Search

Access times

  • Total visits41,578,327

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Short story

Hai người đàn ông và một người đàn bà ở phố Hàng Đào

Xuân Đài

  • Monday, 09:50 Day 13/04/2009
  • Hàng Đào, nhà cửa xin xít, người đông, một trong những con phố buôn bán sầm uất của Hà Nội từ trước đến nay. Trần Nguyên Hào và Bùi Bình Thu ở cách nhau một căn hộ, cùng tuổi, cùng học với nhau từ thời tiểu học. Căn hộ giữa là nhà Phan Thúy Oanh, thua Hào và Thu ba tuổi, nữ sinh Trưng Vương, học sau các anh mấy lớp. Năm giải phóng Hà Nội, một nghìn chín trăm năm tư, Thúy Oanh đang học đệ ngũ, còn hai anh sắp sửa thi tú tài, học cùng lớp trường Bưởi. Ba người thân nhau, hai anh coi Thúy Oanh như em gái – theo như cách “rêu rao” của các anh – Bà con hàng phố và bạn bè cùng học, thừa biết hai anh đều mê em Oanh nhưng cả hai chưa ai dám ngỏ lời. Con gái mới lớn, nhạy cảm, nghe cách nói, cái liếc nhìn, Oanh thừa biết hai anh yêu trộm nhớ thầm mình. Biết vậy thôi chứ Oanh kín đáo, không nghiêng tình cảm về phía anh nào. Anh nào cũng là anh, anh về tuổi tác và học vấn. Năm đó phố Hàng Đào thật vui, hầu như nhà nào cũng có người từ vùng kháng chiến trở về thủ đô. Nhà Oanh có người anh Phan Vũ Hồng (anh cả), sĩ quan quân đội về tiếp quản thủ đô, mỗi lần anh ghé nhà là cả gia đình tiệc tùng vui như hội. Đó là cái bề ngoài. Thực ra ngoài niềm vui, niềm tự hào về người anh cả, không thể giấu được nổi buồn người anh Phan Vũ Cảnh (anh hai), trung úy quân đội Pháp đã di cư vào Nam trước ngày Hà Nội rợp cờ đỏ sao vàng… Hàng phố biết rõ chuyện này, xì xào bàn tán. Những lời bàn tán dù rất nhỏ, kín đáo, cũng bay đến tai gia đình Oanh. Có lần đã khuya, nhà đã tắt đèn ai vào giường nấy, Oanh nghe bố nói với mẹ: phải lo vợ cho thằng Cả, năm nay nó cũng đã gần ba mươi, còn thằng Hai yên phận rồi, lúc này đã ở Sài Gòn. Mẹ Oanh thở dài: rõ khổ! Giá như hai đứa đều là bộ đội, thiên hạ đỡ lời ra tiếng vào. Oanh nghe rõ tiếng bố thở dài: biết làm sao được, hai đứa hai chí hướng, nói cho cùng cũng tại thời thế. Tiếng mẹ Oanh, cũng tại ông, hồi thằng Hai xuống Nam Định học sĩ quan, ông không can ngăn nó… Thôi đi bà – tiếng ba Oanh – thời đó đã biết ai thắng ai mà ngăn với cản. Bây giờ bà trách tôi, tôi chỉ biết trách trời. Gần nửa đêm rồi, bà ngủ đi cho tôi nhờ…

    Chiều hôm sau, Trần Nguyên Hào nói cho Oanh biết gia đình Bùi Bình Thu sẽ xuống Hải Phòng di cư. Tối hôm đó, Oanh sang nhà Thu gặp cả Hào đang ngồi ở phòng khách, Thu kéo ghế mời Oanh ngồi, thế là ba anh em cùng trò chuyện với nhau. Giọng buồn buồn, Thu nói, thực lòng mình không muốn đi nhưng các cụ đã quyết thì mình phải theo, phận con cái là vậy. Vả lại, ở Hà Nội gia đình mình buôn bán, vào Sài Gòn cũng vậy, cũng lại buôn bán. Thôi thì Sài Gòn hay Hà Nội cũng là đất nước mình. Hai năm sau tổng tuyển cử, giang san thu về một mối, chúng ta lại gặp nhau… Ngoảnh sang Oanh, Thu hỏi: đã nhận được tin tức gì về anh Cảnh chưa? Oanh nhỏ nhẹ, nhận được rồi, vợ con anh đã ổn định chỗ ở, còn anh đã về đơn vị. Hào nói: bọn mình là học trò ở đâu thì vẫn tiếp tục học, Thu vào trong ấy cố gắng xin vào một trường có danh tiếng, hay cậu xin vào trường Taberd mà học, cho nó… oách. Hai cụ dư sức lo cho cậu về kinh tế, cậu lại là thằng nói tiếng Pháp như  Tây. Nghe bạn phán, Thu cười, khuôn mặt anh rất buồn. Oanh đứng lên, đi vòng sang ghế Thu đang ngồi, hình như cô không muốn Hào nghe câu sắp nói: chúc anh đi mạnh khỏe, học giỏi, mọi người và em chờ anh hai năm sau trở về Hà Nội – cô nói to hơn – Em xin phép về, hai anh ở lại trò chuyện. Đột nhiên Thu đứng dậy quàng tay lên đầu Oanh, kéo sát vào ngực mình. Oanh không phản ứng, ngoan ngoãn nép sát vào người Thu như em gái nép vào anh trai. Thu hôn nhẹ lên mái tóc Oanh, vội vàng buông ra ngay. Sau một giây sững sờ, Hào tế nhị ngoảnh mặt sang nơi khác. Oanh nhẹ bước ra cửa, hai má đỏ hồng dưới ánh điện. Như sực nhớ đến phép xã giao, cô quay lại, vòng tay, cúi đầu chào Hào trước, chào Thu sau, giọng lí nhí: em chào hai anh.

    Cái hôn nhẹ vào mái tóc của Thu là kỷ niệm dịu mát tuổi học trò mà mãi mãi Oanh không bao giờ quên. Chẳng riêng gì Oanh, cả Hào nữa cũng không bao giờ quên cái hôn đó của bạn lên mái tóc Oanh. Sau này Oanh trở thành vợ của Hào, lâu lâu anh lại nhắc lại cái hôn nhẹ của bạn, rồi vừa cười vừa nói với vợ: nhớ Thu là nhớ cái hôn đó, chứ không phải mình ghen đâu, bà xã xinh đẹp của tôi ạ!

    Hai năm, đất nước thống nhất là ảo tưởng của nhiều người, chứ không phải chỉ là của tuổi trẻ. Lâu lâu, vợ chồng Hào nhận được bưu thiếp của Thu từ Sài Gòn gửi ra. Hai vợ chồng vui trong đượm buồn khi biết Thu đỗ tú tài toàn phần, học sĩ quan, ra trường đeo lon thiếu úy ở binh chủng thiết giáp. Trước ngày Hào vào bộ đội, anh viết bưu thiếp gửi vào Nam báo cho Thu biết. Những năm đó hai miền còn yên bình, hai bên chưa cầm súng đánh nhau nên lòng hai thanh niên còn nhẹ nhõm, tình bạn còn nguyên vẹn. Trong bưu thiếp của hai anh vẫn là những lời đùa cợt như thuở còn đi học. Thu kể về Sài Gòn sầm uất, người Bắc di cư thường ở tập trung với nhau vào một khu. Hào kể về Hà Nội khác xưa, đổi thay rất nhiều, học sinh Trưng Vương không còn mặc áo dài như ngày trước… Bưu thiếp bằng bàn tay mà hai người kể cho nhau được rất nhiều chuyện… Những năm tháng thanh bình ngắn ngủi. Mỹ đã vào miền Nam, bộ đội miền Bắc đã vượt Trường Sơn. Hai bên bắt đầu đánh nhau, tháng sau khốc liệt hơn tháng trước, năm sau khốc liệt hơn năm trước. Thiếu úy Thu lúc này đã đeo lon Trung úy, chỉ huy một đoàn thiết giáp, ngỡ là an toàn, sự thực mạng sống rất mong manh, một viên đạn B40 là thiêu rụi cả xe lẫn người. May mắn, Thu chưa gặp nạn như các đồng đội của anh. Nhờ trời phù hộ, Thu sống sót cho tới năm bảy lăm để tập trung cải tạo ở các trại trên miền Bắc. Không may mắn như Thu, Hào hy sinh ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, để lại hai đứa con côi cút. Oanh sống vật vã, kéo dài đến gần một năm sau cái chết của chồng. Đau khổ như đám mây rồi có lúc phải tan. Lúc này chị là kỹ sư hóa ở một xí nghiệp lớn trong ngành hóa chất, chị bình tĩnh lại, vui vẻ làm việc, vui vẻ nuôi con, cho đến khi chị đưa hai cháu chuyển vào Sài Gòn công tác. Vợ con anh Cảnh đã di tản sang định cư ở Canada. Gia đình Oanh đến thăm đầu tiên khi mới đặt chân tới Sài Gòn, là mẹ và các cháu con anh Bùi Bình Thu. Bố và vợ anh Thu đã chết vì lạc đạn (chẳng biết là của bên nào) trong những ngày cuối tháng Tư lộn xộn. Bà nội và hai cháu sống vất vả trong ngôi nhà lụp sụp ở con hẻm chật chội miệt Phú Nhuận. Bà không có nguồn thu nhập gì ngoài cái tủ thuốc lá kê trước nhà. Gặp bà, dù đã hơn hai mươi năm xa cách, Oanh vẫn nhận ra ngay. Bà mừng không để đâu cho hết. Bà tíu tít hỏi đủ thứ chuyện về Hà Nội, về phố Hàng Đào và những người thân trong gia đình Oanh. Oanh cho biết, bố mẹ cô vẫn khỏe mạnh, không còn ở chỗ cũ, đã dời về phố Đội Cấn vào khuất trong làng, nơi này mát mẻ và yên tĩnh hợp với tuổi già. Đột nhiên cụ hỏi:

    - Vợ con anh Cảnh đã thư từ về cho gia đình chưa?

    - Rồi bác ạ! Anh chị ấy đã ổn định nhà cửa và việc làm. Các cháu đều đã vào học các trường.

    - Bác mừng cho gia đình anh ấy, cháu có viết thư cho bác gửi lời hỏi thăm nhé!

    Nghe vậy, Oanh lôi ra một xấp thư, đọc cho mẹ anh Thu nghe. Chị đọc lướt, nhảy cóc từng đoạn, dừng lại, đọc chậm từng chữ một ở những dòng anh hỏi thăm bà cụ và các cháu. Anh Cảnh trong các lá thư gửi cho Oanh không quên nhắc cô em chăm sóc gia đình Thu, nhất là chăm sóc hai cháu bé con Thu, dù đói nghèo khó khăn thế nào cũng không để hai cháu thất học. Bà cụ ngồi lặng, kéo vạt áo chấm nước mắt. Cụ cho Oanh hay, từ ngày Thu ra Bắc học tập tới nay đã gần hai năm, cụ rất muốn dắt hai cháu ra thăm bố, ngặt nỗi cụ quá yếu, vả lại một mình cụ kiếm đủ ngày hai bữa cho ba bà cháu đã trần ai, làm sao dành dụm được…

    Hai đứa con anh Thu, đứa lớn mười bốn, đứa nhỏ mới lên chín, chưa phụ giúp gì được cho bà, chỉ biết ăn uống thiếu thốn và đi học. Nhìn hai cháu ăn mặc lúi xùi, Oanh thương lắm. Chị thương mến một cách cụ thể, vài ba ngày lại ghé nhà khi thì bịch gạo, lúc miếng thịt, mớ rau, dù lương kỹ sư hóa của chị cũng chỉ là ba cọc ba đồng. Một hôm chị đến nói với mẹ anh Thu, vài hôm nữa nghỉ phép ra Bắc, bác cho cháu dắt thằng út, nhân dịp út đang nghỉ hè, hai cô cháu sẽ đến trại thăm anh Thu. Bà cụ không ngạc nhiên trước lời đề nghị của Oanh, cụ biết Oanh là người tốt, cụ vội vàng đưa Oanh cái thư có ghi địa chỉ của Thu. Cụ bảo, Oanh cứ lôi thư ra đọc, không có chuyện bí mật mẹ con, bà cháu gì đâu. Đọc thư Thu gửi về, Oanh biết trại của Thu nằm ở vùng rừng núi Đông Bắc.

    Ở Hà Nội được bốn ngày, Oanh gửi hai con ở nhà ông bà ngoại rồi dắt cháu Thái vào trại thăm bố. Hai cô cháu đi tàu hỏa, chuyển sang đi ôtô, vất vả nhất là phải cuốc bộ đường rừng theo lối mòn gần hai chục cây số. Oanh mang theo không thiếu một vật dụng gì cho người đang ở trại cải tạo. Gói quà quá nặng làm Oanh lặc lè dọc đường. Đã sắp đặt trước những câu trả lời với cán bộ trại giam và chị đã sắp đặt đúng:

    - Chị là thế nào với Bùi Bình Thu?

    - Tôi là em con dì của anh ấy. Tôi biết ở trại anh khai tên người sẽ đến thăm nuôi anh là mẹ ruột và hai đứa con. Thưa anh, bác tôi đau nặng không đi được, tôi có dắt theo cháu Bùi Bình Thái con thứ hai của anh Thu, chắc trong danh sách thăm nuôi anh Thu có khai tên cháu.

    Cán bộ trại: nhìn tướng, cách ăn nói của chị, tôi tin chị là cán bộ miền Bắc mới vào Nam công tác, chứ không phải là Bắc di cư.

    - Anh tinh đời quá – Oanh nói thật, pha một chút nịnh nọt – Vâng, tôi là cán bộ mới chuyển vào Sài Gòn hơn một năm. Từ ngày anh Thu đi cải tạo, gia đình chưa ai vào thăm, tội anh ấy quá. Tôi mạnh dạn làm việc này cũng là đánh đố với số phận, các anh cho thăm, gặp mặt là tốt, không thì cũng được gửi lại gói quà. Qua chuyện trò với anh từ nãy đến giờ, tôi thấy anh nói năng nhẹ nhàng, cởi mở, tôi lại tin là lãnh đạo trại sẽ cho tôi gặp mặt anh Thu.

    Anh cán bộ trại tủm tỉm cười, hiểu câu xã giao của bà trí thức khôn ngoan:

    - Quyết định việc cho chị gặp mặt hay chỉ được gửi lại gói quà, là của lãnh đạo, chứ tôi không có quyền. Chị ngồi chờ, tôi sẽ vào báo cáo.

    Trước lúc anh cán bộ quay vào trại, Oanh còn nói thêm một câu: Cháu Thái thì thế nào cũng được gặp bố chứ ạ!

    - Tôi mong niềm tin của chị nói ban nãy, là cả chị nữa sẽ cùng với cháu được gặp mặt anh Thu.

    Mười lăm phút sau, anh cán bộ quay ra cho Oanh biết bây giờ đã gần chín giờ, các trại viên sắp sửa đi ngủ. Chúng tôi sẽ bố trí chị và cháu ngủ lại phòng khách, mai sáng, đúng bảy giờ chị và cháu sẽ gặp anh Thu. Chị và cháu đã ăn cơm tối chưa, nếu chưa, nhà khách của trại sẽ lo bữa ăn cho hai cô cháu…

    -          Cám ơn trại, hai cô cháu chúng tôi có mang theo bánh mì, nước uống, tự lo lấy được…

    Đêm đó, cu Thái ngủ rất ngon, còn Oanh chập chờn chỉ mong trời chóng sáng.

    Sáng hôm sau, đúng giơ, hai cô cháu ra nhà dành cho thân nhân và trại viên gặp gỡ, đã thấy anh Thu ngồi sẵn đó. Thằng Thái chạy ùa lại ôm chầm lấy ba. Anh Thu vừa vuốt tóc con vừa ngẩng lên hỏi:

    - Oanh đi đường có vất vả không?

    Oanh kêu lên khe khẽ:

    - Trời, anh giỏi thật, nhận ra em ngay.

    - Quên em thế nào được. Khuôn mặt và dáng dấp của em từ thời con gái đến bây giờ không thay đổi bao nhiêu. Ngoài điều ấy còn do trực cảm mách bảo anh nữa.

    Sáng hôm ấy, hai anh em sau khi đã hỏi thăm từng người trong gia đình Oanh và Oanh cho biết hoàn cảnh sống của bà nội cùng hai cháu trong Sài Gòn cho Thu nghe, chị không nói hết sự thật về hoàn cảnh mà toàn nói những điều tốt lành để không làm Thu buồn. Chị biết những gì chị nói, anh công an canh chừng cuộc trò chuyện, dù đứng hơi xa vẫn không qua tai anh được. Hai anh em nhắc lại kỷ niệm thời học trò, kỷ niệm bạn bè thời thơ ấu ở phố Hàng Đào. Hai anh em cười vui vẻ làm cho anh công an cũng vui lây và cười theo. Lúc chia tay nhau, mặt trời đã lên gần đỉnh núi, lúc này Oanh mới chảy nước mắt. Thu khẽ vỗ vai Oanh, an ủi, thôi em đừng khóc, rồi ôm gói quà quay lưng bước vội vào trại, tránh thật nhanh cái nhìn thương xót của Oanh…

    Trại đã cho Bùi Bình Thu nhận tất cả quà cáp Oanh mang theo.

    Từ nãy đến giờ cu Thái mãi ngắm nhìn và chơi với con cóc thụt ra thụt vào ở vách liếp, quên cả việc đứng lên hôn bố, mãi đến khi Oanh gọi, nó mới sực tỉnh, đứng lên chạy lại nắm tay Oanh thì bố  đã đi gần khuất vào phía trong. May mà còn vẫy tay được mấy cái…

    Từ đó, đều đặn sáu tháng một lần, Oanh lại quà cáp, dắt theo thằng con anh Thu, lúc thì đứa lớn, lúc lại đứa nhỏ vượt đường sá xa xôi, trèo đèo lội suối vào trại thăm Thu. Cán bộ quản giáo trại, qua cách trò chuyện của hai người, họ thừa biết Oanh không phải là con dì như chị khai, nhưng họ tảng lờ để cho chị thăm nuôi bình thường, vì chị không hề nói năng với trại viên những điều vi phạm kỷ luật trại đề ra. Oanh là người khéo léo, tế nhị và tốt bụng. Chị hiểu cần nói gì, làm gì để không chỉ Thu và cả những “người ngoài” hóng chuyện đều bằng lòng. Dù sao chị cũng là cán bộ lớn lên từ miền Bắc, hiểu rõ nhân tình thế thái, cho nên trong cư xử chị biết nên nói gì, làm gì. Những cuộc thăm nuôi vui trong đượm buồn là thế.

    Trở về Sài Gòn, không chỉ chăm sóc cho gia đình mình, Oanh còn lo chăm sóc gia đình của Thu nữa. Chị coi mẹ Thu như mẹ mình, hai đứa con Thu như con mình. Có lần Oanh đã ướm lời mời cụ và hai cháu về ở chung với ba mẹ con chị, nhưng cụ từ chối, không muốn chị vất vả quá nhiều. Ngôi nhà chị được nhà nước phân phối, rộng rãi, ở ngay gần sát ngôi nhà ngày xưa của gia đình cụ, chỉ cách có mấy căn, trên một con phố sang trọng của Sài Gòn. Ngôi nhà cụ, nay là trụ sở của một cơ quan nhà nước, sau khi cụ đưa hai cháu đi kinh tế mới, không trụ nổi trên vùng rừng thiêng nước độc, quay trở lại Sài Gòn mua tạm căn nhà xập xệ ở Phú Nhuận như đã kể. May mà thời đó giá nhà còn quá rẻ, chỉ xấp xỉ một chiếc xe ôtô cũ nát. Vài ba ngày, Oanh lại ghé thăm cụ và hai cháu. Hàng tháng, đến ngày mua gạo sổ, chị chia đôi số gạo ít ỏi đưa tới. Lương kỹ sư ba cọc ba đồng, tiện tặn lắm mới nuôi được cả hai gia đình. Sức chịu đựng của con người có hạn, không thể kéo dài cuộc sống thế này mãi, chị xin thôi việc nhà nước ra thị trường tự do mở cửa hàng buôn bán hóa chất. Vốn liếng ban đầu là tiền chị ki cóp trong nhiều năm, phần chính là của người anh ruột Phan Vũ Cảnh ở Canada giúp đỡ. Hóa chất ở Sài Gòn lúc này rất hiếm, nguồn nhập ngoại lọt ra ngoài tư nhân cũng không nhiều, nhờ có chuyên môn ngành hóa và tài xoay xở, công việc buôn bán của chị phát đạt. Từ một cửa hàng nhỏ ở Chợ Lớn, gần hai năm sau, chị đã có trong tay bốn cửa hàng buôn bán hóa chất các loại ở ba quận khác nhau. Cuộc sống cứ thế mát mặt dần. Các con chị, các con anh Thu đều được ăn no, ăn ngon, quần áo tươm tất, sạch sẽ, đứa lớn có xe hon đa, đứa nhỏ có xe đạp đến trường.

    Vào cuối xuân năm Tám mốt, Bùi Bình Thu được ra trại, anh ghé về Hàng Đào, đến nhà Oanh ngày xưa, bây giờ vợ chồng anh Hồng đang cư ngụ. Oanh đã ra Hà Nội đón Thu ngay ở ngôi nhà mình. Hàng Đào và Hà Nội, dưới mắt Thu đổi thay quá nhiều, người đông hơn trước, buôn bán lại không sầm uất như xưa, ngành nào cũng có hợp tác xã, tất cả các nhu yếu phẩm đều được phân phối theo định lượng, tìm ra một hàng phở tư nhân “ăn được” phải xuống tận Triệu Việt Vương. Mấy ngày liền, Oanh dắt Thu đi khắp Hà Nội thăm lại cảnh xưa để kỷ niệm thời thơ ấu gọi về. Gần ngày lên tàu vào Sài Gòn, Thu nói khẽ với Oanh: Em đưa anh lên nghĩa trang thắp hương cho Trần Nguyên Hào. Thoáng một chút ngạc nhiên, rơm rướm nước mắt, Oanh hiểu được tấm lòng anh em, bè bạn, nói xa hơn một tí, lên gân một tí, là tình đồng bào của người Việt Nam. Ừ nhỉ, những ngày Hà Nội êm ấm, tuổi thơ và thời mới lớn, cắp sách đến trường có bao giờ Hào và Thu lại nghĩ có ngày cầm súng trên hai chiến tuyến bắn vào nhau, để bây giờ Hào lặng lẽ nằm ở nghĩa trang và Thu phải đi cải tạo gần sáu năm trời. Tất cả là do thế sự, thế sự đa đoan của đất nước, của dân tộc, mà nhân dân trong đó có gia đình Hào, gia đình Thu, gia đình Oanh, nhân dân Hàng Đào, nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước gánh chịu…

    Nghĩa trang nơi Hào nằm chưa có nhiều cây tỏa bóng mát, chưa có tiếng chim hót như trong khúc hát của ai đó, mà còn trơ trọi, vắng lặng… Lên nghĩa trang hôm nay không chỉ có Thu và Oanh, còn có những người trong gia đình Hào, gia đình Oanh và bà con trong gia đình của Thu nữa. Thu thắp hương, rì rầm khấn vái trước mộ Hào. Những người đứng quanh nghe câu được, câu mất: Hào ơi, cậu và mình đâu ngờ lại có ngày cầm súng xả vào nhau. Chúng ta bắn giết cho tham vọng quyền lực của… Nói tới đó Thu nấc lên, nghẹn ngào. Nhưng những người già, từng trải sự đời, có thể đoán được những câu anh định nói tiếp. Oanh giúp Thu thắp một lúc gần cả chục bó hương, loại hương thơm tới mức đứng xa vài trăm mét vẫn nhận được mùi. Thu đi trước, Oanh quyệt nước mắt đi sau, đến mộ nào Oanh cũng đưa cho Thu ba cây hương để cắm lên. Thu biết những ngôi mộ bao bọc quanh chỗ Hào nằm đều là đồng đội của Hào một thời, người là lớp đàn anh từ thời chống Pháp, người cùng trang lứa, người là đàn em, đàn cháu sinh sau năm Năm tư. Đi vòng quanh nghĩa trang, thắp hương cho người cuối cùng xong, Thu ngồi vật xuống ven đường và khóc nức nở. Oanh và những người đi cùng, không ai nói gì, mặc cho anh khóc như khóc người ruột thịt. Khóc cho vơi trong lòng…

    Bà con trong gia tộc của Thu, của Oanh đều bảo hai người về Sài Gòn bằng máy bay cho nhanh. Thu lắc đầu, anh muốn được đi tàu hỏa, không phải vì tiếc tiền máy bay mà anh muốn ngắm dặm dài đất nước, những vùng quê anh đã từng tham chiến và những vùng quê lần đầu tiên anh biết đến. Chiều Bùi Bình Thu, Oanh đã mua vé tàu hỏa. Suốt chuyến đi, hầu như Thu đã ngắm cảnh với những lời thuyết minh của hướng dẫn viên nghiệp dư Phan Thúy Oanh…

    Bố mẹ Oanh, mẹ Thu và những người lớn trong hai dòng họ đều đọc được câu chuyện tình của hai người, điều họ bàn bạc không phải chuyện tình yêu đôi lứa muộn màng mà là chuyện định ngày cưới. Cái gì đến phải đến. Cuối năm đó, họ cưới nhau. Đám cưới được tổ chức cả hai nơi, Sài Gòn và Hà Nội. Ở Hà Nội làm lớn hơn vì một lẽ đơn giản quê hương cô dâu chú rể ở đây, nhà thờ Họ của họ ở đây, bạn bè thời thơ ấu ở đây. Đồng đội của Thu một thời còn sống sót, dịp này cũng kéo ra Hà Nội, trước là dự đám cưới, sau là vãn cảnh thủ đô. Bạn bè Thu một thời trường Bưởi, bạn bè Oanh một thời Trưng Vương, nhiều chị đã di tản sang Mỹ nay có mặt. Nói vui một tí, đám đàn ông hôm nay mặc comlê, cà vạt, nếu cởi ra khoác lên mình các sắc lính họ đã mặc một thời chiến trận, chưa biết bên nào đông hơn bên nào. Quên đi tất cả, nâng ly rượu mừng, chạm cốc, tiếng Hà Nội hòa vào tiếng Sài Gòn. Cạn ly mừng hạnh phúc cô dâu, chú rể…

    Bước sang thời đổi mới, Phan Thúy Oanh lập công ty sản xuất hóa chất, chị tập hợp được nhiều những kỹ sư giỏi của cả hai miền, đào tạo trong hai chế độ khác nhau. Công ty hóa của chị, nhờ cơ chế kinh tế thị trường rộng mở nên phát triển rất nhanh. Bùi Bình Thu làm gì đây, anh không có nghề chuyên môn ngoài việc được đào tạo cầm súng giết người, anh cay đắng nhận ra điều đó và nói ra điều đó. Đã có lần anh suýt bàn với Oanh là cả gia đình sang Mỹ theo diện HO, may mà anh đã ghìm lại được, không thì Oanh đã xát xà phòng cho anh một trận. Tổ quốc mình đây, đất nước mình đây, nhân dân mình đây, sang nước người làm gì. Thu không thể theo ngành hóa của Oanh được, khoa học tự nhiên không phải là thế mạnh của anh thời đi học. Anh thích khoa học xã hội, nhất là văn học. Điều anh giỏi là ngoại ngữ, tiếng Pháp và tiếng Anh. Anh quyết định trở thành một dịch giả để giới thiệu văn hóa Việt Nam, thân phận người Việt Nam trải qua các thời kỳ lịch sử. Mọi người ngạc nhiên, quyển sách đầu tiên Thu dịch sang tiếng Pháp là Thơ thời Lý Trần. Anh gửi bản dịch ra Hà Nội nhờ nhà văn hóa Nguyễn Khắc Vi, người đã dịch rất nhiều tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Pháp và tiếng Anh, nhờ góp ý kiến và hiệu đính. Giáo sư Nguyễn Khắc Vi được trí thức Hà Nội gọi đùa: ông vua tiếng Tây, ông hoàng tiếng Việt. Bùi Bình Thu vốn học trò cũ của ông. Ít lâu sau, anh nhận được thư của thầy Vi khen ngợi, chúc anh đã tìm đúng hướng đi của đời mình… Bản dịch của anh dày cộp, thầy chỉ chữa lại có năm từ cho hợp với văn cảnh thơ thời Lý Trần. Tập thơ sắp sửa ra mắt bạn đọc, xin mọi người chờ xem…

    Vợ chồng Thúy Oanh sinh thêm một cháu trai, anh chị có ý định đặt tên cháu là Hào, Bùi Bình Hào để nhớ tới người bạn, người chồng một thời của hai người. Bà con hai họ không bằng lòng, cho vậy là Tây quá, người Việt Nam không có phong tục như thế. Anh chị vui lòng chấp nhận, đặt tên cháu là Bùi Hòa Hợp. Cái tên đượm mùi chính trị, không sao, người Việt Nam vốn nhiều chuyện, vốn thích bàn chuyện chính trị. Lẽ thường mà.

    Mấy năm nay anh chị đã mua villa mới xây. Đây là khu nhà ở cao cấp phần lớn là của người nước ngoài và của những người Việt Nam giàu có. Bé Hòa Hợp năm nay đã học lớp hai, chơi thân với lũ trẻ người Việt và người nước ngoài. Bọn trẻ nghĩ ra đủ thứ trò chơi của lứa tuổi chúng. Là đứa hiếu động, thông minh, nghịch ngợm Hòa Hợp tham gia đủ các trò chơi, riêng trò dàn trận đánh nhau, súng nổ đì đoàng (tất nhiên là đì đoàng bằng miệng), Hòa Hợp không bao giờ tham gia.

    Tại sao vậy nhỉ? Mọi người đều thắc mắc, nhất là các ông Tây bà Đầm…

    Hơn ai hết, anh Thu chị Oanh hiểu rõ nguyên nhân nhưng không bao giờ giải thích cho ai cả. Trò chơi chiến tranh giết người, anh chị đã ngán tận cổ. Bạn đọc thân mến, bạn đã trải qua chiến tranh hoặc chỉ biết chiến tranh qua sách vở, phim ảnh của hai phía dù sách vở và phim ảnh ít tính văn học nặng tính tuyên truyền – tôi tin bạn hiểu tâm trạng của anh chị ấy!

     

    44 Hàng Đào, ngày rét đậm

    trieuxuan.info

     

     

     

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits41,578,328

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...