Search

Access times

  • Total visits42,918,779

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Tô Hoài - Dấu chân trên đầm

Xuân Cang

  • Monday, 12:22 Day 27/10/2008
  • Từ lâu tôi vẫn thèm làm một cái chân dung văn chương Tô Hoài. Tôi nói với bạn bè: Để xem cái mệnh ông ấy ra sao mà thấy ông ấy làm lụng “khủng khiếp” thế, hơn một trăm năm mươi đầu sách, đứng đầu làng văn trong cả nuớc. Ở ta may ra chỉ có Nguyễn Hiến Lê mới xếp hàng được với ông. Nhưng xem tiểu sử Ngưyễn Hiến Lê, thấy ông Lê cũng chỉ mới có hơn trăm đầu sách. Mà mệnh Nguyễn Hiến Lê thì cũng gớm lắm rồi: Phong Địa Quán với lại Địa Thiên Thái, nguyên khí của Giời và Đất giải đều trên khắp cuộc đời. Vậy mà xem ra chưa sánh được với Tô Hoài, tất nhiên mới nói về số lượng. Vậy thì mệnh Tô Hoài phải thế nào? Nói là “thèm”, nhưng hỏi thẳng ông về ngày giờ sinh thì tôi rất ngại. Thông thường, những người tốt số ở thời này thường không quan tâm về số mệnh, mọi sự thành đạt là ở tài trí của họ. Tô Hoài chính là người không quan tâm chút nào về ngày giờ sinh và số mệnh của mình. Trong một cuốn hồi ký gần đây nhất ông kể rằng mãi đến năm 1990 sang Nga một đêm ở Matxcơva, ngủ ở nhà Marich, một nhà văn Nga thân thiết với bạn văn Việt, dịch nhiều sách của Tô Hoài, thấy thư viện của Marich có cả quyển “Năm Việt Nam so sánh âm lịch, dương lịch”... Tôi tò mò lần đầu tiên tìm ngày sinh năm dương lịch của tôi. Khai sinh của tôi 16 tháng Tám là năm âm lịch. Tôi được sinh ở làng, thời ấy chưa có lệ làm giấy khai sinh. Đến năm ra học trường Tiểu học Yên Phụ, mới đi xin khai sinh và lậu xuống ba tuổi cho không quá tuổi lớp bét. Mẹ tôi bảo: “Đẻ con chập tối ngày 16 tháng Tám ta, hôm ấy trăng tròn hơn trăng đêm rằm”. Nhớ thế, giấy tờ nào về sau, cả khai sinh tôi đều lấy ngày tháng âm lịch như lịch dương và năm Thân là năm 1920. Bây giờ nằm ở Matcơva mới tìm ra tôi sinh ngày 23 tháng 9 dương lịch.

    Ngay cả “ngày 23” cũng không đúng nốt. Đúng thật là ngày 27 (Lịch Vạn niên dịch học phổ thông, Nxb Văn Hoá dân tộc, 1997) như lời ông “khai sinh” mới nhất tại cuốn Nhà Văn Việt Nam hiện đại (Nxb Hội Nhà Văn, 1997): sinh ngày 27-9-1920 (tức ngày 16 tháng 8 năm Canh Thân). Cái mà tôi “bắt được” ở cuốn hồi ký là hai chữ “chặp tối ”, tức giờ Dậu. Tức là Tô Hoài sinh giờ Dậu ngày mười sáu tháng Tám năm Canh Thân. Tám chữ Can Chi của ông là năm Canh Thân, tháng Ất Dậu, ngày Mậu Tý, giờ Tân Dậu. Cấu trúc Hà Lạc của ông là Trạch Phong Đại Quá (Tiên Thiên), Thuần Càn (Hỗ Tiên Thiên), Phong Thiên Tiểu Súc (Hậu Thiên), Hoả Trạch Khuê (Hỗ Hậu Thiên). Ông có Hoá Công nghĩa là có ưu tiên năng lượng của Trời Đất vào các quẻ Đoài ở cả tiền vận và hậu vận. Tượng quẻ Trạch Phong Đại Quá là Đầm (hồ) và Gió (cây). Nghĩa quẻ Đại quá là Quá lớn. Tượng quẻ cho thấy Đầm ở trên, Cây ở dưới, vậy là nước lớn quá, ngập cây, đề phòng cây dễ bị đổ. Người quân tử xem tượng quẻ này biết rằng phải hành động thì mới hanh thông. Phan Bội Châu giảng rằng: Chữ Đại Quá đối lập với chữ Bất cập (chưa tới). Đại Quá là công việc quá chừng lớn, cũng tức là phi thường. Tất có người phi thường mới làm việc phi thường. Mà những việc phi thường tất phải chờ đến người phi thường. Tức như trải qua đời quân chủ mà đổi ra làm dân chủ như cuộc đại cách mạng Pháp. Ở giữa nước Bà- la- môn giáo (Ấn Độ) mà lập nên Phật Giáo như Đức Thích Ca. Ở giữa nước quốc gia chủ nghĩa mà lập nên Chính phủ xã hội như ông Liệt Ninh (Lênin). Thảy là công việc đại quá mà cũng chỉ một bậc người tài đại quá mới làm nên. Nhưng tất cũng phải đúng thời tiết, nếu có tài đại quá, mà chưa gặp thời đại quá, tất nhiên cũng không làm xong. Chỉ có gặp thời Đại Quá, thì người có tài Đại Quá mới làm nên những việc Đại Quá. Ở một đoạn phụ chú khác, Phan Bội Châu giảng thêm: Lời tượng quẻ Đại Quá có câu: Người quân tử thời Đại Quá một mình đứng riêng độc lập với thiên hạ cũng không sợ gì, dù có phải trốn đời cũng không phiền muộn (độc lập bất cụ, độn thế vô muộn). Vẫn chung một hạng quân tử mà thủ đoạn có khác nhau. Việc gì đáng làm, dầu cả thiên hạ không ai làm, mà mình cứ làm, xông vào nguy hiểm mà chẳng kinh, mắc lấy dèm chê mà chẳng quản, đó là cách “độc lập” mà “bất cụ”. Việc gì không đáng làm, dầu toàn thiên hạ thảy làm, mà mình không chịu làm, mình đã trái mắt thế gian, âu là bỏ tục, trốn đời mà tinh thần được tự do tự tại. Đó là cách “độn thế” mà “vô muộn”.

    Đọc lời giải quẻ Đại Quá, tôi cho là đã tìm đúng chân dung Tô Hoài. Sinh vào đúng thời khắc ấy, là giời đất đã cho ông làm một người đại quá, may mắn lại đúng vào thời đại quá, chính là thời của Cách mạng tháng Tám, nên ông đã làm được những việc đại quá, ít nhất trong địa hạt văn chương (Toán tứ trụ cho biết ông có tài văn chương).

    Ông đã sáng tạo một khối tác phẩm văn chương khổng lồ hơn một trăm năm mươi đầu sách, đúng là một việc đại quá, phi thường. Dấu ấn thời Đại Quá ấy chính là Dế mèn phiêu lưu ký tái bản rất nhiều lần, dịch ra nhiều thứ tiếng, Truyện Tây Bắc (Giải nhất Hội văn nghệ Việt Nam, 1956) mà cái đỉnh là truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (dựng thành phim), tiểu thuyết Miền Tây (Giải thưởng Hội Nhà văn Á Phi, 1970).

    Tính cách Đại Quá thể hiện một cách rất đầy đủ trong Vợ chồng A Phủ. Mỵ, con dâu trả nợ đời nhà thống Lý Pá Tra trông thấy cảnh người trai lực lưỡng A phủ bị trói đứng suốt mấy ngày ở góc nhà. Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen... Mỵ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ thở phè từng hơi, như rắn thở, không biết mê hay tỉnh...Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi. Hai người đi ròng rã hơn một tháng. Họ truyền trên những triền núi cao ngất, lốm đốm nhà, thấp thoáng ruộng, đất đỏ, suối trắng tinh, trông thấy trước mặt mà đi mấy ngày chưa tới.

    Nhưng tính cách Đại Quá sáng tỏ nhất là tác phẩm đầu tay Dế mèn phiêu lưu ký. Tô Hoài đã từng phiền muộn về cuốn sách nhỏ (mà không nhỏ) này. Những chuyện Con dế mèn và Dế mèn phiêu lưu ký của tôi viết cho lứa tuổi thơ đến nay đã năm mươi tư năm qua, có lần Hồ Phương và Nguyễn Kiên kể cho tôi biết ngày còn nhỏ các anh thuộc từng đoạn, nhất là khi dế mèn rời bờ nước ra đi, thầm nhìn cảnh quê lúc ấy. Nhiều bạn đọc tôi cũng như bạn đọc của nhà văn lão thành Xô viết Mác-Sắc viết cho thiếu nhi đã hỏi tác giả năm nay ông bao nhiêu tuổi, ông đã một trăm tuổi hay hơn rồi. Bởi vì bạn lứa tuổi vừa lớn đã thấy trên giá sách từ đời ông và bố mẹ đã có Dế mèn phiêu lưu ký. Tôi vui chứ, nhưng sau đấy lại buồn. Tôi đã viết và vẫn đương viết có hàng trăm sách. Thế mà chỉ có vài nhân vật ấy được bạn đọc nhớ nhiều mà thôi. Sự thật và thời gian nghiệt ngã đến thế? (Những gương mặt, Nxb Hội Nhà văn, 1995. Trg 321)

    Không có gì phải phiền muộn. Dế mèn phiêu lưu ký là tác phẩm thuộc về mệnh của Tô Hoài. Tượng quẻ Trạch Phong Đại Quá là Đầm nước và Gió (Cây). Khí chất thiên nhiên thấm nhuần vào cảm xúc văn chương Tô Hoài là chính cái đầm nước mà ông tả trong Dế mèn phiêu lưu ký cùng những dân cư của nó sống trên bờ và dưới nước, những dế choắt, dế trũi, cò, sếu, vạc, cốc, le le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng két, những nhà trò, bọ muỗm, bọ ngựa, cào cào, châu chấu voi, ếch cốm, nhái bén, chẫu chàng, rắn mòng, rắn nước, diếc, ngão, săn sắt...Cả một vùng đầm nước bốn mùa với những sắc thái riêng, hiện lên hơn trăm trang sách, đọc một lần là thích thú, là nhớ. Không phải ngẫu nhiên mà các bậc cha mẹ đăt tên ông là Sen, Nguyễn Văn Sen, một loài cây mọc trong đầm. Ắt phải có gì xui khiến. Để rồi sau đấy ông lấy bút danh Tô Hoài, để nhớ dòng sông Tô, nhiều đoạn về sau đã thành đầm. Mà không phải chỉ có cái tượng đầm nước phóng khoáng, vui vẻ, nếu ai đã đọc quẻ Đại Quá lại đọc Dế mèn, sẽ thấy cả cái sắc thái quẻ Đại Quá cũng hiển hiện trong nhân vật Dế mèn. Ngay câu đầu tiên của truyện đã có hai chữ độc lập: Tôi sống độc lập từ thưở bé. Anh chàng Dế Mèn đã từng “độc lập bất cụ”, ấy là cái cảnh từ biệt của ông anh nhát sợ mà quyết chí đi phiêu lưu; giữa xóm ếch, nhái, ễnh ương om sòm đe doạ, bắt nạt, cũng như giữa vòng vây kiến điệp trùng mà không biết sợ, vẫn giữ được cái vị thế anh hào của mình. Anh ta cũng đã từng ở bên lão Xiến tóc ẩn sĩ, trốn đời, rồi ngay sau đó một mình trong hang chim Trả, vẫn không chút hổ thẹn, kiên trung, đợi thời tìm lối thoát, đó là “độn thế vô muộn”. Khi hai chú dế trong chiếc bè cánh bèo trôi ra giữa bờ nước mênh mông thì đó là thân phận cái cây cong giữa đầm (Hào 3 quẻ Đại quá); lại khi một mình trên võ đài đối mặt với võ sĩ Bọ ngựa và sau đó từ chối thi đấu với chú em Dế trũi để trở thành kẻ chăm lo cho dân vùng cỏ, thí đó là cây cột cứng, đứng vững giữa đời (Hào 4 quẻ Đại Quá).

    Dế Mèn phiêu lưu ký trở thành tinh hoa của Tô Hoài, cũng là tác phẩm ghi dấu trên văn đàn Việt Nam.

    Quẻ Hậu thiên phản ảnh chặng đường về sau của Tô Hoài là Phong Thiên Tiểu Súc. Phong là Gió, Thiên là Trời. Tiểu Súc là ngăn cản nhỏ. Trình Di giảng quẻ Tiểu Súc, bảo rằng sức gió thì nhỏ, gió phải ở trên mặt đất thì mới có tác dụng, gió ở trên cao thì khó tích tụ mây để thành mưa nên bức bối, bế tắc, nhưng là bế tắc nhỏ. Súc là ngăn trở, còn có nghĩa là chứa chất. Tiểu Súc là ngăn trở nhỏ, chứa chất nhỏ. Lời tượng quẻ Tiểu Súc bảo rằng người quân tử gặp quẻ này, biết là vì ngăn trở mà chưa gặp thời, vậy hãy cứ (chứa chất) làm đẹp văn đức, ý nói hãy trau dồi đức, chăm việc học hành, nghiên cứu phát triển tài văn chương. Phan Bội Châu đặt câu hỏi: ở vào thời Tiểu Súc, người quân tử chỉ nên trau dồi văn đức, là vì sao? Bởi vì xưa nay, việc tu thân cứu thế cốt ở hành động, mà không cần hư văn. Chẳng may hoàn cảnh gay go, thời thế bắt buộc chưa thể giương đôi cánh lớn, mới phải quay đầu làm những việc soạn sách, lập ngôn. Như Khổng Tử, Mạnh Tử, vì không gặp thời, chăm chỉ, dùi mài viết sách làm kinh, muôn đời sau bất hủ. Người đời sau coi đó là việc lớn, nhưng Thánh nhân chỉ xem bằng “tiểu súc” mà thôi.

    Bạn đọc coi cấu trúc Hà Lạc của Tô Hoài sẽ thấy quẻ Hỗ tiềm ẩn trong quẻ Tiểu Súc là quẻ Hoả Trạch Khuê. Hoả là lửa. Trạch là đầm nước. Lửa ở trên thì bốc cao lên. Đầm ở dưới và nước thì thấm xuống. Trên dưới không thông với nhau, càng ngày càng cách xa nhau. Nên nghĩa quẻ là khuê. Khuê là khác nhau, là chia lìa nhau. Trong dịch học, Khuê là quẻ xấu. Người gặp quẻ Khuê là người hay gặp cảnh khác biệt, chia lìa. Người quân tử gặp quẻ này phải biết thực dụng, biết lúc nào nên hòa cùng với người, biết lúc nào phải khác biệt với người, và biết rằng ở thời Khuê chỉ làm được việc nhỏ mà thôi.

    Cái thời ngăn trở nhỏ, làm cho người quân tử chưa thể giương đôi cánh lớn, đã diễn ra trong cuộc đời nhà văn như thế nào, bạn đọc coi thiên hồi ký Cát bụi chân ai (Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam, 1992) có thể nhận biết một phần. Sau cái thời Đại Quá, làm những việc quá lớn, phi thường, từ 49 tuổi ta, ông sang thời Tiểu Súc, bị ngăn trở nhỏ, thường gặp cảnh khác biệt, chia lìa, đòi hỏi ông phải biết Thời, lại phải biết Dụng, lúc nào nên hòa đồng, lúc nào nên tỏ ra khác người, dù có thiệt đến thân cũng không được hoà đồng; lại đòi hỏi nhà văn phải tiếp tục trau dồi đức văn, phát triển tài văn, lấy cái đó để tồn tại; nếu được như vậy (và Tô Hoài đã làm được như vậy), thì sẽ tiếp tục làm được việc lớn, tuy rằng đối với mệnh người, Thánh nhân cũng chỉ coi là kết quả của thời Tiểu Súc mà thôi. Ta sẽ thấy sang thời Tiểu Súc, ông vừa làm chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội, vừa làm trưởng ban đại biểu khối phố nơi ông cư trú (giống như chủ tịch phường sau này), vừa đi khắp các nước Đông Tây, vừa điều khiển đội quân phòng cháy, chữa cháy của khu phố đi thi giành cờ đỏ (mà cuộc thi này không thành công); vừa đi nghỉ ở bờ biển Yan –ta, vừa viết truyện họ Giàng ở Phìn Sa...

    Nếu Dế Mèn phiêu lưu ký là bức tranh chính diện thời Đại Quá của Tô Hoài, thì truyện ngắn Một người bạn chính là tấm gương về một thời Tiểu Súc, nhưng là tấm gương phản diện thời Tiểu Súc của tác giả (45 truyện ngắn 1975-1985, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985, tr 189). Nhân vật người bạn tên là Châu, một người có khả năng kiếm sống không đến nỗi xoàng, là học sinh kỹ nghệ ra trường, có nghề sửa chữa điện, người Hà Nội vào Sài Gòn làm ăn. Suốt đời anh ta bị một cái gì vô hình không biết từ đâu cản trở anh ta, mà chỉ cản trở nhỏ thôi, làm cho anh ta không ở đâu yên. Thoạt tiên là do anh nghỉ ốm quá hạn bị chủ Tây đuổi, chán quá ra Hà Nội, làm quản lý cho ông anh tên Đức Lợi, buôn bán đang phất. Bản thân cũng giàu lên, lấy vợ, làm nhà, vi vu nay Sài Gòn mai Hà Nội. Bà vợ cũng là người có chí làm giàu. Nhưng người bạn vẫn thấy mình không yên, và không bằng lòng với số phận của mình. Nhân vật Tôi, người kể chuyện, vào những năm trước Cách mạng tháng Tám, đã thu hút bạn mình theo Việt Minh, và số phận cũng đã đưa đẩy anh bạn đi theo kháng chiến, nhưng rồi một cuộc càn của địch lại đẩy anh ta vào Hà Nội, vùng địch tạm chiếm. Lại bám ông anh bây giờ trở thành ông chủ lớn, vào Sài Gòn cho đến khi Sài Gòn được giải phóng. Vào năm 1975, hai người bạn gặp nhau, sau bao nhiêu biến chuyển. Nhân vật Tôi đã trở thành nhà văn có danh tiếng, bạn của họ có người trở thành nhân vật tầm cỡ ở một bộ. Còn Châu cũng có thể yên lành, không bị ai làm rày rà, nhà cửa đàng hoàng, con trai đã sang Anh làm ăn, bạn bè gặp lại nhau, an ủi nhau, bỏ qua những chuyện cũ. Tưởng thế là yên. Nhưng không yên. Người bạn lại bỏ nước ra đi, bắt đầu từ những bế tắc chẳng đâu vào đâu. Danh tiếng những người bạn làm cho anh ta không yên. Cái tính hám giàu của người vợ làm cho anh không yên. Thậm chí Sài Gòn năm ấy lạnh hơn, mùa bưởi Biên Hoà năm ấy chậm hơn cũng làm cho anh ta không yên. Lại nhiều năm sau, hai người bạn tình cờ gặp nhau, khi nhân vật Tôi đi công tác sang thành phố An-giê (An-giê-ri), ngồi ăn ở một cửa hàng bên bờ biển. Người bạn bây giờ là một ông già râu tóc dài, bạc phơ, như Tô Vũ trong tranh cổ, làm nghề bưng rượu vang ướp tiếp khách, ngoài ra các buổi tối còn đi xa ba muơi cây số làm thêm kiếm tiền. Làm gì, làm một pho tượng sống, một ông già châu Á, với gương mặt hấp dẫn ở một cửa hàng rượu, để hấp dẫn khách, như thế trong một giờ cũng có một món tiền. “Rõ khỉ?”. Người bạn kết thúc câu chuyện đời của mình như thế. Hỏi ra thì biết sang Anh, con trai và con dâu đối đãi rất tử tế, nhưng vợ chồng già suốt ngày trong phòng nhỏ như bị giam, buồn chán quá, không yên. Bèn nhờ người quen bên Pari, sang đó làm ăn. Sang Pháp, cũng không yên, có người rủ sang An-giê, thế là bà ở lại Pari, còn người bạn thì sang An-giê, làm nghề bưng bê rượu vang. Một người suốt đời không vượt lên nổi những cản trở nhỏ, bế tắc nhỏ, trở thành vô vị, cô đơn, tàn đời trong cô đơn. Rõ ra một thân phận Tiểu Súc, một tấm gương Tiểu Súc trong một cái chiều phản diện của số phận. Tô Hoài kể chuyện một người bạn, mà như kể chuyện mình, có lúc không giữ nổi ngòi bút, đã phải để cho nhân vật người bạn thốt lên: Đời tôi đã không phải là tôi. Đáng lẽ tôi là anh, rồi cũng không phải. Tôi có thể là Đức Lợi. Rồi cũng chưa bằng cái móng tay của Đức Lợi. Thế mà lúc nào anh cũng hiện ra trước mắt tôi. Cả đến cái lúc năm cùng tháng tận của đời người này. Ô hay, sao cứ luống cuống, bối rối suốt đời người đến thế. Quả quyết lên chứ (nhưng lúc ấy Châu lại ngồi thừ rồi uống một hơi ly rượu mạnh). Những kỷ niệm xa xưa trở về dằn vặt, sỉ vả tôi. Thật đấy anh có phải là cái gương sáng, cái gương mờ soi vào tôi, mà ở đâu, chạy đi đâu, tôi cũng chỉ là người nhìn gương (sđd., tr 200). Một người bạn chính là cái gương mờ của một thời Tiểu Súc, nói về một kiểu người tự hành hạ và làm hỏng đời mình chỉ vì những cản trở nhỏ, những bế tắc nhỏ (Tiểu Súc còn là bế tắc nhỏ). Tôi cho rằng đây là một truyện ngắn khó đọc nhưng bạn đọc nhẩn nha thì sẽ được một truyện ngắn hay đến từng chữ. Vì nó là một tác phẩm được sáng tạo từ cái mệnh của một cây bút tài hoa. Nguyễn Tuân đọc xong viết thư cho Tô Hoài “...đọc Sài Gòn giải phóng, 13 tháng giêng 1985, bài Một người bạn, mình thấy có một cái gì mới mới ở ông. Nhưng phải khen cái truyện ngắn khá dài, khá sâu rộng này. Người thật việc thật trong chuyện này có thật không, hoặc có thì tới mức nào, đối với tôi không quan trọng. Cái quan trọng là nó như thật. Nó hay đấy. Ông còn khoẻ hơn tôi. Cứ làm độ một tập như thế này thì ông sẽ phá kỷ lục của Tô Hoài đó”. (Cát bụi chân ai, sđd., tr.158). Nếu Một người bạn là cái gương mờ thì Cát bụi chân ai (Nxb Hội nhà văn – Hà Nội, 1992) là cái gương sáng thời Tiểu Súc, được viết ra trong ánh sáng của một kiểu người hiểu được cái Thời của mình chưa thể giương đôi cánh lớn, biết vượt lên những cản trở, những bế tắc mà suy cho cùng đó là những cản trở nhỏ, bế tắc nhỏ mà thôi, chịu khó trau giồi văn đức, làm từng việc nhỏ một mà thành sự nghiệp lớn. Những câu chuyện về Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng và bản thân Tô Hoài đều được nhớ lại và miêu tả dước góc độ những người đấu tranh vượt lên những phiền muộn, bối rối, những lỗi, những lầm để rồi dốc tâm vào sự nghiệp văn chương của mỗi người. Mỗi nhà văn có một thời của mình, có hành lang số phận riêng mình, nhưng họ xuất hiện trong cuốn hồi ký này dưới sự soi chiếu của một người từ thời Đại Quá sang thời Tiểu Súc, làm cho cuốn hồi ký có một màu vị riêng mang dấu ấn Tô Hoài, khiến người đọc tự hào về dân tộc mình trải qua Cách mạng, vừa có một niềm thông cảm sâu xa khôn nguôi đối với những số phận văn chương. Giá trị của cuốn sách chính là ở chỗ đó.

    Trên kia có nói cảm xúc thiên nhiên đi vào văn Tô Hoài là từ tượng của đầm (chằm). Còn phải kể đến tượng Gió ở hai quẻ Trạch Phong Đại Quá và Phong Thiên Tiểu Súc. Phong là Gió, còn là Cây. Cần nói rằng câu văn, đoạn văn Tô Hoài sống động hẳn lên mỗi khi ông tả gió tả cây. Trong Chuyện cũ Hà Nội (Nxb Hà Nội,1998), có lẽ Diều sáo là bút ký hay nhất trong cả hai tập ghi chép. Kể diều có nghĩa là kể gió, mà là gió ở trên giời cao. Vùng tôi chơi diều sáo. Cánh diều tương tự bằng nhau, to rộng như nhau, chỉ khác nhau, hơn nhau, ganh nhau ở tiếng sáo. Cái diều không trọng màu sắc, cốt hình thù lực sĩ oai hùng và người ta lắng nghe thưởng thức tiếng sáo.

    Tác giả kể chuyện người quê nhà lên tận vùng người Mường, trên Hoà Bình kén thứ hóp đá cứng nhất, làm thân diều. Hóp đá nhỏ con, rắn mặt, ruột đặc. Nói rõ mua hóp đá làm khung diều, người Mường mới tìm cho cây hóp chết dóc, đỏ tía, nhẹ như cái đòn tay, vác mấy cây về chọn, chẳng phí đi đâu. Cây hóp đa bửa đôi mà làm đòn gánh thì bền cổ hỷ...Cây tre, cây hóp ngả vào mùa lạnh mới chắc thớ, không bao giờ mọt. Hóp đá và tre đực được ngâm vào bùn trong ao cả mùa, cả năm. Vớt lên, đẽo vót qua loa rồi đem gác bếp cả bộ sườn, bộ khung. Cuối tháng giêng dỡ xuống, thanh hóp đá và những mảnh tre cật đã được hun óng đỏ, dẻo như cái lạt.

    Làm thân diều công phu thế nào thì làm giấy diều, dây diều cũng vất vả, bền thuộc như thế. Đến việc làm sáo diều: Các vùng ven bên sông Cái hay chơi diều. Có lẽ vì ở nơi sông nước nhiều gió. Mày mò lên đấy mới kiếm được sáo tốt, không phải sáo hàng chợ. Nhưng cũng chỉ chuốc được cái lưỡi sáo và hai miệng sáo đẽo bằng mảnh tre gộc đực. Còn khoét cái thân sáo thì đi thợ tiện phố Hàng Tiện ngoài kẻ chợ, hay về làng Nhị Khê, quê gốc nghề tiện. Gỗ thị cũng không được, chỉ có gỗ thòng mực dẻo dai mới làm được thân sáo. Có ba thứ sáo diều: Sáo còi nhỉnh hơn đốt tay cái. Sáo đẩu như ống nứa. Sáo chiêng (còn gọi là sáo tù và) to bằng đốt vầu, ống dài nửa thước, hai miệng loe, nom cái sáo to tướng mốc thếch như con trăn gió. Hôm nào gió nhỏ, lắp sáo còi; gió lửng thì chơi sáo đẩu; có gió trên mới đóng sáo chiêng. Khi thả diều lên thì: Tiếng sáo diều văng vẳng liên hồi suốt đêm. Các cụ và trai làng ngồi bên gốc cây bàn tán, đánh cược và cho ngôi thứ cái diều mà tiếng sáo được đem ra cãi cọ trước nhất. Gió nho nhỏ, sáo còi lảnh lót trong không. Khi sáo đẩu rền rền, biết là diều sắp lên tới gió trên, tiếng đẩu chuyển gió dưới lên gió trên có êm không. Có gió trên, sáo chiêng mới lên tiếng và cả bộ ba chiêng, đẩu, còi trong thinh không hòa vào nhau vang lừng bầu trời. Không trông thấy diều, biết diều có lên đứng, tiếng sáo mới tròn, diều không chao chát, nghiêng ngả. Giải thi diều ăn thua ớ cái điểm tiếng sáo bổng trầm hoà khéo vào nhau như phường bát âm ngồi trên trời... Không nhìn thấy diều, nhưng sáo chiêng húc đổ hồi tù và, sáo đẩu rền vang, sáo còi lanh lảnh nỉ non thì rành rõ như nức nở trong tai, đêm về ngủ còn nằm mơ nghe sáo. Bây giờ cái diều lẫn trong bóng trăng, cả lũ đố nhau đứa nào nhìn thấy (Sđd. tập II, tr. 17-22).

    Chính cái mệnh làm làn gió đi trên trời cao (Phong Thiên Tiểu Súc) đã đưa Tô Hoài đi khắp vùng Tây Bắc, toàn chọn những vùng người Mèo núi cao có gió lộng mà leo lên. Ông kể với nhà văn Ngưyễn Công Hoan: Đi bộ, trong khoảng bốn tháng, suốt vùng du kích, qua dọc núi Mèo Nghĩa Lộ, đến dọc núi Mèo Tú Lệ, đến dọc Mèo Tuần Giáo, đến dọc Mèo Điện Biên. Trên đường gặp ai tôi cũng đi với người ấy. Lần thì đi với vợ chồng A Phủ, có A Phủ thật anh ạ. Lần thì theo người đi chợ. Lần thì theo người đi thăm họ hàng. (Nguyễn Công Hoan. Chân dung văn học. Sđd., tr.125). Tô Hoài tả gió núi, gió sông thường dữ dội: Bóng tối trĩu nặng từng quãng, nhanh và dữ tợn. Các mỏm núi đương vàng rực bỗng xanh rợn. Gió chồm lên rồi chết đứng, từng đợt, ngay giữa các triền đồi tranh im lặng (tiểu thuyết Miền Tây). Những thuyền lưới đương tấp nập từng quãng sông. Đôi lúc gió lớn như bão cạn, thổi cát lẫn phù sa đỏ ngùn ngụt bốc lên ngang trời, những chiếc thuyền qua lại mơ hồ như trong mây. Tiếng gõ cá, tiếng chèo va mạn thuyền, tiếng chài quăng roàn roạt, nghe văng vẳng trong thinh không. Gió cát và dòng nước nhuộm trời đất đỏ lừ (tiểu thuyết Kẻ Cướp Bến Bỏi).

    Quan sát cấu trúc Hà Lạc của Tô Hoài, tôi băn khoăn: Trong mệnh ông không có tượng Núi. Nếu có thì chỉ có ở những quẻ Năm, trong thời Đại Quá. Vậy mà ông có khoảng hơn chục năm ròng rã đi các vùng núi cao, viết truyện Tây Bắc, Miền tây, nhiều truyện hay khác về miền núi. Mệnh ông cũng không có dấu ấn của một đời phiêu lưu, làm khách lữ hành. Nhưng ông đã đi khắp thế giới. Cũng có chuyên gia Hà Lạc nói rằng những cuộc leo núi và đi xa ấy là đi chệch hành lang. Tôi nghĩ rằng người có mệnh Đại Quá lại có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hoá công) thì họ có thể làm những việc phi thường, đi ra ngoài hành lang số phận. Vả lại ông còn là làn gió bay trên trời cao (Phong Thiên), việc ông bay cao, bay xa là có thể hiểu đựoc. Chỉ có điều giá như ông biết được mệnh của mình có tượng thiên nhiên là Đầm, là Gió là Cây...ông tập trung cái năng lượng 150 đầu sách ấy vào những tác phẩm viết về vùng quê đầm hồ Tây Hồ (Hà Nội), thì tôi tin chắc bạn đọc nước ta còn được nhờ ở ông nhiều hơn nữa, như đã được nhờ ông ở những Dế mèn, Giăng thề, Quê nhà, Cát bụi, Chuyện cũ...Tôi thành thật tin như vậy và thành thật lấy làm tiếc như vậy.

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Tô Hoài

    Sinh ngày: 16-8 Canh Thân, giờ Dậu (27-9-1920). Dương Nam. Mệnh Mộc (thạch lựu). Thượng nguyên. Nắng nhạt: 8 – 9 – 1920. Giữa thu: 23-9. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Canh Thân, Tháng Ất Dậu, Ngày Mậu Tý, Tháng Tân Dậu. Mã số Can Chi: 3, 4-9; 2, 4-9; 1, 1–6; 4, 4-9. d/â.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

     Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0*

    1

    1

    1

    1

    0

    20-25

    59-67

    50-58

    41-49

    32-40

    26-31

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    0

    1*

    1

    1

    92-00

    83-91

    77-82

    68-76

    09-17

    01-08

    1

    0

    1

    0

    1

    1

    0

    1

    0

    1

    1

    0

     Trạch Phong

     Đại Quá

     

     Thuần Càn

     

     Phong Thiên

     Tiểu Súc

     

    Hỏa Trạch

     Khuê

    Thủy Phong Tỉnh

     

    Hoá công: Đoài ở Tiên Thiên và Hỗ hậu Thiên. Thiên nguyên khí: (Chấn) Không. Địa nguyên khí: (Khôn) không. Mệnh hợp cách mức trung bình cao. Dấu *: Hào nguyên đường chỉ chủ mệnh xuyên suốt Tiền vận hoặc hậu vận. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hào 1, 4, 6.

     

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

     

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits42,918,779

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...