng đã làm đúng như thế. Năm 1926, chàng trai đang học ở Quốc học Huế thì có vụ án Phan Bội Châu làm bừng thức lòng yêu nước yêu dân trong tuổi trẻ cả nước. Cụ Phan bị đưa về giam lỏng ở Huế. Cuộc tiếp xúc đầu tiên của Khương với cụ Phan là ở sân trường Huế khi cụ Phan được mời đến nói chuyện với học trò. Bỗng rào rào như ong vỡ tổ, hàng ngũ học sinh xáo động. Một ông già quắc thước, áo dài thâm, quần vải trắng với đôi mắt sáng quắc, chòm râu quai nón đốm bạc, xuất hiện, uy nghi, trượng phu (Sđd.tr.144). Sau đó là những cuộc đến thăm Phan Bội Châu tại nhà. Một số anh em Nam- Ngãi chúng tôi học ở Huế, hè năm ấy không về quê mà chung nhau thuê một gian nhà ở giữa dốc Bến Ngự để tiện lên nhà cụ Phan trên đầu dốc... Chúng tôi bàn với nhau ra một tờ báo chuyền tay, được cụ Phan đỡ đầu và bà Đạm Phương giúp sức. Bà đặt tên cho tờ báo là “Ngòi bút thiếu niên” và cho mượn máy đánh chữ của Nữ công học hội mà bà làm hội trưởng. Bà còn cho cả giấy than và giấy pơ-luya. Mỗi số đánh máy 16 bản, làm 2 táp, do chị Trần Thị Hường, đứng chủ hiệu sách Mai Ký của anh Hồ Ký sáng lập ra, chịu trách nhiệm trông coi việc “in ấn” và “phát hành”. Mỗi tháng ra một kỳ.

    Tờ báo không có người phụ trách chính, anh em trao đổi ý kiến rồi chia nhau viết bài. Cụ Phan đặt cho mỗi người một biệt hiệu, lấy ý từ tên, như Hàm Xuyên cho anh Trần Trọng Hải, Bồi Cán cho anh Diệp, Kỉnh Trại cho anh Trang và Thế Nhu cho tôi...

    Tờ báo được bạn đọc yêu mến gửi bài tới cộng tác.

    Tờ báo chỉ thọ được có ba tháng...vì “sự chiếu cố” của mật thám. Nhưng “những cây bút thiếu niên” của tờ báo được sự vun bón của cụ Phan (như Hàm Xuyên, Thế Nhu...) như những hạt giống tốt sau này sẽ tiếp tục nảy mầm trong các báo Tiếng Dân, Phụ nữ tân văn... và trưởng thành với phong trào mặt trận Dân chủ trong các báo “Mới” ở Sài Gòn,“Thế Giới” ở Hà Nội, không phụ lòng ước vọng của cụ với “phường hậu tử” (Sđd.tr.148).

    Việc làm tờ báo tay đúng là một việc nhỏ, một đơn vị nhỏ trong lời hào 1 quẻ Truân. Còn Phan Bội Châu đúng là một quý nhân, một người hiền tài của thời Truân của Khương. Trong rất nhiều cuộc gặp gỡ về sau này, có hai cuộc gặp sau đây, theo tôi, để lại dấu ấn son trong mệnh văn chương của Khương. Cuộc thứ nhất diễn ra sau sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Khương làm hai bài thơ đem đến đọc và xin ý kiến cụ Phan. Cụ khen hai câu ở bài một:

    Tức tối tím đen gan thiết thạch,

    Não nồng sôi đỏ lệ tang thương.

    Cụ sửa cho một chữ ở bài hai. Khương viết:

    Hoa lan dẫu cháy mùi lan đượm

    Thân trúc dầu thiêu lóng trúc còn.

    Cụ Phan sửa là:

    Hoa lan đành cháy mùi lan đượm

    Thân trúc dầu thiêu lóng trúc còn.

    Sau này, Võ Quảng và Công Uẩn (Lê Đạt), hai người bạn thơ tâm đắc của Khương bình luận như sau: Chỉ một chữ đành mà câu thơ sâu xa thêm xiết bao. Câu thơ như bỗng rưng rưng tâm sự (Sđd.tr.14).

    Cuộc gặp thứ hai mùa hè năm 1936 do chính Khương kể:...Tôi muốn viết một bài thơ tặng cụ, cốt để nói lên tâm sự của cụ với người mai sau, gọi là tỏ chút lòng tri ân với người thầy cách mạng vỡ lòng cho tôi. Bài thơ lấy đầu đề: Một tâm sự, hai thời kỳ.

    I

    Nước người bôn tẩu bấy nhiêu đông

    Toan để làm chi?- Lọ hỏi lòng

    Ngày cứ xông pha thân gió bụi

    Đêm thường lẽo đẽo mộng non sông

    Trăm rèn tân khổ gan nên sắt

    Bảy thước ngang tàng núi cũng lông

    Việc đã cần ta, ta phải gánh

    Dẫu theo cái chết đổi thành công

    II

    Bảy chục xuân thu bạc cả đầu

    Non sông chưa trắng nợ mày râu

    Xét thân từng chịu bia muôn đạn

    Mò bụng còn sôi máu một bầu

    Ma bệnh qủy sầu theo quấy mãi

    Gan đồng dạ sắt dễ sờn đâu

    Một ngày còn sống còn giương mắt

    Trông cuộc cờ kia xáo Á Âu

    Lâu ngày được gặp lại cụ, tôi mừng vui khôn xiết kể. Mừng thấy sức khoẻ cụ có khá hơn những năm trước, tuy bệnh vẫn cứ rề rề không dứt hẳn được. Mừng thấy tinh thần cụ sảng khoái hơn do chuyển biến tốt của thời cuộc. Và vẫn tấm lòng say sưa với thơ, thái độ quan tâm đến lớp trẻ, quan tâm nhiều khi tới mức thể tất và hơi quá hào phóng trong lời khen.

    Tôi mới vùa đọc tới hai câu 3, 4 của bài đầu, cụ đã nắm vai tôi: “Ông làm sống lại cuộc đời bô bá của tôi”. Đến hai câu 5, 6 thì cụ hỏi: “Ông cũng biết hai câu bách luyện à? (Vì khi mới gặp cụ ngày xưa, tôi chưa biết chữ Hán mấy). Rồi cụ tiếp: “Trăm rèn mà tân khổ. Rèn tân khổ mà gan nên sắt, khá đấy. “Khinh như hồng mao, trọng như Thái Sơn” thì ai mà không biết. Nhưng xưa nay đã mấy ai hạ ba chữ “núi cũng lông”, hay, hay!” Rồi cụ ngâm lên một cách sảng khoái hai câu 5, 6 ấy, giọng ngâm của cụ nhập tâm vào tôi, đến bây giờ tôi vẫn có thể ngâm lại hệt cái giọng Nghệ, ấm và nồng của cụ.

    Bài thứ hai, cụ thích nhất là hai chữ “bạc” và “trắng” trong hai câu đầu. Đọc đến câu 4, cụ lại cắt ngang hỏi: “Ông mà cũng biết cả “môn tâm tự vấn” à? Cụ có vẻ hài lòng vì thấy tôi đã chịu khó học thêm chữ Hán.

    Hai cuộc gặp kể trên mang dấu ấn son trong đời văn của Khương Hữu Dụng là ở chỗ từ đó về sau, làm thơ cũng như dịch thơ, Khương hết sức quan tâm tới chọn chữ trong thơ, và trong việc này ông có những thành công độc đáo. Hơn thế nữa ông còn hết sức cầu kỳ trong việc hoàn chỉnh một bài thơ, một ý thơ tâm đắc. Được cụ Phan khuyến khích, ông càng ra sức trau giồi khả năng chữ Hán. Nhờ vậy mà sau này Khương trở thành một trong những nhà thơ dịch thơ chữ Hán, thơ Đường cự phách ở nước ta. Phan Bội Châu còn là tác giả những bài thơ dài (trường ca) như Hải ngoại huyết lệ thư, Sùng bái giai nhân. Có thể đấy là những tín hiệu cổ vũ khuyến khích Khương đi vào thể trường ca như Kinh nhật tụng, Từ đêm Mười Chín. Mới hay, người thời Truân, quẻ Truân mà gặp được quý nhân thì đó là tín hiệu tuyệt vời. Tình bạn vong niên với cụ Phan còn được khắc hoạ trong bài thơ Gặp bạn cố tri Ông Thị Hán (Ông Thị Hán là một bút danh của Phan Bội Châu).

    Mấy lâu gió đón với mưa cầm

    Én Bắc nay mừng gặp nhạn Nam

    Nồng lạt vơi trà dăm bảy chén

    Hàn huyên no chuyện bấy nhiêu năm

    Vách rừng bốn mặt rình nghe lóng

    Tâm sự đôi bên lặng hiểu ngầm.

    Muốn tả tình kia khôn xiết tả

    Non ngần cao đó, biển ngần thâm

    Và trong đôi câu đối viếng Phan Bội Châu, một đôi câu đối để đời của Khương, viết năm 1940, đến 38 năm sau còn sửa

    CHIM từng phen khao khát tự do,

    To cánh cuốn trời xa,

    Muôn ngàn dặm lên tiếng gọi đàn

    Ngậm đá lấp biển xanh

    Đau đáu cành Nam thềm gió sớm

    THUYỀN gặp buổi éo le hoàn cảnh

    Ngược buồm về bến cũ

    Mười lăm năm lựa dòng khua nước

    Gõ chèo xô sóng bạc

    Bâng khuâng bờ Ngự hỏi trăng khuya

    Rõ ra người thời Truân thương tiếc một quý nhân của đời mình.

    Cần nói thêm rằng cũng trong khoảng thời gian 1926, sau khi đọc tập thơ chứa chan tình yêu nước thương nòi Bút quan hoài của Á Nam Trần Tuấn Khải, Khương đã khao khát được gặp ông, đã viết bài thơ “Gởi tác giả Bút quan Hoài” (1927) mà không biết gởi vào đâu, vẫn giữ riêng trong lòng. Mãi đến sau 1975, nghe tin Á Nam còn sống, Khương lần mò tìm bằng được, hai người gặp nhau ở thành phố Hồ Chí Minh, và Khương mới có dịp chính mình đọc cho Á Nam nghe bài thơ xưa. Thiết tha tìm bạn chính là tâm trạng người thời Truân. Sau cuộc gặp này, đêm về không ngủ được, Khương chong đèn viết bài thơ họa nguyên vận bài thơ 48 năm trước:

    Cùng chung tâm sự hợp tâm hồn

    Chung mối quan hoài với hải sơn

    Biết bác qua thơ từ rạng sáng

    Gặp nhau thì tuổi đã hoàng hôn

    Văn chương thôi khóc vì dâu bể

    Thời thế đà xoay hết uất hờn

    Bác ngoại tám mươi, tôi ngót bảy

    Đôi già vui lại tuổi măng non...

    2

    Thời Thủy Lôi Truân của Khương Hữu Dụng hiện lên như chạm trổ trong thơ ông. Những biểu tượng thiên nhiên đi vào cảm xúc thơ ông là Nước, Sấm, Núi, Đất. Tượng Nước (Thủy, Vân) đi vào thơ ông thành những bài thơ hay, như Trời lụt, Than bão lụt viết những năm 1931, 1933 nhưng nếu đọc lên vào năm 1999 khi tôi viết bài này sau những ngày lũ lụt ở Huế, thì tưởng như ông tả cảnh vừa xảy ra:

    .........

    Trời xanh quá hại dân đen nọ

    Đất trắng còn cho nước bạc vào

    Nỡ để non sông chìm đắm thế

    Ngồi trông sóng gió dập vùi sao

    Thuyền từ còn đợi ai đưa nữa

    Lặn lội cùng nhau cứu vớt nhau.

    (Trời lụt – 1931)

    Gió lốc nhà bay trời cuồn cuộn

    Lũ tràn đồng ngập biển đăng đăng

    Ba đào mấy lớp mồi chôn sống

    Huyết hạn muôn dân đất khỏa bằng

    (Than bão lụt – 1933)

    Tượng sấm (Lôi) thể hiện trong hành động của ông nhiều hơn trong thơ, chẳng hạn vừa được bổ đi dạy học ở Bình Định đã bị viên công sứ đuổi với tội là cái loa của Phan Bội Châu (porte-voix de Phan Bội Châu). Nhưng nó cũng âm vang trong những bài thơ như Tiếng Dân (mừng tờ báo Tiếng dân do Huỳnh Thúc Kháng chủ trương, ra đời ở Huế), Lửa thù (tặng hương hồn những người đã ngã xuống trong cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh).

    Tiếng ai kêu đó? tiếng Dân mình

    Vang giữa Trung Kỳ đất đế kinh

    Chợt tỉnh mấy nghìn năm mộng mị

    Hả hơi trên sáu triệu sinh linh.

    Tiếng Dân ra đời khác nào tiếng sấm. Sau này âm vang của sấm sét còn đi vào những câu thơ tả những trận chiến đấu máu lửa trong trường ca Từ đêm Mười chín.

    Biểu tượng Núi và Đất (trong quẻ Hỗ Sơn Địa Bác), đi vào cảm xúc thơ Khương Hữu Dụng làm thành những mảng thơ đẹp, những câu thơ mang dáng vẻ thâm hậu, trầm mặc, uy nghi, hiểm trở, có phần trúc trắc, gập ghềnh như núi; lại bao bọc, khoan dung, hiền từ như đất mẹ. Mảng dịch thơ Đường rất tiêu biểu cho những nhận xét trên, chúng tôi sẽ trình bày sau.

    Trên kia nói cảm xúc bắt nguồn từ tượng Nước làm nên những câu thơ tả cảnh lụt lội thấm đẫm tình người, nhưng trong quẻ Truân, nước còn được hiểu là Mây. Tôi không biết cái gì xui khiến Khương viết câu thơ sau đây “Trời bể chung màu nước cũng mây” trong bài Chiều thu (1936):

    Một chiếc ngô vàng khiếp gió tây

    Mênh mông cành rợn ý thu chầy

    Cỏ cây không tiếng hoa theo lá

    Trời bể chung màu nước cũng mây

    Chim cuốn non xa mây ráng mỏi

    Thuyền nghiêng bóng xế khói sương dầy

    Chờ xem chốc nữa trăng lên thử

    Thu ở lòng ai hay ở đây.

    Chiều thu ở đây không còn là trong một cảnh tĩnh mịch, có ao có giếng nơi xóm quê. Cảnh thu của người khách lữ thứ, gian truân, trước trời bể mênh mông này, mây nước một màu, tĩnh lặng đấy mà xao động vô cùng. Nếu có một tuyển tập thơ Việt mùa thu, người tuyển không nên bỏ qua bài thơ này. Nó là sự đóng góp của riêng Khương, có dấu ấn của ông và có giá riêng của nó.

    Nhà thơ thời Truân có một sự đồng cảm sâu xa với những hoàn cảnh gian truân, khốn khó. Ta sẽ thấy một mảng thơ ca của Khương Hữu Dụng đi vào những cảnh Đời lam lũ (tên một tập bản thảo không xuất bản), phu xe than trời mưa, tù về trại, người mẹ đi ở làm vú em, ốm trong tù, thân lữ thứ nơi đất khách, người em đi đầy ngoài hoang đảo, cảnh lụt lội...

    Nhưng nhà thơ thời Truân với sứ mệnh phấn đấu để vượt lên những hiểm nạn, gian truân khi trời đất còn hỗn mang đã không dừng ở đây. Một khi đã tìm được quý nhân, kết bạn được với người hiền tài, thấy được tấm gương người đã từng sắp xếp lại giang sơn, mà người xưa ví như sắp xếp các đường tơ để dệt thành vải, ấy là lúc hành động như sấm sét, để góp phần làm thay đổi cuộc đời. Cách mạng tháng Tám 1945 đã đến đúng lúc với Khương khi ông đi gọn một hành trình quẻ Truân từ hào 1 đến hào 6, vào năm ông 39 tuổi trưởng thành. Chính hai năm cuối cùng của quẻ Truân 1947-1948, ông đã tiến hành được một sứ mạng văn chương, sáng tạo bản trường ca anh hùng Từ đêm Mười chín. Trước đó, vào năm 1946, ông viết Kinh nhật tụng, một diễn ca bình dân, tuyên truyền cho chính sách Mặt trận Việt Minh. Ông viết để cho các chiến sĩ học thuộc và truyền miệng nhau, đọc hàng ngày, nên gọi là Kinh. Lời Kinh hết sức giản dị, không thấy đâu là văn chương:

    Trọng ở nơi dân là gốc rễ

    Nước không dân hồ dễ được ru?

    Gây dân, dựng nước công phu

    Dân khôn nước mạnh, dân ngu nước hèn

     

    Thương dân phải khuyên rèn dạy vẽ,

    Mỗi tóc tơ cặn kẽ tinh tường

    Lấy lời dễ, chỉ việc thường

    Tự dân, dân hiểu đôi đường phải chăng.

    Khương Hữu Dụng không ngờ rằng Kinh nhật tụng đơn giản thế mà lại đi xa đến thế, nó được truyền trong nhân dân, trong chiến sĩ, cán bộ, các chiến khu, hải đảo, vào các nhà tù. Đến nỗi nhà nghiên cứu Ca Văn Thỉnh sau này sưu tầm được, chép vào sách Hào khí Đồng Nai, không biết tác giả của nó là ai, xếp nó vào “Kho tàng văn học dân gian”. (Kinh nhật tụng được Nguyễn Đình Thư, Nguyễn Đình giúp hoàn thành và không ký tên tác giả). Đó chính là hành trình của một bản thảo diễn ca trong thời Truân.

    Thật ra Kinh nhật tụng chỉ là bước chuẩn bị cho trường ca Từ đêm Mười chín. Bản trường ca này gần 800 câu, là một thiên sử thi, một anh hùng ca đầu tiên của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Khi còn là bản in trên giấy giang với nhiều dòng nhoè mờ, lên chiến khu Việt Bắc, ngay lập tức nó đã đứng trong những giải thưởng đầu tiên của văn học cách mạng.

    Từ đêm Mười chín đã được hoàn thành trong một thời điểm xuất thần của Khương Hữu Dụng, tập trung tinh huyết và ở đỉnh cao thời Truân của chủ thể. Điều đáng chú ý thời điểm này thuộc hào 6 quẻ Truân là hào xấu, phản ánh thời kỳ truân nạn đến cùng cực, chủ thể cô đơn, lời hào bảo rằng:... không thày không bạn, trước tiến sau lùi, chí chẳng kiên trì, thông kim bác cổ mà chẳng toại công danh... Lời hào thậm chí có câu: chảy máu mắt.

    Ở những quẻ xấu khác như quẻ Khốn, hào 6 Khốn cực thì giữ chính, tốt, nghĩa là có hanh thông; quẻ Bĩ, hào 6 bĩ cực thì thái lai, vận bĩ hết, vận thái đến. Riêng quẻ Truân, hào 6 truân cực, người xưa chỉ nói đến máu mắt là cùng. Là vì thời Truân, trời đất còn hỗn mang, âm dương mới giao hòa, mây sấm có thành mưa hay không còn tùy ở hoàn cảnh nóng lạnh. Có nghĩa còn tuỳ ở người xử lý thời truân nữa. Cuối mỗi chặng đường 6 năm thuộc 4 hào âm quẻ Truân đều kết thúc bằng một quẻ Đỉnh, để dành cho người nào là quân tử, biết thời thế mà hành động. (Quẻ Truân có 4 đại vận hào âm đều kết thúc bằng 4 quẻ Đỉnh, trong đó quẻ Đỉnh kết thúc đại vận hào 6 là đẹp nhất). Trong cấu trúc Hà Lạc của Khương Hữu Dụng, thời điểm hào 6 quẻ Truân, cả chặng đường 6 năm thì xấu, nhưng riêng năm Mậu Tý (1948), ông được quẻ Hỏa Phong Đỉnh, hào 5, chính là năm nhà thơ dốc sức hoàn thành tác phẩm. Tượng quẻ Đỉnh là cái đỉnh vững vàng, cái vạc nấu thức ăn. (Hỏa là lửa – ở trên, Phong là gió, ở đây hiểu là cây – ở dưới, cây đốt lửa để nấu ăn), nghĩa quẻ là thông minh sáng suốt, vui thuận, hanh thông, rất thuận cho công việc sáng tác văn chương. Hơn nữa, hào 5 là hào đẹp nhất quẻ Đỉnh. Lời hào nói rằng: Vạc có tai màu vàng, đòn khiêng bằng kim khí, giữ chính bền thì lợi. Chọn người hiền trị nước, hợp ý trời lòng dân. Vận năm đối với kẻ sĩ là: đỗ cao. Nhà thơ lại có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hoá công) ở quẻ ngoại Khảm của quẻ Thủy Lôi Truân. Cái việc nấu nung cho xong một công trình nào đó, đã nằm sẵn trong mệnh.

    Chúng tôi cũng cần nói thêm rằng, không phải người dự đoán nào cũng có thể qua cái hào 6 đầy máu mắt ấy của Khương mà nhìn ra quẻ Đỉnh, hào 5 cùng với ưu tiên năng lượng, cùng với thời cơ Cách mạng tháng Tám, để mà đoán định rằng trong năm Mậu Tý ấy, có một món ăn ngon về văn hóa đang được nấu chín trong đỉnh, vạc của nhà thơ. Cũng phải tinh tường dịch học, xét đoán thông biến, mới lý giải ra được. Còn người viết bài này, nghiên cứu võ vẽ, thú thật lúc đầu cũng có hoang mang.

    Từ đêm Mười chín trước hết là một bài ca thời truân. Những gian nan của thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp hiện lên dằn dọc trên câu trên chữ, trên nhịp điệu khắc khổ của thơ:

    Cỏ chết dưới gót sắt

    Lửa cháy thâu đêm trường

    Đốt, đốt hết!

    Chúng cần chi bệnh viện hay giảng đường

    Giết, giết hết!

    Chúng cần chi ai giáo hay ai lương

    Xé xác trẻ thơ

    Mẹ đương ẵm ngửa

    Hiếp vợ trước chồng

    Rạch thai bụng chửa

     

    Một gánh tản cư

    Đồ đạc nhẹ không, căm hờn nặng chất

    Vườn ruộng lùi sau lưng

    Núi rừng ôm trước mặt

    Nhà đây: cành nghiêng một khóm lá

    Giường đây: đất trải mấy nhành thông.

    Tượng Sấm (Chấn, Lôi) tạo nên âm điệu chủ đạo của cả bài trường ca. Ở bất cứ đoạn thơ nào cũng thấy âm hưởng của sấm sét nổi dậy quật cường như giông bão.

    Đá bay tung lửa nhảy

    Mặt đất chuyển rùng rùng

    Hầm nào thành giếng nước

    Đêm, múc trữ mai dùng

    Hầm nào thành lỗ huyệt

    Đêm, lấp người thương vong

     

    Bên kia súng địch chưa ngừng hẳn

    Trong sương bất giác rỉa từng hồi

    Bên này tiếng cuốc sửa phòng tuyến

    Tiếng súng từng băng dội trả lời

    ...

    Một đồng chí ngã rồi

    Hãy còn lanh lảnh giọng

    “Nó ở bên kia đồi

    Cậu nhằm cho thật trúng”

    Trao lại nhau khẩu súng

    Trao lại nhau mối thù

    Những người chết nằm xuống

    Hồn vẫn đi dưới cờ.

    Tượng Núi (ở quẻ hỗ Sơn Địa Bác) đi vào cảm xúc thơ tạo nên những câu thơ tả núi sông đẹp đẽ hào hùng:

    Hải vân đèo cao núi hiểm trở

    Ngất dựng “hùng quan” từ vạn thuở

    Trắng lợp đầu non, sửng đứng mây

    Vực thẳm triền nghiêng, cây níu cây

    Đường leo: đá trụt dốc treo ngược

    Trấn thủ, người theo vóc ngựa gầy

    Thời ấy, Hải Vân lừng hiểm hóc

    Một tiếng mang kêu đà rởn óc

     

    Đây cao vòi vọi dốc ông Mạnh

    Đây ầm ầm đổ thác không tên

    Có suối chân hùm vừa để dấu

    Có lùm cây vút tuyệt đường chim...

    Rồi dốc rồi chuông, leo, rồi leo

    Rồi khe rồi lạch, vòng, cong queo.

    Lên: bám vào cây, xuống: bíu gió

    Trượt chân: suối cuốn một làn rêu

    ...

    Một tiếng chim kêu sáng cả rừng

    Lên đường, chân lại nối theo chân

    Đêm qua, đầu chụm run bên đá

    Nay lại cùng mây sưởi nắng hừng...

    Nhà thơ Xuân Diệu đã bình rất hay về một chữ “sáng” trong câu Một tiếng chim kêu sáng cả rừng. Tôi ghi lại đây một lời bình khác của Võ Quảng và Công Uẩn (Lê Đạt): Câu thơ long lanh một cách kỳ lạ. Nó long lanh soi suốt bản trường ca như một ánh trăng. Câu thơ kỳ ngộ mà khi đọc, người ta như muốn soi lên xem ở dưới những chữ bình thường, dưới lớp giấy giang nghèo nàn kia có ẩn náu cái gì không mà sáng thế, mà ngân nga thế.

    Tôi nghĩ cái ẩn náu bên trong câu thơ ấy có lẽ là những cảm xúc gắn liền với biểu tượng thiên nhiên đã đi vào mệnh của nhà thơ.

    Bản trường ca viết vào năm 1948, năm cuối cùng của thời Truân, bắt sang quẻ hậu thiên, hậu vận của Khương Hữu Dụng là quẻ Địa Thủy Sư. Địa là Đất, Thủy là Nước, Sư là Quân đội, còn có nghĩa là đám đông. Người xưa dùng quẻ Sư để nói về việc binh, rộng hơn nữa là việc điều khiển chiến tranh, việc hoạt động trong đám đông quần chúng. Quẻ nội là Khảm, tượng là Nước, nước thì hiểm; quẻ ngoại là Khôn, tượng là Đất, đất thì nhu thuận. Do vậy, quẻ có ý nghĩa: Xuất quân là việc nguy hiểm (Khảm hiểm), nhưng nếu xuất quân vì chính nghĩa, để trừ bạo, an dân, thì dân sẽ theo (Khôn thuận), sẽ giúp đỡ mình, mình sẽ điều khiển được ba quân, mà lập nên sự nghiệp, không lỗi. Thật là kỳ lạ, một cách rất tự nhiên, tinh thần quẻ Sư đã thành một âm hưởng xuyên suốt bản trường ca.

    Địch mạnh ta yếu, có hề chi!

    Địch nhiều ta ít, có lo gì!

    Ta ngoài bộ đội, còn dân chúng

    Bức thành muôn thuở không nao núng

    Ta ngoài vũ khí còn nhân tâm

    Sức mạnh muôn đời, chống ngoại xâm.

     

    Chia nhau manh chiếu rách

    Chung nhau gỗ gối đầu

    Buổi gặt hùn tay hái

    Nồi khoai ghé gạo vào

    Đâu cũng là đồng chí

    Đâu cũng là đồng bào

    Tấm lòng mẹ binh sĩ

    Thấm trong mùi tương rau

    Tình nông dân đượm ngọt

    Bữa cơm khoai mới đào

    Đường kim cô gái chằm vai áo

    Còn mướt màu tơ cửi xóm nào

    Âm hưởng quẻ Sư mạnh mẽ nhất có lẽ trong đoạn thơ tả trận đánh đồn Cẩm Phô.

    Công đầu trận đánh đồn Cẩm Phô

    Một đồn quân giặc trên Cồn Nổi

    Cách bốn trăm thước trước thành Hội.

    Bốn mặt sầm sầm vây nước sông

    Lũy tre vây ngoài, thành đất trong

    Tre trồng cao vọt hai thước rưỡi

    Đất xây một thước, chắc vô cùng

    Rào Đông chắn Bắc vòng dây thép

    Đất bừa cỏ trụi chởm gai chông

    .........

    Một đêm tháng bảy lúc trăng mờ

    Mười chiếc thuyền im, ghé đổ bờ

    Bộ đội ngụy trang màu cảnh vật

    Lách theo bờ bụi theo hình đất

    Khi bò khi lết khi trườn lên

    Khi chạy băng bừa khi nép bên.

    .........

    Và cuộc chiến đấu đã diễn ra:

    Nòng súng sôi gan bật lửa hồng

    Xanh hờn dao mác thép ngời vung

    .........

    Hung tàn quân nghịch xác chồng xác

    Máu đọng còn tanh mùi tội ác.

    Bản trường ca hoàn thành năm 1948, in năm 1951, nghĩa là sang thời quẻ Sư của ông nó mới được in và phổ biến, sau đó dược giải thưởng Văn Nghệ toàn quốc 1951 –1952. Bạn đọc trong cả nước lúc đó mới dần dần biết đến một nhà thơ Khương Hữu Dụng và đọc Từ đêm Mười chín một cách say sưa. Sau này các nhà bình luận văn chương bên cạnh việc ghi nhận những vẻ đẹp của áng hùng văn, cũng chỉ ra những chỗ chưa toàn bích của nó, đó là những câu thơ có tính diễn ca, ở tầm dân dã, đan xen vào giữa những câu chữ chọn lọc một cách bác học, tài tình. Có nghĩa là, giống như Kinh nhật tụng, tác phẩm cũng có một số phận truân chuyên. Khi được biết giải thưởng, Khương Hữu Dụng chỉ coi đó là một tin mừng. Còn thánh nhân, cũng chỉ coi đó là việc nhỏ, làm được trong thời Truân mà thôi.

    Từ năm 43 tuổi (âm lịch) hành lang cuộc đời của Khương Hữu Dụng là thuộc về quẻ Địa Thủy Sư. Hào 4 chủ mệnh của ông chỉ việc lui quân trong phép dùng binh. Khi thế giặc mạnh, ta yếu, thì phải biết lui quân, vậy là không lỗi. Hà Lạc bảo rằng: Hãy biết liệu sức mình, sáng nước bước, liệu việc trước, biết ứng biến lúc thời bình, thì sẽ tránh được họa khi loạn đến. nên lui về chức việc khiêm nhường hơn, bình dị, an cư, sẽ bảo toàn được thân mệnh.

    Không biết có ai mách bảo ông điều trên không, nhưng trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp văn chương, ông đã thực hành đúng như thế. Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc, chỉ chuyên tâm vào hai việc: làm biên tập viên Nhà xuất bản Văn học, làm thơ và dịch thơ. Phải hàng hai chục năm sau Từ đêm Mười chín, mới lần lượt cho ra những tập thơ Những tiếng thân yêu, Bi bô, Quả nhỏ. Nghe những cái tên tập thơ đã thấy bóng dáng cuộc lui quân. Nhưng là cuộc lui quân của người biết thời, thế, nên không lỗi, mà vẫn có thành công. Thơ làm những bài rất ngắn, chọn lọc từng câu chữ. Biên tập thơ rất cẩn thận, chữa một chữ trong thơ cũng trao đổi với tác giả, có nhiều lần đến tận nhà riêng. Đã biên tập thơ cho Sóng Hồng, Xuân Thủy, Anh Thơ và đề nghị thay một vài chữ, được các nhà thơ vui vẻ bằng lòng và khen chữa thơ như thế hay hẳn lên. Dịch thơ thì chọn bài nào, tác giả nào mình thích. Dịch rất cầu kỳ. Cầu kỳ đến nổi tiếng. Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị dù có bản dịch của Phan Huy Thực đã đi vào tâm hồn người đọc nước ta hàng trăm năm nay, dù đã có bản dịch của Trần Trọng Kim, tay cự phách chữ Hán, ông thấy mình chưa bằng lòng với những bản dịch ấy, bèn bắt tay dịch lại. Dịch đi dịch lại, thấy chưa ưng để đấy, lúc thong thả lại dịch, dòng dã ba mươi năm, vẫn chưa công bố. Sau có người bạn thân thấy bản dịch có giá trị riêng, bèn làm bài bình, rồi lặng lẽ cho in, bấy giờ người đọc mới được đọc bản dịch Tỳ Bà Hành của Khương Hữu Dụng (tạp chí Văn học nước ngoài, số 3 – 1997). Cái khác so với bản dịch của Phan Huy Thực là nó đưa lại cho người đọc nguyên vẹn cái nhịp điệu thơ của Bạch Cư Dị thuộc thể thơ bảy chữ. Bản dịch có một ý nghĩa riêng, đặt ra một cách tiếp cận mới với nguyên bản, tất nhiên nó chưa thể thay thế được bản dịch của Phan Huy Thực. Đúng là sáng nước bước, liệu việc trước, biết ứng biến lúc thời bình... Đó là cuộc lui quân hào hùng. Sấm sét còn nguyên trong lòng đời, nhưng biết là không thể thành mưa được nữa. Chả thế, ông đã in lên đầu Tuyển tập Khương Hữu Dụng (Nxb Văn Học, 1992) bốn câu thơ sau đây làm đề từ:

    Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi

    Trên đầu xanh ngắt một bầu không

    Bàn cờ thế sự quân không động

    Mà thấy quanh mình nỗi bão giông.

    Đó là những câu thơ mệnh của ông, có Núi, có giông bão (sấm) và những hàng quân.

    Trong việc chọn thơ và trong nghệ thuật dịch thơ, cái hành lang quẻ Truân và quẻ Sư vẫn cứ dẫn ông trước hết đi đến với những bài thơ về những số phận truân chuyên, lưu lạc giang hồ, đau đớn với thời cuộc, những bài thơ về việc quân binh, chinh chiến... Nói cách khác, những bài ông dịch hay nhất là những bài thuộc các đề tài trên. Có thể kể như Bình xa hành, Cuộc từ biệt của kẻ không nhà, Bài hát vác củi, Bài hát nông tang (Đỗ Phủ); Bài ca đập áo, Trường can hành, Bài ca Đông Đô Hộ (Lý Bạch); Trường hận ca, Tỳ Bà Hành, Cụ cụt tay ở Tân Phong, Nghe tiếng chày đêm, Sinh ly biệt (Bạch Cư Dị); Bài ca người gảy đàn ở Long Thành (Nguyễn Du); Người đàn bà góa trong núi (Đỗ Tuân Hạc); Bài hò người phu thuyền (Vương Kiến)... (Tôi chỉ kể một cách ngẫu hứng, làm ví dụ). Rõ ràng cảm hứng từ nguồn quẻ Sư và cả quẻ Truân đã đi vào những vần thơ dịch sau đây trong bài Bình xa hành của Đỗ Phủ:

    Xe rầm rầm

    Ngựa hí râng

    Người đi cung tên đeo bên lưng

    Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn

    Bụi mù chẳng thấy cầu Hàm Dương

    Níu áo, giậm chân, chặn đường khóc

    Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng...

    .........

    Mới biết sinh con trai

    Chẳng bằng sinh con gái!

    Sinh con gái còn được gả gần nhà

    Sinh con trai chết vùi trong cỏ dại!

    Há chẳng thấy miền Thanh Hải kia sao?

    Xưa nay xương trắng ai nhặt đâu!

    Ma mới kêu oan, ma cũ khóc,

    Trời âm, mưa thấm, tiếng hu hu...

    Sở dĩ tôi dám nói phần lớn tác phẩm dịch của ông (tôi không nói tất cả) phản ánh đúng những cảm hứng chủ đạo bắt nguồn từ mệnh của ông là vì Khương Hữu Dụng quan niệm Dịch là đối thoại. Trong một dịp đi Liên Xô (1986), dự hội nghị kỷ niệm 800 năm Bài ca Igor, ông đã phát biểu ý kiến: Tiếng Việt Nam chúng tôi có một động từ rất thú vị. Khi trai gái yêu nhau rắp ranh nên vợ nên chồng, người ta thường nói họ tìm hiểu nhau. Theo tôi, dịch thơ là một quá trình tìm hiểu lâu dài. Lẽ dĩ nhiên phải tìm hiểu ngôn ngữ, để khỏi chữ tác đánh chữ tộ, đồng thời tìm hiểu lịch sử, địa vực, phong tục, lề thói... hạn chế tối đa mọi sự hiểu lầm. Nhưng một khi tất cả những dữ kiện lý tính này đã thu thập được khá đầy đủ, mà lại thiếu cái say mê, cái đắm đuối của mối tình đang nảy nở, thì ta sẽ có một bản dịch có thể rất là bác học, nhưng nàng thơ tủi thân đã trốn tự bao giờ.

    Chính vì thế người ta thường nói dịch là phản. Lời nói ấy đúng, nhưng tôi e hơi cực đoan, nó không nói được cái an ủi, cái thích thú, cái sung sướng đến hạnh phúc trong quá trình trân trọng một tâm hồn bè bạn qua một câu thơ bầu bạn, và diễn đạt câu thơ bầu bạn qua ngôn từ của ta, mở rộng biên giới của câu thơ, tạo cho câu thơ có nhiều tri kỷ mới trong cái làng nhỏ bé của loài người là quả địa cầu. Tôi muốn xin phép đổi lời nói trên bằng một câu ấm áp hơn: dịch là đối thoại.

    Ông quan niệm là thế và đã hành động đúng như thế. Bản dịch bài Nghe tiếng chày đêm (Văn dạ châm) của Bạch Cư Dị có thể là một trong những bản dịch tiêu biểu nhất có yếu tố mệnh chi phối tài năng và cảm hứng của Khương Hữu Dụng, từ việc chọn bài đến công phu lao động đến từng chữ, do đó cũng đạt đến mức hay toàn bích đối với một bản dịch thơ:

    Thu đến nhớ chồng ai đập lụa

    Gió trăng não lắm đá chày ơi!

    Tháng tám tháng chín đêm dài bấy,

    Ngàn tiếng muôn tiếng không hề ngơi

    Mỗi tiếng trắng thêm tơ một sợi

    Sáng ra e bạc cả đầu ai!

    Kể về bản dịch này, Võ Quảng và Công Uẩn (Lê Đạt) viết:...Ví dụ một câu trong bài Văn Dạ Châm: Nguyệt khổ phong thê châm chữ bi. Bảy từ mà trong đó đã có bốn từ: trăng, gió, đá, chày không thể bỏ qua được. chỉ còn ba từ để nói lên ý khổ não, thê lương và bi thảm. Làm thế nào để gói gọn trăng khổ não, gió thê lương, đá chày bi thảm trong một câu thơ. Lẽ tất nhiên người ta có thể dịch dôi ra bằng hai câu lục bát chẳng hạn, cốt giữ được ý của nguyên văn. Nhưng Khương Hữu Dụng không muốn thế... Và Khương Hữu Dụng cứ miệt mài ngày này sang ngày khác với câu thơ trước siêu thuốc bệnh của vợ, nhiều khi mải thơ để cạn. Và anh đã dịch được câu thơ thật hay: Gió trăng não lắm đá chày ơi!

    Khương Hữu Dụng là một trong số ít người đi đúng vận mệnh mình, khi cần thiết thì không lụy vào danh, lợi quẩn quanh cũng như không chùn chân trước giông bão cuộc đời. Tiến lui đúng thời thế. Có lẽ vì thế ông đã đi hết hành lang hai quẻ Thủy Lôi Truân và Địa Thủy Sư, vinh quang và hiểm họa đều đã nếm trải. Hai quẻ này gồm có 12 hào âm dương chỉ phản ánh cuộc đời ông đến 81 tuổi. Năm nay ông đã đi quá hơn chín lần mươi, vượt qua cả những gì mà Hà Lạc đã dự báo mà vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Hiện nay Khương Hữu Dụng là hội viên cao tuổi nhất trong Hội Nhà văn Việt Nam. Ông là một trong số rất hiếm hoi nhân chứng sống còn lại đến hôm nay, đã từng ngồi trò chuyện với Phan Bội Châu – vị thiên sứ của Việt Nam trong thế kỷ Hai Mươi (lời Hồ Chí Minh), cũng là thiên sứ trong thời Mây Sấm gian truân của đời ông. Chúng tôi xin chúc mừng ông.

    Tháng Mười một – 1999

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ Khương Hữu Dụng

    Sinh 01-01-Đinh Mùi, giờ Tý (13-02-1907). (Khác với tư liệu trong Nhà văn Việt Nam hiện đại Nxb Hội Nhà văn 1997). Âm Nam. Đầu xuân (tiết lệnh tháng 01): 04-05 -2 - 1907. Giữa xuân: 22-3-1907 (Hóa công Khảm). Mệnh: Thủy (sông trời). Thượng nguyên. Sinh giờ khí dương. Can Chi: Năm Đinh Mùi, Tháng Nhâm Dần, Ngày Quý Tị, Giờ Nhâm Tý. Mã số Can Chi: 7, 5-10; 6, 3-8; 2, 2-7, 6, 1-6. Số Âm: 40. Số Dương: 23.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    1

    0

    0

    0

    1*

    43-48

    34-42

    28-33

    22-27

    16-21

    07-15

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0*

    0

    1

    0

    61-66

    55-60

    49-54

    82-87

    73-81

    67-72

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    1

    0

    1

    1

    0

    0

     Thủy Lôi

     Truân

     

    Sơn Địa

     Bác

    Địa Thủy

     

     

    Địa Lôi

     Phục

    Hỏa Sơn

     Lữ

     

    Hoá công: Khảm ở Tiên thiên, Hậu thiên. Thiên nguyên khí: (Đoài) Không. Địa Nguyên khí: Khôn ở Hỗ Tiên thiên, Hậu thiên, Hỗ Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu các hào 1, 2, 5.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung Nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits42,919,214

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...