Search

Access times

  • Total visits49,947,922

PARTNER

    Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

    Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

    * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...

Literary critique theory

Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà văn: Hà Khánh Linh

Xuân Cang

  • Monday, 11:15 Day 10/11/2008
  • HÀ KHÁNH LINH
    ĐI DƯỚI TRỜI HOA PHƯỢNG

    Năm 1980 tôi và Hà Khánh Linh đã cùng tham gia trại sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam đóng ở Huế, nên quen biết nhau. Năm 2000, tôi vào Huế chơi, đến thăm Tạp chí Sông Hương, gặp Hà Khánh Linh ở đó. Chị cho tôi ngày giờ sinh và bảo tôi: Anh coi xem cái mệnh em viết lách ra làm sao, mà sao em thấy còn gian truân, vật vã mà đau đớn thế.

    Nhà văn Hà Khánh Linh sinh ngày 17 tháng Tám năm Ất Dậu, giờ Dậu (25-7-1945). Cấu trúc Hà Lạc của chị mở đầu bằng quẻ Lôi Thiên Đại Tráng, chủ mệnh là hào 6. Tượng quẻ là Sấm ở trên Trời, nên nghĩa quẻ là Lớn Mạnh. Người được quẻ này là người hăng hái, mạnh mẽ, ham hành động, ham khởi xướng công việc, mơ mộng, có chí, có sức, dám nghĩ dám làm. Biểu tượng thiên nhiên là Sấm và Trời, nên cảm xúc không gian rất mạnh, thường có cái nhìn bao quát từ trên xuống, hành động và suy tưởng thiên về kích thích sự nẩy nở, sinh trưởng, như sấm mùa xuân làm cho âm dương giao hòa, vạn vật tươi tốt, phấn chấn. Người quẻ Đại Tráng có khí chất hăng, mạnh, nên thường đứng trước hai hành lang cuộc đời: một là hăng mạnh mà biết bền bỉ theo đường ngay thẳng, chính nghĩa, hợp với quy luật phát triển của trời đất, lại biết nén lòng riêng của mình thì không gì không lợi; hai là hăng, mạnh mà gian phi, bậy bạ, thì chỉ thành kẻ bạo cường, liều lĩnh, dấn nhanh vào tội lỗi. Cho nên đại tráng tốt xấu còn tùy mỗi con người. Những ý trên tôi đã trình bày trong khi phác thảo chân dung các nhà văn Đại Tráng, nên chỉ nói qua vậy thôi. Vì quẻ thuộc về thời dương thịnh âm suy nên giới nữ được quẻ này không thuận, đại tráng đấy mà vật vã, truân chuyên đấy. Cuộc đời và văn chương Hà Khánh Linh không ra ngoài những xu thế ấy, chỉ có khác là nó sống động theo những bản thể riêng biệt mà thôi. Hào 6 quẻ Đại Tráng, chủ mệnh bảo rằng người này sinh ra vào cuối thời Tráng rồi, chí vẫn mạnh đấy, nhưng hoàn cảnh không cho phép vùng vẫy, sẽ rơi vào tình cảnh tiến thoái đều khó. Muốn đi lên chỉ còn cách khéo dùng cái sức tráng của mình, giữ bền lòng lành, ngay thẳng, không thấy phải nhất định không làm, thấy phải không ai ngăn cản được, lại phải khéo lựa thời thế. Muốn được thế phải biết chịu vất vả, gian nan. Nên lời hào có câu rằng: Chịu khó nhọc thì tốt (gian tắc cát). Hà Khánh Linh có may mắn tuy mắc kẹt ở cái hào 6 đầy gian truân ấy nhưng chị lại có ưu tiên năng lượng của Trời Đất (Hóa công) và có nguyên khí của Đất nên có nội lực vượt lên tất cả.

    Cuốn hồi ký nhỏ Trường Sơn ngày ấy (Nxb Hội nhà văn - Hà Nội - 2000) ghi chép chân thực mấy năm của đời chị cho biết thế nào là người con gái ở giữa thời Đại tráng. Hà Khánh Linh lớn lên đúng vào thời đất nước đang vào trận mới chống Mỹ. Từ năm 16 đến 24 tuổi (1960-1968) chị đứng ở chặng đường hào 2 quẻ Đại tráng. Hào 2 bảo rằng đây là những năm sung sức, hăng hái, trở lại với lý tưởng đã chọn, sống ngay thẳng, không thái quá, thành người nòng cốt trong cuộc sống. Trường Sơn ngày ấy ghi chép những việc xảy ra với chị vào năm 1967 nghĩa là năm thứ 8 chặng đường 9 năm nói trên. Từ một cô nữ sinh Sài Gòn, Nguyễn Khoa Như ý (tên khai sinh của HKL) trở về với lý tưởng đã chọn, làm thanh niên xung phong, lên chiến khu, làm cô giáo Trường Văn hóa Miền Tây của Trị Thiên Huế. Cái năm 1967 ấy, Như ý đứng ở hào 1 quẻ Sơn Địa Bác. Sơn là Núi, Địa là Đất. Bác là bị tước đoạt làm cho hao mòn. Tượng quẻ là quả núi mọc trên đất, núi trên đất muốn vững thì phải vun đắp nền đất cho dày, nền không dày thì núi cũng đổ. Hào 1 quẻ Bác bảo rằng Như ý năm này như người đi lên núi, nhưng vấp váp nhiều, hao tổn nhiều, chẳng khác nằm trên giường mà chân giường bị xiêu vẹo, hoặc như người quân tử bị tiểu nhân hành hạ, không tránh khỏi vất vả gian nan. Thì đúng là Như ý đã đi vào cái hành lang như thế, mở lớp dựng trường trên vùng núi bị giặc đánh phá bằng bom đạn và thuốc độc, thày trò phải vừa làm nương rẫy vừa học hành, nên gian nan vô cùng, càng gian nan đối với một cô gái Huế vốn sống trong nhung lụa. Mùa xuân, núi rừng Trường Sơn sũng nước. Những đợt gió mùa đông bắc kéo dài cùng với mưa rả rích suốt ngày đêm, những đỉnh đồi cao chót vót, gió lạnh như cắt da cắt thịt, đường rừng lầy lội, những con suối nước dâng cao... Dưới những tán rừng nguyên sinh, trên những trục đường Hồ Chí Minh, dọc tuyến 559, ngày đêm vẫn tấp nập người ra vào. Vũ khí, lương thực thuốc men, từ miền Bắc ùn ùn chuyển vào. (Sđd. tr.9). Có một tin mừng, nhưng chẳng bao lâu niềm vui rơi vào hư vô. Buổi chiều ấy, đoàn các thày cô giáo và học sinh đi làm cỏ lúa trên nương trở về, ngồi nghỉ ven một bờ suối, ngay gần một đoàn cán bộ từ miền Bắc vào cũng đang ngồi nghỉ. Có một anh cán bộ trẻ đến làm quen với cô giáo xinh xắn. Trò chuyện một lúc thì biết anh là nhà thơ Bùi Minh Quốc, giờ mang tên Dương Hương Ly. Cô giáo Như ý lúc ấy chưa biết Bùi Minh Quốc là ai, nhưng biết anh làm thơ, viết văn thì mừng quá, bèn thổ lộ ngay một việc: Cách đó hai năm cô đã làm xong một cuốn tiểu thuyết tên là Trắng Canh, lấy bút danh tác giả là Linh Lan Khai (vì cô yêu hai nhà văn Nhất Linh và Lan Khai), đã gởi bản thảo ra miền Bắc để xuất bản. Gởi theo đường giao liên, theo một niềm tin, như gởi vào trời đất, dù biết không chắc bản thảo ra được đến nơi, vì chỉ cần người giao liên bị bom coi như xong. Còn địa chỉ gởi thì nhờ có một hôm cầm một bìa sách trong tay thấy có Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội, liền nhớ lấy và cứ thế ghi ra ngoài gói tài liệu. Chả biết bản thảo ấy bây giờ ra sao. Thì, như có sự xui khiến của số phận, Dương Hương Ly reo lên. Vậy thì cô khỏi lo lắng gì nữa. Bản thảo tiểu thuyết của cô đã đến được nơi cần đến, chính tôi đã được đọc nó trước lúc lên đường... Tôi xúc động nghẹn ngào không nói lên lời. Cuộc đời kỳ diệu thế, đẹp thế. Đẹp đến nỗi ta có cảm giác như nó không thực. Chỉ có cái “ảo” mới lung linh kỳ diệu nhường kia. (Sđd. tr.16). Thế nhưng Trắng Canh cũng chỉ “đến nơi cần đến” mà thôi. Cuốn sách không được ra đời.

     Hà Khánh Linh kể về những cuốn sách đầu tay của mình: Cuốn Trắng Canh, tôi còn nhớ ở trang cuối bản thảo tôi đã tự trình bày ma-két, tự vẽ bìa... Còn toàn bộ bản thảo thì được viết trên quyển vở học trò 100 trang bìa xích-lô. Mỗi dòng kẻ trong đó được viết thành hai hàng chữ nhỏ li ti, nhưng khá rõ ràng, sắc sảo. Tôi viết kín cả trăm trang theo kiểu đó, viết tràn ra tận lề trang. Tất cả nhằm đạt đến sự gọn nhẹ trên vai của người giao liên từ Nam ra Bắc. (Một tinh thần Đại Tráng). Về cuốn sách thứ hai: Tôi muốn bắt tay viết ngay một cái gì đó, nhưng nhìn lại gia tài giấy bút của mình quá nghèo nàn ít ỏi. Các em học sinh còn đang thiếu giấy để học, phải đếm từng trang giấy để chia cho các em đủ học từng tuần, từng tháng một... Giấy ở đâu để viết tiểu thuyết? Và bom đạn và những rẫy sắn nương ngô bị chất độc màu da cam tàn phá đang chờ những bàn tay của chúng tôi đến cứu gấp... Tuy khó khăn thiếu thốn vậy, nhưng thỉnh thoảng những lúc rảnh tôi đã tranh thủ viết chắp vá từng mảng một cho một quyển tiểu thuyết đang hình thành trong tôi. Nghĩ mãi tôi không biết chọn tựa đề nào cho tiểu thuyết. Đã “trắng canh” rồi, không biết là gì nữa đây. Cuối cùng tôi quyết định lấy tên nhân vật chính làm tên tiểu thuyết: Thúy. Lại viết về các đô thị miền Nam... Nhân vật Khiết (nam) mang đầy đủ mọi suy nghĩ của tôi. Viết mỗi khi một ít, chừng được vài chục trang thì hết cả giấy. Tôi cuộn tròn bản thảo cất kỹ vào ba- lô. Mãi đến khi nhà trường do bom đạn ác liệt, phải gởi các em ra miền Bắc học, thày cô giáo thì chờ việc, Như ý mới có dịp thu gom giấy trong các vở học trò còn lại được gần 100 trang. Tôi hăm hở viết những gì ấp ủ từ hôm hết giấy viết đến nay. Viết mỗi khi một ít, kết lại thành một một tập kha khá, lại nhét vào ba-lô cùng những áo xống, chăn võng, dù ngụy trang, và các thứ vật dụng khác. (Sđd. tr.21-22). Nhưng ngay sau đó Như ý cùng Kăn Xanh một cô gái Pa-cô xinh đẹp, lại trải qua một trận bom B52, chỉ may mà còn sống, chiếc ba-lô bị bom vùi. Bản thảo cùng những vật kỷ niệm cuối cùng của cha mẹ vẫn mang theo người thế là mất trắng.

    Chuyện về những bản thảo ban đầu của nhà văn thời Đại Tráng là như thế.

    Cũng giống như những nhà văn Đại Tráng khác, khí chất Đại Tráng của Hà Khánh Linh bộc lộ rất mạnh mẽ ở chỗ dám nói và biết cách nói về những gì mình cho là phải, không thấy phải nhất định không làm, thấy phải không ai ngăn cản được. Trường Sơn ngày ấy kể lại một câu chuyện sau đây. Hà Khánh Linh bị sốt nặng, xanh xao, không nhấc nổi mình. Có anh Giám đảng viên cộng sản, bí thư Đoàn thanh niên, chợt ghé thăm, thương quá, bảo sẽ đi kiếm cá về cho. Ngay sau đó, nghe tiếng nổ, có tin anh Giám đã chết do vô ý khi tra kíp điện vào bộc phá. Hà Khánh Linh đau đớn cố lê lết đến nơi chôn cất anh. Tại đây cô chứng kiến một cảnh tượng gây chấn động tâm hồn: sau khi mọi người đắp mộ cho anh, người trưởng cơ quan trịnh trọng đọc quyết định khai trừ đồng chí Giám ra khỏi Đảng, rút chức bí thư Đoàn Thanh niên. Biết rằng chiến tranh có những quy luật nghiệt ngã của nó nhưng: Tôi nghe lòng mình đau như dao cắt. Nghe theo tiếng lòng mình, sau này Hà Khánh Linh viết bài thơ dài về anh Giám Những đứa con không có phần hương lửa (Trăng cứu rỗi. Thơ. Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 1995):

    Những nẻo rừng Trường Sơn

    Nhạt nhòa trong bóng tối

    Chỉ riêng em

    Bắt gặp mắt anh nhìn

    Chỉ riêng em

    Nghe được lời cuối cùng anh nói

    Chỉ riêng em

    Anh mãi mãi là bí thư

    Đoàn thanh niên cộng sản

    Anh mãi mãi ở tuổi hai mươi hai...

     

    Những chiều mùa đông

    Đi trên đường phố Huế

    Nhìn lên dãy Trường Sơn

    Sương trắng dâng đầy như một biển sữa

    Anh tắm nơi nào

    Trong biển sữa mênh mông ấy?

     

    Những ngày hè Trường Sơn lồng lộng sắc

    Anh ngủ nơi đâu

    Dưới những tán diệp lục rì rào ấy?

    Trường Sơn như mái nhà

    Như người mẹ

    Như đền thờ

    Như khúc ru vĩnh cửu

    Ấp iu - nuôi dưỡng - phụng thờ

    Những đứa con không có phần hương lửa.

    Đây chính là dấu ấn thơ của người Đại Tráng, dịu dàng đấy mà mạnh mẽ, dứt khoát đấy: Anh không có phần hương lửa của cuộc đời, thì Trường Sơn sẽ là đền thờ anh, Trường Sơn như mái nhà, như người mẹ, như khúc ca ru vĩnh cửu của anh. Hà Khánh Linh đã dùng 6 câu thơ cuối trên đây làm đề từ cho tập hồi ký về những ngày Trường Sơn của mình.

    Tôi không có đầy đủ tác phẩm của Hà Khánh Linh (chính tác giả cũng không còn giữ được), nhưng nhờ nắm được cấu trúc Hà Lạc của nhà văn, tôi nhanh chóng nhận ra rằng đọc Hà Khánh Linh, không thể không đọc Đi dưới trời hoa phượng. (Vũng chân mây - Tập truyện - Nxb Đà Nẵng 1999). Trong truyện vừa này hiện lên lung linh cái ý tưởng hào 6 quẻ Đại Tráng, cũng là cái chủ mệnh chi phối cuộc đời tác giả, chính nó làm nên cái gian truân, cái vật vã của một người quân tử, ở đây là một nhà văn. Hào 6 nói về một hoàn cảnh ở cuối thời Đại Tráng, phản ánh cái vị thế của người đầy khát vọng, đầy ý chí nhưng lâm vào những vướng mắc của cuộc đời không gỡ ra được, tiến lui đều khó. (người xưa ví như con dê đực mắc sừng vào bờ dậu). Trong bối cảnh ấy chỉ còn cách chịu khó nhọc, khéo léo, lựa thế, lựa thời, sáng suốt mà len lách đi lên và bao giờ cũng đứng trước hai hành lang: một là thành kẻ tầm thường, đen tối, hai là thành người cao thượng quang minh. (Đặc điểm quẻ Đại Tráng là lời quẻ thì nói về thời, một thời lớn mạnh, còn 6 lời hào thì nói về 6 vị thế người tiêu biểu trong thời Đại Tráng ấy).

    Nhân vật Thiết người kể truyện, xưng tôi, trong Đi dưới trời hoa phượng là một người có đầy đủ khí chất thời Đại Tráng: thông minh, hăng hái, mạnh mẽ, hay giúp đỡ người, đầy khát vọng. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, anh đã hai lần ra Bắc vào Nam. Nhưng Thiết cũng là người cuối thời Đại Tráng: anh đã là thương binh, trở về hậu phương điều dưỡng. Chính trong cuộc điều dưỡng này do lòng tốt mà anh chót sa vào cạm bẫy cuộc đời khiến lâm vào tình thế tiến thoái đều khó. Một buổi chiều xuống xe lửa, anh giúp một cô gái khiêng một túi hàng nặng. Hôm sau cô đến viện điều dưỡng cảm ơn và mời anh đến nhà chơi. Mọi chuyện bắt đầu đơn giản chỉ có thế. Ngay trong lần đến nhà đầu tiên ấy anh sa vào vòng tay cô gái. Rồi sau không gỡ ra được vì cô có mang. Họ thành vợ thành chồng, đẻ con và di chuyển vào Huế. Từ đây những thử thách cứ thế diễn ra dưới trời hoa phượng, và cũng bắt đầu từ cô gái quê: cô đã nhanh chóng thay đổi, chủ động từng bước lôi cuốn anh vào cuộc, tận dụng những chuyến đi công tác có xe để buôn trầm. Cuộc giằng xé, vật vã đau đớn đã diễn ra bên trong cái vẻ ngoài êm dịu của cuộc sống gia đình, khiến cho anh một mặt vẫn tỏ ra là người tài trí (trong giao dịch, trong biên tập, dịch thuật, cả trong chăm sóc vợ con) nhưng mặt khác cuối cùng không thoát khỏi lưới đời, bị tù, bị liệt nửa người... Có lúc anh đã thốt lên: Hình như ông trời chưa hề có ý dừng lại các trò diễu cợt trên thân phận con người, ông trời lại tiếp tục thử thách lòng kiên nhẫn và sức chịu đựng của tôi. (Sđd. Tr 286). Nhưng không phải thế, cũng đã có lúc ông trời hé ra một lối thoát, đó là trong khi anh đang phải vẫy vùng để tìm lối ra khỏi những bối rối, anh biết Phượng người tình đầu của anh ở gần đó, nàng vẫn chờ anh, nàng đang sống lành mạnh, như anh mơ ước, nhưng anh đã bỏ qua. Hào 6 quẻ Đại Tráng bảo rằng trong tình huống ấy phải chịu khó nhọc và phải khéo léo lựa thời thế. Nhân vật của truyện có thể chịu khó nhọc, nhưng ở cuối thời Đại Tráng anh thiếu hẳn cái khéo léo tỉnh táo.

    Tôi không thể không nói lên một điều ngạc nhiên và thú vị của người làm toán Hà Lạc. Hà Khánh Linh không hề biết mình là người mệnh Đại Tráng, hào 6. Nhưng trong Đi dưới trời hoa phượng, tác giả đã sáng tạo một nhân vật có đầy đủ đường nét, hành lang, hành trình, vị thế, hoàn cảnh một người ở cuối thời Đại Tráng, một người như con dê đực mắc sừng vào bờ dậu, muốn tiến lên không được, muốn lùi lại không xong, chịu bao nguy khốn..

    Cũng cần nói thêm rằng Đi dưới trời hoa phượng là một truyện có sức lôi cuốn nhưng chưa cho người đọc cái mỹ cảm văn chương. Tác giả chỉ mới phác thảo một hành trình số phận, chị chưa dừng lại ở những giằng xé phân thân, những giây phút lựa chọn đầy kịch tính, những chấn động tâm hồn sau những thất bại mà chỉ nhà văn Đại Tráng hào 6 mới nhậy cảm biết đến từng chi tiết của nhân vật.

    Cũng cái âm hưởng hào 6 quẻ Đại Tráng ấy, Hà Khánh Linh viết Người cắm hoa nhà thờ, theo tôi thành công hơn, có lẽ chính chị đã gửi mình vào nhân vật người cắm hoa tài hoa này. Lộ Đức là tên nhân vật, do cha mẹ lấy tên một giáo xứ đặt cho, để cầu chúa ban phước cho cô bé. Một con người mà khí chất mạnh mẽ bộc lộ ngay từ nhỏ. Cô bé học giỏi, cả văn lẫn võ. Giỏi hội họa. Yêu ai yêu hết mình. Nhưng không vì yêu mà tự đánh mất mình. Đã từng làm tổng thư ký một tờ nguyệt san của một dòng giáo hội, mang tên Phương Đông. Ngay trong thế giới chống cộng (ở miền Nam VN trước 1975), đem lòng yêu quý Nguyễn ái Quốc, không ngần ngại vẽ chân dung Nguyễn treo trong phòng, bên ngoài phủ một tấm lụa hoa. Trong cuộc tổng tiến công của quân và dân ta tết Mậu Thân 1968, Lộ Đức đã từng giấu ngay trong phòng mình và cứu chữa hai thương binh của ta sau đó tự tay lái xe đưa hai anh về vùng giải phóng. Vụ này lộ dần ra, cha cô, một chuyên gia trong ngụy quyền đã vất vả, tốn kém rất nhiều để chạy chọt cho qua. Nhưng Lộ Đức không bao giờ cho đó là việc ủng hộ cách mạng, chỉ khoanh lại bảo là việc nhân đạo. Sau này khi cách mạng thắng lợi cô cũng không bao giờ kể lại như một thành tích. Một tính cách mạnh mẽ là như thế. Chặng đường hào 6 quẻ Đại Tráng của nhân vật bắt đầu từ tháng Ba năm 1975, Huế được giải phóng. Lộ Đức quyết định ở lại với giáo xứ, đi chiêu tập những người do sợ hãi chính quyền mới mà trốn lánh đi. Lộ Đức trở thành cốt cán của cách mạng. Nhưng tất cả những cái đó chỉ diễn ra có 22 ngày. Ngay sau đó Lộ Đức bị gọi lên chất vấn và làm tình làm tội đủ điều, đối với một người mà trong lý lịch có quá nhiều điều để cách mạng “đặt vấn đề”. Nhân vật của Hà Khánh Linh đã thể hiện tất cả những gì mà người xưa đã diễn tả gọn gàng trong lời hào 6 quẻ Đại Tráng đã kể ở trên. Với tất cả khí chất hăng mạnh, Lộ Đức đã trả lời những câu hỏi chất vấn một cách đanh đá, sắc sảo, không phải không có những chỗ đuối lý. Cuối cùng Lộ Đức phải chịu nguy khốn, bị cắt hộ khẩu, cắt sổ gạo, tem phiếu, một tuần phải hai lần lên cơ quan quản lý chịu thẩm vấn. Nhưng khác với Thiết trong Đi dưới trời hoa phượng, Lộ Đức ở đây không chịu thất bại. Như có sự mách bảo của số phận, cô biết chịu khó nhọc và khéo léo lách mình qua bờ dậu, vượt lên. Bởi vì cũng khác với Thiết, cô là một trí thức, cái khát vọng của cô là cái đẹp thuần khiết. Cô thu mình lại và trở thành người cắm hoa cho nhà thờ, mỗi ngày cắm 12 bình hoa, mỗi bình hoa như một tác phẩm nghệ thuật. Để rồi đến một ngày không hẹn trước, những điều tốt lành lại đến với Lộ Đức, có những người chân thật, hiểu biết, “những học trò thật sự của Nguyễn ái Quốc” theo cách nghĩ của cô lại xuất hiện trong đời sống thường ngày của cô, khiến cô tưởng mình vừa sang một thế giới khác.

    Hà Khánh Linh còn gửi mình trong các nhân vật của Ngọc Quỳnh Tương, Con gái người cung nữ, Đậu ngự, Chim hạc đen... viết sau những năm Chín Mươi. Những năm này nhà văn đã từ giã thời Đại Tráng để sang thời Thiên Hỏa Đồng Nhân. Tượng quẻ là Lửa ở trên Trời. Nghĩa quẻ là Đồng Nhân, là Cùng người. Đã sang một chặng đường giống như ngọn lửa trên trời soi xuống để mọi người tìm đến cùng nhau. Quẻ đẹp lắm, nhưng tiếc thay hào chủ mệnh là hào 3 bảo rằng lửa ở trên trời đấy, nhưng chủ thể đang ở thời kỳ làm ngọn lửa nhập nhoàng, lúc bùng cháy lúc chập chờn, muốn làm việc gì lớn nhưng tự lượng sức mình không nổi, biết sức mình rồi, nhưng vẫn muốn vượt lên, vì thế nên chí hướng bất định, tấm lòng bối rối lo âu... Muốn dựa vào hào 2 thì hào 2 cự tuyệt, ngó lên hào 5 thì hào 5 xa quá cũng không còn là chỗ dựa của mình, bơ vơ không hòa đồng với người, đó là thân phận không tránh khỏi của hào 3. Đỗ Quyên trong Con gái người cung nữ (Tập truyện cùng tên, Nxb Phụ Nữ - Hà Nội - 1999) là một nhân vật như thế: Con gái một người cung nữ triều đình Huế, mảnh mai mà giỏi giang, sức chịu đựng bền bỉ, nói thạo tiếng Anh và tiếng Pháp, làm hướng dẫn viên du lịch, nhờ có mẹ đã từng là cung nữ, mà có những hiểu biết sâu xa về các nhân vật của triều đình để giới thiệu với khách. Bi kịch đến với cô là sau một buổi giao ban, người ta thông báo cho cô nghỉ việc vì có nghi vấn liên quan đến địch. Trong sự thật, Đỗ Quyên đã từng gánh vác việc nhà cho chồng hoạt động bí mật cho cách mạng, (đơn tuyến, chỉ một người biết), nhưng sau chiến dịch Mậu Thân, chồng bị lộ phải thoát ly gia đinh, ra căn cứ địa, dưới hình thức “bị cách mạng bắt đi trước mắt bà con dân phố”, để gia đình khỏi bị liên lụy...Nhưng đến khi Huế được giải phóng thì chính vì việc ấy mà bị liên lụy. Bởi người chồng cùng đồng đội vừa ra khỏi nhà vài giờ thì bị bom Mỹ giết hại. Còn người chỉ huy đơn tuyến cũng bị địch bắt đầy đi Côn Đảo. Và những thông tin xuyên tạc khác nữa về người cha. Từ đó, đóa hoa Đỗ Quyên bị mưa gió dồi lên dập xuống. Mẹ con Đỗ Quyên mất chỗ dựa là Huế giải phóng, (ví như hào 2) mất luôn chỗ dựa tinh thần là bà Hoàng thái hậu cũng vừa qua đời ở một biệt điện, bà này là người giải phóng cho mẹ Đỗ Quyên rời khỏi chốn thâm nghiêm cung đình trở về với hạnh phúc đời thường (ví như hào 5). Đến đây, tác giả đã cố lái nhân vật đi ra khỏi hành lang số phận, cho xuất hiện một cứu cánh là cậu con trai của Đỗ Quyên, cậu ta trốn khỏi nhà, tìm đường lập nghiệp, thành một nhà văn trẻ đem lại niềm an ủi cho bà và cho mẹ. Dịch học bao giờ cũng mở một cánh cửa rộng cho những con người biết làm chủ cuộc đời mình nhưng ở đây người đọc thấy có gì như là khiên cưỡng, thiếu thuyết phục. Quả nhiên chính nhà văn cũng không cưỡng được ngòi bút của số phận, ở trang cuối truyện, chiếc hộp đựng cuốn nhật ký của người cha tìm thấy ở Hà Nội, đóng gói rất đẹp làm của gia bảo vừa làm một chứng cớ minh oan, trên con tàu về Huế bỗng không cánh mà bay mất.

    Vì là Sấm và Lửa ở trên Trời, nên cảm giác không gian và cách nhìn từ trên xuống chiếm ưu thế trong văn Hà Khánh Linh. Ngòi bút tác giả như sinh động hẳn lên khi tả những nhân vật ở cung đình, thuộc tầng lớp trên (Chim hạc đen, Ngọc Quỳnh Tương, Đậu Ngự, Nỗi buồn của Chúa...). Trước hết đó là những chuyện ở cõi trời, có bàn tay của một đấng siêu nhiên. Sau nữa, đó là những chuyện tỏa ánh sáng xuống nhân gian, có sức quy tụ lòng người, người xưa gọi là “cùng người” (Đồng nhân). Đã hình thành một bút pháp kể chuyện, thiên về tính khái quát hơn là gợi cảm, duy lý hơn là duy mỹ. Bút pháp này có cái hay của nó, tiếc thay có vẻ như nhà văn chưa dụng công hoàn chỉnh. Do cảm giác không gian mạnh nên tả phong cảnh thiên về những cảnh đẹp bao quát một vùng trời: hoa phượng, vũng Chân Mây... Những câu thơ dưới đây tôi trích trong Những bọt bóng màu của tác giả Nguyễn Khoa Như ý. (Thơ. Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 1998)

    Dải mây hồng vắt ngang lưng trời

    Ôm khuôn trăng trinh nguyên và tái nhợt

    .........

    Ở đây mùa hạ mới bắt đầu

    Những tia lửa trên vòm phượng

    Xanh ngút bờ nam sông Hương

    Phượng ở Phu Văn Lâu

    Phượng trên đường Đoàn Thị Điểm

    Những chú bé vác cù nèo

    Trèo bẻ những cành phượng khô

    Dự trữ cho mùa thu Huế

    (Mùa hạ Huế)

    Khi người yêu định ngắt một cành mẫu đơn tặng mình, nhà thơ không ngần ngại thốt lên:Xin hãy dừng tay

    Bởi em muốn chiêm ngưỡng cái đẹp

    Từ xa

    Anh ơi

    Khi phải mượn sắc hoa

    Làm màu áo cho mình

    Em còn hổ thẹn nữa là...

    Đem cả đời hoa

    Làm điểm tựa

    Cho tâm hồn yếu đuối của em.

    (Màu áo màu hoa)

    Cuối năm 2000, tôi làm bài toán Hà Lạc gởi cho Hà Khánh Linh và phác thảo một số ý kiến về hành lang văn chương của chị. Hà Khánh Linh đã viết thư trả lời. Tôi đã xin phép tác giả đưa bức thư vào phần phụ lục của sách này nhằm giúp bạn đọc biết thêm những khía cạnh lý thú khác một khi chính nhà văn biết cái mệnh văn chương, qua cấu trúc Hà Lạc của mình.

    Tháng Tư - Tân Tị.

     

    Phụ lục 1: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Hà Khánh Linh

    Sinh ngày 17-06-Ât Dậu giờ Dậu (25-07-1945 lúc 18giờ 30). Âm Nữ. Nắng oi (Tiểu thử) (tiết lệnh tháng 6): 7-7-1945. Giữa hè: 22-6-1945 (Hóa công Ly). Mệnh: Thủy (trong suối). Trung nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Ât Dậu, tháng Quý Mùi, ngày Ất Mùi, giờ Ất Dậu. Mã số Can Chi: 2, 4-9; 2, 5-10; 2, 5-10; 2, 4-9. Số dương: 23. Số âm: 36.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0*

    0

    1

    1

    1

    1

    45-50

    87-92

    78-86

    69-77

    60-68

    51-59

    0

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1*

    0

    1

    20-28

    11-19

    02-10

    93-01

    38-43

    29-37

    1

    1

    1

    1

    1

    0

    0

    0

    1

    1

    0

    1

     Lôi Thiên

     Đại Tráng

     

    Trạch Thiên

     Quải

    Thiên Hỏa

    Đồng Nhân

     

     

    Thiên Phong

     Cấu

    Lôi Hỏa

     Phong

    Hoá công: Ly ở Hậu thiên. Thiên nguyên khí: (Khôn) Không. Địa Nguyên khí: Đoài ở Hỗ Tiên thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình thấp. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu hào 2, 5, 6.

     

    Phụ lục 2: Thư

    Hà Khánh LinhHuế ngày 22 -10 - 2000

    Anh Xuân Cang thân kính

    Em đã nhận được bài toán Hà Lạc do anh giải cho Hà Khánh Linh. Em thấy rất đúng. Những thời điểm ứng nghiệm với đời riêng đều đúng cả. Ví dụ năm 1975 anh bảo tại sao cách mạng thắng to mà chủ thể được quẻ Tỉnh, hào 1 như người ở đáy giếng, có cảm giác như bị đời bỏ, không gặp thời cơ. Thì đúng như thế, đó là thời điểm em mới sinh con nhỏ, nên không tham gia chiến dịch giải phóng Huế được, ngồi ôm con mà buồn cảm thấy như bị đời bỏ. Em đọc bài toán vừa tin vừa mừng và sợ. Em định tìm các tác phẩm của mình để gởi cho anh mượn như anh bảo, nhưng các bạn sinh viên văn Đà Lạt và Huế mượn để làm khóa luận, niên luận gì đó chưa trả. Em chỉ biết các cô các cậu ấy khi chúng tìm đến mình chứ không biết chỗ ở của chúng nên chưa đòi được. Chỉ có một ít sách mới xuất bản em gởi chỗ anh Sơn Tùng, anh ấy sẽ bảo người chuyển cho anh. Anh thông cảm nhé. Trên giá sách của em hiện giờ quyển Thúy cũng hoàn toàn không còn, chỉ còn bản tiếng Nga mà thôi. Nụ cười Absara là tập truyện viết về đất nước Căm-pu-chia hồi sinh in năm 1981. Chín năm sau tác giả trở lại CPC tình cờ gặp các bạn đọc Việt Nam bên ấy thấy họ đọc những bản đánh máy lại và quay rô-nê-ô. Hỏi ra mới biết bên ấy rất thích quyển nầy, về mua ở Sài Gòn bao nhiêu cũng không đủ, nên phải đọc bản rô-nê-ô. (Thời ấy chưa có máy phô-tô-cop-pi).

    Còn về câu trong Trường Sơn ngày ấy: “Tôi là người không có chí lớn...”, anh bảo không đúng với người quẻ Đại Tráng. Quả là như vậy, đó là cách nói nhún nhường của em mà thôi. Khi em còn nhỏ em đã sớm bộc lộ cái chí lớn của mình rồi; đến nỗi thầy em cũng bảo rằng con nầy là gái mà có cái chí của nam nhi, vá trời lấp biển được đó. Trong Ngọc Quỳnh Tương, người cha đã nghĩ về con gái của mình như thế, đấy chính là ý nghĩ của cha em về em đấy. Tuổi nhỏ em chỉ biết học và học, chứ không ham bạn bè, học đến nỗi cha mẹ phải giấu bớt sách vở đi, cho nó nghỉ ngơi một chút, học thế phát điên mất. Khi đi làm việc thì chỉ biết việc và việc. Phạm Phú Phong một lần viết chân dung HKL đã nói: “(...) là một viên chức mẫn cán”. May sao viên chức mẫn cán ấy vẫn viết đều, chứ nếu không thì đời còn chán nữa. Nói chung việc nước việc nhà của em luôn có những trắc trở, những giằng xé như phác thảo của anh. Em chỉ còn cách gạt bỏ những đau đớn, nhức nhối, tìm kiếm, chắt chiu từng giọt thời gian để sáng tác. Vui với người trong truyện. Tạo ra nhân vật đồng điệu tâm hồn để chia sẻ với mình.

     Nghe anh bảo Đậu ngự, Ngọc Quỳnh Tương, Nỗi buồn của chúa là các tác phẩm “mệnh” của em, nếu đúng như thế thì còn có Ngôi sao xanh, Chim hạc đen, Là bóng hay là hình, Trăng cứu rỗi... Đến nỗi ở Huế anh em văn nghệ thường đùa Hà Khánh Linh toàn yêu và viết về Chúa, Phật, hoàng đế thi sĩ (Tự Đức), thánh nhân,... chứ không yêu một con người cụ thể nào. Vậy hóa ra mệnh của em là như thế ư? Suốt cả cuộc đời em luôn dằn vặt đau đớn vì những gì muốn làm đều không làm được, hoặc làm được rất ít so với mong muốn. Không lúc nào em cảm thấy bình yên, lúc nào cũng trăn trở, vừa đau đời vừa đau thân... Trời sinh ra em “đại tráng” mà làm gì khi em vùng vẫy phía nào cũng bị một sức kìm hãm kinh khủng, như lúc nào cũng có một tảng đá đè lên đầu. Nơi đây em có chơi thân với một nữ tu sĩ là tiến sĩ thần học, có lần em tâm sự với bà ta: Thân phụ tôi chẳng may đã mất đi, nhưng nếu ông còn sống ắt ông đau lòng lắm khi nhìn thấy đứa con mà ông kỳ vọng nhất thì đã chịu đau đớn nhiều và thất bại nhiều.

    Em xin cảm ơn anh về tất cả.

    Hà Khánh Linh

     Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung Nhà văn. Xuân Cang. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Related posts

    Search

    Access times

    • Total visits49,947,922

    PARTNER

      Green Leaf Vietnam Trading Service Co., Ltd.

      Is the leading passenger transport service company in Vietnam! In 2019, Green Leaf VN has more than 500 passenger cars from 4 seats to 50 seats, new life, reaching 150 thousand arrivals. The rate of successful and punctual pickup is 99.97%.

      * Japanese customer care staff always create peace of mind and trust for customers ...