Search

Access times

  • Total visits42,919,330

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Trần Nhuận Minh trên từng cây số

Xuân Cang

  • Tuesday, 11:32 Day 28/10/2008
  • Một hôm tôi đến thăm và trò chuyện với nhà thơ Trần Nhuận Minh tại ngôi nhà số 25 của anh chị, đường Lê Thánh Tông, TP Hạ Long, ngay gần bến phà Bãi Cháy. Ngôi nhà dựa lưng vào núi nhìn ra biển. Ngồi ở sân trời, gió nồng mùi biển, cứ ngẩng lên là nhìn thấy biển, đảo và những con tàu, những cánh buồm. Trần Nhuận Minh ngắm nghía bức chân dung Hà Lạc Trần Đăng Khoa, hỏi tôi:

     - Cứ theo ý bác thì cậu em tôi sau cái thời thịnh vượng ban đầu, có đi chệch hành lang Hà Lạc?

     - Chỉ đi chệch một đoạn ngắn khi có ý định phấn đấu trở thành một nhà thơ của Hải quân. Khoa không có duyên với vùng trời nước, điều đó đã phản ánh trong những tín hiệu Hà Lạc. Trước sau Khoa vẫn là nhà thơ của Đất Trời, của Gió và Cây, của Đầm hồ và Sấm chớp. Anh coi, sau này những bài thơ của Khoa viết từ trên trời vẫn có cái thần của cảm xúc, như Bên cửa sổ máy bay chẳng hạn.

     - Còn cái xu hướng của Khoa đi vào phê bình văn chương thì có tín hiệu gì trong Hà Lạc?

     - Có chứ. Đó là một công việc cần một cái nhìn bao quát, rộng rãi, phóng khoáng, công bằng, độ lượng, một cái nhìn từ trời xuống. Chân dung và đối thoại là một bước chuẩn bị, để liệu đường lui tới. Sang hậu vận Địa Thiên Thái, tố chất Trời chiếm lĩnh tâm trí Khoa, cậu ấy sẽ vừa có thơ hay, vừa trở thành một tay phê bình văn chương có tầm cỡ, đó là hành lang của Khoa.

    Tôi kể một chuyện vui: Tôi vừa xem Hà Lạc cho một chị bạn là họa sĩ có tài. Cấu trúc Hà Lạc của chị là gì anh biết không? Thiên Địa Bĩ. Thiên là Trời, Địa là Đất, Bĩ là bế tắc, không thông. Nguyên đường, chủ mệnh, là hào 5 là tín hiệu thoát bĩ. Kết quả cho biết thế nào là một họa sĩ có cấu trúc Thiên Địa Bĩ, với chủ mệnh sang thời thoát bĩ. Trước hết, tín hiệu thoát bĩ thể hiện ở chỗ chị tìm được cơ hội phát triển tài năng. Suốt đời chị chỉ vẽ 3 mảng tranh. Một là Hoa. Mọi người có cảm tưởng suốt đời chị chỉ vẽ hoa. Đủ các loại hoa, cả một thế giới hoa hiện lên trong tranh chị, không rực rỡ, mà đằm thắm, mà tinh tế, mà mỏng mảnh, mà suy ngẫm. Cắt nghĩa thế nào về hiện tượng ấy? Hoa, chả là tinh chất của Đất. Mảng tranh thứ hai: chị vẽ phong cảnh, thuần một loại phong cảnh chiếu cái nhìn từ trên cao xuống. Bức tranh mang tên Biển động chẳng hạn. Đó là một cảnh biển có núi đảo, có những cánh buồm nghiêng, có các loại sóng bạc đầu, tất cả được diễn tả bằng một cái nhìn từ trời xuống. Đấy, người có tố chất Trời trong mệnh, mà là họa sĩ, thì vẽ tranh như thế, nếu là nhà văn, anh ta sẽ đi vào công việc phê bình, lý luận văn chương, cũng đòi hỏi một cái nhìn từ trời xuống. Còn mảng tranh thứ ba của nữ họa sĩ, có cái tên chung là Người đàn bà cô đơn, ở đây là cả một thế giới cô đơn của đàn bà. Tức là cái đẹp của thời Bĩ. Trái ngược hẳn lại, Trần Đăng Khoa có hậu vận là thời Thái, thơ của cậu ta là cái đẹp của một thời thịnh, có đúng không? Bài thơ Gửi bác Trần Nhuận Minh chẳng hạn, là bài mang âm hưởng của một cái gì buồn buồn: Bác thì bay dưới đất / Em đành đi trên trời..., hoặc là: Giờ thì em đã chán / Những vinh quang hão huyền, ta vẫn thấy đó là âm điệu thơ của một người bước vào thời thịnh một lần nữa. Có đúng không?

     - Thôi thôi, tôi sốt ruột lắm rồi, Nhuận Minh cười, bác giải thích cấu trúc Hà Lạc của tôi coi.

    Nhà thơ Trần Nhuận Minh (TNM) sinh giờ Tị ngày 20-8 năm Giáp Thân (1944). Anh cho chúng tôi biết trong sách Nhà văn Việt Nam hiện đại (Nxb Hội nhà văn 1997), ghi ngày sinh của anh là 20-8-1944, có lẫn âm dương: 20-8 là ngày tháng lịch âm, còn 1944 là lịch dương - ngày trước các bậc cha mẹ vẫn hay lẫn lộn thế. Vậy quẻ Dịch ông trời cho anh là Thủy Sơn Kiển. Thủy là Nước. Sơn là Núi. Tượng quẻ là Nước ở trên Núi, còn có thể hiểu là Nước (như sông biển) ở phía trước, Núi ở phía sau (như cảnh nhà anh ở vài chục năm nay vùng Hạ Long). Kiển là Gian nan, hiểm trở, là Nạn. Người thức thời coi tượng quẻ này mà biết rằng mình đang ở giữa thời hiểm nạn, phía trước là Nước, phía sau là Núi, muốn qua thời này phải dụng công lắm, phải trở lại với thân mình, rèn đức thì mới vượt lên hiểm nạn, cũng có khi phải lánh mình tránh nạn, sau mới thành sự nghiệp lớn. Chủ thể TNM tuy gặp quẻ Kiển nhưng may mắn anh có hào chủ mệnh là hào 2 âm, tài kém, nhưng có đức trung chính, có hào 5 dương ở vị chí tôn, tượng như một nhân vật lớn (đại nhân) phía trên ứng tiếp. Sinh tháng Tám mà được quẻ Kiển là hợp mùa sinh nên có sức để vượt lên thời Kiển. Người quẻ Kiển là người đường đời thường gặp hiểm nạn, có tâm lý mình ở giữa nơi hiểm nạn, nên thường trở lại với mình, tìm lại mình, tự đánh giá mình. Người thời Kiển cũng như người thời Bĩ thường cảm thông sâu sắc với kẻ khốn cùng, nhất là những người lâm nạn. Người thời Kiển mà không biết dụng công vượt hiểm thì coi như sụp vào chốn chông gai, còn nếu biết rèn đức để vượt lên thì thành nghiệp lớn, TNM ở vào trường hợp thứ hai này. Theo Phan Bội Châu, đức đây là Nhân, Trí, Dũng. “Đức Nhân mình có được, tất được nhiều người yêu mến, đức Trí mình có được, thì dầu lòng người hiểm mình cũng chẳng sợ, đức Dũng mình có được thì dẫu đường đời hiểm mình cũng chả lui” (Xem quẻ Thủy Sơn Kiển). Toán Tứ trụ cũng cho biết TNM có tài văn chương, thông minh, học giỏi và khéo léo trong ứng xử việc đời (tín hiệu Văn Xương, Học Đường).

    Tố chất thiên nhiên thâm nhập vào cảm súc văn chương của anh là Nước, Núi, Gió, Lửa. Trong cấu trúc Hà Lạc có tới 3 quẻ Khảm (Nước), 2 quẻ Cấn (Núi), nên chắc chắn cuộc sống và cảm súc thơ sẽ rất dồi dào về Nước, về hiểm, về trí lực vượt hiểm, là những gì mà Nước là tiêu biểu (theo Hà Lạc); cả về Núi, về sự tích chứa, sự ngăn trở, ngưng đọng, tĩnh lặng và trang sức, những đặc điểm của tượng Núi. Ta cũng sẽ thấy tượng Lửa (trong quẻ Hỗ Hỏa Thủy Vị Tế) và Gió (trong quẻ Phong Thủy Hoán) đi ngang qua và để lại dấu ấn trong thơ anh thế nào.

    Khác với chú em Trần Đăng Khoa, có chặng đường đi chệch hành lang số phận nên đã từng phải trả giá, Trần Nhuận Minh là hình ảnh một con người luôn luôn biết chèo lái cuộc đời và không cưỡng lại hành lang số phận trên từng bước đường, mặc dầu anh chưa từng biết cái hành lang ấy nó ra sao.

    Trần Nhuận Minh sinh ở làng quê Điền Trì, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, một làng thuần nông, trên là trời, dưới là lúa. Bà đỡ là người đầu tiên nhận ra cái thời Kiển của anh.

    Tôi sinh ra bên bờ sông Kinh Thầy

    Nắng gió mùa thu năm đói

    Mẹ tôi hai mươi bốn tuổi

    Đôi mắt lặng thầm buồn mênh mông

    Bà đỡ đặt tôi vào giữa nong

    Mong tôi lắm thóc nhiều tiền

    Không phải ăn mày, ở đợ

    Bà quấn cho tôi vạt áo cũ

    Ngai ngái mồ hôi

    Tôi khóc chào đời

    Tiếng nghẹn trong cổ

    Bà đỡ khẽ kêu: Thằng này rồi sẽ khổ

    Rồi đến bà ngoại đầy linh cảm:

    Tuổi thơ

    Tôi sống ở nhà Ngoại

    Cậu tôi bế vẹo xương sườn

    à ơi, con cò con vạc...

    Tôi lê la vày đất, nghịch cát

    Chơi một mình, ngủ một mình

    Mẹ tôi vào phường cấy thuê

    Với câu hát buồn tứ xứ

    Gặp cha là lại cãi nhau

    Tôi không hiểu vì đâu

    Đứng khóc một mình không ai dỗ

    Bà tôi khẽ kêu: rõ khổ!

    (Đá cháy- Nhà thơ và Hoa Cỏ. Nxb Đồng Nai - 1997)

    Trong cuốn sách nói trên, TNM kể:

     “Tôi làm thơ từ thuở học phổ thông và thường được giải nhất trong các cuộc thi thơ của trường. Năm 1958-1959, tôi là người sáng tác chính của tổ tuyên truyền huyện Nam Sách. Hàng tuần, người ta đến lấy thơ tôi in trên đất sét rồi phát lên loa, kẻ lên các bản tin, viết lên các tường vách nhà, ở hầu hết các làng xã trong huyện. Đó là thơ thường chỉ có từ 4 đến 8 câu, phục vụ các nhiệm vụ trước mắt. Cách viết này ảnh hưởng đến sáng tác của tôi nhiều năm sau.” “Năm 1960, tôi đã có thơ đăng báo” (Thưa Bạn đọc)

    Nhưng anh không gắn bó với lúa má, hương đồng gió nội. Về sau này có lần anh thốt lên: Tôi, tảng đất sét bên bờ sông Kinh Thầy (Đá cháy). Không ngờ rằng đó là câu thơ nói lên cái mệnh của anh. Là con một gia đình nông dân, cuộc đời bắt nắng bắt gió, "mùi mồ hôi nửa dầu nửa muối", nhưng anh cũng đã sớm nhận ra mình là tảng đất sét, không lên lúa lên hương ở nơi đồng quê như chú em Trần Đăng Khoa được. Từ 1962 đến 1969, TNM xung phong đi dạy học ở một vùng đồng bào miền núi Quảng Ninh. Lời quẻ Kiển đã dặn dò: người được quẻ này chớ đi về phương Đông Bắc (hướng quẻ Cấn), đầy hiểm trở, mà hãy kiếm đường bằng phẳng hướng Tây Nam, hướng quẻ Khôn. Nhà nghiên cứu Dịch học Nguyễn Hiến Lê bảo rằng chúng ta không nên hiểu đúng từng chữ Tây Nam và Đông Bắc, chỉ nên hiểu ý thôi. Nhưng số phận đã dun dủi nhà thơ trẻ, khi đó là nhà giáo trẻ đi đúng từng chữ trong lời quẻ, cả ý tứ lẫn phương hướng cụ thể. Quảng Ninh và vùng mỏ Hạ Long đúng là hướng Đông bắc của cả đời anh.

     Vùng mỏ bây giờ thành nơi tôi sinh

     Với tiếng xoáy chân vịt tàu, tiếng than cuộn đổ

    Anh nói lời tâm huyết: "Tôi đã nhận từ than ngọn lửa / Thắp sáng lên trong mọi cõi âm u". Và ở nơi đây: "Vinh nhục vui buồn lặn vào cuộc đời tôi / Như vết than lặn vào da thịt (Đá cháy).

    Từng đánh cá biển

    Như một dân chài

    Đêm ngủ thõng chân xuống khoang thuyền

    Biết ngấn nước lên lấy mo sam tát vội

    .........

    Từng lên thìu, đánh cột, cuốc lò

    Giầm mình trong than, như cái rễ cây

    Hoàn toàn tự do trong đất tối

    Tấm áo thợ xanh dày

    Ướt đẫm mồ hôi và than bụi

    (Đá cháy)

    Tất cả đã được báo trước trong tín hiệu hào 2 quẻ Kiển, hào chủ mệnh khái quát cả một thời tiền vận: Bậc vương thần vất vả, chẳng phải do thân mình (ý nói: ở thời này, chủ thể thuộc hào 2, âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung, đắc chính, có đức được nguyên thủ -hào 5, dương, mà cũng trung, chính- phó thác việc nước, nên phải chống chỏi với mọi gian nan, không dám từ, hoàn toàn không vì mình). Kiệt lực vì trung hiếu.

    Những năm từ 22 đến 30 tuổi (1965-1973) ở vùng mỏ, ứng với hào 5 quẻ Kiển: Cực kỳ gian nan, nhưng có bạn tới giúp, đổi bĩ ra thái... TNM kể: Năm 1960, tôi đã có thơ đăng báo. Năm 1965-1966, tôi tham gia vào tuyển thơ Sức Mới, hai tập, do nhà thơ Chế Lan Viên chọn và giới thiệu, gồm các nhà thơ trẻ, sẽ là lực lượng chủ yếu của thơ những năm chống Mỹ cứu nước.” (Năm Ất Tị - 1965 quẻ Địa Sơn Khiêm hào 5: Đức Khiêm ở ngoài lớn cũng cần phải biến hóa. Vì khiêm nhường mà thu nhân tâm về với mình. Năm Bính Ngọ - 1966 quẻ Địa Phong Thăng hào 2: Thành thực đối với trên. Tài đức lớn, trên mến dưới kính, công nghiệp hiển hách).

    Năm Canh Tuất - 1970, TNM được quẻ Phong Hỏa Gia Nhân, quẻ nói về đời sống gia đình, nhưng cũng hàm ý nói về việc nước, chủ mệnh hào 2: Giữ đạo (của người) đàn bà, đẹp nhà đẹp cửa. Bình dị gần dân, nhiều người kính mến, đạo nhà hưng thịnh. Năm này, TNM hoàn thành tập thơ đầu tay: Đấy là tình yêu (in năm 1971). Cái tên sách ứng nghiệm với chủ mệnh năm về nhà cửa của anh*. Những năm sau đó, anh liên tiếp sáng tác và thành danh. Năm 1980, năm được quẻ Thủy Hoả Ký Tế (tín hiệu hoàn thành, đã xong, đã sang sông) ra tập thơ thứ hai: Âm điệu một vùng đất, ra tiếp một tập truyện vừa: Trước mùa mưa bão, cả hai tập này đều được giải thưởng văn học của Tổng Công đoàn Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Như thế, kể đã là sang trọng. Nhưng người thời Kiển chưa thể tự bằng lòng với mình, họ luôn tự đánh giá về mình, quay trở lại với mình. Trong lòng quẻ Kiển, thấy lấp ló hiện ra quẻ Hỗ Hỏa Thủy Vị tế. Vị tế là chưa xong, chưa sang sông. Có nghĩa là những cái đã làm ra chưa là cái gì cả. TNM sớm nhận ra điều đó. Anh có một chặng đường thử thách 6 năm tiếp theo, từ 37 đến 42 tuổi (1980-1985), mà tín hiệu là hào 1 quẻ Kiển: Đi lên thì vất vả, ở lại thì được khen. Tinh khôn, khéo xử nghịch cảnh, thấy hiểm trở thì ngừng lại, trước khó sau gặp. TNM kể về thời kỳ này: Chuyến đi công tác thành phố Huế cuối 1975, thành phố Hồ Chí Minh đầu 1979, đã bổ sung cho tôi những quan niệm mới về sáng tác, nhưng tôi chỉ tìm thấy hướng đi cho thơ mình từ ngày đất nước bước vào công cuộc đổi mới.

    Từ trước đến nay, cái dấu hiệu để nhận biết một nhà thơ đích thực, một nhà thơ đúng như cái danh hiệu tôn vinh của bạn đọc, bao giờ cũng là cái bản sắc riêng, cái dấu ấn mà nhà thơ đem đến trong thơ mình, được bạn đọc thừa nhận. Trần Nhuận Minh là một trường hợp như thế. Anh làm thơ từ rất sớm, lặn lội trong cuộc sống, tự biến đổi mình từ hòn đất sét thành hòn đá cháy. Nhưng một thời gian dài, thơ anh tài hoa đấy mà dàn trải đấy. Có chuyện buồn cười, trong nhiều năm, khi giới thiệu Trần Nhuận Minh, người ta thường lưu ý mọi người: đây là anh ruột Trần Đăng Khoa, nhà thơ thiếu niên nổi tiếng. Cứ làm như anh nổi tiếng vì chú em chứ không phải vì thơ của chính anh. Không phật ý, Trần Nhuận Minh cứ cần mẫn và lặng lẽ tìm mình.

    Bây giờ tôi đã đứng trước than

    Đứng trước chính mình

    (Đá cháy)

    Trước hết nhà thơ thời Kiển tìm đến những kiếp người gian khó, cũng Kiển như mình, ở giữa đám đông nhân dân, giữa những kiếp người. Vào đầu những năm Tám mươi, anh lần lượt cho ra hàng loạt bài thơ viết về các thân phận, các tính cách cá nhân mang dấu ấn một thời khốn đốn, gian nan. Một nhà thơ làm nghề áp tải đường sông: "Đất nước có một thời / Kẻ gian nhiều như nấm / Không ngờ một nhà thơ / Lại sống bằng nắm đấm" (Nhà thơ áp tải). Một nhà văn cho bản thảo vào bao tải mang văn về Thủ đô. Trông mình như hành khất

    Trộm cướp nó sẽ tha

    Nhà văn híp mắt lại

    Hồn nhiên cười hà hà...

     

    Bỏ phố vào phát núi

    Dựng lều Thạch Anh Trang

    Có đêm ba con rắn

    Nằm cuộn xung quanh màn

     

    Không vào rừng thì đói

    Nhà văn lại cười xòa

    Mà văn chương còn phải

    Vươn lên những tầm xa

    (Tinh chất)

    Nhiều bài thơ như thế mang những tên riêng một con người: Thím Hai Vui, Bá Kim, Lão Tú, Dì Nga, ông Vọng, Cô Bổng... Chỉ cần dăm khổ thơ mang sức nặng triết lý về một cuộc đời của thời Kiển, là có đủ cốt cách của một truyện ngắn, hay một truyện vừa. Nhưng lại chính là những thứ mà một truyện ngắn chẳng hạn, không chứa chất được, nên thành thơ. Thím Hai Vui là một ví dụ: "Những năm chú ra trận / Thím buồn vui một mình / Thím bảo những năm ấy / Là những năm hòa bình". Đấy là cả một chương vào truyện. Thế rồi chú về, "tung huân chương đầy chiếu". Nhưng chả biết vì đâu, "Vợ con chú đánh trước / Xóm giềng chú đánh sau". Đoạn này nhà văn xuôi chắc là có thể viết được một chương hay về sự đổi tính đổi nết ấy của người anh hùng từ mặt trận về. Nhưng nhà thơ thì buông một khổ thơ cho thấy người ta cần đến thơ như thế nào: "Chỉ thương thím Hai Vui / Mặt mũi luôn thâm tím / Đến bây giờ chiến tranh / Mới đến thật với thím." Bá Kim lại là một tính cách khác, vừa giản dị, vừa kỳ vĩ: một căn nhà nhỏ khuất sau vườn, một niêu cơm, một chõng tre, bá Kim làm nghề móc cua kiếm sống, "Mu bàn tay chéo chằng vết xước / Cái giỏ treo bên liếp tre thưa". Nhưng mà người đàn bà ấy: "Con cả mất khi chiếm hầm Đờ Cát / Con thứ hy sinh lúc giành lại Sài Gòn". Giờ đây, trên vách không dán bằng Ghi công Tổ quốc, bàn thờ không có ảnh hai con:

    Nỗi sâu thẳm chỉ một mình bá biết

    Khi đêm đêm bá hãm ngọn đèn xanh

    Bá ngồi đếm từng đồng tiền liệt sĩ

    Lặng lẽ cho riêng vào một hũ sành.

    (Bá Kim)

    Trần Nhuận Minh không dừng lại ở những cảnh đời như thế, nhà thơ mạnh bạo tia cái nhìn vào những mặt sau cuộc đời làm cho những câu thơ thực sự lay chuyển người đọc. Đây là một cô Bổng: "Em đã mấy lần bỏ phiếu / Bầu cô đi đại hội trên". Nhà thơ một hôm gặp cô trước đền đang phán bảo tiền vận, hậu vận. "Tóc trắng da mồi đường bệ / Cô mang chiếc cặp như xưa / Trước đựng những gì không rõ / Giờ em thấy thẻ với bùa". Và nhà thơ bỗng: "Chợt thấy muôn trùng cây cỏ / Bảng lảng nhuốm màu chiêm bao" (Cô Bổng). Còn đây là bà hàng nước: "Bà bán nước chè xanh, không chỉ bán nước chè / Có bán cả phụ tùng tên lửa" (Thoáng). Một tình thương nồng ấm kèm theo một nụ cười tinh quái, đượm cái vị chua chát một chút, là đặc điểm mảng thơ thế sự này của Trần Nhuận Minh. Một gia đình làng quê yên chí con mình đang "thi" tiến sĩ ở nước ngoài, có ngờ đâu:

    Chao ôi! Tôi nói làm sao được

    Cháu đã lưu vong làm tướng cướp

    Đoạt của, đánh người, chẳng ghê tay,

    Cháu là nỗi kinh hoàng trên các sân bay...

    Người đọc có thể thấy ẩn hiện cái nụ cười ấy trên rất nhiều trang thơ của anh. Và chính nó đã hình thành một giọng thơ riêng của anh. Một giọng thơ bắt nguồn từ cuộc sống lầm than, cực nhọc, mà phóng túng, mà cháy bỏng yêu thương của một đám đông thợ mỏ bên bờ một vịnh biển đẹp mê hồn, kỳ quan của thế giới. Và bắt nguồn từ một hồn thơ thực sự nhập vào đám đông ấy. Sau này TNM tự tổng kết về thơ mình, cũng chính là tổng kết về một quá trình quẻ Kiển mà anh đã đi “trên từng cây số”: Cuộc sống, số phận và những khát vọng của họ luôn luôn xúc động tôi, mọi cố gắng của tôi là biến những xúc động đó thành nghệ thuật. Tôi cố gắng viết thật trong sáng, giản dị và thấm thía, và giành một khoảng rộng sau mỗi bài thơ cho người đọc suy ngẫm... (Nhà văn Việt Nam hiện đại. NXB Hội Nhà Văn - Hà Nội 1997). Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi. Tuyên bố đó của Xuân Diệu đáng để cho chúng ta tiếp tục suy ngẫm. Tuy nhiên, cùng xương thịt với nhân dân và viết hay về nhân dân, là hai vấn đề khác nhau lắm lắm... Trên chặng đường tự vận động, các nhà thơ sẽ tìm được lời lý giải bằng tác phẩm của mình để đồng hành với nhân dân, và cũng là để tự tồn tại... Chung qui, thơ vẫn phải vì nhân dân. Cuối cùng, chỉ có nhân dân, bằng sự thẩm thấu lặng lẽ và khách quan, mới đánh giá đúng tác phẩm của anh và đặt anh ngồi vào đúng chỗ vốn giành cho mình, ở hạng thứ nào. (Báo Văn Nghệ 13-3-1999).

    Trên kia đã nói về nhà thơ thời Kiển tìm thấy mình và trở lại với mình. Cần nói thêm về ý chí vượt Kiển. Người xưa bảo rằng người thời Kiển không muốn sụp vào chốn chông gai thì chỉ có cách rèn đức. Phan Bội Châu bảo rằng Đức ấy gồm Nhân, Trí, Dũng. Chúng tôi thấy trong thơ TNM có đủ những bài học hay về ba đức lớn ấy. Những bài thơ tìm đến với nhân quần kiển nạn đã kể trên phải chăng là bài học về đức Nhân? Đây là bài thơ Dặn con:

    Chẳng ai muốn làm hành khất

    Tội trời đày ở nhân gian

    Con không được cười diễu họ

    Dù họ hôi hám úa tàn

     

    Nhà mình sát đường họ đến

    Có cho thì có là bao

    Con không bao giờ được hỏi

    Quê hương họ ở nơi nào

    Đức Trí sáng lên ở những câu thơ có nguồn từ tố chất thiên nhiên là Lửa trong mệnh thơ TNM (quẻ hỗ Hoả Thủy Vị tế):

    Không tỏa sáng thì không tồn tại

    .........

    Mẹ đã sinh ra con như sinh ra một ngọn lửa

    Một ngọn lửa làm sôi cơm trong bếp người lao động

    Tỏa sáng ngọn đèn chai soi cho em bé đi trong đêm

    Khỏi bị vấp ngã, khỏi bị rắn cắn.

    .........

    Tôi hằng tin không một thói xấu nào

    Còn tồn tại khi đã đi qua lửa

    Không phải niềm vui mà chính là nỗi khổ

    Đã dạy tôi thành Người.

    (Đá cháy)

    Đức Trí sáng lên ở câu thơ rất hay trong bài Tinh chất:

    Vỉa than trong lòng đất

    Tiểu thuyết trong bao này

    Nào ai mà biết được

    Cái nào quý hơn đây

    TNM không tìm đức Dũng ở sự xông pha, những năm chiến tranh, thơ đã nói nhiều rồi. Muốn vượt Kiển nạn có lẽ phải dũng trong khi

    Tôi nằm trên vệ cỏ

    Đối mặt với trời cao

    Một nỗi niềm trinh bạch

    Giữa bốn bề gian lao

    (Chiều Yên Tử)

    Còn sau cùng nếu tôi có tắt

    Tôi sẽ tắt như một đám cháy

    Bới tro lên vẫn còn đám lửa hồng

    Nhưng tôi không tắt đâu. Không bao giờ tắt.

    .........

    Đôi chân bầm ứ

    Tôi ngật ngưỡng và trụi trần đi

    Trong câu thơ tê dại của mình

    Những câu thơ vật vã mặn như náu...

    (Đá cháy)

    Hãy áp tải sự thật

    Đến những bến cuối cùng.

    (Nhà thơ áp tải)

    Đó là cái đức Dũng mà dù cho đường đời hiểm mình cũng chả lui (Phan Bội Châu):

    Từ năm 43 tuổi (1986), TNM bước vào thời Phong Thủy Hoán. Hoán là Tán, là Tiêu tan, không tụ một chỗ. Chủ mệnh của anh là hào 5 quẻ Hoán cho biết anh có sứ mạng cứu thời Hoán, là người phát ra tín hiệu tán để tụ, giống như việc trong cơ thể làm tan mồ hôi để giải cảm, còn trong cuộc sống là làm tan những cái nhỏ, cái xấu để quy tụ những cái tốt đẹp lại, là quy tụ tài năng, với lòng chí thành để vượt qua hiểm nạn, như người dùng thuyền vượt sông. Chúng ta không biết, trong cuộc sống, TNM đã trải qua một thời Hoán và đã cứu thời Hoán ấy như thế nào. Chỉ biết trong đời sống văn chương TNM đã làm một việc lớn sau đây. Hãy nghe anh kể: Trước đó (nghĩa là những năm quẻ Kiển. XC) ngoài văn xuôi và các tập thơ in chung, tôi đã được in riêng đến 3 tập thơ dày dặn, có tập đến 50 bài. ở thời ấy đối với một nhà thơ trẻ đâu có dễ dàng. Vậy mà tôi đã bỏ lại dọc đường cùng với bút danh của mình (là Trần Bình Minh. XC), là từng tập một, từng bài một, cho đến trắng tay. Thời gian và cuộc sống đã dạy tôi những bài học nghiệt ngã và sâu sắc. (Thưa bạn đọc. Sđd). Có nghĩa là đã diễn ra một hành trình Tán để Tụ, chọn lọc, lược bỏ, chỉ còn để lại những gì tinh chất trong thơ. Và những gì tinh chất ấy tụ lại, đọng lại trong tập thơ Nhà thơ và Hoa cỏ, 64 bài, tôi đang cầm trong tay, năm 1996, in lần thứ bẩy. Cái quá trình Hoán Tán ấy có lúc đã tưởng trắng tay. Có thể nói phần lớn tập thơ đậm đặc một cảm xúc sâu xa, một nỗi buồn man mác về một thời Hoán Tán, một thời lìa tan, một khao khát cháy bỏng về hành trình quy tụ, tan để tụ. Trừ phần trích Trường ca Đá cháy là dấu ấn thơ một thời Kiển của tác giả, viết xong năm 1985, còn lại hầu hết những bài thơ ghi năm sáng tác từ 1986 trở đi là dấu ấn thời Hoán. Nó mang gần đủ những sắc thái quẻ Hoán. Những bài thơ Mợ Hữu, Thím Hai Vui, Bạn thuở khăn quàng đỏ là những cảnh lìa tan không cứu vớt, thuộc sắc thái hào 1 quẻ Hoán. Mợ Hữu (trang 18) chẳng hạn, vợ chồng trẻ, làm nhà xong thì chồng lăn ra chết, thế là người nhà chồng lườm nguýt: Chẳng thiếu kẻ đe người ướm / Nhà xinh mợ lại càng xinh / Như con thuyền nan không bến / Lênh đênh trong chính phòng mình. Thế nhưng ở Dì Nga (trang 50), cũng là lìa tan, mà tan ấy là hanh thông, con người lìa tan ấy bỏ cảnh giàu có, đi với người hợp với mình, dù anh ta chỉ là anh câu cá vược. Cảnh này thuộc sắc thái hào 2 quẻ Hoán: Có nơi dựa, nên cứu được sự lìa tan.

    Bên nhau trong khoang thuyền

    Giữa bốn bề mây nước.

    Nhà thơ buông khổ thơ cuối cùng: Chả biết dì sung sướng / Hay là dì khổ đau / Nửa đời... ừ sao nhỉ / Họ không tìm thấy nhau.

    Tôi đọc đi đọc lại bài Hoành Mô mây trắng, và cứ nắc nỏm mãi: phải chăng đây chính là cái âm hưởng hào 4 quẻ Hoán? Phan Bội Châu bảo rằng Hào 4 này nói về một cách Hoán (lìa tan) để cứu thời Hoán, đó là hãy làm tan cái nhỏ đi để tụ được cái lớn gồm cả thiên hạ, việc ấy to lớn, há người thường mà nghĩ được hay sao (Lời hào). TNM lên thăm vùng biên giới Hoành Mô, nơi đã xảy ra chiến tranh năm 1979: Khó lòng mà tưởng tượng / Máu đã đổ ở đây / Chén rượu giầm mật đắng / uống với màu mây bay.

    Trúc liền một lối xóm

    Vậy mà hai quốc gia

    Cạnh cửa hầm lấp dở

    Sở trắng toàn thân hoa

    Một nỗi buồn đau đáu về một cuộc lìa tan hết sức là vô lý: Cuốc nương và bóc quế / Khói xanh chiều yên vui / Một ước mơ bình dị / thấm vào ta ngàn đời.

    Khi tàng tàng chạm chén

    Rừng lau gió ào ào

    Nấm mồ người lính trẻ

    Hiện ra bên chiến hào

    Cái ước mơ sống thân hữu giữa những người hàng xóm hai nước, núi liền núi, sông liền sông, đã được nói ra trong bài thơ: Cái tới còn chưa tới / Nỗi quên đã quên đâu. Chỉ khác một chút với lời Kinh khi xưa bảo rằng nó là việc lớn lao, không phải kẻ tầm thường nghĩ ra được, nhà thơ nói với hương hồn người lính trẻ:

    Biết nói gì với anh

    Ngửa mặt đầy mây trắng

    Mật đắng thì cứ đắng

    Quế thơm thì cứ thơm...

    Vâng, kẻ tầm thường thì không nghĩ ra được, nhưng người chiến sĩ nằm dưới ấy, và chúng tôi là nhân dân, nhân dân đâu phải kẻ tầm thường. Mật đắng thì cứ đắng, còn quế thơm thì vẫn cứ thơm, cái gì phải tới nó sẽ tới. Cái tinh thần hào 4 quẻ Hoán bằng cách nào đó đi vào tâm tưởng nhà thơ, để khi anh đặt chân lên Hoành Mô, nhìn làn mây trắng bay trên bầu trời biên giới mà thốt ra câu thơ như một chân lý giản dị của nhân dân như thế?

    Bây giờ ta tìm hiểu một chút những tố chất thiên nhiên đã đi vào cảm súc văn chương của TNM. Đó là Nước, Núi, Lửa, Gió. Cả Sấm nữa, trong quẻ hỗ Sơn Lôi Di. Người xưa lưu ý, tượng Nước trong quẻ Phong Thủy Hoán còn được hiểu là Mây, bởi Mây cũng là Nước ở dạng hơi. Tượng Phong Thuỷ trong quẻ Hoán là Gió thổi trên nước, làm cho nước tung toé ra, còn được hiểu là Gió thổi làm tan Mây, vì vậy quẻ có tên là Hoán, là Lìa tan. Đặc biệt trong Cấu trúc Hà Lạc của anh có đến ba quẻ Khảm, mà Khảm có tượng là Nước. Chả thế mà hành lang số phận dẫn anh đến bên bờ vịnh Hạ Long. Tôi đã nhiều lần đến thăm căn nhà anh ở Dốc Bồ Hòn đã không ít lần vào thơ anh. Từ trung tâm thị xã Hồng Gai cũ, đi về phía biển vài trăm mét, leo qua một cái dốc cao, thấy biển dựng trước mắt, lần theo bậc đá mà xuống nhà anh. Nơi đây, sau lưng là Núi, trước mặt là Nước là Mây, ngày đêm trông thấy Thủy triều lên lừng lững bạc chân trời / Biển ập vào cơn gió nồm mặn chát (Đá cháy).

    Có thể nói những câu thơ đẹp nhất của TNM là bắt nguồn từ cảm súc về Núi và Mây, Nước, và những mối liên quan giữa Núi và Mây, Nước, là những câu thơ về biển và sông nước, cả những tứ thơ về Lửa sáng lên trong trường ca Đá cháy. Anh ví mình như một vỉa than: Tôi nhô lên một mình / xấu xí và đơn độc / trong khi chín mươi chín phảy chín phần trăm tôi

    Liền dưới khối đất sâu

    Chân soạc rộng dài

    Từ đáy sông Lục Đầu đến đáy vịnh Bắc Bộ

    Và lặng im

    Như một tiếng vang.

    (Đá cháy)

     Những bức tranh sông nước theo tôi là bài thơ rất hay, viết bằng cảm xúc mệnh trời, không hiểu sao TNM không cho vào Tuyển thơ gần đây nhất (NXB Đồng Nai - tái bản lần thứ bẩy - 1997)Dường như sông nước đến tìm anh

    Trong gian gác khuất sau vách đá

    Những bến bãi tự mình khoe sắc lạ

    Đôi cánh buồm hoang dã cứ bay lên

    .........

    Thuyền cá về, lộng lẫy cả triền sông

    Anh đứng ngợp giữa bốn bề khói bếp

    Biển Đông bỗng thấy mình cạn hẹp

    Khi khoang thuyền

    Chợt dội

    Một tiếng

    OA

    Trong phòng anh

    Bức tranh đã sinh ra...

    (Nhà thơ và Hoa cỏ-NXB Văn học - 1993)

     Cuối cùng, tôi chép sau đây bài Chơi thuyền trên vịnh Hạ Long và thấy rằng không phải bình luận gì thêm về những cảm xúc thiên nhiên đã vào mệnh của Trần Nhuận Minh như thế nào.

    Chơi thuyền trên vịnh Hạ Long

     

    Những quả núi đá xanh của trời

    Nhúng xuống lưng chừng nước

    Màu nước mộng mơ xanh lên đến tận trời

    Giữa khoảng ngập ngừng của vũ trụ

    Ta cưỡi con thuyền đi dong chơi

     

    Ta chẳng cần biết trời là đâu, đất là đâu

    Hôm nay là thế nào và ta là ai nữa

    San hô bập bùng, đảo hoang như bốc lửa

    Tay ta chạm màu mây xà cừ bay lang thang

     

    Những thú rừng khổng lồ sổng từ thuở hồng hoang

    Lũ lượt đến bên ta rỡn đùa phô sắc lạ

    Cây cổ sống mấy ngàn năm trên đá

    Chỉ cao bằng đầu gối của ta thôi

     

    Cứ tự nhiên mà vượt hết mọi thời

    Dửng dưng với đau thương vương triều đổ nát

    Dửng dưng với cõi người quẩn quanh nhợt nhạt

    Dửng dưng với trăng sao giả dối tầm thường

     

    Trước thuyền ta, đá nổi như mây huyền ảo trong sương

    Chợt biến hóa mỗi lần ta chớp mắt

    Trinh nữ tắm giữa trời xanh mây bạc

    Hồn nhiên như chưa hề thấy bóng người

     

    Ta giơ cả hai nắm tay hoan hô Ông Giời

    Đùa một tí mà thành muôn vẻ đẹp

    Cánh cửa đá luôn dịu dàng mở khép

    Ta đi chơi thôi mà, có tư tưởng gì đâu..

    1985

    Tháng Mười 1999

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ Trần Nhuận Minh

    Sinh 20-08-Giáp Thân giờ Tị (06-10-1944). Dương Nam. Nắng nhạt (tiết lệnh tháng 8): 8-9-1944. Giữa thu: 23-09-1944 (Hóa công Đoài). Mệnh: Thủy (trong suối). Trung nguyên. Sinh giờ khí dương. Can Chi: Năm Giáp Thân, Tháng Quý Dậu, Ngày Quý Mão, Giờ Đinh Tị. Mã số Can Chi: 6, 4-9; 2, 4-9; 2, 3-8; 7, 2-7. d/â

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    1

    0

    1

    0*

    0

    74-79

    65-73

    59-64

    50-58

    44-49

    80-85

    1

    0

    1

    0

    1

    0

    1

    1*

    0

    0

    1

    0

    95-03

    86-94

    25-30

    19-24

    10-18

    04-09

    1

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    0

    0

    1

     Thủy Sơn

     Kiển

     

     Hỏa Thủy

     Vị Tế

    Phong Thủy

     Hoán

     

    Sơn Lôi

     Di

    Trạch Lôi

     Tùy

     

    Hoá công, Thiên nguyên khí, Địa Nguyên khí: Không. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu các hào 2, 3, 6.

     

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

     



    * Đoạn này có sửa lại so với lần in năm 1999 và 2004. Mong nhà văn và bạn đọc lượng thứ.

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits42,919,331

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...