Search

Access times

  • Total visits42,921,090

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Tương lai tự truyện Việt Nam

Đoàn Cầm Thi

  • Thursday, 13:10 Day 23/10/2008
  • Tự sự là chiếc áo mặc nhờ
     Bách khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: “Tự truyện là những tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự, thường được viết bằng văn xuôi trong đó tác giả tự kể lại và miêu tả cuộc đời mình trong tác phẩm”. Liệu đây có thể coi là một định nghĩa chuẩn xác, thưa chị?
    Đoàn Cầm Thi: Nó khá đầy đủ, nhưng tôi vẫn thấy cần phải trích Lejeune, chuyên gia Pháp về tự truyện. Theo ông, đó là “một câu chuyện mà một người có thật ngược dòng thời gian, kể lại đời mình, nhấn mạnh tới cuộc sống cá nhân, đặc biệt tới sự hình thành tính cách” (Le pacte autobiographique, 1975).
    Như vậy một tác phẩm chỉ có thể coi là tự truyện khi tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính là một. Mặt khác, người viết phải đặt cái “tôi” của mình ở vị trí trung tâm tác phẩm, tìm hiểu, phân tích. Tác giả luôn đặt ra câu hỏi: “Tại sao tôi hôm qua lại là tôi hôm nay?”.
    Định nghĩa của Lejeune cho phép phân biệt tự truyện với nhật ký và hồi ký. Ba hình thể này giống nhau ở chỗ đó là những “chuyện đời tự kể”. Nhưng khi tự truyện và hồi ký được viết theo chiều nghịch của thời gian, hướng về dĩ vãng, thì nhật ký được viết theo chiều thuận, ghi lại sự kiện và cảm xúc hàng ngày. Chính thế mà tự truyện và hồi ký có tính tổng kết và lý giải (một cuộc đời, một thế hệ), còn nhật ký thường dang dở, ít khái quát, bởi người viết không biết trước tương lai. Thêm nữa, nếu tự truyện và hồi ký được viết ra cho người khác đọc, thì nhật ký là một lối viết thầm kín, cho riêng mình (trừ khi nhật ký được xuất bản theo ý muốn tác giả, như Nhật ký của Gide chẳng hạn).
    Nhưng tự truyện và hồi ký khác nhau ở chỗ nào? Tự truyện xoáy vào cá nhân người viết, trong khi hồi ký là bức tranh về một thời đại, bên cạnh câu chuyện của mình, tác giả đi sâu tìm hiểu những mảnh đời khác.
    Một khẳng định khá gây sốc của chị trong bài phỏng vấn gần đây cho rằng: trong lịch sử văn học Việt Nam, chưa có tác phẩm nào có thể gọi là tự truyện. Vậy theo chị, những “Tự tình khúc” (Cao Bá Nhạ), “Ngục trung thư” (Phan Bội Châu), rồi sau này là “Đời viết văn của tôi” (Nguyễn Công Hoan), “Hồi ký” (Đặng Thai Mai), “Những năm tháng ấy” (Vũ Ngọc Phan), “Nửa đêm sực tỉnh” (Lưu Trọng Lư), mới đây là  “Lê Vân sống và yêu”, “Bóng”-  vẫn được ghi danh là “tự truyện”- cần phải xếp vào thể loại nào?
    Đoàn Cầm Thi: ở đây, xin phân làm hai nhóm. Nhóm 1: những tác phẩm được chắp bút và Nhóm 2: nhóm tác phẩm của các nhà văn.
    Về Nhóm 1: Nếu xét theo định nghĩa của Lejeune, thì cả Lê Vân, yêu và sống lẫn Bóng đều không là tự truyện, dẫu đó là những người bằng xương bằng thịt (Lê Vân là nghệ sỹ nổi danh, Nguyễn Văn Dũng là chủ nhiệm một câu lạc bộ gay Hà Nội) kể lại đời riêng một cách ít nhân nhượng. Đơn giản vì chúng đã không thoả mãn điều kiện đầu tiên: tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính là một. Thực vậy, hai tác phẩm này đều được viết theo lời kể của nhân vật chính. Cuốn đầu dán mác “Bùi Mai Hạnh ghi”. Cuốn sau do “Hoàng Nguyên, Đoan Trang thực hiện”.
    Điều đó không có nghĩa là tôi đánh giá thấp Bùi Mai Hạnh, Hoàng Nguyên hay Đoan Trang, nhưng đã gọi là tự truyện, thì nhất thiết người trong cuộc phải cầm bút viết về mình. Chữ “viết”  ở đây có chủ ý. Không phải ngẫu nhiên mà từ “Autobiographie” (tiếng Pháp nghĩa là “tự truyện”) lại được tạo bởi 3 từ gốc Hy Lạp: “autos” (chính mình), “bios” (cuộc đời), “graphein” (viết). Chân lý mỗi cá nhân không chỉ nằm trong câu chuyện, mà cả trong chữ, nét bút người đó sử dụng để diễn đạt đời mình, đó không là ý nghĩa sâu xa của nội hàm này? Vì vậy, tôi tin là nếu chính Lê Vân hay Nguyễn Văn Dũng chấp bút thì chúng ta sẽ có hai cuốn sách khác hẳn.
    Khác như thế nào? Để thử hình dung điều đó, chúng ta hãy nghe Giám đốc Công ty Domino giải thích: “Khởi đầu của Bóng bắt nguồn từ một ý tưởng của đơn vị xuất bản. Sau đó, biên tập viên của công ty tự tổ chức tìm nhân vật, thuyết phục nhân vật kể chuyện, ghi âm, rồi cùng phối hợp viết và biên tập” (Thanh niên, 06-08-2008). Bùi Mai Hạnh cũng nhận là đã “chọn” Lê Vân.
    Rõ ràng, dù khách quan đến đâu, người viết vẫn can thiệp vào câu chuyện của người kể bằng cách “ biên tập”, “gợi ý”, “làm văn”. Hơn nữa, hai trường hợp trên đều là những người cầm bút chuyên nghiệp, lại chủ động tìm đến nhân vật tên tuổi với một số ý tưởng có sẵn về anh ta, nên ảnh hưởng của họ đến chất lượng sản phẩm chắc là đáng kể. Tóm lại, nếu buộc phải dán tích-kê, xin được gọi những cuốn này là “tự truyện second hand”. Xin nhắc lại, đây không là một lời “chê”, mà chỉ là cách xếp loại của người nghiên cứu.
    Bây giờ xin nói đến một số tác phẩm gần đây cũng được gọi là “tự truyện”, như Cánh buồm nhỏ (Lê Minh) hay Tôi mù? (Nguyễn Thanh Tú). Khác với những cuốn trên, ở đây người kể trực tiếp cầm bút. Nhưng về nội dung, chúng lại không thoả mãn điều kiện thứ hai của Lejeune : người viết phải đặt cái “tôi” của mình ở trung tâm tác phẩm, quan sát, đào xới. Cuốn đầu gồm những chuyện Lê Minh kể về gia đình bạn bè, đặc biệt về cha, nhà văn Nguyễn Công Hoan. Cuốn sau, Nguyễn Thanh Tú dành sự quan tâm đến những thân phận mù khác. Thi thoảng cô có nói về trăn trở riêng, nhưng chưa đạt đến một sự phân tích sâu sắc. Vì vậy, hai cuốn này cũng khó có thể xếp vào hàng “tự truyện”.
    Còn nhóm 2 gồm “tự truyện” các nhà văn thì sao? Viết về những kỷ niệm cá nhân là một hiện tượng có từ lâu trong văn giới Việt Nam. Song các tác giả này quan tâm đến thế sự nhiều hơn chuyện bản thân. Trong Cỏ dại, Cát bụi chân ai, Chiều chiều, khi Tô Hoài nói về thời thơ trẻ của mình, ông thường chấp nhận một lối kể chung chung. Ngược lại, ông dựng cho các bạn văn những diện mạo khá phức tạp. Với Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào, chân dung tự họa của Phùng Quán cũng thật giản lược. Cho nên, những tác phẩm này chỉ thuộc thể hồi ký.
    Khi làm cuộc “kiểm kê” các tác phẩm trong nước sáng tác theo lối tự truyện, tôi nghĩ khá nhiều về Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng. Cuốn này thể hiện tương đối sắc nét và nhất quán chất tự truyện...

    Đoàn Cầm Thi: Đây là cuốn làm tôi lưỡng lự khá lâu khi phân loại. Năm 1938, khi vừa đôi mươi, Nguyên Hồng đã viết tác phẩm độc đáo này. Đành rằng không phải tuổi thơ nào cũng líu lo chim hót trên cành, nhưng chắc ít ai dám kể về tuổi thơ của mình một cách kinh hoàng như tác giả Bỉ vỏ, cũng ít ai dám phác họa kẻ sinh thành với sắc màu dữ dội như vậy. Những ngày thơ ấu mở đầu bằng một phủ định cục cằn cái “tuổi thơ êm đềm” thường thấy trong các hồi ký: “Thầy tôi làm cai ngục (…) Tuổi thầy tôi hơn ba mươi, gấp đôi tuổi mẹ tôi (…) Thầy mẹ tôi lấy nhau không phải vì thương yêu nhau”. Bao nhiêu bí mật gia đình được Nguyên Hồng bày ra hết, người mẹ tư tình: “những con mắt của mẹ tôi sáng lên nhìn người thổi kèn và hai gò má mẹ tôi ửng hồng khi gặp cặp mắt long lanh của người đàn ông nọ chiếu tới”, người cha nghiện ngập: “Và thầy tôi luôn luôn nhìn tôi, đôi mắt vẫn mỏi mệt lờ đờ, thỉnh thoảng lại còn cười với tôi, nhưng nụ cười chóng tàn quá trên cặp môi nhợt nhạt”. Cuốn sách cũng dành nhiều dòng mô tả cảm xúc, ám ảnh của Nguyên Hồng thơ bé. Bảy thập kỷ sau, có thể nói ông vẫn là người đi xa nhất trên con đường tìm kiếm cái “tôi”.
    Nhưng Nguyên Hồng là một văn tài, nên tôi đã chờ đợi ông, trong câu chuyện về tuổi thơ, phân tích một trong những đam mê lớn của ông: văn học. Như ta biết, Nguyên Hồng đã đến với văn chương từ rất trẻ. Vậy có thể lý giải hành trình đó như thế nào? Và Nguyên Hồng đã không làm điều đó… Vì thế với tôi, tác phẩm này vẫn chưa hẳn là một tự truyện văn học đúng nghĩa.
    Như thế, cho đến hôm nay tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước. Vậy nên giới nghiên cứu chưa quan tâm đến nó? Điều đó thể hiện qua sự lúng túng ngay trong cách gọi tên, bắt đầu bằng chính hai chữ “tự sự”. Bản thân tôi, khi dịch ra tiếng Việt khái niệm đã có trong lý thuyết Pháp “écriture de soi” (tức là văn học viết về chính mình), đều dùng hai chữ “tự sự”. Mở sách báo Việt ra thì thấy hầu hết giới cầm bút đều có thói quen dùng không phân biệt “tự sự”, “tự truyện”, “tự thuật”, “hồi ký”, “nhật ký”. Cho đến lần về nước tháng 7 năm nay, nhân cuộc nói chuyện của tôi ở L’Espace Hà Nội, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có “mách” tôi là “tự sự” trong tiếng Việt được dùng để chỉ một nội hàm khác, nhưng chính ông cũng chưa biết nên dịch écriture de soi ra tiếng Việt ra sao.
    Vậy “tự sự “ là gì? Tôi tìm hiểu nhiều công trình và thấy, chẳng hạn, trong phần giới thiệu cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử (2004), Trần Đình Sử viết: “Tự thuật học” nghiêng về nghiên cứu phương diện hành vi kể, lời kể, còn “tự sự học” nghiên cứu cả hai mặt: hành vi lời kể và cấu trúc sự kiện”. Đúng như Hoàng Ngọc Hiến nói, “tự sự” không có họ hàng gần với “tự truyện”.
    Tóm lại, chúng ta phải tìm một thuật ngữ tiếng Việt để chỉ thể loại văn học viết về bản thân (gồm tự truyện, hồi ký, nhật ký, thư riêng…). Từ nay cho đến lúc đó (bao lâu?), tôi buộc phải coi “tự sự” là chiếc áo mặc nhờ.
    II. Cái tôi đang lên ngôi
    Thực tế cho thấy ranh giới giữa tự truyện và hồi kí đôi khi rất khó xác định. Và sự khó khăn trong việc phân định loại thể của tự truyện so với hồi ký dường như “mặc định” là công việc của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học giải quyết với từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên lâu nay chúng ta chưa thấy có nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn dành cho sự phân định này ?
    Đoàn Cầm Thi: Bản thân chúng là những hình loại rất gần nhau và một đôi lần, đã cùng nhau yên ấm như trường hợp Mémoires d’outre-tombe  (Chateaubriand, 1848). Là một chính khách và nhà văn lớn (tham gia sáng lập trào lưu lãng mạn Pháp). Chateaubriand, ở tuổi xế chiều, nhìn lại hành trình cá nhân, đi tìm điểm gặp của nó với Lịch sử, để thấy được ý nghĩa cái “tôi” trong mối quan hệ với thời đại.
    Trong văn học Việt, như ta đã thấy, có nhiều hồi ký nhưng chưa có tự truyện với nghĩa đầy đủ. Và thực tế có phần “khắt khe” này có thể giải thích được bằng bản chất xã hội Việt Nam: khi viết tự truyện, tác giả công khai tên tuổi, tự do nói những điều mình nghĩ, rọi xuống cuộc đời mình một cái nhìn riêng, nhưng những điều khoản này đều vấp phải hai bước cản – đạo Khổng và chủ nghĩa Tập thể. Tuy nhiên, trước việc bùng nổ gần đây của những cuốn sách rất gần với tự truyện cộng với cơn sốt nhật ký, hồi ký, blog, trong khi nhiều người cho đó là xu hướng thương mại hóa, tôi lại nghĩ rằng hiện tượng này phản ánh một nhu cầu mới của xã hội Việt Nam ở đó cái “tôi” đang lên ngôi: nhu cầu nói về mình.
    Để hiểu hơn vấn đề này, có lẽ nên đặt nó trong lịch sử tự truyện thế giới. Có thể nói, tự truyện lúc đầu là một đặc sản của văn minh phương Tây, có hai nguồn gốc chính: nền văn minh Hy Lạp qua câu ngạn ngữ “connais-toi toi-même” (ý nói kẻ thông thái phải tự biết mình), và lệ tự vấn lương tâm của đạo Gia tô. Trong các nền văn hoá khác, tự truyện chỉ tồn tại hiếm hoi. Ngay tại châu Âu, ý muốn kể lại đời mình cũng chỉ thực sự xuất hiện ở thế kỷ ánh sáng, vào buổi sơ khai của dòng Lãng Mạn, khi chủ nghĩa cá nhân phát triển mạnh. Nếu người Việt bảo đừng “vạch áo cho người xem lưng”, thì người Pháp khuyên “áo (lại “áo”!) bẩn chỉ giặt trong nhà”. Pascal, triết gia thế kỷ XVII, tuyên bố: “Cái tôi thật đáng ghét”. Đó cũng là lúc người ta không cho rằng thời gian là một chuyển động có tính chu kỳ nữa, mà lịch sử là sự không lặp lại, vì vậy mỗi cá nhân phải viết tự truyện để giữ lại dấu ấn trên thế gian. Tự Bạch của Rousseau, in năm 1782, được coi là tự truyện đầu tiên.
    Muốn viết tự truyện, ắt phải nói “tôi”. Vậy cái “tôi” đã hình thành trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam như thế nào? 
    Chữ “tôi” trong tự truyện thường là một đại từ trung lập chỉ con người trong nghĩa triết học (tức là con-người-đối-mặt-với-vũ-trụ), khác với đại từ ngôi thứ nhất số ít chỉ mối quan hệ cá nhân với tha nhân như “tao”, “anh”, “em” … Nếu trong mọi nền văn minh, “tôi” bao giờ cũng là kết quả một quá trình khá dài, ở Việt Nam chữ “tôi” đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI-XVII (Nguyễn Phú Phong, Questions de linguistique vietnamienne, Paris, 1995). 
    Từ thế kỷ XVIII-XIX, sự phát triển của Thiên chúa giáo, dựa trên mối quan hệ trực tiếp giữa con người và chúa trời, đặc biệt qua việc các con chiên xưng tội, đã góp phần ít nhiều vào sự vươn dậy của ý thức cá nhân. Các cha truyền đạo đầu tiên tới Việt Nam đã chọn dịch trong kinh cầu nguyện, ngôi thứ nhất, số ít và số nhiều, bằng “tôi” và “chúng tôi” (Phan Thi Dac, Situation de la personne au Vietnam, Paris, 1966). Truyện thầy Lazao Phiền (1887) có thể coi là tiểu thuyết Việt đầu tiên theo nghĩa hiện đại. Viết bằng chữ quốc ngữ, không là thơ mà văn xuôi, có hai cái “tôi” – người kể chuyện và nhân vật chính –, câu chuyện xảy ra thời hiện tại, ở Việt Nam – điều này cực kỳ mới so với các tác phẩm trước đó thường mượn không gian và điển tích nước ngoài –tác phẩm của Nguyễn Trọng Quản còn nổi bật vì đã xây dựng cho nhân vật một nội tâm phức tạp: Lazaro Phiền ghen tuông mù quáng, hãm hại bạn và vợ, rồi chết trong sám hối.
    Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của phương Tây, con người, nhất là trong khu vực đô thị, ngày càng ý thức về sự tồn tại của mình như một đơn vị độc lập. Văn học Việt vang lên tiếng nói cá nhân đòi quyền tự do yêu và sống. Tuy nhiên, nếu “tôi” xuất hiện nhiều trong thơ, thì rất ít truyện được viết ở ngôi thứ nhất. Có lẽ cái “tôi” dù hư cấu, người Việt thời đó vẫn cảm thấy ngượng ngùng khi dùng. Tố Tâm (1925) phải được đọc như cột mốc lớn, không chỉ vì dám tả mối tình bất hạnh nhằm đả phá xã hội nặng nề nho học, mà vì đó là một trong những tiểu thuyết Việt đầu tiên sử dụng thư và nhật ký. Hơn nữa, phần lớn câu chuyện được nhân vật chính kể ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi”.
    Từ 1954 đến 1986, cái “tôi” bị khai trừ oan uổng (trong giai đoạn 1954-1975, tôi chỉ đề cập đến văn học miền Bắc). Hiếm khi xuất hiện, nó lẫn vào cái “chúng ta”, “chúng tôi” của nền hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ Đổi Mới, “tôi” lại quay về chiếm lĩnh sân khấu văn học, qua tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh, Thuận, Vũ Phương Nghi… Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình Phương, 1998) viết bằng “em”, đại từ vừa có thể hiểu là ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà, 1999) kể ở ngôi thứ ba nhưng dành gần hai trăm trang trích nhật ký bốn nhân vật. Những thử nghiệm này chứng tỏ chủ thể ngày càng lôi cuốn nhà văn Việt.
    Như vậy cái “tôi” trong văn học Việt gắn liền với bước thăng trầm của hệ tư tưởng. ý thức được điều này, người ta hiểu cuộc phôi thai đầy khó khăn của tự truyện. Từ cái “tôi” hư cấu đến cái “tôi” xương thịt lẽ nào không có khoảng cách? Nhưng cuộc sống đang hàng ngày thay đổi, tự truyện sẽ mọc ra như nấm ở Việt Nam. Hơn thế nữa, tôi tin trong tương lai gần, nó sẽ có những chuyển biến về chất. Đó không chỉ là những tác phẩm được viết để thoả mãn nhu cầu giải bày uẩn khúc, mà sẽ là những cuộc tìm kiếm nghệ thuật đích thực.
    Trong bài trả lời phỏng vấn gần đây, chị cho rằng: Để nói được sự thật phải qua hư cấu. Vậy thì cam kết “Tôi tên là X, tôi sẽ kể cho các bạn nghe sự thật đời tôi…” cần phải được nhìn nhận thế nào thưa chị?
    Đoàn Cầm Thi: Những tự truyện hay nhất là những tác phẩm quyết liệt nhất trong cuộc đi tìm “chân lý” cá nhân. Nhưng làm thế nào để đạt được sự thật ? Đó là câu hỏi của tất cả các nhà văn. Và đây là câu trả lời của phần đông trong số họ: sự thật, nếu có, thì tồn tại không ở trong nội dung mà trong cách kể. Sự thật không nhất thiết phải là sự chính xác. Hư cấu là một phương tiện (hữu hiệu) để tái tạo sự thật, dẫu biết rằng chân lý tuyệt đối là cái không bao giờ đạt được.
    Trên CAND ngày 21-12-2006, Phạm Khải viết: “Với Tô Hoài, những nét chính là có thật, như vậy là đủ, ông không đếm xỉa đến sự chính xác lặt vặt” còn Phạm Tiến Duật nói: “Bản thân mỗi chi tiết, có thể là sự thật 100% đấy nhưng chưa chắc đã nói lên điều gì. Vậy nên, sự thật của ý tưởng và tâm linh mới là điều quan trọng nhất”. 
    ở Pháp, tự truyện “truyền thống” thường ngầm mang hợp đồng “sự thật”, nhưng ngày nay tung hỏa mù là trò ưa chuộng của các tác giả kể về mình.
    Chủ thể Angot (Christine Angot, 1998) được trình bày như lời độc thoại của Claude (chồng cũ tác giả), nó mở ra với: “Chú ý giữ gìn cơ thể và sức khoẻ nhé, Christine. Đừng tin vào ai hết, đừng bao giờ”. Cả câu chuyện sẽ được dẫn dắt theo giọng kể của Claude, còn Christine Angot thì dấu kỹ mình đằng sau đó. Cô cho Claude nhắc đến chính cuốn sách chúng ta đang đọc: “Có một điều, duy nhất, mà anh rất thích trong “Chủ thể Angot”. Đó là cái đoạn…”. Như vậy, chúng ta có nhân vật chính và tác giả là một: Christine Angot. Cô cũng là người kể chuyện, nhưng rất thường xuyên người đọc băn khoăn: Ai đang nói? Christine hay Claude? Để tung thêm hoả mù, một năm sau, trong cuốn Loạn luân, Christine Angot viết: “Claude chưa bao giờ đọc Chủ thể Angot”. Qua từng trang sách, tác giả làm người đọc liên tục hoang mang, nhưng không bao giờ “sự thật” được xác định.
    Duras cũng có biệt tài đánh trận giả. Chính trong tự truyện Người tình (1984), Duras nói: “Tôi chưa bao giờ viết, tưởng là viết, tôi chưa bao giờ yêu, tưởng là yêu…”. Nói cách khác, ở Duras, “ảo” đã nhập vào “thật”, để cuối cùng còn thật hơn cả “thật”. Cho đến bây giờ, sau nhiều điều tra, người ta có thể khẳng định người tình Trung Hoa hình như không tồn tại ở đâu khác ngoài trí tưởng tượng của Duras, nhưng huyền thoại về nhân vật này đã gắn liền với tiểu sử và tác phẩm của bà. Phải chăng “chân lý Duras” không ở trong chính hoài niệm về mối tình đổ vỡ nhiều phần hư cấu này?
    Như vậy, tự truyện Pháp, sau một thời gian dài chỉ được đọc như một thứ văn chương gây sốc, đến nay đã có thể ngẩng đầu mà sánh ngang với các thể loại “cao quý” khác như thơ, tiểu thuyết.
    Nhu cầu nói về mình là chính đáng. Thế nhưng không ít người cho rằng trong nhiều tác phẩm mới xuất hiện gần đây – cái Tôi được đề cao một cách thái quá. Thậm chí có những tác giả viết “tự truyện” “hồi kí” như một cách để đánh bóng cho chính mình. Một cuốn tự truyện không thể là một tác phẩm lớn. Chị nghĩ sao về điều này?
    Đoàn Cầm Thi: Sau khi qui kết tự truyện tội “thiếu đạo đức” (vạch áo cho người xem lưng!), đến một ngày nào đó người ta sẽ quàng vào cổ nó bản án “thiếu tư tưởng”. Nhà nghiên cứu P.Jourde tuyên bố: “loại tự truyện ư? đó thường là tôi, cuộc sống của tôi, đôi tất bẩn của tôi”. Song phải chăng đó chỉ là thứ văn chương phản ánh “cái rốn” tác giả?
    Xoáy sâu vào cái “tôi”, tự truyện dường như tách rời những vấn đề lớn của thời đại. Nhưng có thật là nói về “tôi” đồng nghĩa với vứt bỏ thế giới? Angot nói: “văn học cho phép giao tiếp, để nhà văn tự nói với mình rằng anh ta không đơn độc, để nhà văn nói với độc giả rằng họ không đơn độc”. Hugo cũng nói: “Các bạn không thấy là tôi đang nói với các bạn à?”. Đúng thế, trong khi đi tìm cái “tôi”, tác giả viết tặng chúng ta một tác phẩm văn học. Đọc nó, ta biến thành kẻ khác. Chẳng phải nhà văn yêu mến độc giả hơn bản thân? Tự truyện không chỉ là “tôi”, mà qua “tôi” đạt đến “chúng ta”.
    Tự truyện không thể là một tác phẩm lớn? Đi tìm thời gian đã mất có thể coi là một tự truyện, trong đó Proust cho nhân vật chính xưng “tôi”, mang tên ông (Marcel), có trăm ngàn chi tiết cuộc đời ông. Chẳng rời giới thượng lưu Paris nửa bước, Marcel không kể phiêu lưu nào khác ngoài cuộc rong ruổi giữa ký ức và hoài niệm. Một tác phẩm nghệ thuật vị nghệ thuật và… một kiệt tác thế kỷ XX.
    Phong Điệp thực hiện

    Nguồn: Văn nghệ số 42, 43 ra hôm nay, 18.10.2008

     

     

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits42,921,090

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...