Search

Access times

  • Total visits49,947,638

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Novel

Đoạn kết một chuyện tình

  • Monday, 02:53 Day 01/09/2008
  • PHẦN MỘT:
    Y SĨ LÊ THU

    I

    Y sĩ Lê Thu làm việc ở khoa hậu phẫu này đã trên hai chục năm. Có thể đến cả ngàn bệnh nhân sau khi mổ đã qua tay chị săn sóc. Chị là y sĩ chính giúp việc bác sĩ trưởng khoa. Chị phụ trách việc điều trị khẩn trương những người bệnh mới mổ xong khi liều thuốc gây mê chưa hết tác dụng, người bệnh còn chìm sâu trong giấc ngủ. Chị phân công các y tá trong khoa truyền máu, truyền huyết thanh, tiêm thuốc cho từng bệnh nhân theo chỉ định của bác sĩ. Chị theo dõi nhiệt độ, mạch đập, nhịp thở, huyết áp của từng người bệnh cho đến khi tỉnh hẳn, rồi cử người theo dõi và điều trị tiếp trong một vài ngày đầu, đến khi các thông số sinh học của người bệnh ổn định hẳn, hết giai đoạn điều trị khẩn trương mới chuyển bệnh nhân về các buồng bệnh.

    Từ ngày tốt nghiệp y sĩ trung cấp vào năm 1961 đến nay là năm 1987 đã tròn hai mươi sáu năm. Mấy năm đầu chị làm y sĩ chung ở các khoa nội, sau đó thì chuyển hẳn sang khoa hậu phẫu này. Bác sĩ trưởng khoa coi chị như cánh tay phải, bởi vì nhiều kỹ thuật cấp cứu nếu không có chị thì sinh viên thực tập gặp nhiều khó khăn. Kinh nghiệm của một y sĩ đã năm mươi tuổi đời với hai mươi sáu năm nghề nghiệp đã giúp cho khoa cứu sống được bao nhiêu trường hợp hiểm nghèo. Những thực hành kỹ thuật thành thạo của chị trong khi cấp cứu người bệnh, trong truyền máu, truyền huyết thanh, trong thao tác hút đờm rãi chống sặc cho bệnh nhân còn hôn mê, trong lúc phải mở khí quản khi người bệnh suy hô hấp cũng như sự chính xác kỳ diệu của đôi bàn tay chị khi luồn được chiếc dây thông tiêm truyền vào tĩnh mạch dưới đòn để cứu chữa kịp thời người bệnh có giá trị đối với tính mạng con người biết bao! Những công việc âm thầm đó chẳng được ai vỗ tay, nhưng thử hỏi ở cái bệnh viện gọi là tuyến cuối cùng này sẽ ra sao nếu không có những người y sĩ như chị?

    Đêm nay y sĩ Thu cùng trực với y tá Mai, cô y tá chỉ đáng tuổi con chị như nhiều cô y tá khác trong khoa. Đêm nào trực ít cấp cứu thì cũng ba bốn ca vừa tiểu phẫu vừa trung phẫu, hoặc xử lí vết thương phần mềm do tai nạn xe cộ, do đánh nhau, hoặc theo dõi một bệnh cấp tính ngoại khoa vùng bụng. Đêm nhiều cấp cứu thì hàng chục ca, ít ra cũng vài ba ca mổ lớn, nào thủng dạ dày, nào lồng ruột, nào ngã gãy xương, dập gan, lách, nào chửa ngoài tử cung v.v… Còn cái mục viêm ruột thừa cấp tính thì tuần nào mà chẳng có năm ba trường hợp. Chỉ cần vài ba ca nhẹ cấp cứu lúc nửa đêm, kíp trực cũng phải thức trắng chứ chẳng cần đến những ca nặng phải vất vả thâu đêm. Ấy thế mà sáng hôm sau, y sĩ Thu vẫn phải chiến thắng cái mệt rã rời để tiếp tục làm việc hết buổi sáng. Chị chỉ nghỉ buổi chiều. Y tá trong khoa thì ít, chị em lại phần đông còn trẻ, người bận con mọn, người son rỗi thì có những bận bịu của tuổi mới lớn lên, chị phải làm thay cho họ. Y sĩ Thu không kêu ca, không phàn nàn, bởi lẽ không thể để bệnh nhân sau khi mổ thiếu người săn sóc. Cũng còn một lẽ nữa là chị tìm thấy nguồn vui trong công việc chứ nếu chỉ nghĩ đến tiền phụ cấp trực đêm thì phát chán. Quên đi thì thôi chứ nghĩ đến nó lúc nào, dù chỉ một giây, con người cũng không thể giữ nổi được lòng tin tưởng đối với những người đã làm ra cái chính sách thù lao cho người y sĩ hay y tá không đủ để ăn một bát phở hôm sau. Đó là sau khi đã nghiên cứu bao năm và đã mấy lần tăng mức. Ôi, người ta đánh giá cái lao động phức tạp đầy khó khăn và âm thầm của công việc cứu chữa con người trong thực tế là thế đó. Đối với một bác sĩ lành nghề thì cũng chẳng hơn gì. Tiền phụ cấp một ca mổ ngoài giờ cũng chỉ đủ để trả công cho một miếng vá chiếc săm xe bị thủng! Miếng rách to thì lại còn đắt hơn một ca mổ lớn ở người!

    Y sĩ Thu cũng chẳng bao giờ kêu ca. Người ta đã kêu chán cũng chả ai giải quyết. Thỉnh thoảng một nhà báo nhiệt tâm nào đó viết bài báo nhắc khéo cái sự trả công bạc bẽo cho những kỹ thuật lao động phục vụ con người làm cho bạn đọc xúc động, nhưng rồi tất cả lại chìm trong khó khăn chung, chìm trong sự yên lặng đáng sợ! Tham ô hàng trăm tỷ đồng, lãng phí hàng trăm tỷ khác thì bao giờ cũng có, còn tăng đồng lương, đồng trực cho phải lẽ thì bao giờ cũng khó khăn, không có tiền. Ban giám đốc bệnh viện thì không có quyền tăng lương, tăng phụ cấp cho bác sĩ, y tá còn cấp trên thì quá xa vời.

    Y sĩ Lê Thu đã quen với nghề nghiệp của mình, cái nghề đơn bạc đối với xã hội đương thời, nhưng mà Bác Hồ đã dạy rằng: “Lương y phải như từ mẫu”, chị bằng lòng với đồng lương khốn khổ, gạt mọi thắc mắc để cho công việc được yên vui; vả chăng chị cũng chẳng phải nuôi ai. Vốn xuất thân từ con nhà lao động, sẵn tính cần cù chịu khó lại có kinh nghiệm trong chăn nuôi, chị còn thu hoạch thêm ở con lợn, đàn gà. Còn đối với các cô y tá còn nặng gánh gia đình, tuy rằng cái gia đình chỉ có một hoặc hai con, mà đồng tiền lương và tiền trực trả cho tay nghề của họ chẳng nuôi nổi cái gia đình nhỏ nhoi thì trách sao họ chẳng thể thấy cái vinh quang của nghề nghiệp. Y sĩ Lê Thu có dáng người tầm thước, nhanh nhẹn, chưa hiện cái gì là vẻ già. Đến cái tuổi người ta thường béo đẫy đà ra, nhưng chị vẫn thon người, có vẻ hơi gầy và xanh. Béo sao nổi khi con người phải ăn ít làm nhiều. Con người chị hình như vẫn còn giữ được những đường nét thanh tú của thời son trẻ. Mái tóc phi dê còn đen nhánh xõa xuống che một nửa vầng trán hơi gợn những nếp nhăn nhỏ. Đôi mắt chị đượm buồn và sâu thẳm như lúc nào cũng có nỗi ưu tư. Nhưng với đôi hàm răng trắng còn đều tăm tắp và đôi lúm đồng tiền khi cười làm cho mọi người liên tưởng đến cái nhan sắc tuyệt vời của chị lúc tuổi trẻ. Cái nhan sắc ấy còn hiện rõ trong dáng người uyển chuyển, nhẹ nhàng trong chiếc áo bờ lu trắng ngắn đến gối, với đôi cánh tay trần vẫn còn nõn nà và đôi bàn chân thon thả rất hợp với đôi dép da màu hạt dẻ chị đi hàng ngày. Người mới nhìn đều tưởng chị quá lắm cũng mới ở cái tuổi bốn mươi. Y sĩ Lê Thu còn khối đàn ông dòm ngó, bác sĩ có, bệnh nhân có. Họ liếc trộm chị, họ buông lời ỡm ờ ướm thử chị. Có cả một anh chàng luống tuổi chưa vợ nhưng kém chị đến đến gần mười tuổi cũng mê mệt vì cái vẻ quyến rũ mà đoan trang của chị đã đánh liều viết thư tình cho chị. Nhưng họ có biết đâu những tình cảm lạc điệu của họ chẳng hề gây được một xúc động nhỏ nào trong tâm hồn y sĩ Lê Thu. Tâm hồn của chị vẫn như mặt hồ không gợn sóng. Đã hàng chục năm nay chị yên lặng làm việc, cần cù tận tụy với mọi bệnh nhân. Trái tim chị như đã đóng kín chẳng mở cho ai. Trong khoa coi chị thật sự như người chị cả, hơn nữa như người mẹ hiền. Người ta biết chị là vợ một liệt sĩ. Nghe đâu chồng chị là một giáo viên cấp hai trường huyện. Anh đã xung phong đi B hồi năm sáu nhăm, sáu sáu và đã hy sinh trong chiến trường cực nam, hồi đồng khởi năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, đến nay đã ngót hai chục năm. Chị mất chồng từ cái tuổi còn rất thanh xuân, năm chị mới ba mươi tuổi, lúc đứa con trai duy nhất mới lên sáu. Nay thì nó đã trưởng thành, đã là một kỹ sư địa chất công tác trong khu dầu khí phía nam, thành thử chị sống một mình trong căn hộ ở khu tập thể bệnh viện.

    Chẳng ai muốn động đến đời tư của chị khi thấy mấy lần nói đến là chị khóc. Hình như vết thương tình cảm về gia đình của chị vẫn chưa lành, cứ ai động đến là nó rỉ máu, làm cho người vô tình đến đâu cũng phải hối hận mỗi khi trót gợi lại chuyện riêng của chị. Chẳng hiểu vì sao mà đêm trực bữa nay y sĩ Lê Thu như người mất hồn. Mới lúc tối chị còn vui vẻ, thoăn thoắt tiêm truyền, thay băng cho cả bốn bệnh nhân mới mổ. “Cái con Mai nó chậm lắm, để nó làm việc khác” - Chị bảo thế, rồi chị làm thay Mai mọi việc.

    Chỉ từ lúc xe bệnh nhân thứ năm về phòng, một bệnh nhân mổ cấp cứu do thủng vết loét hành tá tràng cũ, là chị trở nên bối rối lạ thường, nỗi bối rối hiện ra từng cử chỉ. Người bệnh vẫn còn chịu tác động của liều thuốc gây mê chưa tỉnh. Ông ta người gầy, da bánh mật, nét mặt có cái vẻ phong sương của người từng trải, trán cao, mũi thẳng, vành môi kiên nghị ngay trong giấc ngủ say. Thấy bác sĩ trưởng ca mổ bảo: “Mổ những người như ông này dễ, thầy thuốc cũng yên tâm, đỡ vất vả hơn, vì ông người gầy, ít mỡ, tim mạch rất tốt, tinh thần lại ổn định, tin ở thầy thuốc, không quá sợ chết”.

    Cũng như đối với mọi bệnh nhân, xe về phòng hậu phẫu trong phiên mình trực, y sĩ Thu có mặt ngay bên giường bệnh, nhanh chóng đo huyết áp, nhiệt độ, lấy mạch và bắt đầu ngay công việc tiêm truyền hồi sức theo chỉ định. Làm xong từng ấy công việc để cứu chữa bệnh nhân, y sĩ Lê Thu mới chú ý quan sát kỹ nét mặt người bệnh. Chị bỗng giật mình, tim đập dồn dập, tim chị chưa bao giờ dồn dập đến thế. Chị nhìn chăm chú vào nét mặt rắn rỏi và phong sương đang chìm trong giấc ngủ của bệnh nhân, quan sát mái tóc đã ngả màu muối tiêu của ông ta. Chị vội vàng cầm tờ bệnh án đang để trên đầu giường đọc lại phần lý lịch bệnh nhân. “Tên, họ: Trần Trung Ngôn; tên thật Trần Sơn”, lúc y tá Mai xe bệnh nhân về phòng chị đã không chú ý đến tên thật của bệnh nhân ghi ở dòng dưới. Chị đọc tiếp: “Năm mươi tám tuổi; Quê quán: huyện Thanh Miện, xã Tân Phong, tỉnh…”. Đọc đến đây thì y sĩ Lê Thu hoa cả mắt, tay chị cầm tờ bệnh án run lên. Chị thấy trong lòng mình xốn xang. “Sao lại thế này? Sao lại gặp ở đây?... Đã ba chục năm rồi còn gì!”. Nét mặt của người bệnh tuy đã đổi thay theo năm tháng nhưng sao vẫn cho tim chị xúc động đột ngột. Nó như có chiếc chìa khóa thần mở cửa con tim vốn đã khép kín từ lâu của chị. Phút chốc chị như muốn khóc. Y sĩ Lê Thu cầm tờ bệnh án đi vội sang buồng trực bên cạnh. Y tá Mai đang cắt bông và gạc cho vào các hộp hấp vô trùng chuẩn bị cho ngày hôm sau không chú ý đến chị. Chị bảo Mai: - Em đọc lại hộ chị tên, tuổi, địa chỉ bệnh nhân xem có đúng không, chị bỏ quên kính nên không nhìn rõ. (Thật ra chị rất ít khi phải dùng kính).

    Mai ngừng tay cầm lấy tờ bệnh án, đọc: “Trần Trung Ngôn, tên thật là Trần Sơn, năm tám tuổi. Quê quán: huyện Thanh Miện, xã Tân Phong, tỉnh Hải Dương. Cơ quan: Ban nghiên cứu lịch sử tỉnh… Địa chỉ người thân hay gia đình khi cần liên hệ: không có gia đình, khi cần xin báo tin cho cơ quan… Điện thoại số…”.

    Y tá Mai trả lại tờ bệnh án cho Lê Thu. Chị ngồi trước chiếc bàn trực, đăm chiêu suy nghĩ. Chị bảo Mai:

    - Mai ơi, em vào chăm sóc bệnh nhân này cho chị. Chị đang cho truyền thuốc. Tự nhiên chị thấy bị nhức đầu, để chị nghỉ ngơi một lát.

    - Có phải uống thuốc gì em lấy? - Y tá Mai hỏi.

    - Không cần, chị chỉ cần nghỉ ngơi một lúc. Chị hay bị như thế đấy. Tự nhiên lại thấy nghẹn ở cổ, nhức đầu và hoa cả mắt.

    - Hay là tại chị bị rối loạn mãn kinh đấy. Em nghe nhà em nói những người ở tuổi chị là hay có những triệu chứng rối loạn mãn kinh kiểu ấy lắm. (Chồng cô chả là bác sĩ phụ khoa mà).

    Khi y tá Mai đi rồi, y sĩ Lê Thu lại đọc lại tên người bệnh. Mắt chị đăm đăm nhìn vào tờ bệnh án. Bàn tay phải chống vào một bên má, chị chìm sâu trong suy nghĩ. Biết bao kỷ niệm của thời son trẻ hiện ra trong trí nhớ. Một nỗi buồn cuộn dâng dần lên như nước thủy triều trong lòng Thu không nén nổi. Rồi những giọt nước mắt nóng hổi lả tả lăn trên đôi gò má. Chị để mặc cho con tim thổn thức. Đã lâu lắm rồi chị không khóc! Cái tĩnh lặng ban đêm của bệnh viện, nhất là ở cái khoa hậu phẫu gồm toàn những người bệnh đã bị những liều thuốc gây mê khuất phục này, đến một tiếng rên cũng hiếm, càng làm cho cái tĩnh lặng của đêm trực tăng lên đến kinh người. Nó làm thức dậy trong lòng y sĩ Lê Thu những nỗi đau buồn tưởng đã chôn sâu trong ký ức những thuở nào xa xôi, nay bỗng hiện lên tường tận từng trang, từng trang còn mới tinh, y như nó mới xảy ra ngày hôm qua hay sáng nay. Rồi hình ảnh bác Đạt, người bạn của cha Thu, lời nói từ ba chục năm về trước: “Cách mạng không phải là con đường bằng, cách mạng có những thắng lợi phải đổi bằng biết bao hy sinh, biết bao đau khổ mà con người phải chịu đựng!”. Y sĩ Lê Thu nghĩ đến chuyện cha đã hy sinh, nghĩ đến người chồng đáng thương và tội nghiệp đã bỏ mình trong chiến trường B, nghĩ đến người bệnh bị mổ cấp cứu vì thủng dạ dày mới được xe về khoa, nước mắt chị lại trào ra. Chính chị cũng không thể hiểu nổi làm sao cuộc đời của chị lại có thể chịu đựng từng ấy nỗi gian truân! Y sĩ Lê Thu khóc sướt mướt như chưa bao giờ được khóc. Y tá Mai bước vào buồng trực trông thấy Lê Thu trong tình trạng đó, cô ngạc nhiên và ngỡ ngàng không nói nên lời.

    ***

    Y sĩ Lê Thu không thể tiếp tục làm nhiệm vụ trực tại phòng hậu phẫu, đành phải nhờ y tá Mai làm thay mình. Chị phải bỏ phiên trực đêm nay, trở về nhà trong khu tập thể gần bệnh viện để tránh những xúc động quá lớn, đột ngột thức dậy trong lòng. Trước khi về, chị đến thăm lại người bệnh, nhận người bệnh là người nhà và dặn dò y tá Mai cẩn thận giúp chị chăm sóc tiếp cho bệnh nhân. Người bệnh vẫn chưa tỉnh hẳn nhưng bắt đầu cựa mình và rên nhẹ. Vẫn con người ấy, vẫn những nét cương nghị trên vầng trán, trên làn môi. Vẫn nước da màu bánh mật và khuôn mặt phong sương. Vẫn dáng người gầy và rắn rỏi. Chỉ khác là thời gian đã điểm bạc trên mái tóc và khắc hằn lên đôi má, lên trán những vết răn. Chị đọc kỹ bệnh án biết rõ người bệnh có triệu chứng bệnh loét dạ dày tá tràng từ vài chục năm nay. Vết loét thuộc loại ít đau, các bác sĩ hay gọi là “loét không đau”. Làm y sĩ lâu năm, y sĩ Thu đã biết rõ loại bệnh không đau này chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong bệnh loét, nhưng nó lại hay gây tai biến thủng hay chảy máu nặng. Vì nó không đau nên người ta mới dễ chủ quan. “À thì trên đời này cái gì mà chả thế. Cái nó đến rầm rộ thì còn biết mà đề phòng, còn cái nó cứ gặm nhấm âm thầm thì biết đâu mà lường trước!” - Y sĩ Thu nghĩ thế. Căn nguyên gây tai biến thủng vết loét thường do thần kinh bị căng thẳng quá mức: những xúc động mãnh liệt, những lo âu thái quá, những cuộc đấu tranh tư tưởng dằng co và oan trái, kể cả những điều vô nghĩa nhưng lại gây cho con người sự lao tâm khổ tứ không đáng có. Ở bệnh nhân này thì điều gì đã là căn nguyên kích động, hay nó thuộc vào loại biến chứng tất yếu của một vết loét lâu ngày. Nhưng ruột con người đâu phải là cái săm xe đạp hãy cứ lâu ngày là nó thủng, nó rách. Nó là một cơ thể sống có thể tự hàn gắn những vết thương. Thiếu gì người loét dạ dày tá tràng đã lành, có phải ai cũng thủng đâu. Y tá Mai đã giúp Thu giải đáp thắc mắc đó. Con bé làm thì chậm như rùa nhưng tính thì hay thóc mách. Ai nói gì nó cũng nghe, ở đâu có chuyện gì nó cũng hóng. Vì vậy nó biết khối chuyện tập thể và cơ quan, chuyện riêng của nhân viên có khi cả chuyện đời tư của bệnh nhân vào khoa. Ấy cũng tại cái tính người. Chỉ được cái nó hay giúp đỡ mọi người, từ mua giúp chị em mớ rau, mớ tép, đến việc trực thay chị em không may bị ốm hay có việc đột xuất. Nhờ cái tính hay nghe chuyện và mách lẻo của Mai mà trong khoa biết khối chuyện. Buổi tối, Mai giúp bác sĩ làm bệnh án trước khi đưa bệnh nhân vào phòng mổ cấp cứu, Mai đã nghe cô bạn y tá cơ quan đi theo bệnh nhân kể: “Ông này vừa viết một bài báo ủng hộ một nhà văn nào đó phát biểu về quyền tự do sáng tác. Nghe đâu bài báo này tuy ca ngợi đổi mới, phân tích và tán thành việc thực hiện tự do hóa đời sống xã hội. Nhưng không may ông lại bị một vài người có quyền thế ghét nên ông bị phê phán là “phủ nhận quá khứ”, là “kêu gọi tự do hóa tư sản”. Ông không chịu, cãi lại. Cuối cùng quyền lực bao giờ cũng thắng. Ông bị đẩy vào cái thế phải về hưu tuy chưa đến sáu mươi. Chưa kịp bàn giao công việc thì ông bị thủng dạ dày, phải cấp cứu vào viện. “Khổ thân ông ta! - Cô y tá Mai nói thêm. - Ai bảo cãi lại người có quyền làm gì!”. Đáng lẽ ông có quyền đến một bệnh viện trung cao, không hiểu sao ông lại đòi đưa đến bệnh viện này. Nghe đâu ông có quen giáo sư giám đốc bệnh viện. Lại nghe nhiều người ca ngợi khoa ngoại ở đây có nhiều bác sĩ mổ dạ dày giỏi, lại ít tiêu cực hơn, có tinh thần trách nhiệm với người bệnh hơn. Ông bảo: “Ấy là mới nghe người ta đồn thế, chứ đã biết hư thực thế nào đâu”. Còn cái bệnh viện tiêu chuẩn của ông thì ông đã biết quá rõ vì ông đã thường xuyên đến đó khám rồi. Lúc thì họ bảo ông bị viêm dạ dày, lúc họ lại bảo ông viêm đại tràng. Trước kia thì cái bệnh viện ấy khá, bây giờ thì ông phát sợ. Sợ vì phải sắp hàng chờ phát phiếu khám bệnh, chờ đến lượt khám, khám xong lại chờ đóng dấu vào cái đơn, rồi lại chờ lĩnh mấy viên thuốc. Ôi chao, mất cả một buổi sáng, có khi lại không lĩnh được thuốc vì hết giờ phải kéo sang cả buổi chiều. Nhưng cái làm ông sợ nhất là thái độ những nhân viên, những y tá, những người tiếp đón, cả những y bác sĩ khám bệnh. Hình như họ đã thuộc mặt ông. Họ chẳng coi ông ra gì. Thái độ họ vừa cửa quyền, vừa khinh khỉnh khó chịu lạ.

    Những tình cảm cũ tưởng đã chôn chặt từ thuở nào bỗng nhiên lại trào lên. Y sĩ Thu thấy thương người bệnh, một tình thương sâu sắc và da diết lạ thường. Về đến nhà, chị chẳng buồn thay quần áo, nằm vật ngay xuống chiếc giường cá nhân, suy nghĩ miên man. Đồng hồ điểm mười hai giờ đêm. Y sĩ Lê Thu trằn trọc không ngủ. Đêm tĩnh lặng dễ dàng đưa con người vào chiều sâu kỷ niệm. Chị như chợt nhớ ra điều gì. Chị ngồi bật dậy, với tay bật chiếc đèn bàn đặt trên mặt tủ đầu giường. Chị mở ngăn tủ nhỏ, lôi ra cuốn nhật ký chị đã giữ từ ba chục năm nay. Cuốn nhật ký đã bong cả bìa, rách cả gáy. Chị giở từng trang, từng trang, bỏ qua nhiều trang không đọc. Mắt chị dừng lại ở những dòng chữ, nét mực đã bắt đầu phai.

    Ngày 25 tháng 6 năm 1955: Bố bị cấp trên đình chỉ công tác, bị truất khỏi chức chủ tịch huyện. Không hiểu vì sao người ta bảo bố là “tổ chức cũ”, lại còn nghi cho bố là “Quốc dân đảng cũ”. Mẹ Thu và Thu nghe bố phàn nàn: “Làm việc thì tránh sao được khuyết điểm, tránh sao được kẻ yêu người ghét. Chỉ có kẻ ngồi chơi hưởng lợi, ăn theo nói leo là chẳng bị khuyết điểm gì. Bây giờ thì người ta chỉ nghe theo những kẻ ghét mình bơm to những khuyết điểm để kết tội. Lại cả những bạn bè thân thiết tưởng họ tốt, bây giờ cũng a dua vu khống mình đủ điều!”. Bố buồn cho thời cuộc, cho nhân tình thế thái. Cái không khí đấu tranh chống tổ chức cũ, chỉnh đốn tổ chức, phát hiện những phần tử xấu chui vào Đảng, vào các tổ chức của toàn huyện Nga Sơn này, toàn tỉnh này vẫn đang sôi sục. Thỉnh thoảng lại có tin bạn bè, đồng chí của bố bị đình chỉ công tác, bị thải hồi hoặc bị bắt, làm cho bố càng lo lắng thêm. Nhiều đêm bố không ngủ. Người bố gầy rạc đi. Bố thở dài thâu đêm. Trông bố thật đáng thương. Mình phải làm gì bây giờ đây? Người ta cũng đã thải mình về từ hai tháng trước! Về thì về, cái chức văn thư ở văn phòng Huyện ủy thì có nhằm gì! Mình chỉ lo cho bố mẹ, không biết rồi sẽ ra sao đây?...

    Ngày 5 tháng 7 năm 1955: Đội cải cách ruộng đất về làng. Họ tìm đến những người chả ra gì để bắt rễ. Toàn là những đứa xưa nay lười nhác, rách rưới, cả làng ai mà chả biết. Nhiều người trước đây mấy năm chuyên trốn dân công, trốn vào du kích xã. Nay thì ai cũng sợ họ. Cả làng hồi hộp chờ đợi, nửa mừng, nửa lo. Người ta tụm năm tụm ba bên giếng nước, dưới gốc đa đầu làng hay ngoài đường, ngoài chợ, bất cứ chỗ nào có thể gặp nhau để thì thầm bàn tán. Cái lo sợ trong đợt chỉnh đốn tổ chức chưa qua, nay cái lo Đội về lại dồn đến. Bố vẫn hy vọng rồi Đội cải cách ruộng đất đợt sâu sát sẽ minh oan cho bố. Nhưng mẹ, mẹ thì càng lo thêm.

    Ngày 10 tháng 8 năm 1955: Trời ơi, Đội cải cách ruộng đất phát động tố bố!... Bố có tội tình gì! Người ta tố bố là “tổ chức cũ”. Rồi người ta quy bố là địa chủ lọt lưới! Là “phần tử bóc lột chui vào Đảng!”. Cuối cùng thì người ta bảo bố là “tên phản cách mạng đương thời phá hoại” đã leo đến tận chức chủ tịch huyện. Họ vu cho bố đến thế là cùng! Họ ghép cho bố bao nhiêu tội tầy đình. Toàn là bịa đặt. Toàn là gắp lửa bỏ tay người. Bố lo lắng ra vào không yên. Bố tìm gặp anh đội trưởng. Anh ta quát không tiếp bố. Bố lại tiếp tục viết thư đi khắp nơi. Nhưng bây giờ thì ai chuyển thư cho bố. Cả nước đang phát động đấu tố, đang bao vây địa chủ và phản động…

    Ngày 12 tháng 8 năm 1955: Mình đã đánh liều chạy đến kêu van anh đội trưởng. Anh ta tránh mình như tránh hủi. Mình đã sướt mướt quỳ dưới chân anh ta. Mặt anh ta rắn lại, cứng như đá. Rồi anh ta hất mình ra, quát: “Cút ngay! Đừng dở trò mỹ nhân kế với Đội là không xong đâu”. Thật nhục nhã vô cùng! Nhưng mình phải liều để cứu bố. Họ muốn làm gì mình thì làm. Thất bại, mình đã tìm anh đội phó thứ nhất, rồi anh đội phó thứ hai. Họ đều đuổi mình như đuổi tà. Tôi biết làm gì bây giờ hở trời!

    Ngày 15 tháng 8 năm 1955: Bố buồn rầu, ăn uống thất thường. Bố khóc! Nước mắt bố ướt đẫm cả tà áo. Chưa bao giờ mình thấy bố khóc như thế. Bố vốn là người cứng rắn. Mẹ khóc nhiều hơn. Mẹ ra và o âm thầm như chiếc bóng. Khổ thân bố mẹ! Mình biết làm gì bây giờ? Bố ơi, con chỉ là đứa con gái bé nhỏ, mới lớn lên. Con chỉ là một hạt cát ở cuộc đời này, học văn hóa dở dang, nghề nghiệp chưa có, như bố vẫn nói đấy. Con chỉ là đứa nhân viên văn phòng bị sa thải do “liên quan”, con chống sao nổi được trời! Em con, thằng Thủy nó mới lên bảy tuổi, nó đã biết gì đâu…

    Ngày 23 tháng 8 năm 1955: Người ta bắt bố. Người ta đem bố ra cho nông dân đấu tố suốt đêm. Trời ơi, người ta vu khống bố hàng trăm điều vô lý. Toàn là số cốt cán mới, nhiều đứa xưa nay chây lười, trộm cắp trong làng. Bọn ấy thì đến bố mẹ chúng chúng còn tố điêu, nói gì bố mình. Những cốt cán như ông cố Đại chất phác, bác Nho, bà Tèo thì họ chỉ ngồi im, có khi họ thở dài, họ có tố bố đâu. Họ lại đưa cả những người ở mấy xã bên, trước kia trốn thuế hay can tội lấy cắp mấy chiếc lộc bình cổ ở chùa Hà, bị bố bắt giam mấy ngày về xã này để tố bố là đàn áp bần cố nông. Ai bày đặt ra cái cảnh này? Cách mạng là thế này ư?! Tôi biết kêu ai, biết cầu cứu ai bây giờ! Người ta bảo có Trời, có Phật, có cả đức Chúa. Sao các ngài lại gieo tai họa xuống gia đình tôi… Tôi không còn tâm trí nào để ghi tiếp nhật ký nữa.

    Ngày 24 tháng 8 năm 1955: Sợ bố quẫn trí đâm liều thân… Sợ bố tự vẫn. Bố đã nghe tin trong xóm có ông cố Hường đã thắt cổ chết tối qua. Ông bị nghi là tay sai địa chủ chống phá cải cách ruộng đất vì đã chửi mấy đứa cốt cán tố nhảm và ông đã ném đất vào giữa hội nghị đang tố điêu. Ở xóm Đình, thầy giáo Minh cũng đâm đầu xuống sông cách đây mấy hôm vì bị quy lên là địa chủ. Ông ta không chịu được nhục để cho bọn người bất lương sỉ vả.

    Ngày 25 tháng 8 năm 1955: Mình đã tìm lời an ủi bố. “Bố ơi, khúc sông có lúc trong lúc đục. Làm người có lúc nhục lúc vinh, bố thường bảo con như thế. Bố thương chúng con, bố nhá! Bố đừng nghĩ nhiều mà quẫn trí”. Bố như hiểu tâm tư của mình, bố an ủi, giọng bố lạc đi: “Con cứ yên tâm, bố không chết đâu mà con lo”. Rồi bố đọc: “Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”(1). Bố như tuôn bớt được nỗi uất hận trong lòng.

    Ngày 28 tháng 8 năm 1955…

    Ngày 29 tháng 8 năm 1955…

    Mắt y sĩ Lê Thu nhòa đi, không đọc nổi những dòng chữ hoen ố và mờ nhạt, có lẽ do những giọt nước mắt từ hơn ba chục năm về trước rớt xuống làm nhòe trang viết cũ đã ngả màu vàng bẩn.

    Ngày 7 tháng 11 năm 1956: Đã hơn một năm nay tôi không ghi nhật ký. Còn tinh thần đâu mà ghi. Nhưng tôi cũng không thể để những tai họa đã gieo xuống gia đình tôi hững hờ trôi trong quên lãng. Ôi, nỗi oan trái của bố mẹ tôi cũng là nỗi oan trái của biết bao gia đình khác trên đất nước này. Tôi không làm được gì để cứu nổi bố tôi thoát khỏi tai họa thì tôi cũng phải làm được cái việc ghi chép nó lại. Giá như tôi có tài viết văn! Tôi chẳng muốn khêu lại đau thương làm gì, càng không muốn kêu la rên xiết để cầu cứu lòng thương vớt vát của bất cứ ai, nhưng tôi muốn con người rút ra được những kinh nghiệm từ trong đau thương để ước mong rằng những cảnh oan trái cũ không còn bao giờ có thể diễn ra trong tương lai. Có thể nào con người tránh được những khuyết điểm mà lại không muốn nhớ tới những việc mình đã làm.

    Tôi bắt đầu ghi lại…

    Đã một năm trôi qua.

    Cái gì xảy ra đối với gia đình tôi đã xảy ra.

    Nhưng quãng thời gian oan nghiệt ấy làm sao tôi quên nổi.

    Tôi chỉ ghi lại những sóng gió của đời tôi tiếp theo cái tai biến ấy. Cha tôi bị tòa án Đội cải cách ruộng đất kết án tử hình sau một buổi đấu tố. Những quan tòa bần cố nông chưa hề được học một buổi nào về pháp lý, cũng chẳng có một chút khái niệm nào về quyền của bị cáo, không cho bố tôi nói lời cuối cùng. Họ dô “đả đảo phản động đương thời phá hoại” đến khản cả cổ. Rồi họ đem bố tôi ra bắn ngay sau buổi xử. Ông tuy gầy đi, phờ phạc vì nhiều đêm mất ngủ, nhưng không hề sợ hãi, không hề nao núng. Nét mặt ông lộ rõ vẻ chua chát, ông giữ vững vẻ kiên nghị đến phút cuối cùng. Gia đình tôi bị đuổi sang ở một chiếc nhà tranh hai gian của một bần nông vừa được chia nhà mới, còn nhà cửa của cha mẹ tôi cũng như đồ đạc và vườn tược đều bị tịch thu, chia cho các cố nông. Bây giờ thì họ đã dỡ ngói, phá tường lấy gạch bán sạch. Vườn cây ăn quả xanh tươi đã bị phá tan hoang để lấy đất trồng rau khoai lang chống đói, theo lời kêu gọi của Đội cải cách. Số thóc của mẹ tôi làm ra họ không nỡ tịch thu hết. Kể ra họ cũng còn một chút lòng nhân đạo, họ đã để lại cho gia đình tôi hơn hai tạ để khỏi chết đói. Nhưng đã bao nhiêu tháng nay rồi, dù có độn thêm củ chuối, rau dền, ăn hà tiện đến mấy thì cũng đã hết từ hơn tháng nay. Gia đình tôi đang lâm vào cảnh đói tháng tám. Mẹ tôi, nhìn đã võ vàng càng võ vàng thêm. Buổi trưa, mẹ tôi nhìn các con phải ăn cháo cám, nhất là bà nhìn thấy thằng em bảy tuổi của tôi vươn chiếc cổ gầy khẳng khiu ra để nuốt những miếng cám trong bát cháo xám xịt và đặc như bánh đúc, lòng bà thắt lại. Mẹ đau đớn nói với tôi như van xin: “Thu con, con bằng lòng lấy anh Quang con ông Cựu Minh làng Hoàng ấy đi, đừng để người ta phải đi lại nhiều. Nhà ta còn gì nữa đâu mà con do dự!”. Thấy tôi ngồi im, mẹ tôi càng tha thiết. Rõ ràng bà quá thương chúng tôi. “Cũng may mà nhà cái anh Quang lại đâm liều đến hỏi con ngay trong lúc này. Biết bao đám đã chẳng ngỏ lời với bố mẹ trước kia, khen con đủ điều, nhưng giờ có ai còn dám đến nhà mình! Họ xa lánh cả. Nhà ta không may tai bay vạ gió, tự nhiên như cái núi đổ ụp xuống, mẹ có biết đâu các con đến nông nỗi này. Con bằng lòng lấy người ta đi, kiếm miếng cơm mà ăn. Ở nhà để nhìn nhau mà chết đói à!”. Lời mẹ tôi nghẹn lại vì nước mắt. Bà chả nghe tin mấy gia đình địa chủ phản động (là bị quy như thế) ở làng trên, bị du kích bao vây ngày đêm, không còn gì ăn, khối người bị chết đói. Nghe đâu cả nhà tay lục Ba ở làng Đoài chết hết. Ông ta làm lục sự vài năm thì tổng khởi nghĩa nên về nhà làm ruộng và bị quy lên địa chủ phản động đợt ba cải cách ruộng đất vừa qua. Mẹ tôi sụt sùi:

    “Rồi con… con nuôi lấy em cho mẹ… Con là chị nó… Mẹ chỉ có một mình con là lớn. Cơ sự này thì không chắc mẹ có thể sống tiếp để nuôi các con không!”. Trong lòng tôi bỗng thắt lại vì những lời bà than thở. Tôi vội kêu lên: “Mẹ lại nghĩ quẩn rồi. Mẹ ơi, mẹ hãy vì chúng con mà sống. Mẹ đừng nói chuyện ấy nữa, con khổ lắm! Hãy chịu rau cháo qua một thời gian nữa xem sao, rồi con sẽ liệu. Bây giờ con đã đi mò cua bắt ốc rồi, ngày mai con sẽ đi làm thêm hàng xay hàng xáo cùng với chị cả Hiền để nuôi em cho mẹ. Mẹ đừng khóc nữa, mấy tháng nay mẹ đã bị lòa mất một mắt rồi đấy!”. Tuy tôi an ủi mẹ như thế, nhưng chính tôi cũng đang khóc như mẹ. Nước mắt tôi rơi lả tả xuống cả bát cháo cám đang ăn dở. Cuộc đời mới mười chín năm của tôi sao mà lắm nỗi gian truân! Tôi còn nhớ như in, trước đây mới ba năm, tôi còn là một nữ sinh lớp sáu trường huyện. Cả lớp mấy chục học sinh mà chỉ có năm đứa là gái. Cả mấy huyện chung quanh này chỉ có mỗi một trường chúng tôi là trường trung học mở đến lớp bảy. Đang trong chiến tranh mà chúng tôi theo đuổi được đến lớp sáu là may lắm. Biết bao bạn gái của tôi chỉ học đến lớp ba, lớp bốn rồi phải ở nhà làm ruộng giúp cha mẹ, vào du kích, đi dân công chiến dịch. Hồi ấy, tôi là hoa khôi của trường. Là tôi nghe người ta kháo ầm lên như thế. Qua những lá thơ vụng về của những anh bạn cùng lớp hay của mấy bạn lớp bảy bỏ trộm vào cuốn vở chép bài hàng ngày của tôi, tôi biết là có khối anh mê tôi. Họ tán nào là “tóc em mềm như tơ, chảy xuống vai như dòng suối”, nào là “mắt em như ánh sao đêm, mênh mông và thơ mộng quá”. Có ai lại bảo là vì tôi là con ông chủ tịch huyện nên họ chẳng dám với tới! Trong số những lá thư được gấp trộm vào những quyển vở của tôi (Chẳng biết họ gấp vào lúc nào, có thể là vào giờ ra chơi giữa các tiết học), tôi phát bực mình vì một lá thư ngắn và cộc cằn, nhưng nó cũng làm cho tôi nhớ đến tận nay. Thư viết: “Thu ơi, em đẹp lắm, em lại nghiêm nghị như một thiên thần, tôi làm sao gần em được! Nhưng cẩn thận đấy! Có ngày tôi sẽ chiếm được em! Hoặc là tôi không thể sống được trên cõi đời này vì thiếu em! Đừng lo, tôi không làm em khổ đâu”.

    Tôi mất công hỏi dò mãi mới ra tông tích người viết lá thư ấy. Nhờ mấy cô bạn tâm tình nhận được mặt chữ, tôi biết cái con người táo tợn, bất lịch sự ấy chính là Quang, con ông Cựu Minh là Hoàng, anh bạn học trên tôi một lớp. Anh ta học lớp bảy nhưng tuổi đời thì hơn tôi đến bốn, năm năm. So với tôi anh ta người thấp bé, cao may ra chỉ bằng tôi, chẳng có dáng gì là đàn ông cả, người anh ta chẳng có cái gì là ngổ ngáo như tôi đã tưởng tượng ra cái anh viết lá thư ấy, mà trái lại trông có vẻ rụt rè, dút dát, lễ phép nữa là khác. Thì ra cái vẻ bên ngoài nhiều khi cũng chẳng phản ánh đúng cái tâm trạng bên trong. Anh là con trai cả một gia đình khá giả và có học vấn trong vùng. Dù sao thì tôi cũng chẳng có cảm tình với anh ta. Trong đợt bốn cải cách ruộng đất, gia đình anh cũng bị quy là địa chủ, cũng bị đấu tố. Nhưng may sao nhờ có mấy đứa em anh ta đi bộ đội, ông Cựu Minh lại tham gia hội Liên Việt huyện, lại là một lương y có tiếng trong vùng nên người ta thêm có cái đuôi “địa chủ kháng chiến”. Gia tài ông không bị tịch thu và gia đình ông không bị bao vây như các địa chủ khác.

    Trớ trêu thay, lại chính cái anh Quang ấy, chính là cái con người chẳng có vẻ gì là đàn ông mà tôi đã quên đi từ lâu, nay lại khuấy động cuộc đời tôi giữa lúc gia đình tôi gặp cảnh oan trái này. Hai tuần trước, gia đình ông Cựu Minh cho người mối xuống đánh tiếng hỏi tôi cho Quang. Mẹ tôi, nghe bà mối nói: “Nhà ông cụ ấy chiều con lắm. Anh Quang nói gì là cả nhà nghe theo ngay. Chả là anh ta đọc nhiều sách, học đến ông bố là nhà nho mà cũng phải phục. Rặt đọc tiểu thuyết. Trong nhà anh ta có hàng đống tiểu thuyết để chật cả mấy cái tủ kính lớn. Anh ta nói với bố mẹ: “Con nhà địa chủ lấy con nhà địa chủ, có gì mà bố mẹ ngần ngại”. Bà mối nói thêm: “Người ta cũng thừa biết là ông nhà dưới này bị oan, nghe đâu ở trên sắp sửa sai. Ở các nơi, nhiều người đã xuống thành phần rồi”. Tôi cũng nghe nhiều tin đồn như thế. Tôi mong cho cái ngày ấy sớm đến với gia đình tôi, gỡ nỗi oan trái ác nghiệt cho bố tôi vui, dù người không còn trên đời này nữa. Tôi nhớ lại từng mốc thời gian tai vạ đã qua.

    Hồi giảm tô năm ngoái, thành phần trung nông của gia đình tôi bị Đội giảm tô quy lên là phú nông chỉ vì mấy năm trước mẹ tôi đã nuôi mấy đứa cháu bồ côi từ nhỏ để tập cho họ biết làm ruộng làm vườn. Thế là họ quy ngay cho gia đình tôi bóc lột nhân công. Chả lẽ mẹ tôi lại làm quần quật cả ngày để mấy đứa cháu lớn tướng khỏe mạnh ngồi chơi không. Bà tạo công ăn việc làm cho họ. Bà cũng chẳng thể lường trước được sáu năm sau, khi họ đã khôn lớn tự làm lấy mà ăn được cả thì mẹ tôi lại bị quy là bóc lột, bà làm phúc lại phải tội. Chả lẽ trong quan hệ họ hàng gia tộc lại không thể có sự tương trợ hay giúp đỡ mà lại chỉ có sự bóc lột! Ngay cả mấy gia đình neo đơn đến khi gặt hái không đủ lao động phải thuê mướn thêm vài người xóm trên làm cho kịp thời vụ, cũng bị quy cho là bóc lột. Họ phủ nhận mối quan hệ hợp tác giữa con người. Tôi tuy trình độ còn kém nhưng thời gian làm trên văn phòng Huyện ủy tôi cũng đã được đọc nhiều sách báo chính trị, tôi đã đánh bạo cãi lại mấy anh ở Đội giảm tô. Họ mắng tôi: “Con nhà bóc lột lắm mồm! Nuôi cháu chẳng qua là một hình thức bóc lột không công”. Rồi họ phát động mấy đứa cháu được mẹ tôi nuôi trước đây đấu tố mẹ tôi là bóc lột. Suýt nữa thì chúng đấu mẹ tôi thật. Nghe đâu trong hội nghị tố khổ, các anh đội động viên mãi lòng căm thù địa chủ, phú nông bóc lột, đã có thằng Bá, em họ tôi đứng lên tố. Đến khi ra hội nghị đấu chính thức, mẹ tôi bị lôi ra cho người ta xỉ vả, thằng Bá thấy mẹ tôi tiều tụy, mẹ tôi kể lể kêu oan với Đội, bà nói rõ lòng thương đối với các cháu, thằng Bá tự nhiên òa lên khóc. Nó nhớ đến công lao mẹ tôi đã nuôi nấng nó từ búi giẻ nuôi lên, dạy dỗ nó thành người. Nó nấc nở thương xót bà, nó không đấu nổi. Đội giảm tô đuổi nó xuống. Nhiều người theo nó không nỡ đấu mẹ tôi. Buổi đấu tố coi như thất bại hoặc ít ra cũng thắng lợi nửa vời. Những ngày sau, người ta bảo thằng Bá là “rễ thối”. Anh đội dọn khỏi nhà nó. Nó lại hàng ngày ngày cặm cụi với đám ruộng như cũ.

    Còn bố tôi thì khi làm việc ông cũng bị va vấp nhiều. Là vì tính ông vốn thẳng, chẳng luồn cúi ai bao giờ, lại cũng có những sai lầm trong công việc nên tránh sao chẳng có người thành kiến. Trong phong trào chấn chỉnh tổ chức ở khắp vùng khu Bốn này, người ta bỗng thiên về xu hướng nghi ngờ “tổ chức cũ”, chẳng hiểu căn nguyên vì đâu. Khắp nơi phát hiện tổ chức cũ. Bố tôi cũng bị nghi ngờ là tổ chức cũ. Cộng thêm với cái thành phần bị quy là bóc lột của ông, ông bị tỉnh thải hồi ngay từ đợt sơ bộ chấn chỉnh chính quyền cấp huyện. Rồi trong đợt cải cách ruộng đất đợt bốn ghê sợ vừa qua, bố tôi đã bị vạ lớn. Xưa kia ông vốn xuất thân từ một ông giáo trường sơ học của tổng Thạch Giản này. Ở cái thời Pháp thuộc mà làm đến chức giáo học trường tổng cũng đã là khó khăn lắm rồi. Có lẽ do cái uy tín nhà giáo nên sau cách mạng người ta mới đưa bố tôi lên làm chủ tịch huyện. Không ngờ cái nghề dạy học bố tôi vốn tự hào là vinh quang ấy lại là điều kiện thuận lợi cho những người cốt cán cố nông mới lớn lên được Đội cải cách bắt rễ, ghép ngay cho bố cái tội “không lao động”. Với mức hiểu biết ngây ngô của họ thì chỉ có bần cố nông và trung nông nghèo mới là người lao động, còn lại đều là bóc lột tất. Chẳng phải chỉ có họ hiểu như thế, cả những anh Đội cải cách, bần cố nông cốt cán mới được đề bạt làm cán bộ về làng cũng bảo như thế. Họ quan niệm quá thô sơ, hễ ai không lao động bằng bắp thịt thì đều là bóc lột. Tôi đã nghe thầy giáo Thuyết nói như thế. Thầy còn nói: “Sau cái phong trào cải cách này họ đẩy đất nước mình lùi lại đến vài chục năm!”.

    Lúc bố tôi còn làm chủ tịch huyện, tôi đã nghe nhiều lần bố tâm sự với các chú cán bộ đến thăm bố. Năm 1944, bố cũng như những thanh niên có nhiệt tình với thời cuộc đã nghe theo viên tri huyện trẻ tuổi mới đổi về vùng này, lập ra tổ chức “Thanh niên tự vệ”, bí mật mời thầy về dạy võ và tuyên truyền chống Pháp, Nhật. Tổ chức đó đã sôi nổi một giai đoạn. Sau bị mật thám về dò xét, viên tri huyện không dám khuyến khích nữa, tổ chức Thanh niên tự vệ dần dần tan rã, nhưng nó cũng có ít nhiều tác dụng trong hàng ngũ thanh niên trong vùng giúp cho họ dễ dàng giác ngộ khi gặp cuộc cách mạng tháng Tám. Bố tôi cũng không thể nào ngờ được rằng mười hai năm sau, trong cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất này, lại chính vì việc làm thiện ý đó mà ông bị quy oan là đã sáng lập ra tổ chức tự vệ phản động, tay sai của tên tri huyện vùng này. Anh đội trưởng là cốt cán bần cố nông quê mãi tận trong tỉnh Quảng Ngãi tập kết ra miền Bắc mới được đề bạt lên làm đội trưởng. Anh rất hăng say đánh địch để trả cái mối thù mà cha mẹ anh đã bị nghèo đói suốt đời. Anh đã được Đoàn ủy cải cách, nghe nói đóng tận huyện Hà Trung cách đây những trên hai chục cây số, bồi dưỡng rằng: “Đã làm đến quan huyện thì một trăm thằng phản động cả trăm”. Trong đầu óc anh đội trưởng chắc còn nhớ như in, còn vang lên những bản báo cáo, những bài học điển hình về tổ chức địch từ các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên nào xa xôi được phổ biến xuống từng Đội cải cách, lẽ nào anh lại có thể quên. Rồi cái vị trí chủ tịch huyện cũ của bố tôi đã làm cho anh đội trưởng phải cảnh giác cao. Nghe đâu anh phổ biến trong toàn Đội cải cách: “Đây dứt khoát là thằng địa chủ phản động đầu sỏ lọt lưới. Uy thế chính trị thằng này to lắm, đứng đầu trong huyện cơ mà!”. Theo cái công thức mà toàn đội đã được Đoàn ủy phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho các cốt cán không được mơ hồ, mất lập trường, thì “đã không lao động, đã sáng lập ra tổ chức phản động trước đây, lại ở trong tổ chức cũ mà lại giữ đến chủ tịch huyện thì tất phải là thằng địa chủ cường hào gian ác đầu sỏ lọt lưới, là phần tử cầm đầu tổ chức phản cách mạng hiện hành, đương thời phá hoại. Từ trước vẫn quy nó là phú nông là sai”. Thế là thành phần của bố tôi bị đẩy lên địa chủ. Rồi tất cả những hiện tượng rối ren, phá phách trong xã này và cả các xã lân cận như đốt nhà, giết người, ném đất, ném đá vào các hội nghị tố khổ ban đêm trong các đợt giảm tô và cải cách ruộng đất từ trước tới nay do phản ứng của những người bị truy bức oan gây nên, bây giờ được trút lên đầu bố tôi, được Đội quy là do bố tôi cầm đầu và chỉ đạo hết. Sự thật lại phũ phàng và vô lý đến thế ư? Cho đến bây giờ tôi cũng không thể nào hiểu nổi rằng trên đời này có những điều cực kỳ vô lý, cực kỳ vô nhân đạo tưởng không bao giờ có thể ngăn cản nổi! Với từng ấy tội danh tầy đình dĩ nhiên là bản án tử hình đã giáng xuống đầu bố tôi! Chao ôi, cuộc đời mới khắc nghiệt làm sao! Những biến cố của cuộc đời trong thời gian chưa đầy vài năm đã làm cho tôi suy nghĩ như một bà già từng trải. Tôi tự cảm thấy điều đó. Biết bao thần tượng trong tôi sụp đổ. Biết bao điều tin tưởng non nớt và rồ dại của tôi vụt được mài dũa, tôi luyện lại. Tôi bỗng thấy như mình đã sống trước thời gian đến vài chục năm. Cả làng tôi, sau cái ngày đội xử bắn bố tôi, nỗi khiếp sợ bao trùm. Người ta thì thầm: “Bây giờ thì nhất Đội nhì trời!”. Các anh bộ đội, nhiều người là những cốt cán bần cố nông ở tận những địa phương nào xa xôi, biểu lộ vẻ hể hả vì lập trường của họ kiên định trong đánh địch, không hề khoan nhượng, không hề mủi lòng trước kẻ địch. Anh đội trưởng thì nét mặt đanh lại, gân guốc, vì lòng căm thù còn hừng hực trong lòng. Đến bây giờ tôi mới hiểu ra cái kết quả tàn khốc khi cả một số đông đã rơi vào sự cuồng tín; hơn nữa khi mà sự dốt nát và nghèo nàn ngự trị trong con người!

    Cũng có khối người trung thực trong làng tìm cách này hay cách kia nói cho đội biết những nỗi vất vả của mẹ tôi khi bố tôi bận công việc suốt năm trên huyện, bà phải một mình làm lụng nuôi hai chúng tôi và mấy đứa cháu. Nhưng Đội không dám nghe và cũng kiên quyết không nghe những lời gọi là “còn cảm tình với địa chủ” đó.

    Người ta chỉ thấy rõ ràng gia đình tôi an nhàn hơn người khác, tháng ba tháng tám, trong lúc bần cố nông trong làng đói meo thì nhà tôi vẫn còn đủ gạo ăn, con gái lại cũng được đi học đến tận lớp sáu. Trong cuộc đời lao động của mẹ tôi, người ta chỉ nghe lời tố cáo có hai ba vụ mùa nào đó bà đã thuê người gặt. Theo sự suy nghĩ của họ, mẹ tôi được xếp vào loại “lao động lớt phớt”, sống bằng bóc lột là chính. Ôi, miệng lưỡi con người độc địa biết bao! Rồi cái số ruộng vốn có của gia đình tôi là chín sào rưỡi được tố tăng lên là một mẫu ba sào. Cộng với năm, sáu sào ruộng xa ở mãi tận khu rộc Chùa mà bố mẹ đã bán đi từ năm, bảy năm về trước để mua thêm số ruộng hiện nay cho gần nhà, rồi lại cả mấy sào bố tôi đã phải bán đi từ hồi đói năm bốn lăm, ngày nay bị coi như “cố tình phân tán”, thành ra mẹ tôi trở thành một mụ địa chủ có gần bốn mẫu ruộng, một số ruộng mẹ tôi chưa bao giờ có, nghe đến giật mình ở cái xã ruộng đất hiếm hoi này. Người ta tịch thu hết ruộng đất và cả hai con bò của mẹ tôi. Bây giờ thì sức vóc mẹ, một người đàn bà khỏe mạnh mới ngoài bốn mươi tuổi đã sụp xuống. Mẹ chỉ còn là một thân cây cằn cỗi khô đét lại, hai vai dô lên. Cái thân cây lùng thùng trong bộ quần áo nâu bạc phếch đã vá nham nhở càng làm tăng lên nước da trước kia hồng hào nay đã xanh bủng của mẹ.

    Trên khuôn mặt mẹ tôi nổi vằn lên những đường răn và đôi mắt ướt đỏ hoe, cái miệng như luôn luôn muốn mếu. Một mái tóc hoa râm khô khan và rối bù quấn qua loa trên đầu, xõa cả xuống tai, xuống trán. Mấy tháng trong cải cách ruộng đất đã làm cuộc đời bà như dài đằng đẵng bao năm. Mẹ cố nuốt miếng cháo cám cuối cùng rồi đặt bát xuống, mẹ kéo vạt áo lên chấm khô nước mắt rồi giải thích cho tôi: “Đàn ông người ta như cái nơm ấy, chả úp chỗ này thì úp chỗ khác. Con không bằng lòng người ta thì người ta hỏi đám khác, lúc ấy con biết nương tựa vào đâu?”. Nghe mẹ nói, tôi lại càng thấy xót xa. Tôi biết nói với mẹ tôi như thế nào bây giờ? Mẹ thương chúng tôi rất mực, mẹ lo cho tương lai chúng tôi, nhưng tôi biết rõ mẹ không thể hiểu được tâm trạng tôi lúc này. Ý nghĩ về hôn nhân của mẹ đã xa cách với tôi hàng thế kỷ. Mẹ không muốn cảnh đói khát đè nặng lên đời chúng tôi, bà không muốn bỏ lỡ cơ hội đối với tôi lúc này. Chắc chắn trong đáy lòng mẹ tôi, mẹ vẫn coi tôi như những năm còn bé dại. “Cái con Thu này, nó mới mười tám tuổi đầu, đang như măng như mụt, lớn người mà nó có hiểu gì đâu! Ngày mai đây, con mà ốm nằm xuống như mẹ thì rồi thì đến cám cũng chẳng có mà ăn. Con phải chịu chết đói hay con đi ăn xin, hay con sẽ sa vào tay một người nào tàn ác để vì miếng cơm, để cho nó đầy đọa!”. Tôi biết mẹ đang bị trăm mối lo giằng xé. Mẹ không đoán được sóng gió cũng đang cuộn lên trong lòng tôi. Tôi có trách nhiệm phải cứu sống mẹ, cứu sống em khỏi chết đói. Tôi có linh cảm khó thoát ra khỏi được cuộc hôn nhân tàn nhẫn lúc này. Giá như tôi đã không quen biết anh Trần Sơn từ trước! Giá như chúng tôi chưa hề có một chút hứa hẹn với nhau! Trời ơi, giá như tôi thật sự chưa yêu, tôi chưa hề có mối tình nào hết! Tôi sẽ quyết định dễ dàng biết bao nhiêu. Tôi sẽ nhắm mắt đưa chân, tôi sẽ đồng ý lấy Quang không do dự, mặc dầu tôi không yêu anh ta, tôi chẳng có một nỗi xúc động nào khi nghĩ đến anh ta. Nhưng tôi trọng anh. Anh đã bước lên trên dư luận khắc nghiệt của xã hội này để tìm đến tôi, tìm đến con bé khốn khổ này. Nhưng sao bây giờ tôi lại thấy quá khó khăn!

    Ôi, tình yêu ban đầu, mối tình đầu, nó như hòa vào máu thịt tôi. “Anh Trần Sơn, anh có hiểu nổi tình cảnh của em lúc này không? Em biết làm thế nào bây giờ? Anh có còn nghĩ đến đứa con gái gia đình địa chủ này nữa không?”. Tôi nghe như thâm tâm tôi nấc nở. Nếu anh ấy trông thấy hình dáng tôi hiện nay, liệu tình cảm cũ có còn nguyên vẹn? Hôm qua tôi đã nhìn qua chiếc gương lâu ngày không ngó đến bụi đã bám đầy, tôi bỗng giật mình thấy thân hình tôi tiều tụy quá. Nét mặt tôi đã mất vẻ hồng hào mà chỉ còn khuôn mặt của con bé nào xa lạ, xanh lướt như người sốt rét mới khỏi, hai mắt to và thâm quầng trông thờ thẫn chả còn vẻ thơ mộng và quyến rũ như anh từng mô tả. Cái thân hình tầm thước vốn nở nang của tôi cũng đã biến đi từ lâu. Hai vai tôi dô lên, chẳng còn những đường cong uyển chuyển, tôi đã gầy xọp đi, người như cao thêm lên. Nhìn thấy tôi may chăng người ta chỉ thương hại. Tôi chán nản vô cùng. Tôi nhìn thấy thằng Thủy em tôi đang ngồi lấy đũa chọc bát cháo cám đã vữa nước rồi lại ngơ ngác nhìn tôi. Nét mặt nó xệ xuống. Nó buồn lây cái buồn của mẹ và chị. Tôi giục: “Em ăn nhanh lên để chị dọn, chị còn đi chợ nào”. Thằng em bảy tuổi ngoẹo cái đầu về một bên phụng phịu: “Không, không…, chị không ăn em cũng không ăn nữa đâu. Chị ăn đi cơ”. Tôi gắt: “Ơ hay chửa, chị ăn no rồi, ngồi lâu như em ấy à?”. Thằng em tôi lại hỏi: “Chị ăn no sao trong nồi vẫn còn hở chị, sao hôm qua không còn?”. Thằng em ngây ngô của tôi đã phát hiện cho tôi thấy rằng cả mẹ và tôi đều đã ăn ít vì những nỗi đau khổ đã đè nghẹn lấy cổ. Lần đầu tiên nồi cháo cám nấu lẫn với cọng rau rền còn thừa.

    Tôi dỗ em: “Chị ăn no rồi, đây là phần em. Em ăn đi kẻo đói, mãi tối mới lại được ăn cơ. Chị còn đi bắt cua đem ra chợ bán lấy tiền mua gạo, tối em không phải ăn cháo cám nữa”. Bỗng nó ngước mắt lên nhìn tôi, lo sợ hỏi: “Chị đi bắt cua lâu về, em ở nhà với mẹ, người ta có vào đấu mẹ nữa không? Em sợ lắm chị ơi!”. Mặt nó méo xệch đi, vẻ hoảng hốt phút chốc hiện rõ trên khuôn mặt thơ trẻ nhem nhuốc của nó. Những buổi đấu tố bố mẹ đã qua đã để lại dấu ấn quá nặng nề trong tâm trí em, đã hằn trong lòng em sự sợ hãi đối với mọi người. Tôi nhìn những con ruồi đang bâu vào bát cháo cám trong tay em, lòng tôi thắt lại. Số phận đã định rồi. Tôi phải mang lại bát cơm cho mẹ, cho em, dù bát cơm độn ngô, độn khoai, chứ không phải bát cháo cám người ta chỉ nấu cho lợn này. Ánh nắng cuối năm khô úa từ trên mái nhà tranh đầy lỗ thủng lọt xuống nền đất thành những vòng tròn nhỏ.

    Ngày 15 tháng 11 năm 1956: Dư luận làng trên xóm dưới nói nhiều đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất và nhất là những sai lầm trong đợt chấn chỉnh tổ chức vừa qua. Nhưng người ta chưa dám nói công khai, người ta chỉ thì thầm bàn tán. Hình như cấp trên đã phát hiện ra những sai lầm này. Người ta nay cũng không bao vây nhà tôi nữa. Tôi đi chợ bán mớ ốc, giỏ cua cũng không thấy mấy người cốt cán ách lại lục soát xem có phân tán của cải không. Mẹ tôi cũng nghe thấy thế. Trong lòng bà le lói một niềm tin. Nhưng bà vẫn nửa tin nửa ngờ, bà càng bồn chồn thêm. Mẹ tôi gục đầu xuống bàn thờ bố, nấc nở: “Ông ơi… i…i… là ông ơiii… Biết đến bao giờ mới gỡ được nỗi oan này…, ông ơiii… Chồng tôi làm gì nên tội, trời ơi là trờ..ii…!”. Lời khóc than của mẹ lan ra, âm thầm, rầu rĩ làm tăng mãi cái không khí tang tóc trong gian nhà hẻo lánh này. Mẹ giơ bàn tay run rẩy đốt mấy nén hương trên ngọn đèn dầu hỏa rồi cắm vào chiếc bát hương đang đặt giữa bàn thờ, cái bàn thờ làm bằng một tấm ván mọt kê trên hai chiếc giá cũ, giữa bàn để chiếc bát cơm ăn đựng đầy tro làm bát hương, lởm chởm những chân hương còn cháy dở. Hai bên bát hương để hai ống hương và hai cây nến đã tróc cả nước sơn trông nham nhở, những thứ mà Đội cải cách còn để lại cho, không thèm tịch thu. Tiếng than thở sầu thảm của mẹ quyện trong khói hương nghi ngút. Rồi mẹ tôi nguyền rủa: “Cha tiên sư cái đứa nào tố vu cho chồng tao là phản động. Nhà mày trồng cây dựng ngược, nhà mày ăn sống nuốt tươi, nhà mày gắp lửa bỏ tay người. Ớ… ớ! Cái đứa tố vu! Cái đứa nào hằn thù chồng tao mà vu oan giáng họa! Rồi nhà chúng mày cũng sẽ bị thánh vật phật bóp, nhà chúng mày chết đường, chết chợ! Ơ cái thằng đàn ông, cái con đàn bà, mày tố vu cho người ta…”. Bỗng nhiên tôi thấy mẹ tôi im bặt, mẹ kéo tà áo lau nước mắt. Hình như đầu óc mẹ rối loạn lên, đang việc nọ mẹ nhớ sang việc kia. Mẹ đứng chắp tay trước ngực, nhìn chăm chú vào làn khói hương nghi ngút, mẹ khấn: “Cầu trời phù hộ cho hương hồn ông mát mẻ, sống khôn chết thiêng. Ông phù hộ cho các con kiếm được miếng mà ăn, đừng để đứa nào chết đói”. Rõ ràng là cảnh chết đói tháng ba năm bốn nhăm lại hiện ra trong ký ức mẹ. Rõ ràng là nỗi lo về hai đứa con chết đói đang ám ảnh mẹ. Mẹ hạ thấp giọng, khấn nhỏ, nhưng cũng đủ để tôi nghe: “Ông, ông có thiêng thì ông bảo con Thu nó nhận lời lấy thằng Quang đi, kiếm miếng cơm mà ăn, mà nuôi em nó cho tôi. Nó còn tơ tưởng gì cái anh Sơn ấy nữa! Cái thằng ấy nó đã coi con mình như đứa con của quân phản động rồi, đời nào nó còn dám mò đến nhà mình nữa mà chờ! Con ơi, - mẹ tôi không quay lại phía tôi mà cứ như nói với chính mình - mày định chờ nó đến lúc ngã xuống à con? Nó có chờ mày nữa đâu! Đã gần hai năm nay nó có dòm ngó gì đến con nữa đâu!”. Những lời nói của mẹ cứ như những gáo nước lạnh dội vào lòng tôi, làm cho lòng tôi tê cứng lại. Tôi hoang mang và thất vọng, một nỗi thất vọng thấm đậm xót xa. Sự vắng biệt tin tức về anh Trần Sơn gần hai năm nay giữa lúc gia đình tôi gặp hoạn nạn đã làm cho tôi nghi ngờ anh, nghi ngờ cả những lời hứa hẹn, cả sự chung thủy tưởng như vĩnh cửu của chúng tôi, mặc dầu trong thâm tâm tôi vẫn cảm thấy day dứt. Xung quanh tôi biết bao nghịch cảnh đã diễn ra, biết bao sợi dây linh thiêng ràng buộc con người với nhau từ hàng ngàn đời nay đã bị dứt bỏ: nào là cảnh con cái tố giác cha mẹ, cảnh nàng dâu đấu bố mẹ chồng, cảnh vợ chồng lìa nhau vì thành phần. Liệu tình yêu ban đầu mà tôi coi là quá thiêng liêng còn có ý nghĩa gì đối với Sơn. Một nỗi thất vọng đến chiếm đoạt cả tâm hồn tôi. Tôi không còn tâm trí đâu mà viết tiếp trang nhật ký, mặc dầu những mẩu đời êm đẹp cũ cứ hiện ra trong trí nhớ.

    II

    - Thưa chú, bố cháu bảo cháu mang bì công văn này đưa tận tay cho chú. Chín giờ tối nay, bố cháu sẽ gặp chú ở văn phòng Huyện ủy có việc quan trọng.

    Lần nào cũng thế, khi nhận công văn xong là người chú nhìn cháu gái mười bốn tuổi, cái tuổi mới lớn lên còn dáng dấp trẻ con, hỏi vặn linh tinh mấy câu:

    - Thế cháu có biết việc quan trọng ấy là việc gì không?

    - Cháu chả biết đâu, việc bí mật lắm, bố cháu chả nói đâu.

    - Bố không nói, sao cháu lại biết là quan trọng?

    - Bố cháu nói thế.

    Có hôm người chú hỏi:

    - Sáng nay giặc có càn làng bên cạnh làng cháu, cháu có sợ không?

     Cô cháu gái cũng thích nói chuyện với chú cán bộ vui tính.

    Chú hỏi: - Mấy năm nữa cháu lớn, cháu có muốn đi làm cán bộ như các cô, các chú bây giờ không?- Rồi chú tự trả lời khi đứa cháu chưa kịp nghĩ ra lời đáp:

    - Làm cán bộ kháng chiến vất vả lắm, chắc cháu chả ưng đâu.

    Đó là mẩu đời bốn, năm năm về trước, khi mà cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở trong giai đoạn gay gắt, giặc liên tục chà đi, chà lại mấy xã phía bắc vùng Nga Sơn này. Quân địch ở Phát Diệm, Điền Hộ tăng cường về để càn quét. Cô con gái ông chủ tịch huyện Nguyễn Phan lớn lên trong chiến tranh nên sớm tinh khôn, cô vừa đi học vừa là liên lạc viên đắc lực cho cha. Chú cán bộ mà cô thường xuyên đến gặp để đưa công văn hay lấy tin tức về cho bố là đồng chí Trần Sơn - Huyện ủy viên trực tiếp phụ trách công tác chống càn. Cũng như mọi cán bộ khác công tác trong vùng giáp ranh địch chiếm này, anh thanh niên mới khoảng hăm ba tuổi đầu mà trông già bằng người ngót ba chục xuân xanh. Anh được cô con gái ông chủ tịch gọi ngay bằng chú. Sơn cũng nhận cô là cháu, mặc dầu anh chỉ hơn cô chừng tám, chín tuổi như biết bao người cháu trong cuộc đời kháng chiến đã qua. Thành một thói quen thường lệ cứ sau vài câu nói đùa, anh lại thân mật bảo cô cháu gái:

    - Ở đây ăn cơm với các chú rồi chiều mát hãy về. Cháu ở đây tha hồ mà đọc sách, có hầm trú ẩn kiên cố, không sợ máy bay địch đâu.

    Người cháu gái thích xem tranh ảnh trong những tờ họa báo Liên Xô và Trung Quốc, những tờ họa báo rực rỡ màu sắc mà cô chẳng thể tìm được ở đâu khác, vui lòng ở lại đến chiều, ngồi giở từng trang hết cuốn này đến cuốn khác xem không chán mắt chồng họa báo tại văn phòng Huyện ủy. Cô phát hiện ra biết bao điều mới lạ trong các tờ báo. Chiều đến Thu cùng ăn với các cô, các chú một bữa cơm tập thể có rau muống chấm tương với cá khô hoặc quả trứng vịt luộc dầm nước mắm.

     Đã mấy kỳ tết Nguyên đán, Sơn đến thăm chúc tết gia đình ông chủ tịch Nguyễn Phan đều không quên mua tặng đứa cháu gái nữ sinh trường huyện những cuốn sổ tay bìa đỏ và những chiếc bút chì màu. Có tết chú Sơn mua cho Thu chiếc khăn quàng bằng len màu tím nhạt vì thấy Thu không có khăn quàng đi học những buổi trời gió mùa đông bắc, cái khăn màu tím Thu rất thích. Thế rồi thời gian trôi nhanh chóng, cô liên lạc bé nhỏ và nhí nhảnh như con chim non ấy lớn vượt hẳn lên cùng với cái tuổi mười bảy, mạnh mẽ và đẹp như một vì sao. Bẵng đi một thời gian cô không làm liên lạc cho cha nữa. Người chú thấy nhớ bâng quơ cô cháu gái. Cuối năm một ngàn chín trăm năm mươi ba, giặc Pháp liên tiếp mở những trận càn lớn vùng này. Ông Phan một hôm nói với Sơn:

    - Chỗ quê tôi dạo này máy bay bắn phá dữ quá, chả là nơi bộ đội chủ lực lui tới đóng quân luôn, tôi muốn đưa nhà tôi và cháu nhỏ tạm lánh về quê ngoại ít lâu. Riêng cháu Thu nó cũng đã lớn, trường học cũng phải sơ tán, học bữa đực bữa cái, tôi muốn cho cháu lên giúp việc trên văn phòng Huyện ủy này, làm kế toán hay văn thư gì đấy cũng được. Một là để cho cháu tập một công việc, hai là nó có thể tiếp tục học văn hóa buổi tối trên này. Ở nhà thì chỉ lo tránh máy bay cả ngày cũng chả làm ăn gì được. Anh có gặp đồng chí bí thư thì báo cáo giúp tôi, tôi chắc đồng chí ấy cũng ưng thuận, vì văn phòng còn đang thiếu văn thư.

    Nguyện vọng ông chủ tịch được đồng chí bí thư Huyện ủy chấp nhận. Từ đó, Sơn và Thu lại có điều kiện gần gũi nhau hơn trước. Và cũng từ đó, cuộc sống tập thể cơ quan đã làm thay đổi mối quan hệ giữa hai người. Hình như cách xưng hô “chú cháu” trong giai đoạn này không còn thích hợp nữa. Nó trở thành sự ngượng ngùng đối với một cô gái đã lớn và một thanh niên hai mươi sáu tuổi chưa vợ. Anh em trong cơ quan lại hay tinh nghịch chế nhạo: “Này, này, hai anh chị kia, họ hàng gì với nhau mà cũng “chú cháu!”. Hãy chuyển cách gọi đi, hãy thay bằng “anh em” cho nó thuận lẽ phải”. Có anh tai ác trêu Thu: “Này, gọi người ta là chú là gián tiếp chê người ta là già đấy nhé!”. Nói rồi cả bọn phá lên cười làm cho Thu đỏ bừng cả mặt. Họ trêu cho đến lúc Thu phải chạy đi chỗ khác mới thôi. Từ đó mỗi lần gặp Sơn, Thu cảm thấy mất cả vẻ tự nhiên vốn có. Hình như Sơn cũng thế. Không hiểu sao lòng Thu thấy xốn xang mỗi lần gặp Sơn. Cả hai người đều lúng túng về cách xưng hô, họ đều thấy khó xử. Gọi ngay bằng “anh Sơn” thì Thu thấy ngượng quá. Đã nhiều lần Thu cố tránh để khỏi phải gặp Sơn trong cơ quan, nhưng cô lại thấy bồn chồn trong lòng mỗi lần cô né tránh. Rõ ràng cô đã có cảm tình với người chú khắc khổ và kiên nghị, người cán bộ kháng chiến xa gia đình đã để lại dấu ấn trong lòng cô từ cái tuổi mới lớn lên. Rõ ràng đã có một cái gì thiêng liêng đối với Sơn tàng ẩn trong lòng Thu. Có phải đó là tình yêu? Có phải chính Thu đã yêu Sơn? Nghĩ đến đó, cô bỗng thấy hai gò má mình nóng ran. Thu thấy xấu hổ lạ. Cô không muốn công nhận điều ấy, cô còn muốn giấu chính lòng mình. “Con gái ai lại đi yêu trước! Nhỡ người ta không yêu mình!”. Cô nghĩ như thế. Cho đến một hôm, nhân văn phòng vắng người, Thu nghe Sơn nói với mình: “Thu này, từ nay tôi gọi Thu là “em” nhé, cho nó thuận… lòng tập thể - Rồi Sơn ngập ngừng: -Thu cũng nên gọi tôi là… là… “anh”, đừng đừng… gọi là “chú” nữa…, người ta cười cho…, ngượng lắm!”.

    Đôi má Thu bừng đỏ. Thu cúi mặt xuống, mân mê tà áo, hơi thở dồn dập. Chỉ một thoáng thế thôi Thu cũng đã đoán biết là Sơn yêu cô. Cô hồi hộp lạ, ngồi yên không đáp. Sơn như đoán được ý Thu, anh an ủi: “Kệ cho họ cười. Cứ gọi nhau như thế cho… quen đi. Họ có chế nhạo vài hôm cũng không sao. Cũng là do tính vui đùa của tuổi thanh niên như ta cả thôi…”.

    Một thời gian sau, Sơn không ở văn phòng Huyện ủy nữa. Anh được cử xuống lãnh đạo công tác chống càn ở mấy xã phía bắc huyện, vùng giáp danh địa phận bị địch chiếm đóng. Vắng mặt Sơn hàng tháng ròng, Thu bỗng cảm thấy lòng mình trống trải. Một nỗi nhớ nhung vơ vẩn đến xâm chiếm tâm hồn cô. Những kỷ niệm nhỏ nhoi mà đẹp đẽ thời học sinh còn ghi đậm trong trí nhớ: những cuốn sổ tay màu đỏ, hộp bút chì màu, chiếc cặp tóc màu xanh, chiếc khăn quàng màu tím nhạt. Hầu như Thu còn giữ tất cả. Rồi ngày nào cũng thế, hễ có ai ở các xã phía bắc về họp hoặc báo cáo công tác, cô lại không quên hỏi thăm tin tức về Sơn. Cô mừng rỡ khi nghe tin Sơn vẫn bình an, công tác chống càn có nhiều thắng lợi. Cô bồn chồn lo âu khi biết Sơn đã lọt sâu vào lòng địch, đang phải ẩn mình trong các gia đình cơ sở, dưới các hầm bí mật tối tăm và ngạt thở. Tự nhiên trong sinh hoạt chật vật hàng ngày Thu cố tiết kiệm từng đồng để mua những cuộn len, cô nghĩ đến Sơn mùa rét sắp đến.

    Mấy thanh niên trong ban văn thư cơ quan, trong đội giao liên, những ông tướng tếu lại được dịp bàn tán, đánh đố nhau: “Tao đã bảo mà, hai đứa nó yêu nhau chết mệt đi rồi!”.

    “Tao thì bảo không, con bé ấy nó không đời nào lại lấy cái ông nó đã gọi bằng chú ấy!”. Rồi họ nêu đủ mọi lý lẽ để đoán già đoán non: “Dứt khoát là Thu nó sẽ lấy Sơn. Người ta còn hơn kém nhau mười lăm, hai mươi tuổi, chứ hơn kém tám chín tuổi thì thấm vào đâu!”; “Nó có khối thanh niên trong huyện dòm ngó, đặt vấn đề, việc gì nó phải lấy cái anh cán bộ quê mãi tận đâu đâu mà lại khô như ngói ấy. Trông như một ông cụ non!”. Một anh trong bọn vỗ đùi đánh đét một cái như người ta phát hiện ra được một kế hay, nói: “Có khó gì mà các cậu phải cãi nhau. Muốn biết Thu nó có yêu ông Sơn không chỉ cần giả vờ báo tin cho cô ta biết là anh Sơn bị giặc bao vây trong trận càn và bị bắt rồi, xem thái độ Thu nó ra sao, khắc rõ ngay”. Cả bọn cười rộ lên, tán thành ngay cái việc thăm dò tâm lý quái ác ấy. Tối hôm đó sau khi đã ăn cơm xong, chờ cho các đồng chí Huyện ủy về hết, mấy anh tướng tếu ngồi lại chuyện trò với Thu. Nửa chừng, một anh giao liên trong bọn hớt hải chạy vào báo: “Các đồng chí ơi, nguy to rồi!”. Mọi người hỏi:“Cái gì xảy ra thế?”. Anh kia ấp úng: “Có tin đồng chí Sơ..ơn, đồng chí Sơn bị… bị… gi..ặc bắt mất rồi…!”.

    Quả thật cái tin sét đánh đó đã làm cho Thu như chết lặng đi. Nét mặt cô trở nên xanh tái, đôi mắt mở tròn hoảng hốt, đôi môi run lên, cô buông một tiếng kêu khe khẽ: “Trời ơi!”. Cây bút đang cầm trên tay rơi xuống. Cô luống cuống: “Làm thế nào? Làm thế nào bây giờ các anh?”. Rồi không kịp để cho mọi người trả lời, Thu đứng lên định đi: “Em đi tìm đồng chí bí thư, báo cáo cho đồng chí ấy biết đây!”. Khi Thu vừa chạy ra khỏi phòng thì mấy ông tướng tếu phá lên cười:

    “Đấy nhé, tớ bảo có đúng không? Có thật là Thu nó đã yêu ông Sơn một trăm phần trăm rồi không?”

    Những anh khác tán thành: “Ừ, ừ, chịu cậu. Đúng là nó đã yêu!”.

    “Cách thử tâm lý của cậu chúa thật! Cậu xứng với chức “quân sư quạt mo”. Nhưng mà nó hơi tai ác. Cậu làm cho con bé hốt hoảng lên đấy!”. Anh ta gọi to ra phía cổng: “Thu ơi! Thu ơi! Về đi!”.

    Khi cả bọn thấy Thu bước vào phòng với vẻ mặt ngơ ngác, trông thấy trên cặp mắt tròn ngây thơ của cô còn đượm nỗi lo âu, họ mới thôi cười. Một anh dịu giọng: “Chúng nó đùa em đấy, anh Sơn không bị bắt đâu! Đùa một tí mà đã lo cuống cả lên!”. Ôi cái đùa trong cảnh chiến tranh! Nó cũng nhuốm vẻ tàn khốc như chính chiến tranh vậy. Thu vừa thẹn vừa bực, trả lời: “Phải gió mấy cái anh này! Các anh đùa ác như quỷ ấy! Không sợ ngày sau chết xuống âm phủ phải bỏ vào vạc dầu à?”. Một anh còn cố nói chữa: -“Suýt nữa làm em không ăn được cơm!”.

    Ít lâu sau, Sơn trở về văn phòng Huyện ủy. Anh đã tìm mua được mảnh vải hoa từ trong vùng tề đưa ra bán, rất đẹp, đem về làm quà cho Thu. Đã lâu lắm Sơn không mua quà cho Thu, vì thấy Thu đã lớn. Bản thân anh cũng thấy ngượng ngùng khi tặng quà cho một cô gái đã đến tuổi yêu đương. Lần này đưa miếng vải cho Thu làm anh đỏ cả mặt, làm cho Thu cũng thẹn chín cả người. Sơn đã nghe anh em trong cơ quan bàn tán nhiều về những tình cảm của Thu đối với anh, nhưng anh không dám tin vội. Anh cũng chưa một lần ngỏ lời với Thu. “Chà, con gái mới lớn lên họ còn kén chọn chán. Đặt vấn đề với những người ở cái lứa tuổi này là chả có mấy thành công” - Sơn tự nhủ lòng mình. Anh liếc nhìn nét mặt mình trong gương. “Ờ, mình trông lại khô khan, ai người ta ưng mà mơ tưởng!” - Bất giác anh buông một tiếng thở dài. Anh cố xua đuổi những ý nghĩ về Thu, cố nén mối tình đã lâu nay âm ỉ trong lòng. Nhưng cái dáng người thanh nữ mười bảy tuổi có đôi mắt trong veo tươi sáng với khuôn mặt hồng hào, đôi má lúm đồng tiền và nụ cười rất có duyên, với bộ ngực căng đầy sức sống ấy, ngày càng chiếm đoạt tâm hồn Sơn. Anh cũng tự nhận thấy, chính anh quá rụt rè trong tình yêu, lại thêm lòng tự trọng đã kìm anh lại. Ôi, cái bản tính cha sinh mẹ đẻ đã ban cho anh nó mới khó chữa làm sao! Có câu phương ngôn nào đã nói: “Tình yêu chỉ đến với những kẻ mạnh dạn”. Biết thế, nhưng anh không làm được. Thiếu gì người mạnh bạo. Có cả kẻ cướp giật trong tình yêu nữa. Nhưng có phải họ đã toại nguyện cả đâu. Đối với anh, tình yêu phải bình đẳng, phải đồng cảm, nó vốn không có lời. Mối tình đầu sao quá mong manh và dễ vỡ! Anh nghĩ đến mấy câu thơ của Xuân Diệu mà anh đã thuộc lòng từ hồi còn học năm thứ ba ban thành chung: “Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất. Anh cho em kèm với một lá thư. Em không lấy và tình anh đã mất. Tình đã cho, không lấy lại bao giờ!”. Nghĩ thế Sơn càng dè dặt trong việc ngỏ lời, kể cả bằng cách viết thư. Vả chăng hoàn cảnh chiến tranh, công tác chống càn, xây dựng cơ sở đầy bất trắc và gian nguy không cho phép Sơn đặt vấn đề ra lúc ấy. Anh vốn là loại người thiên về trí tuệ, anh chế ngự được tình cảm và làm chủ được mình. “Nếu cô ấy quả thật yêu mình thì để vài năm nữa, đến ngày thắng lợi, hết chiến tranh càng thuận lợi”. Nghĩ thế nên anh kiên trì chờ đợi. Đồng chí bí thư Huyện ủy cũng có biết qua về mối tình giữa Sơn và con đồng chí chủ tịch. Đã có lần đồng chí vui miệng hỏi ông Phan: “Bác Phan có đồng ý gả cháu Thu cho đồng chí Sơn hay không? Hay sợ bác gái không muốn gả chồng xa cho con?”. Rồi đồng chí tiếp, không chờ cho ông Phan trả lời: “Thời buổi kháng chiến, bốn bể là nhà, trong nam ngoài bắc người ta còn lấy nhau nữa là chỉ cách nhau có mấy tỉnh. Hai đứa nó tốt đôi lắm đấy. Chẳng lẽ ông chủ tịch lại đi chê đồng chí mình nghèo”. Ông Phan chỉ cười hề hề. Ông nghĩ: cán bộ kháng chiến ai còn chê nghèo, nhưng chả biết Sơn nó có ưng con Thu thật không? Anh ta quê tận Hải Dương.

    Nghe nói Sơn con nhà nghèo nhưng có chí, chuyên đi làm gia sư dạy trẻ con nhà giàu mà học được gần hết ban thành chung thì gặp dịp Nhật đảo chính Pháp mới chịu thôi học. Anh ta là người có trình độ, tư cách lại đứng đắn. Kể ra hai đứa nếu có ưng nhau thì lấy nhau cũng được. Ông quay sang phía Sơn, nửa đùa nửa thực:

    “Con gái tớ nó mới lớn lên, còn ngây ngô chưa biết gì đâu. Nếu cậu chinh phục được tình cảm của nó thì xong ngay. Nhưng cậu muốn lấy nó thì phải gọi tớ bằng “bố” đấy chứ chẳng lôi thôi gì đâu!”. Câu nói của ông làm cho mọi người cười rộ lên. Trong hoàn cảnh thuận lợi đó, mối tình của họ tuy không ai nói bằng lời, nhưng nó lớn lên theo ngày tháng. Anh cán bộ yêu đương quá rụt rè vẫn giữ nguyên mối tình thầm kín chẳng dám nói ra. Một buổi tối, anh em trong cơ quan đi dự đám cưới hết, văn phòng chỉ còn lại Sơn và Thu, bỗng anh nẩy ra ý kiến táo bạo, vì đối với anh, như thế cũng đã là táo bạo lắm rồi. Anh nghĩ “phải dứt khoát thăm dò xem sao!”. Nhân có quả chuối phần tráng miệng sau bữa cơm tối anh chưa ăn, anh liền bẻ đôi, đưa một nửa cho Thu, nói ngập ngừng: “Này Thu. Nếu em… không… không chê… ít…, thì ăn với… anh một nửa vậy”. Thu liếc mắt nhìn Sơn, quay mặt giấu một nụ cười kín đáo. Cô đã cảm thấy qua cử chỉ vụng về của anh cán bộ luống tuổi, qua giọng nói ngập ngừng của anh, cái điều anh chưa nói hết. Thu ngoan ngoãn cùng ăn chung quả chuối với Sơn. Cả hai người đều thấy hồi hộp lạ. Họ lặng yên một hồi lâu không nói. Rồi Sơn cất lời mạnh dạn hỏi Thu: “Anh em trong cơ quan người ta hay bàn tán…, người ta hay đùa… giữa tôi với Thu. Thu có thấy… khó chịu không?... Ý kiến em thế nào?”. Anh hồi hộp chờ đợi câu trả lời của Thu, vẻ lúng túng hiện ra trong từng cử chỉ. Thu nóng bừng cả mặt. Trời ơi, cô biết trả lời sao đây. Cô như đã chuẩn bị nghe câu hỏi đó từ lâu, nhưng sao cô vẫn thấy nó đột ngột quá. Cô chỉ cúi đầu ngồi yên không đáp. Những ngón tay nhỏ run run mân mê tà áo. Cô nghe Sơn nhắc lại, giọng nhỏ nhẹ và rụt rè: “Thế nào? Thu?... Ý kiến… em…”. Cô cảm giác thấy Sơn đang nhìn cô âu yếm, đang chờ đợi một câu trả lời. Cô biết nói sao đây! Thu hồi hộp quá! Lần đầu tiên trên đời Thu đối mặt với tình yêu. Nó mong manh và dễ vỡ biết bao! Nhưng nó cũng vững chắc và sâu sắc biết bao khi mà tình cảm của cả hai người đã bắt rễ vào nhau. Thu muốn nói rất nhiều, muốn thổ lộ tất cả mối tình thầm kín của cô đối với Sơn bao lâu nay cho Sơn rõ, nhưng không hiểu sao cô không nói nên lời. Cuối cùng cô ngước đôi mắt nhìn Sơn đắm đuối, trả lời khe khẽ như trong giấc mơ: “Em… em không biết…”. Hình như Sơn đã hiểu rõ được tâm hồn Thu qua câu trả lời như vô nghĩa mà lại đầy ý nghĩa đó. Hình như lúc đó Sơn ngồi xích lại gần Thu hơn. Anh đưa cánh tay ôm nhẹ ngang qua người Thu, hôn lên mái tóc của Thu. Hai người ngồi yên lặng bên nhau. Và cứ thế, phút yên lặng say sưa ấy chiếm đoạt cả tình yêu son trẻ của Thu. Hình như lúc đó tiếng nhạc liên hoan đám cưới phía nhà bên vẳng lại, xóa hết cả những hình ảnh tàn phá của chiến tranh còn rớt lại trong đầu óc đôi trai gái yêu nhau. Vầng trăng ló khỏi đám mây, rải vàng trên mái tóc, trên vai áo hai người. Cô nghe rõ anh gọi khẽ: “Thu, em!”. Rồi anh nắm chặt lấy bàn tay mềm và ấm của Thu đưa lên môi hôn. Lòng Thu hồi hộp vô cùng, bỗng tự nhiên cô gọi: “Anh!”. Tiếng gọi ngắn ngủi nhưng tha thiết, chứa đựng tất cả tình cảm nồng cháy của Thu. Gió reo cười ngoài bờ tre trước ngõ. Tiếng nhạc êm đềm lan ra xóm làng, tan trong không gian tĩnh lặng đầy trăng. Đám cưới thời chiến không có pháo mà chỉ có những tràng vỗ tay. Nhưng những tràng súng liên thanh phía đồn bốt giặc xa xa, gợi lại tiếng pháo đám cưới của thời bình.

    Đêm đã khuya lắm, y sĩ Lê Thu vẫn thức bên ngọn đèn bàn. Trước mắt là cuốn nhật ký nhiều trang đã hoen ố. Thu không đọc thêm những trang nhật ký, nhưng những mẩu đời vui buồn thời con gái cứ hiện lên rõ ràng trong đầu óc chị. Đã ba chục năm rồi mà sao nó chẳng hề phai nhạt. Người ta bảo thời gian như liều thuốc thần chữa lành được mọi vết thương, sẽ xóa đi những nỗi đau thương cũng như làm phai mờ mọi kỷ niệm êm đẹp. Nhưng đối với chị, thời gian ba mươi năm hình như chưa đủ để phủ một lớp bụi mờ lên quãng đời son trẻ của chị. Nó lần lượt hiện lên trong tâm trí chị như mới xảy ra ngày hôm qua.

    Thu còn nhớ rõ lắm, hồi ấy, giữa lúc gia đình Thu lâm vào cảnh đói, Thu phải đi mò cua, bắt ốc bán lấy tiền thêm cho mẹ nuôi được cả nhà, thì Quang xuất hiện. Hôm ấy, Thu chưa kịp lên nhà chị Hiền thì chị nhắn qua mấy đứa cháu gọi Thu lên. Chị Hiền là họ hàng của Thu, ở xóm Đông cách nhà Thu hơn cây số. Chị đi lấy chồng đã hàng chục năm nhưng nghe nói vợ chồng chị lủng củng với nhau, sống chẳng có gì là êm đẹp. Anh chồng đi công tác biền biệt quanh năm chả mấy khi ngó ngàng đến chị. Trước kia chị đến nhà Thu luôn, nhưng từ hồi cải cách, nhà Thu bị lên thành phần lại bị quy là phản động, rồi bị bao vây, chị không dám đến nữa. Hôm nay không biết có việc gì mà chị nhắn Thu lên. Bây giờ thì du kích người ta không bao vây nữa nên Thu đi lại cũng được dễ dàng, chẳng có ai kiểm tra. Thu lên nhà chị vào buổi chiều. Nghe tiếng chó sủa, chị Hiền vội vàng chạy ra cổng. Trong nhà hình như đang có khách. Trông thấy Thu chị mừng rỡ ra mặt, nhưng rồi chị kêu lên: “Thu đấy à? Trời ơi, em tôi! Trông em xanh quá đi mất thôi! Gầy xọp đi nữa!”. Ngừng một lát chị phân bua: “Từ ngày chú Phan bị… không may…, chị đã đánh liều xuống nhà em thăm chú, nhưng đến nơi thì du kích họ bắt chị. Họ bảo chị là xuống liên lạc với địa chủ phản động. Rồi họ cảnh cáo đuổi chị về. Chị thương chú thím, thương các em nhưng chị chả dám xuống nữa”. Chị phàn nàn thêm: “Thời nay người ta coi người như con sâu, con mọt ấy. Chị cũng phải phòng thân, lỡ người ta lại quy mình là phản động đem ra bắn giết thì kêu ai!”. “Hình như trong nhà chị có khách?” - Thu hỏi. “Ừ, có đấy, để chị nói cho mà nghe”. Chị ghé sát vào tai Thu trả lời nhỏ. Cổng nhà chị cách nhà một mảnh vườn rau. Gần cổng lại có cây nhãn cành lá sum xuê, che khuất một góc nhà. Chị kéo Thu đến bên gốc nhãn, thì thầm: “Nhà cái anh Quang đấy em ạ”. Thu giật mình: “Quang nào chị? Sao lại anh Quang ở đây?”. “Anh Quang con ông Cửu Minh ấy mà, cái ông ở làng Hoàng ấy!”. Chị tiếp tục giải thích trước vẻ ngỡ ngàng của Thu: -“Khốn khổ, anh ta cứ nhờ cậy chị hai ba lần, nói là cố mời em đến nhà chị để anh ấy nói câu chuyện. Anh ấy chưa dám xuống nhà em. Người ta cũng là người có học, đứng đắn, chị mới tin cho em đến đây. Gia đình anh ta là địa chủ kháng chiến, không bị tịch thu nên còn khá lắm. Không hiểu sao người ta lại biết chị em mình thân nhau. Lại biết hoàn cảnh em hiện tại đang gặp rất nhiều khó khăn. Anh ta tìm đến nhà chị làm quen từ lâu, nói mãi chị mới tin cho em biết để em đến nhà chị bữa nay. Em vào đi, vào đi…”.

    “Em không vào đâu - Thu giãy nảy - Tự nhiên lại gặp… người… ta!”

    Chị Hiền ngập ngừng giây lát, rồi chị lại khuyên Thu:

    “Em cứ vào gặp người ta một tí. Chả bằng lòng người ta thì thôi cũng được cơ mà. Vả chăng, nhà mình đang gặp bước rủi ro, mình phải biết xử nhũn với người ta em ạ!”. Lời nói của chị làm cho Thu nhớ đến cảnh ngộ của mình, nhớ đến những lời năn nỉ của mẹ, đến bát cháo cám sáng nay. Thu liều bước chân vào nhà”.

    Vừa trông thấy Thu, anh ta tỏ vẻ luống cuống lạ. Hai vành tai đỏ tía cả lên. Vẫn là cái anh Quang học lớp bảy năm nào, người chả có vẻ gì là đàn ông ấy. Trông anh ta cũng không khác trước mấy nhưng có vẻ già dặn hơn. Cuối cùng rồi anh ta cũng lấy lại được vẻ tự nhiên, anh mở đầu sau khi mời Thu ngồi xuống cái ghế trước mặt. Chị Hiền giữ ý, vội lấy cớ nấu nước chuyên chè, chị lảng xuống bếp. “Tôi xin lỗi Thu - anh ta nói - tôi đã đường đột xin gặp Thu ở đây. Nhưng Thu hiểu cho, tôi… tôi… không có cách nào khác!”. Thu cũng trở nên mạnh bạo. Một ý nghĩ thoáng hiện trong đầu Thu. Cô trả lời nửa đùa nửa thật: “Anh cũng đường đột, cũng không có cách nào khác như cái hồi anh viết thư bỏ trộm vào vở tôi chứ gì!”. Câu nói ấy làm cho Quang đỏ cả mặt. Anh nghĩ bụng: “Thì ra Thu đã biết cả. Càng tốt! Càng dễ ăn nói lúc này”. Cố kìm nỗi xúc động, anh nói tiếp: “Thu đã hiểu tình cảm của tôi đối với Thu rồi đấy. Nhưng mong Thu hiểu đúng cho tôi, tôi… tôi… không phải là kẻ cơ hội, lợi dụng lúc gia đình Thu gặp nạn để yêu… cầu… Tôi chỉ muốn giúp Thu lúc này. Gia đình tôi cũng bị quy là… địa… chủ, nhưng không bị tai vạ quá khủng khiếp như gia đình Thu! Tôi biết gia đình Thu đang lâm vào cảnh… túng thiếu. Gia đình tôi thì còn dư thóc gạo. Thu biết đấy, cha tôi làm thuốc, chỉ đi trị bệnh cứu người nên cũng không đến nỗi túng đói. Thu về nói với bác… ngày mai cho phép tôi được chuyển một số gạo xuống… gia đình Thu. Bây giờ không bị bao vây nữa, tôi sẽ nhờ người đèo bằng xe đạp xuống”.

    Quang nói một hồi rồi ngước mắt nhìn Thu. Anh trông thấy Thu cúi mặt xuống, ngồi im. Rồi anh thốt lên lời than thở rất khẽ, nghe như tiếng gió thoảng. “Trời ơi, trông em sút đi nhiều quá!”. Rõ ràng Thu trông thấy đôi mắt anh chớp chớp và nước mắt trào ra. Anh quay mặt đi nơi khác, rồi vội đứng dậy đi ra phía góc nhà lấy chiếc khăn mùi xoa trong túi quần ra lau mắt. “À, thì ra người đàn ông tưởng là ngổ ngáo ấy là thế!”. Thu bỗng nghĩ đến hoàn cảnh gia đình mình lúc này. Từ chối sự giúp đỡ đầy tình cảm của Quang lúc này ư? Thu không dám. Cử chỉ đó sẽ trở thành lố bịch, hơn nữa trở thành một thứ vô trách nhiệm với mẹ, với em, không thể bào chữa. Ôi số mệnh! Thu chẳng bao giờ tin ở số mệnh, nhưng bây giờ bắt buộc Thu phải nghĩ đến nó. Thu không yêu Quang, nhưng cô thật sự tôn trọng cử chỉ hào hiệp của Quang lúc này. Có lẽ Quang đã luôn luôn theo dõi cô, đã chiến thắng được những tính toán cá nhân để đến với cô. Làm sao cô có thể từ chối lòng tốt của Quang! Số mệnh như đã an bài, Thu làm sao cưỡng nổi!

    Khi Quang đã ra về, chị Hiền trông thấy nét mặt Thu chẳng có vẻ gì vui, chị cũng khó nghĩ. Chị trải chiếc chiếu xuống nền nhà, kéo Thu ngồi xuống. Chị hỏi thăm sức khỏe của mẹ Thu, em Thu. Nước mắt chị chảy trên đôi má và vầng trán chị hằn lên những nếp răn đầy ưu tư. Chị bảo Thu: “Chốc nữa em mang về mấy đấu ngô mà ăn tạm. Nhà chị bây giờ cũng chỉ trông vào ngô, khoai. Đang lúc giáp hạt mà!”. Thu buột miệng hỏi chị:

    - Người ta quy chị thành phần gì?

    - Nhà chị thì trung nông thôi. Nhưng ông bà sinh ra chị thì cũng bị quy là địa chủ!

    - Thế anh có hay về không chị?

    - Em còn lạ gì cảnh vợ chồng nhà chị nữa! - Chị Hiền buồn rầu trả lời - Hồi còn kháng chiến thì anh còn hay về. Từ ngày hòa bình đến giờ thì ít lắm. Còn từ khi cha mẹ chị bị lên thành phần thì anh không về nữa, cũng chả thấy thư từ gì.

    - Thế chị ở đây có một mình thôi à chị? - Thu hỏi làm chị càng buồn thêm. Chị trả lời giọng mới tái tê làm sao!

    - Một mình chứ còn ai nữa đâu. Hồi kháng chiến, anh đi công tác thì bác gái, mẹ chị còn thỉnh thoảng đến ở đây với chị, có mẹ có con vui vui một tí. Bây giờ bác lên địa chủ sợ liên lụy đến các con nên bác chả đến nữa.

    Thu bỗng đăm đăm nhìn ra phía hai gốc nhãn góc vườn cành lá xanh tốt, tỏa bóng rộng xuống lối đi cạnh ngõ, đôi mắt xa xôi suy nghĩ. Một khóm hồng nở hoa, màu hồng tươi và màu trắng chen nhau. Những cánh bướm đủ màu sắc trong khu vườn lộng gió của chị, gợi lại cho Thu những kỷ niệm khó quên. Nơi đây, mới vài năm trước vẫn còn là nơi hò hẹn giữa Thu và Sơn, trong những buổi được nghỉ ngơi sau những ngày căng thẳng miệt mài trong công việc. Bất giác Thu phàn nàn với chị:

    - Cây nhãn vẫn tươi tốt như xưa, cả khóm hồng, cả hoa lá nữa chị ạ. Chỉ có con người là thay đổi mà thôi!

    Chị Hiền như hiểu được ý em muốn nói, chị nhớ lại:

    - Ừ, dưới hai gốc nhãn ấy, hồi em còn làm ở văn phòng Huyện ủy, cứ mỗi khi được ngày nghỉ về chơi với chú Sơn, là hai người lại ra đây ngồi hóng mát. Có lần chú Sơn ngắt một nụ hồng đẹp nhất cài lên mái tóc em rồi cứ nhìn mà cười. Chị còn nhớ như in. Chị cứ tưởng là câu chuyện của các em rồi thế nào cũng kết quả. Em sẽ không phải chịu cái cảnh như chị. Ai ngờ...!

    Nghe đến đó Thu bỗng hồi hộp hỏi chị:

    - Chị bảo “ai ngờ” thế nào hở chị?

    Chị Hiền nhìn thẳng vào đôi mắt ngạc nhiên của Thu như để thăm dò ý nghĩ của em. Rồi chị trả lời thong thả:

    - Chị nghe nói chuyện của các em không thành mà. Nghe cán bộ ở huyện nói là chú ấy đã… cắt… đứt… liên hệ với em… Có phải thế không? - Chị nhìn Thu thăm dò.

    - Gần hai năm nay em không nhận được tin tức anh ấy, chứ không phải là cắt… đứt chị ạ!

    - Trời ơi, em tôi! - Chị Hiền bỗng kêu lên. - Trong cái thời buổi đấu đấm này mà đã hai năm người ta không tin tức, không thư từ gì mà em vẫn còn tin là không phải là cắt đứt! Khổ thân em tôi! Bặt vô âm tín như thế là họ ngại mình rồi! Họ là cán bộ cốt cán mà, họ chúa sợ liên quan. Như thế là họ cắt đứt rồi đấy!

    Những lời nói của chị Hiền cứ như những gáo nước lạnh dội vào niềm hy vọng cuối cùng còn rớt lại trong lòng Thu. Cô nghe chị giải thích thêm, những lời chị nói nó mới đau xót làm sao!

    - Đã yêu nhau thì phải như cái anh Quang ấy. Chị chả biết em có ưng anh ta không chứ cái nhà ấy thì rõ ràng anh ta yêu em thật sự. Anh ta chả sợ ai dị nghị, anh ta vượt lên trên tất cả tai tiếng để tìm đến em. Anh ta đến nói với chị không biết bao nhiêu lần, nhờ giúp để gặp em. Rõ khổ cho anh ta!

    Càng nghe chị nói, Thu càng cảm thấy đau đớn ê chề. Người ta có thể cắt đứt được tình yêu đối với nhau một cách tàn nhẫn như thế ư? Lòng người thay trắng đổi đen, biết đâu mà lường trước! Thu như nghe những lời oán trách đó từ trong thâm tâm mình nói ra. Mẹ Thu đã bao lần nhắc nhở Thu cái điều oan trái ấy, nhưng sao Thu vẫn hy vọng, vẫn không muốn công nhận những sự thật xót xa.

    Mối tình đầu chung thủy bất diệt vẫn sống trong lòng cô, vẫn cho cô sức mạnh và biết bao hy vọng. Hôm nay không ngờ chị Hiền, người đã vun đắp cho mối tình của Thu trước kia, lại đã nói với Thu những lời chua chát. Chị như đã giãi bầy cho Thu nghe sự thật phũ phàng, làm tiêu tan cả những gì là hy vọng cuối cùng còn lại trong lòng Thu. Là vì chính chị cũng đang trong tâm trạng rối bời. Trong cơn sóng gió của cuộc đời, tình cảm của chị đã bị tổn thương, lòng tin của chị phần nào bị giảm sút. Cho nên chị đã khuyên Thu theo kinh nghiệm đau xót của chị. Việc chồng con của chị cũng đã gặp phải cảnh ngộ đáng buồn. Anh ta chê chị là quê mùa đã muốn bỏ từ lâu, nhưng hàng tháng anh ta vẫn đều đều nhận tiền của chị gửi ra để chi tiêu. Người vợ cần cù đã ra công tiết kiệm, không nỡ ăn ngon, không dám mặc tốt, tháng ngày còng lưng hy sinh cho chồng thoát ly công tác. Nhưng người chồng phụ bạc kia không cần biết đến những điều đó. Mua xe đạp mới y viết thư về bắt vợ bán thóc. Mua đồng hồ đeo tay tốt y bắt vợ bán lợn. Chị đã cung phụng cho y bao nhiêu là mồ hôi nước mắt để ngày nay y đền đáp công lao vợ bằng sự ruồng bỏ không thương tiếc. Cải cách ruộng đất đợt bốn, mới đầu bố mẹ chị là trung nông. Đến bước ba, ban chỉ huy đội thấy số địa chủ trong toàn xã chưa đủ năm phần trăm như mức quy định của Đoàn ủy, liền chỉ thị gắt gao cho các anh đội và cốt cán truy tìm thêm địch. Không ngờ số phận con người lại bị liên lụy cả vào những phần trăm khốn khổ và cứng nhắc đó! Cô đội trưởng đang được biểu dương là gương mẫu đánh địch không chút thương xót, sợ cấp trên lại cho là mình là hữu khuynh bỏ sót địch, nên cô suy nghĩ rất lung rồi quyết định theo đúng lời dặn của ông đoàn ủy viên phụ trách cụm: “Thà tả một tí còn hơn mang tiếng là hữu!”. Thế là cô chẳng ngại ngần gì kích ngay tám gia đình trung nông loại khá lên địa chủ cho đủ mức. Bố mẹ chị Hiền ở trong tám trường hợp không may này. Tức thì người chồng bạc nghĩa của chị Hiền nắm lấy cơ hội tốt này để tỏ rõ lập trường kiên định của mình. Anh viết thư về tuyên bố “dứt khoát” với người vợ là con địa chủ mà gia đình đã cưới cho từ trên chục năm nay. Chị Hiền buồn lắm! Người ta bảo “dậu đổ bìm leo”, “họa vô đơn chí” là thế đấy. Chị đã biết từ lâu anh chồng của chị đã lén lút tằng tịu với một cô mậu dịch viên nào đó trẻ hơn, đẹp hơn. Nay thì chắc anh ta đã công khai cưới nó rồi! Chị đem những kinh nghiệm đời chị khuyên cô em gái họ:

    - Em xem, chị ăn ở với chồng, với gia đình chồng như bát nước đầy mà người ta còn đổ hắt đi nữa là! Lấy nhau đã hàng chục năm, đầu gối tay ấp mà người ta còn vin vào lý do con địa chủ để cắt đứt! Đấy, cũng cán bộ như chú Sơn đấy. Bây giờ em còn tin tưởng họ sao được, em muốn mang lụy vào thân như chị nữa hay sao?

    Yên lặng một lúc, chị kết luận:

    - Đàn ông họ bạc lắm, chả mấy người hẳn hoi đâu. Họ hay phụ người lắm! Sao mà thời xưa ông bà ta lại gắn bó với nhau như vậy. Thời nay lắm chữ lắm nghĩa mà xem ra họ ăn ở không có hậu!

    Thu đã hiểu rõ những điều u uất trong lòng chị. Thu thở dài! Hồi còn công tác ở Huyện ủy Thu đã nghe bố nói, khi con người mất đi cái lòng tin đối với hiện tại thì người ta quay về thời xưa, người ta luyến tiếc cái thời con người còn chất phác, còn ít làm hại lẫn nhau. Thu tìm được câu an ủi chị:

    - Thà người ta phụ mình, mình không phụ người ta, lương tâm mình không cắn dứt chị ạ. Rồi chị sẽ tìm được người tốt. Em cầu mong cho hai chị em mình thoát khỏi được số phận hiện nay!

    Chị Hiền bỗng thấy ghét cay ghét đắng cái thứ cán bộ như chồng chị. Chị nói với Thu như chị vẫn nghĩ:

    - Chờ cho họ phụ mình thì già em ạ! Họ là một giuộc cả thôi! Em cứ xem những anh Đội cải cách về xã mình thì thấy đấy. Họ như thế đấy. Chồng chị cũng thế! Chú Sơn cũng thế. Em chờ đợi họ làm gì? Lấy cái nhà anh Quang đi. Nó còn hơn chán vạn đứa khác!

    - Chị ơi, em phải chờ gặp được anh Sơn đã. Chờ hai mặt một lời xem… nó… ra sao đã chứ. - Thu trả lời.

    Tự nhiên Hiền thấy ghét lây đến cả Sơn. Chị thấy cần thiết phải trả thù những loại người ấy. Mặc dù chị thấy tình yêu của Thu là bền chặt, mặc dù chị thấy ý nghĩ của Thu là hợp lẽ, nhưng không hiểu sao chị cảm thấy cần thiết phải phá cái đám cưới còn đang nặng hứa hẹn này. Không do dự, chị giải thích tiếp:

    - Giữa lúc nhà em bị tai nạn, nó lại cùng công tác với chú Phan trong lúc chiến tranh, ăn ở nhà em, bố mẹ em đã coi nó như người nhà, hơn nữa coi như con, mà lúc này nó không tin tức, không dám bén mảng đến nhà. Yêu em thật sự mà nó thế à? Có chết nó cũng phải một lần lăn xả về mới phải đạo chứ! Em còn tiếc nó cái nỗi gì?

    Chị Hiền hết lời an ủi Thu, khuyên Thu bỏ Sơn. Mắt chị đã ráo hoảnh từ bao giờ. Trong lòng chị hình như chỉ còn lòng căm thù người chồng phụ bạc, và con người chị coi cũng giống như thế là Sơn. Chị nói như tận trong đáy lòng:

    - Thân cò cũng như thân chim, chị chả muốn cho em rơi vào tình cảnh như chị, chị chả muốn em tin vào những hạng người ấy. Chà, chà, yêu với đương! Cháy nhà mới ra mặt chuột! Thiết gì những loại ấy nữa mà cứ xô mình vào!

    Đôi mắt tư lự của chị nhìn xa xôi. Thu biết chị đang suy nghĩ nhiều lắm. Bão táp đang nổi lên trong lòng chị. Bão táp cũng đang thổi mạnh trong lòng Thu. Tại sao cuộc đời của những người phụ nữ như chị em Thu lại đầy sóng gió? Thu không thể tự giải thích. Bên tai Thu như văng vẳng lời ru của mẹ từ ngày xa xưa: “À ơi… Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!... À ơi… Lạ gì bỉ sắc tư phong… a… aa… Trời xanh quen thói… i… má hồng… à… đánh ghen… ơ… ơ…”.

    Gió thổi vào tim Thu lành lạnh. Gió thổi vào lùm cây nhãn trước cổng nghe ào ào như sóng cuộn phương xa.

    ***

    Đêm hôm ấy trời mưa rả rích thâu canh. Gió thốc vào gian nhà của ba mẹ con Thu, thỉnh thoảng tạt những giọt mưa vào tận giường nằm. Mái nhà lại dột, nước rơi lộp bộp phía chân giường và chỗ bàn thờ. Thu trằn trọc không ngủ. Những ngọn gió đầu mùa đông chui vào gian nhà trống, đem cái lạnh vào tận ruột gan Thu. Khác với những đêm mưa trước đây ở văn phòng Huyện ủy còn để lại biết bao kỷ niệm êm đềm và ấm áp. Những đêm mưa xung quanh cái bếp lửa than hồng, Thu và Sơn đã chia cho nhau từng củ sắn lùi. Mùi sắn cháy mới thơm ngon làm sao! Phần cơm tối của Sơn mọi khi lạnh ngắt, nay đã có người hâm nóng lại. Thu quên sao được đôi mắt Sơn nhìn Thu cám ơn thầm kín. Đôi mắt ấy chứa đựng niềm tin yêu đối với Thu. Không thể nào dập tắt được hình ảnh con người ấy trong tâm trí của Thu. Con người ấy đã kéo tấm chăn lên kín ngực Thu những khi Thu cảm sốt. Con người ấy đã thức bên mình Thu thâu canh khi Thu còn mê sảng. Bàn tay Sơn đã nắm chặt lấy tay Thu truyền cho Thu sức mạnh. Thu thấy lòng mình ấm lên giây lát. Sau những ngày công tác xuống cơ sở, đi sâu vào lòng địch hay chỉ huy chống càn quét của địch, Sơn lại về văn phòng Huyện ủy. Sơn lại có mặt bên Thu. Cái con người trông khô khan và khắc khổ ấy lại hóa ra cũng có nhiều tình cảm sâu lắng. Thu phát hiện ra Sơn thuộc rất nhiều thơ, nhất là loại thơ tình của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử hay Lưu Trọng Lư. Thời kháng chiến đọc thơ ấy người ta phê bình, nên Sơn chỉ dám đọc riêng cho Thu nghe mỗi khi chỉ có một mình Thu với anh. Có khi anh lại đọc cho Thu nghe một bài thơ dịch từ tiếng Pháp. Có lẽ là những bài thơ anh thuộc từ thời còn là học sinh trước ngày cách mạng tháng Tám. Nhưng cái để lại trong lòng Thu sâu lắng nhất là đôi mắt anh đã say đắm nhìn Thu. Anh đã ngồi cạnh Thu hàng giờ nhìn Thu khâu vá. Đã có lần Thu phát gắt: “Sao anh cứ nhìn em mãi thế? Em ngượng lắm!”. Anh chỉ cười. Anh là con người làm chủ được mình, chế ngự được những tình cảm bồng bột. Anh không có những biểu hiện vồ vập hay nổi sóng gió trong tình cảm đối với Thu. Anh chỉ nâng niu nó, Thu có cảm giác như thế, gìn giữ và quý trọng nó, như luôn luôn sợ nó mất đi!

    Ngày nay người ấy đã quên Thu được chăng? Lời nói của chị Hiền như một sự thật phũ phàng đã phần nào đánh gục được lòng tin của Thu. “Đã yêu nhau thì phải như cái nhà anh Quang ấy… Phải có gan vượt lên tai tiếng mà đến với em chứ!... Thấy gia đình người mình yêu bị nạn, dù có chết cũng phải lăn vào một lần…”.

    Trái lại, anh không thư từ, không thăm hỏi, không một lời nhắn tin! Thôi thế là hết! Có lẽ nó chấm dứt thật sự rồi! Thu thấy chán chường và vô nghĩa lạ. Thu thở dài. Bên cạnh cô đứa em trai bảy tuổi đang ngáy o o, sấm ầm ầm như tiếng bom dội xung quanh. Những tia chớp lóe sáng hắt vào gian nhà lạnh. Rồi màn đêm lại đen như mực. Hình ảnh Sơn nhạt dần, nhạt dần sau bức màn đêm ấy. Thu thấy nước mắt mình giàn giụa. Rồi hình ảnh Quang lại hiện đến. Con người Thu không yêu nhưng anh đã tìm đến giữa lúc gia đình Thu lâm nạn. Ngày mai đây và cả những ngày sau nữa chắc chắn là gia đình Thu sẽ sống bằng lòng hào hiệp của anh, sẽ được anh cưu mang. Thu sẽ đồng ý lấy anh làm chồng! Ôi tình yêu nào chân chính mà chẳng nhuốm những hy sinh! Ông bà ta đã dạy ta qua câu nói có ý nghĩa “một miếng khi đói bằng cả gói khi no”. Thu phải đền đáp lại sự cưu mang của anh. Không còn cách nào khác. Rồi đám cưới của Thu sẽ được mau chóng tổ chức. Chắc chắn như thế. Giữa cái thời buổi khó khăn này chả ai kéo dài sự đi lại ra làm gì! Có thể Thu sẽ sống trong tình yêu mới. Cũng có thể Thu phải sống trong tiếng thở dài. Thu thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề. Trong giấc ngủ ấy, Thu thấy hiện lên mấy gốc nhãn xanh tươi trong góc vườn nhà chị Hiền. Cả khóm hồng nữa. Khóm hồng đầy hoa, lá. Cây cỏ còn tốt tươi nguyên vẹn, sao lòng Thu đã thay đổi! Thu bỗng thấy xuất hiện từ sau khóm hồng nét mặt giận dữ của Sơn. Đôi mắt Sơn nhìn Thu đầy oán trách, nhưng vẫn chứa đựng một tình yêu nồng cháy như xưa. Hình như trên khuôn mặt ưu tư của Sơn hằn lên những nét đau khổ làm cho lòng Thu tê tái. Thu như nghe bên tai mình có tiếng nói của Sơn: “Sao em không giữ được tình yêu chung thủy giữa chúng ta! Sao nỡ quên nhau giữa lúc này!”. Rồi Sơn lặng quay đi, không do dự, không luyến tiếc. Cả bầu trời quanh Thu như trở nên trống rỗng. Thu hớt hải chạy theo bóng Sơn đang khuất dần. Cô níu lấy Sơn, cố kéo Sơn trở lại. Giọng cô run lên qua nước mắt: “Anh… anh bỏ em đấy à? Emmm… em đợi anh! Sao anh nỡ nghi ngờ em! Những năm công tác trên văn phòng Huyện ủy em đã học được ở các anh, ở bố em… bao nhiêu điều hay, bao nhiêu điều trung thực… Tình nghĩa ràng buộc nhau trong chiến tranh, trong bom đạn của giặc, trong sự nghiệp chung của mọi người như các anh đã nói, em quên sao được…”. Tiếng nức nở của chính Thu làm cho cô bừng tỉnh. Nước mắt Thu ướt đầm cả một bên má. Cô mở mắt nhìn gian nhà tối đen như mực. Ngoài trời mưa vẫn đổ xuống từng cơn. Thu gạt mọi những ý nghĩ để lòng mình được một phút thanh thản nhưng sao những ý nghĩ cứ liên tiếp xâm chiếm đầu óc Thu. Những lời dặn dò đầy tâm huyết của cha Thu, một người cha cương nghị mà số phận khắc nghiệt giáng xuống đầu làm Thu không thể nào hiểu nổi, đã nói với Thu trước khi chết: “Con là con gái nhưng con hãy làm nhiệm vụ của đứa con trai vì em con còn nhỏ. Con phải can đảm lên mà sống, sống và nói cho được nỗi oan của bố, cho các đồng chí của bố biết sự thật, để cho lịch sử không còn bao giờ lặp lại những việc vô trách nhiệm như việc đã xảy ra với bố”. Rồi bố Thu phàn nàn tiếp mỗi câu: “Trong kháng chiến chống Pháp chín năm, khi phá tề, khi chống càn, bom đạn rơi trên đầu, nhiều lúc cái chết kề bên nhưng bố vẫn không chết. Nay hòa bình lập lại được vài năm, nước nhà lại chưa thống nhất, bố lại phải chết trong nỗi chua xót không lời nào tả xiết này! Bố thật không thể hiểu được vì sao lại phải gây nên cảnh tàn khốc này giữa lúc Bác Hồ đang nêu lên ngọn cờ đại đoàn kết để thống nhất đất nước!”. Thu đã hứa với bố: “Con sẽ ghi lòng tạc dạ những điều bố nói. Bố!... Bố hãy tin ở con! Con sẽ kêu lên đến… Bác Hồ, để Bác biết đến… điều oan của bố!...”. Tự nhiên Thu cảm thấy tâm hồn mình như rắn lại. Nó như được rèn luyện quá khắc nghiệt qua bao nỗi gian lao. Không thể quên lời bố dặn! Không thể từ bỏ cả những điều nguyền ước cũ. Thu đã tìm ra chân lý. Phải, nhiều đồng chí của cha Thu, các bác, các chú của Thu toàn dạy Thu điều hay lẽ phải. Nhờ họ mà Thu mới có được trí tuệ như ngày nay. Vài ba năm công tác, Thu đã học được hơn cả nhiều năm cắp sách đến trường. Thu hiểu được cuộc kháng chiến gian khổ, hiểu được sức mạnh của nhân dân, Thu đã tự nguyện đóng góp sức lực nhỏ bé của mình vào công việc chung. Chính họ, những người chú, người bác đó cùng ăn khoai sắn với Thu, đã nhường cho Thu chiếc hầm cá nhân khi bom giặc dội xuống gần văn phòng Huyện ủy. Tất cả không ai muốn cho Thu phải khổ. Tất cả không ai muốn để mẹ Thu phải khóc đến bị lòa! Không ai muốn em Thu phải đói. Tại sao gia đình Thu lại rơi vào hoàn cảnh này? Tại sao? Thu không tìm được câu trả lời. Một ánh chớp lóe sáng! Tiếp theo là tiếng sấm rền cắt đứt luồng suy nghĩ của Thu. Bà Phan hình như cũng không ngủ, bà cựa mình và thở dài luôn. Thằng Thủy giật mình vội vàng ôm ngang lưng chị. Mưa bên ngoài rả rích. Gió đập phành phạch vào những tầu cau trước nhà. Nước rơi lộp bộp từ trên mái nhà dột xuống chiếc phản gỗ gian bên, nghe đều đều như tiếng nhịp của bản đàn mưa gió giữa đêm khuya, nghe buồn nẫu ruột!

    Ngay sáng sớm hôm sau, gia đình Quang đã cho đứa cháu đèo một tải gạo xuống nhà Thu. Gia đình ấy họ cũng cẩn thận. Họ xin phép trước các cốt cán ở xóm. Nghe đâu dạo này ở trên cũng có lệnh xuống là nới lỏng sự bao vây các gia đình địa chủ, cần thiết thì để họ hàng hay người thân tiếp tế cho các hộ thật sự bị đói. Vì thế mà việc Quang tiếp tế gạo cho gia đình Thu cũng không gặp khó khăn gì. Liên tiếp những tuần sau, tuần nào anh ta cũng cho người tiếp xuống, khi thì gạo, khi thì ngô. Có lần lại cả vải cho bà Phan may áo quần cho thằng Thủy. Một hôm Quang theo chiếc xe thồ gạo của đứa em họ xuống thăm gia đình Thu. Anh ta hí hửng tưởng dễ dàng như mọi lần, đến chỗ điếm canh đầu xóm Quang chẳng thèm chào mấy anh du kích cốt cán, cứ lẳng lặng theo chiếc xe đi. Không ngờ hôm ấy lại gặp ngay cái anh cốt cán cố nông “đấu rất hăng” trong cải cách đợt bốn, được anh đội trưởng bắt rễ, đang ngồi trong điếm. Anh ta trông thấy Quang mặc chiếc áo sơ mi màu trứng sáo còn mới tinh, biết ngay là con địa chủ, liền quát: -“Đi đâu?”. Không chờ cho Quang kịp trả lời, anh ta nói thêm: -“Đến liên lạc với địa chủ hả? Mới cải cách xong năm ba tháng đã cấu kết với nhau!”.

    Thấy anh cốt cán chỉ bằng tuổi em út mình nhưng hách quá, Quang đành đấu dịu. Anh ấp úng: -“Bẩm… bẩm… các anh cốt cán… chúng tôi đã xin phép…”. Anh ta liền chỉ vào mặt Quang bắt bẻ: -“Chỉ láo! Phải gọi chúng tao bằng “ông bà nông dân”, “bẩm ông bà nông dân”. Không được xưng ngang với chúng tao là các anh cốt cán!”. Rồi anh ta ách Quang lại. Quang cố nằn nì, chịu đựng “bẩm các ông nông dân cốt cán…” để xin vào thăm Thu. Quang chịu nhũn như con chi chi cũng chỉ vì yêu Thu. Anh cốt cán bên cạnh thấy Quang nhăn nhó van xin liền nhắc khéo anh kia là đã có lệnh nới lỏng bao vây. Nhưng anh hách dịch nói nhỏ với bạn: “Phải cảnh giác! Đội đã nhắc từ lâu! Trông thằng này bảnh bao lanh lợi thế kia!... Phải cảnh giác!”. Anh ta quát: -“Chỉ một thằng được vào thôi, còn thằng kia về!”. Thấy Quang còn ngần ngừ, anh ta sờ tay với khẩu súng trường, dọa: -“Về ngay! Đã bảo về là về! Đừng có mà lờn với các ông bà nông dân!”. Thế là Quang đành lủi thủi ra về, lòng nặng trĩu nhục nhã! Ai bảo anh lại tìm cái áo sơ mi sáng choang để mặc. Thời buổi người ta đang khoe cái nghèo đói, cái rách rưới, cái dốt nát thì anh lại đem cái áo mới màu trứng sáo ra mà mặc. Tóc tai anh lại không để cho nó rối bù lên như cái tổ cú ấy. Nét mặt anh lại không làm ra vẻ nhem nhuốc chân lấm tay bùn, mà lại sạch sẽ, sáng sủa thế kia! Chẳng nhẽ đến nhà người yêu lại ăn mặc rách rưới! Lúc ở nhà ra đi, bà Cựu Minh, mẹ Quang đã cẩn thận bảo: “Lấy cái áo cũ mà mặc, rách vá cũng được. Thời buổi này không phải là lúc chưng diện. Mới đủ bát cơm, manh áo đã trở thành địa chủ rồi đấy, anh liệu mà mặc”. Quang thấy mẹ nói đúng nhưng không muốn mặc chiếc áo rách để xuống nhà Thu. Chẳng lẽ may được chiếc áo đã cất từ mấy năm nay, đã qua thời đấu tranh chính trị, qua giảm tô, qua cải cách không dám mặc, đến nay đã xong cả đấu tranh rồi lại vẫn phải cất đi. Các cụ hay lo sợ đấy thôi. Cả cuộc đời các cụ sống trong lo sợ, trước sợ Tây, sợ Nhật, bây giờ lại sợ đấu tố! Sợ cái thật đã đành, bây giờ lại sợ cả đến cái bóng, cái gió nữa! Ai ngờ thời dân chủ mà lại sống với cái lo ngay ngáy bên mình! Nghĩ thế nên Quang cứ mặc chiếc áo mới và rõ ràng anh đã bị đuổi về. Hồi học xong lớp bảy, thi đậu, trong huyện hết trường học, Quang đã xung phong đi bộ đội mấy lần, nhưng cũng vì người thấp bé mà bị loại. Quang phải ở nhà, nhiều lúc nhớ Thu, Quang đã có lần nói thật với cha mẹ để sang hỏi Thu cho anh. Mẹ Quang vốn tính thận trọng lại rút rát, bà đã khuyên con: “Phải biết mình biết người con ạ. Nó là con ông chủ tịch huyện, nó lại đi công tác trước con, nó đang có bao nhiêu đám cán bộ trên tỉnh, trên khu nhằm. Lại nghe nói cả mấy anh bộ đội bốn túi cấp đại đội, tiểu đoàn gì đấy dòm ngó. Con đã nên ông, nên bà gì mà chen chân vào!”. Nghe mẹ nói Quang buồn thiu, nhận ra cái vị trí còn thấp kém của mình. Từ đó nghe nói anh ta quyết tâm đi tìm trường học thêm, không nói năng gì đến chuyện vợ con nữa. Ít lâu sau Quang được tin Thu đã đính ước với Trần Sơn, Huyện ủy viên, người có trình độ và nhiều triển vọng nhất Huyện ủy. “Rồi tay ấy nó còn lên to!” - Nghĩ thế Quang càng buồn. Chả còn một tí hy vọng nào để anh mơ tưởng đến Thu. Trong thâm tâm anh cảm thấy chỉ còn có một con đường để trả thù sự thất bại đầu tiên này là học tập. Anh mơ tưởng sẽ học đến thành bác sĩ, sẽ như ông bác sĩ Hoàng nổi tiếng cả huyện Nga này. Anh sẽ nối nghiệp làm thuốc của bố, cái nghề nhân đạo, chỉ trị bệnh cứu người như bố anh thường nói. Không ngờ, việc đời thay đổi cảnh ngộ trớ trêu, số phận bỗng nhiên lại tạo cho anh cơ hội để có thể hỏi Thu làm vợ như anh từng mơ ước. Anh bàng hoàng như đang sống trong một giấc mơ, một giấc mơ vừa phũ phàng, vừa êm đẹp lạ thường. Trải qua các phong trào “đấu tranh chính trị”, “giảm tô”, “chấn chỉnh tổ chức”, “cải cách ruộng đất” đầy sóng gió, những cuộc nổi dậy hào hùng và đầy khí thế của nông dân, những trật tự ngàn năm bị đảo lộn, những nỗi oan trái bi thảm kèm theo, làm cho lòng người cũng xáo động hoang mang đến tận bề sâu trí tuệ. Những điều oan trái ấy đã buộc số phận của Thu vào anh.

    Khi Đội cải cách đợt cuối cùng rút đi, mười chính sách đối với địa chủ đã được công bố rõ ràng, Quang liền bàn lại với mẹ về việc hỏi Thu. Lần này thì anh quyết tâm thuyết phục bố mẹ. Lúc đầu ông Cựu Minh còn lưỡng lự: “Để từ từ xem người ta có sửa sai không đã. Hỏi bây giờ nhỡ người ta lại ghép cho cái tội “liên quan phản động” thì khốn”. Bà Cựu Minh thì lo cho tương lai của con. Bà nói: “Thằng Quang tuổi đã lớn mà vẫn chưa có vợ. Bây giờ nhà mình lên địa chủ hỏi vợ cho nó càng khó. Bần cố nông, trung nông ai người ta gả con cho địa chủ! Mà con gái các nhà ấy cũng chả có mặt mũi nào đáng hỏi cho thằng Quang. Lấy mấy đứa bần cố nông về để hơi một tí nó dọa đấu, để nó làm ngụy trong nhà này! Ông xem, hay để tôi nhờ người xuống làng Thạch hỏi quách cái Thu, con chủ tịch Phan cũ ấy cho thằng Quang”. Ông Cựu Minh thì vẫn thận trọng, mặc dầu ông cũng nôn nóng về lời đề nghị của con. Ông trả lời: “Cứ thong thả một tí, xem thời cuộc nó ra sao đã!”. Bà Cựu Minh nói: “Con bé ấy trước kia nó như hòn ngọc ấy. Nhà ấy mà không bị oan thì khối cán bộ khu, cán bộ tỉnh xông vào, chả đến phần con mình. Bây giờ thì họ chạy sạch, họ lảng ra hết!”.

    Dần dần, thấy tình thế trong toàn huyện bớt căng thẳng. Người ta nói nhiều đến sai lầm trong đợt bốn, đợt năm. Đội rút đi được một thời gian thì từ chính quyền đến các đoàn thể đều lỏng lẻo. Người cũ thì bị loại ra gần hết, các chi bộ cũ cũng gần như tan hoang. Chi bộ mới chấn chỉnh thì vừa yếu, vừa kém, các cốt cán mới nhiều người không biết cách làm việc. Họ thắc mắc lẫn nhau. Dân thì ngày càng nói thẳng những điều ấm ức trong lòng, chẳng úp mở nữa. Ông Cựu Minh cũng bất mãn với thời cuộc. Ông cũng không muốn cuộc sống của mình cứ bị gò bó mãi vào những dư luận khắc nghiệt, một phần cũng nể và chiều đứa con trai lớn tuổi có học nhất nhà, ông đồng ý để vợ nhờ người xuống hỏi Thu cho Quang. Ông đồng tình với bà: “Thời này thì địa chủ chỉ còn cách thông gia với địa chủ chứ còn biết thông gia với ai?”. Ông đọc khẽ một câu thơ: “Gặp thời thế thế thời phải thế!”. Và thế là Quang được toại nguyện.

    Ngày càng có nhiều tin đồn về Đội sửa sai sắp về làng. Dân khắp các xã trong toàn huyện bàn nhiều đến vụ xử oan ông chủ tịch. Bà Phan lại càng buồn tủi. Gia đình Thu đã qua những ngày đói kém. Thu thức nhiều đêm để viết sẵn những lá đơn, chờ có dịp là gửi đi kêu oan cho cha. Cả hai gia đình đã đồng ý xúc tiến cái đám cưới của hai đứa con. Gọi là đám cưới nhưng thực ra chỉ là một vài thủ tục tối thiểu đối với họ hàng còn lại và đối với tổ tiên cho phải đạo. Họ đều vừa trải qua những nỗi kinh hoàng và những tai biến thảm khốc nhất, còn gì nữa đâu mà dám tổ chức ngày vui cho các con. Thu thì tính từng ngày. Cô muốn kéo dài thời gian ra, đẩy lùi cái ngày cưới khốn khổ ấy lại. Mỗi ngày trôi qua cô lại như mất mát thêm một cái gì quý giá. Đó chính là niềm hy vọng được gặp Sơn. Nhưng cô biết bây giờ anh đang ở phương trời nào mà tìm. Cả Huyện ủy cũ cũng không còn nữa. Người ta đã thay thế cả. Một số ít còn lại thì cũng không biết tin tức Sơn ở đâu. Nghe nói anh cũng đi cải cách ruộng đất từ đợt bốn. Nhưng nay anh ở phương trời nào thì Thu làm sao mà tìm được. Các Đoàn ủy cải cách cho đến Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương, đối với Thu, một đứa con gái của một tên địa chủ phản động đương thời phá hoại thì có nghĩa lý gì! Thu làm sao tiếp cận được họ để kêu oan! Họ như những vì sao hung trên bầu trời, chỉ có thể khấn vái thầm, chẳng thể trực tiếp với tới. Trong khi đó thì cái ngày cưới ác nghiệt kia cứ đến gần. Thu bây giờ không còn thuộc cô nữa. Cô là niềm hy vọng của mẹ và của em. Cô đã thuộc về con người hào hiệp đã đến với cô lúc hoạn nạn. Thu đã là người của số phận. Nhưng sao Thu vẫn hy vọng! Chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày cưới.

    Hôm ấy, Thu đi làm cỏ lúa chỗ sào ruộng tận rộc Chùa mà Đội cải cách để lại cho gia đình cô. Gần trưa cô mới về để nấu cơm cho mẹ và Thủy. Trời cuối năm se lạnh và nắng hanh. Gió bốc bụi trên con đường cát trắng. Giữa đường Thu trông thấy một người đàn ông đang đạp xe phía trước mặt. Chiếc xe đạp còn mới nhưng bị khô dầu nên nó cứ kêu lên ken két. Đến gần Thu nhận thấy người khách tóc đã hoa râm, mặc quần kaki vàng, áo vét tông màu nâu đã cũ. Bên hông đeo chiếc xà cột da. Chắc là một ông cán bộ có cỡ nào đây. Thu ngờ ngợ vì dáng vẻ quen thuộc của ông, nhưng chiếc xe đạp đã vượt qua. Bỗng người khách hãm xe, dừng lại và quay nhìn Thu như để dò xét. Hình như ông khách suy nghĩ một lúc rồi hỏi:

    - Có phải… cháu là… cháu Thu, con anh Phan đấy không?

    Thu thấy hồi hộp, chăm chú nhìn bác, rồi cô bỗng kêu lên:

    - Bác Đạt! Bá… ác…, lâu lắm… cháu chả biết bác ở đâu!

    - Mà sao cháu ăn mặc rách rưới thế kia? - Bác nhìn vào chiếc áo nâu vá nhiều chỗ của Thu, mặt nhăn lại:

    - Trời lạnh mà mặc phong phanh thế kia! Con không có áo ấm à? - Trước kia bác vẫn gọi Thu là con. Bác nhìn vào rổ rau má, rau sam Thu đã nhặt được ở thửa ruộng bên cạnh. Vài tuần nay tuy có gạo, có ngô nhưng Thu vẫn phải dè xẻn, vẫn hàng ngày độn thêm rau, thêm sắn. Bác phàn nàn:

    - Cháu lại hái cả rau má về ăn đấy à? Chết thật! - Rồi bác giục Thu:

    - Thế nào? Thế nào? Gia đình cháu thế nào mà cháu đến nông nỗi này? Ơ kìa, sao cháu lại khóc? Thôi, đi về, hãy đưa bác về nhà đã! - Bác dắt chiếc xe đạp, kéo tay Thu cùng đi.

    Thu không trả lời những câu hỏi dồn dập của bác, nước mắt cô cứ trào ra. Trong giây phút, trên vầng trán đầy kinh nghiệm của bác hằn lên những đường răn. Bác đã đoán ra được cái gì đã xảy ra với gia đình Thu, nhưng bác chưa hình dung được tấm thảm kịch ấy bi đát đến mức nào. Giọng bác lộ hẳn vẻ lo âu, bác nói:

    - Lại lên địa chủ hay phú nông chứ gì? - Bác đã biết những quá khích của đợt bốn và đợt năm, nhưng bác vẫn chưa thể hình dung ra cái kết quả thảm khốc của phong trào chỉnh đốn tổ chức lồng vào các đợt cải cách. Bác nói với Thu:

    - Gia đình con, họ mà mù quáng đẩy lên thì cũng chỉ đến mức phú nông. Thế bố mẹ con ra sao rồi?

    Thu trả lời qua nước mắt:

    - Bác còn hỏi làm gì! Nhà cháu bị quy lên địa chủ! Bố cháu bị… người ta… bắn chết rồi!

    - Bị bắn chết! Bố cháu bị bắn thật à? Đứa nào bắn bố con?

    Hai mắt bác giương to hốt hoảng! Bác chỉ nghe tiếng thổn thức của Thu trả lời: - Đội cải cách!

    Bác Đạt bỗng kêu lên: - Trời ơi! - Bác dừng lại hồi lâu, suy nghĩ.

    Thu thoáng nhận thấy rõ ràng bác cũng hoang mang. Hình như tâm thần bác trong giây lát bỗng bị rối loạn. Bác không thể hình dung ra cái điều sét đánh ấy. Bác chưa thể nhận định ngay được đâu là phải trái. Trong đầu óc bác thoáng một nét nghi ngờ: “Phải là phạm trọng tội, họ mới xử như thế! Mình phải tỏ ra vững vàng tin tưởng mới được. Không thể để cho tình cảm cá nhân chi phối. Hơn ai hết mình phải đồng tình với phong trào cách mạng của nông dân, không thể nghi ngờ họ, không thể đả kích vào họ!”.

    Nhưng sao bác vẫn thấy tim mình bị đau nhói. Bác có cảm giác như chính mình bị kết án. Bác thở dài và lắc đầu vẻ ngao ngán. Bác cũng chả biết mình thở dài vì buồn cho cảnh ngộ của người đồng chí cũ hay buồn cho cái lập trường tình cảm của mình hiện tại. Nhưng rồi bác nhìn Thu, bác thấy hiện lên cả những kỷ niệm đã qua. Bác nhìn thấy những giọt nước mắt của Thu, nghe thấy tiếng nức nở của cô, trông thấy rổ rau má cô bưng bên hông, bác thấy thương Thu. “Ừ, nó có tội tình gì! Con bé này lúc nhỏ nó ngoan lắm. Bác nghĩ. Vừa đi học, vừa giúp mẹ làm đồng, lại làm liên lạc cho cha giữa thời kỳ bom đạn”. Lòng bác dần dần trấn tĩnh. “Chúng nó chỉ quy láo, quy lếu! Lại mấy anh đội lập trường quá khích gây ra chứ gì!”. Rồi hình ảnh gia đình Thu hiện lên trong trí nhớ của bác. Cả giai đoạn công tác ở gần ông Phan cũng còn như mới tinh. Bác không thể nhầm được. Bác vuốt tóc Thu an ủi:

    - Nín đi con! Đi về nhanh lên, rồi kể chi tiết cho bác nghe con! Bác sẽ hết sức…

    Nói đến đó bác ngừng lại. Có lẽ bác nghi ngờ khả năng của bác. Cái cơn lốc cải cách, chỉnh đốn tổ chức ấy nó cuốn mọi người đi theo, bác làm gì được bây giờ! Người ta chưa ra khỏi cơn lốc ấy. Chao ôi, cách mạng không phải là con đường bằng!

    Bác Đạt dắt xe phía trước, Thu theo sau. Hai bác cháu bước đi từng bước nặng nề, không ai nói với ai một lời nào nữa.

    Về đến nhà, vừa trông thấy mấy gian nhà tranh dột của mẹ con Thu, trông thấy bà Phan gầy võ, tiều tụy, trông thấy bàn thờ ông Phan quá sơ sài và tiêu điều, bác òa lên khóc. Bác khóc nấc lên: “Ối anh Phan ơi! Sao lại đến nông nỗi này, anh Phan ôi...i…ôi!”. Những giọt nước mắt như từ đáy lòng bác trào ra. Bàn tay bác run bắn lên, đốt mãi mới cháy được ba nén hương, bác cắm vào chiếc bát hương, rồi gục đầu hồi lâu xuống bàn thờ người đồng chí xấu số. Cả ba mẹ con Thu bật khóc theo bác. Chả biết bác gục xuống bao lâu, Thu chỉ còn nhớ khi bác ngửng lên thì chỗ tấm ván làm bàn thờ mà bác đã gục xuống, ướt đẫm cả nước mắt bác. Bác tháo chiếc khăn tay đang buộc ở xà cột chùi khô đôi mắt đỏ hoe. Phút chốc, Thu như thấy mái tóc bác bạc thêm ra, những nét nhăn hằn lên trên trán, trên má bác. Bác ngồi yên lặng, lắng nghe mẹ con Thu kể rành rọt về những tai biến đã qua, thỉnh thoảng lại lắc đầu thở dài. Bác nói một mình: “Hừm! Phản động!... Nếu anh Phan là phản động thật thì mình đã chết tám kiếp rồi! Thì cả cơ sở Huyện ủy tan nát hết rồi! Tan nát ngay từ cái ngày đang chiến tranh, chứ chẳng còn đến hòa bình này”. Bác lại nhớ đến thời gian về đây kiểm tra vùng du kích, đã hai lần bị giặc vây bất ngờ, đã hai lần đồng chí chủ tịch Phan bố trí cứu thoát. Bác quên sao được những ngày gian khổ ấy, những ngày mà bác và đồng chí Phan sống chết có nhau. Bác hỏi:

    - Bao nhiêu cán bộ trong Huyện ủy công tác với bố cháu trước đi đâu mà lại để cho bố cháu bị oan?

    Hỏi như thế nhưng bác Đạt cũng đã hình dung ra ngay cái tác dụng rất lu mờ của Huyện ủy, Tỉnh ủy trong cải cách ruộng đất, bên cạnh một tổ chức mới được thành lập có hệ thống từ trung ương xuống “Đoàn, Đội” mà uy quyền lấn át hết thảy, cái uy quyền mà quần chúng đã diễn tả bằng một câu nói mang nỗi khiếp sợ, nhưng ngắn ngủi “nhất Đội nhì trời”. Không khiếp sợ sao được khi mà Đoàn và Đội có mọi quyền hành, kể cả quyền bắn giết. Họ vừa nắm pháp luật, vừa giải thích pháp luật, lại vừa thi hành pháp luật. Họ vừa đá bóng, vừa thổi còi. Họ có quyền lập tòa án, có quyền bắt người và xử bắn ngay lập tức. Kẻ địch không có quyền nói lại một câu, không có quyền kháng án, kêu oan, còn nói gì đến quyền bào chữa! Cái nguy hiểm chết người nữa là: những ông chánh án, bà hội thẩm được chỉ định cũng như ông công tố trong các phiên tòa cải cách ruộng đất lại là những cốt cán bần cố nông dốt nát và chây lười mà Đội đã bắt rễ, có khi còn trẻ măng, mới lớn lên, chưa hề biết pháp luật là gì, lại có quyền kết án tử hình không thương tiếc những tên bị ghép là địa chủ cường hào hay phản động đương thời phá hoại! Ngay từ trong đợt ba cải cách, bác Đạt đã phản ảnh cái điều thắc mắc ấy với một số ông có cỡ, là thường trực Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương lúc bấy giờ (ông ta cũng có quen sơ sơ bác Đạt, biết nhau từ hồi còn công tác với nhau trong Khu ủy liên khu bốn, nhưng bây giờ thì ông bạn bác lên chức to hơn, quyền hành lại ngang trời, nên đối với bác, ông cũng tỏ ra khinh bạc hơn). Ông ta đả thông bác: “Anh như vậy là chưa tin ở bần cố nông. Bần cố nông khi được phát động, năng lực của họ sẽ rất to lớn, tính sáng tạo của họ sẽ rất cao. Không sợ họ quá tả. Chúng ta chỉ sợ họ hữu khuynh, họ còn sợ hãi trước uy thế ngàn đời của địa chủ. Ta phải tin ở họ, phải phóng tay phát động họ. Họ sẽ biết hết, sẽ làm được hết… Không sợ! Mà nếu họ có quá tả một tí thì rồi ta uốn sau. Đồng chí nên nhớ: muốn uốn thẳng, người ta phải bẻ cong đi một tí!”.

    Thời gian đó, ý ông ta đang là ý trời. Bác Đạt không cãi được ông ta. Lời giải thích hình như ông đã học thuộc lòng từ một cuốn sách dịch nào của nước ngoài nói về phong trào nông dân ở Hồ Nam.

    Bác Đạt bỗng phàn nàn khe khẽ: “Cuộc đời lắm lúc cũng chả biết thế nào là đúng, thế nào là sai!... Miệng lưỡi người có quyền có gang có thép, họ nói thế nào chả đúng!”. Rồi bác kể:

    - Hồi Pháp thuộc, bác làm cách mạng bị mật thám lùng bắt, bác đã trốn trong nhà cháu hàng tháng… Bố mẹ cháu đã giấu bác, đã nuôi… bác, bác không quên được…

    Bác không nói hết câu. Trong trí bác hiện ra biết bao kỷ niệm không thể phai mờ đối với người đồng chí cũ. Bác thở dài: “Chỉ tiếc bác về thăm gia đình cháu quá muộn! Thì có ai ngờ sự việc nó lại ra như thế!”. Bác thấy như bên tai mình văng vẳng câu nói: “Thà tả một tí còn hơn hữu!... Rồi ta uốn sau!... Muốn nắn thẳng phải bẻ cong!”.

    Ôi, cái thứ lý luận chết người! Cái lý luận coi rẻ tính mạng con người biết bao! Không biết tại sao nó lại xâm nhập vào đầu óc con người xứ này nhanh đến thế!

    Bác nhìn Thu rồi lại nhìn rổ rau má bên cạnh, lòng bác thắt lại. Bác nghĩ lại cái ngày cách đây đã bảy, tám năm, lần đầu tiên bác trông thấy Thu. Bác giật mình vì nét mặt Thu rất giống đứa con gái bác. “Ồ, sao hai đứa nó lại giống nhau như hai giọt nước thế kia!”. Cũng đôi mắt tròn và ngây thơ ấy. Cũng đôi má lúm đồng tiền và cặp môi tươi hồng ấy. Cũng mái tóc và màu da ấy. Nhưng bác không bao giờ còn trông thấy đứa con út bác nữa! Bom napan của giặc thả xuống quê bác từ ngày đầu kháng chiến đã thiêu cháy mất giọt máu của bác. Hôm đó bác thấy con bác hiện trong nét mặt Thu. Bác đã nhìn Thu không chớp mắt. Hồi ấy Thu mới khoảng mười một, mười hai tuổi. Bác ôm Thu vào lòng, hôn lên mái tóc của Thu. Bác gọi Thu là “con” từ đấy. Cái hồi bác thay mặt Khu ủy về đây chỉ đạo công tác xây dựng cơ sở du kích, bác thường ở nhà Thu để tiện bàn công tác với bố, tối nào rảnh việc bác cũng kể chuyện cổ tích cho Thu nghe. Hình như bác rất sung sướng khi biết Thu cũng rất mến bác. Lần nào thấy bác đi công tác về, nó cũng reo lên mừng như mừng mẹ về chợ. Từ ngày ấy bác coi Thu như con. Bác vẫn gửi bánh kẹo cho Thu như hồi còn nhỏ mỗi khi có cán bộ trên khu về. Thu còn nhớ rõ lắm, hồi bác ở nhà Thu, thời còn kháng chiến, mỗi buổi tối trăng lên, mùa hè, hai bác cháu lại trải chiếu ra mảnh sân nhỏ trước nhà, ngồi ngắm trăng chờ gió đến. Những buổi tối ấy, bác Đạt đã kể cho Thu nghe bao nhiêu là cảnh đẹp của tỉnh Thanh quê hương Thu này. Nào là bờ biển Sầm Sơn có bãi cát phẳng lì, bãi tắm lý tưởng, có những đồi thông vi vút, những lâu đài tráng lệ. Nhưng ngày xưa nó không còn là của Tổ quốc ta nữa. Bọn Tây thực dân đã chiếm làm của riêng. Bọn chúng ngự trong những lâu đài ấy, chiếm bãi biển ấy, người Việt Nam đừng có mà bén mảng đến. Nào là cảnh rừng Lam Sơn nơi vua Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh thời xưa, có những lối mòn đầy hoa thơm cỏ lạ sặc sỡ hai bên, có lăng tẩm, đền miếu lẫn trong cây cỏ… Chim muông đến đó làm tổ và dứa mọc thành rừng… Nào là cảnh động Từ Thức ở ngay chính huyện này, trên dãy núi xanh phía bắc huyện, nơi giáp ngay với đồn bốt giặc đang hàng ngày nã pháo vào các làng xóm yên lành xung quanh. Bác nói cái động ấy là một công trình kỳ ảo của thiên nhiên. Muốn vào đó phải đốt đuốc để đi. Người ta có cảm giác như lạc vào một động tiên, trong đó các khối thạch nhũ như đã có một bàn tay thần nào tạo thành những mảng điêu khắc tuyệt diệu: đây là nơi Phật tụng kinh, nơi Tiên đánh cờ, kia và vựa thóc, là kho muối, là kho tiền. Lại có cả ao sen, ao bèo, nơi rồng ấp trứng, nơi chim làm tổ… Nơi đó ngày xửa, ngày xưa Từ Thức đã gặp nàng tiên xinh đẹp. Bác còn kể nhiều nữa. Nghe bác kể, Thu như thấy mình được đi chơi khắp nơi, khắp chốn. Bác còn tả những dòng suối uốn khúc khi ẩn khi hiện của núi rừng Việt Bắc; những lâu đài lăng tẩm ở Huế? Những dãy phố đầy bóng cây của Hà Nội cùng với hồ Hoàn Kiếm, vườn hoa Ba Đình ngày đầu khởi nghĩa. Rồi bao giờ bác cũng kết luận: “Đấy, đất nước của bác cháu ta đấy! Nó đẹp đẽ và bình yên như thế, nhưng bọn thực dân Pháp đã cướp mất cả. Chúng chiếm Hà Nội, Sài Gòn và những thành phố lớn. Chúng chiếm cả đồn điền, hầm mỏ của ta. Chúng biến bãi biển Sầm Sơn, biến cả biết bao cảnh đẹp của non sông ta thành của chúng. Khi Nhật sang, chúng đã chẳng bảo vệ ta lại bán đất nước ta cho Nhật. Bác Hồ đã lãnh đạo nhân dân ta vùng dậy lấy lại nước ta từ trong tay Nhật. Bây giờ chúng lại cướp nước ta một lần nữa. Bác cháu ta đang phải đánh đuổi chúng đi đấy!”. Thời Thu còn nhỏ hơn, bác đã kể cho nghe bao nhiêu là chuyện lạ trên đời. Nào là chuyện “Thằng Cuội ngồi gốc cây đa”, chuyện “Tấm Cám”, nào là chuyện “An Dương Vương xây Loa thành”, chuyện “Phù Đổng thiên vương”.

    Lớn lên Thu nghĩ, không biết đời Thu sẽ trống trải như thế nào nếu lúc bé Thu không được nghe những lời ru rất hay của mẹ, những lời ru mà Thu còn thuộc lòng cho tới nay, không được nghe những câu chuyện cổ tích của bác Đạt và của cả bố Thu!

    Bây giờ bác đang ngồi trước mặt Thu đây. Bác là người đồng chí già của bố Thu, bác hiểu rõ gia đình Thu hơn ai hết. Thu vội vàng vào buồng lục trong chiếc cặp sách cũ, lôi ra một đống đơn từ cô đã viết sẵn từ bao nhiêu ngày trước, cô đem ra ấn vào tay bác Đạt, làm cho bác cũng ngạc nhiên. Cô nói như một cái máy:

    - Cháu van bác! Bây giờ cháu chỉ biết trông vào bác. Bác hãy nộp những lá đơn này đi khắp nơi giúp cháu lên Tỉnh ủy, Khu ủy, lên Trung ương, lên Bác Hồ để Bác thấu cho cái oan của bố cháu!

    Thu thấy hai bàn tay bác run run, bác hơi luống cuống:

    - Sao lại “van bác” con!... Con… con là… con của bác… Bác sẽ thay cha con để chăm sóc con… Đây là việc của bác. Việc chính của bác, con không phải nhờ...!

    Bác cầm lấy những lá đơn mà lòng tê tái. Hai bác cháu lại ngồi yên lặng rất lâu. Thu bỗng nhớ ra câu chuyện cha kể trước kia, cô nói với bác: - Bố cháu trước khi chết có kể cho cháu nghe rằng: Hồi khởi nghĩa năm 1945, có bác Lê Văn Hiến cũng là cán bộ của Đảng đi kinh lý vào tỉnh Quảng Ngãi, cũng bị tình nghi là phản động tay sai địch rồi bị kết án tử hình. Bác đã bình tĩnh và kiên trì giải thích ngay khi đã bị trói vào cột đem bắn. May sao có người đề nghị hoãn lại, bác Hiến mới thoát chết. Bố cháu bảo bố cháu không gặp may như bác Hiến, nhưng cũng chỉ là một trường hợp hy sinh như thế mà thôi…

    Nghe Thu nói, vầng trán bác răn thêm lên, đôi mắt nhìn ra xa nghĩ ngợi. Những nếp gấp hai bên má lằn hẳn lên như khắc thêm nỗi đau khổ trên nét mặt già sạm nắng. Không còn nghi ngờ gì nữa. Qua những lời nói của Thu, qua sự suy nghĩ chín chắn hồi lâu, bác đã thấy rõ nỗi oan của người đồng chí cũ. Bác lẩm bẩm một mình: “Đó là tinh thần và dũng khí của một người cộng sản!”. Rồi bác an ủi mẹ Thu. Bác khuyên răn Thu. Giọng bác nói mỗi lúc một tha thiết. Bác kéo Thu ngồi sát vào mình, vuốt tóc Thu, bác dặn:

    - Dũng cảm lên, con! Con đã mất một người cha, bác cũng mất một người đồng chí! Thôi nín đi con! Đừng khóc nữa, bác buồn lắm! Con phải biết sống thẳng thắn, dù có nhiều kẻ không ưa, chết kiên cường, dù là oan nghiệt, như bố con đấy!

    Nói xong, bác lặng lẽ mở xà cột, rút từ trong chiếc ví con ra một tập giấy bạc đưa cho Thu:

    - Bác cho con số tiền này. Đấy là tiền lương của bác. Con cầm lấy mà sinh sống qua lúc khó khăn này.

    Chao ơi! Có bao giờ Thu lấy tiền của bác. Bác là cán bộ, bác nghèo! Bác lấy đâu tiền cho Thu. Thu nhận, bác sẽ phải thiếu thốn, sẽ phải chịu đựng khổ hơn nữa… Hình như đoán biết ý Thu, bác nói khẽ:

    - Đừng lo con, bác còn tiền. Trước kia bố mẹ con đã nuôi bác những ngày bác phải trốn mật thám Tây, đã san sẻ cho bác từng bát cơm, từng manh áo.

    Bác bỏ tiền vào rổ rau Thu đang nhặt, rồi an ủi mẹ Thu một lần nữa trước khi bác ra đi. Cứ như trước thì chắc chắn bác sẽ ở lại nhà Thu qua đêm, nhưng bây giờ thì bác không thể ở được nữa rồi. Trời đã về chiều bác vẫn ra đi, lòng nặng trĩu ưu tư.

    Khi bác đã dắt chiếc xe đạp sắp đi ra cổng. Thu mới vội vàng nhớ ra:

    - Thưa bác, bác có biết anh Trần Sơn bây giờ công tác ở đâu không?

    Nghe câu hỏi bác “à” lên một tiếng rồi bác nói luôn:

    - Bác cũng quên không kịp hỏi con. Thế… cậu ấy… Trần Sơn ấy, không có liên lạc gì với con à?

    Thu kể cho bác nghe việc bặt tin tức từ gần hai năm nay của Sơn, những lá thư gửi đi không có trả lời và sự chờ đợi. Bác đã được biết việc đính hôn của Thu với Sơn từ lâu. Ông Phan, hồi còn làm chủ tịch huyện đã cho bác biết và hỏi ý kiến bác, bác đã vừa cười vừa nói: “Tiếc quá, tôi không còn đứa con trai nào chưa vợ ngang tuổi nó làm rể anh. Con Thu nhà anh nó ngoan quá. Nhưng mà cậu Sơn được đấy. Nó có trình độ và tư cách tốt đấy!”. Bây giờ thì trước những tai biến dồn dập đối với Thu bác chẳng biết trả lời thế nào. Bác nghĩ: “Cũng có thể nó không nhận được những lá thư ấy. Cũng có thể nó sợ “liên quan địa chủ”, nhất là lại địa chủ phản động mà cắt bỏ việc đính ước như chán vạn người khác xử sự lúc này. Nhưng mà… cái thằng ấy!... Ừ, nó không đến nỗi thế!”. Bác nói với Thu:

    - Từ ngày hòa bình lập lại, Sơn nó không còn công tác ở khu Bốn với bác nữa. Nó trở về khu Ba. Nghe nói cũng đã gần hai năm nay nó đi tham gia giảm tô, cải cách ruộng đất ở khu Ba ấy. Có người gặp nó ở trường cải cách ruộng đất của liên khu mở ở Sơn Tây. Nhưng đã lâu rồi, bây giờ bác không biết nó công tác ở đâu. Để rồi bác sẽ tìm xem nó ở đâu?

    Nghe bác nói, tự nhiên Thu thấy lo lắng và bồn chồn lạ. Hình như linh tính Thu báo có một sự gì chẳng lành đã xảy ra giữa Sơn và cô. Giữa cái lúc sóng gió này ai biết đâu mà nói biết đâu mà nói trước. Ôi cuộc đời sao đầy tai biến! Sơn cũng đi cải cách! Trời mà biết được anh đã thay đổi ra sao! Anh có đấu tố và hò hét một chiều như mấy anh đội đáng sợ đã về xã Thu không? Anh có làm khổ những người phụ nữ như cô không? Chà, anh là người vững vàng, kiên định, rất có thể anh đã cắt đứt với Thu để lấy một cô cốt cán cố nông nào đó đã làm xúc động lòng anh vì những nỗi khổ cô đã phải chịu. Bao nhiêu ý nghĩ đến dồn dập mang theo những thất vọng, lo âu chồng chất dội vào lòng Thu. Cô muốn hỏi bác Đạt: “Bác ơi, bác và anh Sơn đi làm cách mạng là để đem lại hạnh phúc cho dân hay là… lại chồng chất những nỗi lo âu, những bất hạnh lên đầu những người dân khốn khổ như mẹ con cháu?”.

    Không hiểu sao Thu kịp nhận ra ý nghĩ ấy là đã xúc phạm đến bác, đến Sơn, đến bao người có tâm huyết khác. Cô nén nỗi uất ức kìm câu hỏi lại. Bác Đạt như đoán được một phần ý nghĩ của Thu, bác rút khăn thấm cặp mắt hoen ướt, nghẹn ngào nói trước khi lên xe:

    - Bác sẽ tìm nó cho con. Dứt khoát bác sẽ tìm được nó. Bác sẽ bảo nó về thăm con, có thể nó chưa biết…

    - Không, bác ơi! - Thu kiên quyết nói - Nếu anh ấy đã lấy người khác thì bác không cần nhắn nữa! Con xin bác! Bác không cần nói gì hết!

    - Can đảm lên con! Đừng thất vọng, con người mà thất vọng thì sống sao nổi con. Bác tin cậu Sơn… không đến nỗi nào…

    Thu đứng ngẩn người nhìn theo bác Đạt khuất dần sau rặng tre trước cổng. Hình như bác lại rút khăn mặt lau nước mắt…

     

     



    (1) Thơ Đặng Dung.

    Table of contents: 10 10 18

    Search

    Access times

    • Total visits49,947,638

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...