Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,000,241

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Hai ông già và một thời lính

Xuân Đài

  • Thứ bảy, 09:52 Ngày 03/10/2009
  • 1

    Vài ba ngày ông Huỳnh lại đánh ôtô tới thăm ông Trinh. Hai ông tự nhận mình là ngựa què, cùng sinh một năm Nhâm ngọ. Câu chuyện của hai ông một thời ở lính, cầm súng bắn vào nhau, ít ai biết đến, lâu lâu nhắc lại như nhắc chuyện vui, cười cợt…

    Chuyện xảy ra đã hơn một phần ba thế kỷ. Ngày đó đơn vị ông Trinh, bao vây vòng trong vòng ngoài, nhất quyết tiêu diệt đơn vị ông Huỳnh. cuộc đụng độ không cân sức. Quân giải phóng của ông Trinh là một trung đoàn chủ lực. Đơn vị Việt Nam cộng hòa của ông Huỳnh là một tiểu đoàn không trọn vẹn, dù họ đang chiếm điểm cao ở lưng chừng núi, xung quanh họ còn những điểm cao hơn mà đơn vị ông Trinh suốt mấy đêm thức trắng, bí mật hành quân .

    Đột nhiên ông Trinh hỏi:

    - Dạo đó chúng tao bao vây chúng mày. Chúng mày có hay biết một chút nào không.

    - Chúng tao có biết nhưng không ngờ chúng mày lại đông đến thế.

    Từ trong bếp, vợ ông Trinh xách phích nước ra phòng khách, cười cười:

    - Các ông ngỡ mình là trẻ con hay sao mà cứ mày mày tao tao. Đầu bạc răng long hết rồi, cháu nội cháu ngoại cả bầy, xưng hô ông ông tôi tôi, không các cháu nó cười cho thối mũi.

    Hai ông nhăn răng ra cười. Ông Huỳnh phân bua với vợ bạn: chúng tôi học với nhau từ lúc đang mặt quần đùi, quen mày tao, dù bây giờ đã ngoài sáu mươi vẫn không bỏ được. Nhưng từ hôm nay, xin tuân lệnh bà chị, không xưng hô mày mày tao tao nữa.

    Bà Trinh liền xua mấy đứa cháu nội cháu ngoại đang đứng ngồi xung quanh hóng chuyện ra ngòai sân chơi. Bọn trẻ ù té chạy.

    Cũng nhờ quen nhau từ thuở nhỏ mà ông Huỳnh thoát vòng lao lý. Dù ít khi nhắc lại chuyện cũ, hai ông, từ trong trí nhớ, chưa bao giờ quên từng chi tiết nhỏ cái ngày định mệnh, quyết định số phận ông Huỳnh…

    Ông Huỳnh:

    - Hai đánh một không chột cũng què, đằng này bốn đánh một, chúng tao không thua mới lạ.

    Trận đánh đó thật khốc liệt. Pháo binh giải phóng dập tới tấp vào ngọn núi của tiểu đoàn Việt Nam cộng hòa chiếm giữ, dọn đường cho bộ binh xông lên. Pháo cỡ đó, hầm kiên cố cách nào cũng không trụ nổi. Sau này, tổng kết trận đánh, mới biết ngay loạt pháo đầu tiên, gần một đại đội của Việt Nam cộng hòa bị xóa sổ. Loạt pháo thứ hai, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Báo chết không một lời trăng trối, tiểu đoàn phó Lê Văn Mè lên thay lúc đã bị thương vào tay phải và vai trái. Đại đội ông Huỳnh lúc này người chết, người bị thương nằm đè lên nhau, không ai đếm, dù có đếm cũng không xuể. Đại đội trưởng ông Huỳnh chỉ huy những người còn lại đánh trả bộ binh quân giải phóng. Lực bất tòng tâm. Quân giải phóng không phải là tân binh mà toàn lính thiện chiến dải dầu trận mạc, trang bị tiểu liên cực nhanh, đánh vỗ mặt. Nhiều người ngã xuống nhưng không một ai tháo lui. Ban chỉ huy đại đội ông Huỳnh chết gần hết. Rắn mất đầu, ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn. May cho ông Huỳnh và một người lính chạy theo ông thoát chết. Hai người bị bắt sống. Người ta dùng dây dù trói gô từng ông một. Để chắc ăn còn dùng một dây thứ ba trói chặt cánh tay ông Huỳnh vào cánh tay người lính. Thiếu úy trung đội trưởng hạ lệnh tất cả tiến nhanh, truy kích tàn quân, còn đồng chí Trinh trông coi hai thằng này, giải về phía sau.

    Khi đoàn quân rượt đuổi đã chạy xa, Trinh liếc nhìn vào phù hiệu gắn trên ngực người đeo lon thiếu úy có tên Huỳnh, đột ngột hỏi: mày có phải là thằng Lương Xuân Huỳnh, nhà ở phố Hàng Cót? Huỳnh gật đầu: sao ông biết? Trinh hỏi tiếp: lúc nhỏ mày học trường Hàng Than?... sau đó mày học Chu Văn An, năm năm tư mày học lớp đệ lục với tao, mày nhớ không? Cuối năm đó mày xuống Hải Phòng di cư. Nhớ ra tao là ai chưa? Nếu không bị trói, chắc Huỳnh đã dang cả hai tay lên mà reo: nhớ rồi, anh là Trinh, Nguyễn Đình Trinh, Trinh lém, ngồi trước tôi hai bàn. Tôi tin trí nhớ tôi không tồi, dù thời đó anh với tôi mới bước sang tuổi 13. Trinh cười: khá lắm, thiếu úy! Anh anh, tôi tôi cái con cặc. Văng tục xong, Trinh bảo hai người lính cộng hòa, quay lưng, hướng về phía Bắc, lệnh ngắn gọn: Đi. Trinh khoác tiểu liên theo sau, giữ một khoản cách nhất định để hai đứa có bỏ chạy vẫn không ngoài tầm súng của anh.

    Đi được khoảng hơn một cây số, Trinh biết bọn này không có ý trốn, liền ra lệnh ngồi xuống nghỉ. Anh ngồi đối diện với họ, lăm lăm khẩu súng trong tay và vẫn giữ một khoản cách hơn bốn mét. Trinh hỏi vừa đủ để Huỳnh nghe: mày kể ngắn gọn chặng đường dẫn mày đi lính cho tao nghe. Huỳnh cựa quậy hai cánh tay bị trói, buộc người lính kia cũng cựa quậy theo, nói thì thầm, đứt đoạn: vào tới Sài Gòn, tao học tiếp, đậu tú tài, rồi đi sĩ quan Đà Lạt, ra trường mang lon thiếu úy, làm trung đội trưởng cho đến bây giờ.

    - Ông bà cụ còn khỏe không? – Trinh hỏi giọng thân tình – Huỳnh chớp chớp mắt.

    - Cám ơn mày, ba mẹ tao vẫn khỏe. Ba tao vẫn làm công chức ngành dây thép. Mẹ tao, vẫn như những ngày ở Hà Nội, buôn thúng bán bưng tại ngôi chợ trong nội thành Sài Gòn. Trinh: quận mấy? Huỳnh: quận nhì! Trinh: vậy là buôn bán lớn chứ đâu phải buôn thúng bán bưng. Huỳnh: tao nói vậy là quen mồm, thật ra mẹ tao có sạp hàng trong chợ. Trinh: thế là khá giả chứ. Huỳnh: cũng thường thường bậc trung thôi, còn gia đình mày thế nào rồi? Trinh: nhà tao vẫn ở phố Hàng Bè như mày đã biết. Còn tao, học đại học Tổng hợp, khoa toán. Tốt nghiệp xuống Đông Triều dạy học. Và tao đi lính từ ngôi trường cấp 3 này… Hai người lính vừa cầm súng đối mặt nhau, lúc này lại trò chuyện thân tình như hai người bạn lâu ngày gặp lại. Nói cho đúng, họ thật sự là bạn thời thơ ấu chưa xa, vẫn nhớ sân trường cũ, chỗ chơi khăng, đánh bi và chỗ tụi con gái kéo nhau ra nhảy dây giờ tan học mà hai đứa vẫn thường chạy đến quấy phá bị bọn con gái xúm lại đánh cho no đòn. Tuổi thơ và sân trường Chu Văn An một thời nghịch ngợm, lúc này họ thấy như có gió Hồ Tây thoảng lên làm dịu cơn nóng, thổi bay bụi bặm chiến trường, dù họ đang ngồi trong rừng gần đường số 1, đi ra là Hà Nội, đi vào là Sài Gòn…

    Hai người lính đứng lên và Trinh lại lăm lăm khẩu súng áp giải. Gần ra tới đường số 1, Trinh lệnh cho ngồi nghỉ. Suốt chặng đường, Trinh nghĩ mông lung những gì chỉ có Trinh biết. Chắc anh nghĩ về chiến tranh, số phận thanh niên hai miền, chết chóc, thương vong, tù tội. Bạn anh, nhiều đứa đã trở thành tù binh của phía bên kia, bây giờ ở đâu, Côn đảo hay Phú Quốc…và “chiến hữu” của thằng Huỳnh, vô số đứa đang bị giam giữ ở các trại ngoài Bắc, những đứa may mắn được vào lao động thủ công ở các nông trường, hay đi làm đường, anh biết rõ là ở Thái Nguyên. Bố mẹ, vợ con, chắc ngày ngày ngong ngóng tin tức. Thằng Huỳnh và thằng lính dưới quyền nó sẽ chịu số phận không khác gì những thằng lính bị bắt trước đây. Tự nhiên anh thấy thương thằng Huỳnh, nghĩ ngợi, lo lắng, dằn vặt… Sao lại dằn vặt, anh tự mắng mình, lại thấy có lý, vô lý. Cái đầu nặng trịch.

    Và anh đã thả Huỳnh và người lính, khuyên họ tìm đường về Sài Gòn, mong họ tìm cách trốn khỏi quân đội Sài Gòn…

     

    2

    Ông Huỳnh bây giờ là Việt kiều Canada, làm chủ công ty sản xuất gốm ở một tỉnh phía Bắc sông Hồng. Trước năm 1975, ông đã tìm đường du học bằng bộ hồ sơ mang tên người em ruột, thua ông hai tuổi. Mọi việc trót lọt. Từ nhỏ, Trinh biết, Huỳnh rất có năng khiếu hội họa. Nên khi Huỳnh cho hay ra nước ngoài ông học khoa Mỹ thuật ở một trường đại học lớn của Canada, Trinh không hề ngạc nhiên. Ngành của Huỳnh học, đại để giống như Mỹ thuật công nghiệp ở Việt Nam. Trớ trêu thay, ở Canada ông lại không hành nghề này, theo như ông nói, ông làm nghề mỹ thuật công nghiệp được gần một năm, bỏ, không cạnh tranh được với các hãng lớn đã thành lập lâu năm. Ông lại vào một trường đại học khác, học ngành công nghệ thông tin, theo danh từ của Việt Nam là học về phần mềm, tốt nghiệp với cái bằng ưu, từ đó, ông trở thành lập trình viên phần mềm cho một hãng điện tử của Mỹ có chi nhánh ở Canada….

    Khi về Việt Nam đầu tư, ông quay lại với đam mê thuở nhỏ là hội họa. Gốm Việt Nam, theo ông là một sản phẩm có thể cạnh tranh với các loại gốm ở Đông Nam Á, kể cả gốm Trung Quốc đang chiếm lĩnh thị trường thế giới. Lang thang đến các làng gốm Việt Nam, mẫu mã khá đẹp nhưng chưa đủ sức trở thành một thương hiệu để thế giới đón nhận. Các làng gốm không chỉ thiếu vốn mà còn thiếu những con người tâm huyết với nghề. Trách cứ là một điều không nên. Ông đã trò chuyện với mấy ông chủ lò gốm có bằng tốt nghiệp đại học mỹ thuật, họ thật sự có tài nhưng không thể chiêu dụ các bạn bè đồng môn đang lang bạt ở nhiều địa phương.  Vì các ông không thể trả lương cao, ít nhất là bằng các lò gốm ở Đồng Nai. Ông Huỳnh, qua trao đổi nhiều lần, thấy rõ khiếm khuyết này, ông đã cùng các ông chủ tìm mọi cách mời họ về hợp tác với thu nhập cao, hấp dẫn. Họ về làm gốm cho vùng quê này cũng chính là về với nơi chôn rau cắt rốn. Tiếng gọi của ông Huỳnh, của các ông chủ lò cũng là tiếng gọi của quê hương. Họ lần lượt khăn gói về với các ông…

    Nhiều lần ông Huỳnh cho ông Trinh biết ông đã mua thêm đất mở rộng mặt bằng các lò gốm, ông trả lương công nhân gấp đôi so với trước. Ông chấp nhận năm đầu tiên bị lỗ để hoàn thiện các mặt. Mấy năm nay các lò gốm vùng quê ông đã xuất khẩu ra nhiều nước nhưng chỉ mới lẩn quẩn ở các nước láng giềng với số lượng cò con, cần “đánh lấn” sang thị trường Đông Âu, Bắc Âu và cả Châu Mỹ nữa. Những họa sĩ xuất thân từ trường Mỹ thuật công nghiệp là lớp tuổi cháu con ông, thấy ông vững tay nghề, đối xử cởi mở, nhân ái, thân thiện nên đã hết lòng hợp tác. Lương cao và thương hiệu gốm Việt Nam là động lực thúc đẩy họ làm việc. Nhiều mẫu mã đưa ra mới ở dạng thiết kế trên giấy, ông Huỳnh đã “đọc” được tài năng tiềm ẩn trong lớp trẻ này. Hiểu rõ vai trò quan trọng của maketting, ông Huỳnh đã không tiếc tiền cử những chuyên gia, năm lần bảy lượt bay qua các nước làm việc với đối tác. Các chuyên gia này là con em trong tỉnh có bằng đại học ở các trường kinh tế thương mại và ngoại giao, có kinh nghiệm nghề nghiệp đã vài năm ở những cơ sở sản xuất khác mà hội đồng quản trị của ông đã mời gọi về được, đúng với danh từ mà báo chí và các nhà lãnh đạo hay nói “chiêu hiền đãi sĩ”.

    Trong bữa ăn trưa tại nhà ông Trinh, con gái ông Trinh hỏi:

    - Thưa bác, hơn một năm rồi hàng gốm của bác bán chạy trong nội địa và còn xuất khẩu nữa, bây giờ bác đã có lãi chưa?

    - Vẫn lỗ cháu ạ, nội địa tiêu thụ chưa nhiều, cạnh tranh với các lò gốm trong Nam không dễ đâu cháu, họ cũng giỏi lắm, nhất là khâu cải tiến mẫu mã. Hai nữa, xuất khẩu có mở rộng nhưng chưa được như mong muốn. Nói để cháu mừng, chỉ cần một năm nữa là có lãi.

    Cháu gái lại hỏi tiếp:

    - Bác đã bỏ ra cả triệu đô la cho việc làm gốm rồi phải không?

    Ông Huỳnh cười:

    - Tiền nong là bí mật của kinh doanh con gái ạ, chỉ tiết lộ với con một điều chưa đến số tiền như con nghĩ đâu, mặc dù bác đã đầu tư cơ sở vật chất kết hợp giữa thủ công và máy móc hiện đại. Nghề gốm làm thủ công là chính, là sự khéo tay của người Việt mình. Xưa nay ông bà ta chỉ làm thủ công, bây giờ các cơ sở có thêm máy móc hiện đại để giải quyết những khâu nặng nhọc mà trước đây người lao động vẫn làm bằng tay chân.

    Cháu gái hỏi tiếp:

    - Những khâu nào trước đây làm bằng tay chân, bây giờ máy móc thay thế được?

    - Cháu đã từng đến thăm lò gốm nào chưa? Chưa hả? Vậy thì hôm nào tới cơ sở bác một lần cho biết, trăm nghe không bằng một thấy. Nghe ba cháu nói, cháu làm nghề viết văn, viết văn mà cứ ngồi đây hỏi làm sao cháu hiểu được công việc tỉ mỉ và tâm tư của người lao động. Nói thật với cháu, nhiều Việt kiều về nước đầu tư phần lớn chú tâm vào việc sản xuất ra của cải vật chất, còn số nữa – số này không ít đâu – kinh doanh dịch vụ, đầu tư vào các nhà hàng ăn uống để nhanh chóng có lãi. Chắc cháu biết chuyện ông tướng Việt Nam cộng hòa về nước đang đầu tư một khu du lịch ở vùng biển, gọi là du lịch cho nó mỹ miều, thực chất là kiếm tiền bằng các trò ăn chơi. Mà các trò ăn chơi, theo bác là đang quá thừa mứa ở trên đất nước mình. Bác nói cho cháu gái biết, Sài Gòn bây giờ ăn chơi, Sài – Gòn - trước - bảy - lăm phải cất mũ chào và gọi bằng… cụ.

    Cô gái viết văn chen vào một câu bình luận: xã hội ngày nay kinh doanh theo lối chụp giật bác ạ! Ông Huỳnh nhếch mép cười: không hoàn toàn như vậy đâu cháu. Ông Tướng kinh doanh kiểu đó, bà con Việt kiều viết báo phê phán kịch liệt, theo cách nói dân gian là chửi thẳng vào mặt.

    Cô cháu có vẻ ngượng trước nhận định hồ đồ của mình về thời thế bị ông bác phản đòn, liền dịu dàng đề nghị, ngay chiều nay bác cho cháu tháp tùng sang thăm cơ sở làm gốm của bác được không?

    - Ok.

    Hai bác cháu có đi ngay chiều ấy, người viết chuyện này cũng không rõ vì chưa nghe ông Trinh kể.

     

    3

    Hai ông già Trinh và Huỳnh, ít khi nhắc lại một thời trận mạc, cả việc ông Trinh thả ông Huỳnh, sau đó ông Trinh ra tòa án binh, ở tù, ông Huỳnh về Sài Gòn, đội tên em ruột mình đi nước ngoài du học, họ cũng ít khi kể lại cho nhau nghe. Ông Huỳnh, hơn một lần nhắc lại cái chuyện vui. Hôm ông Trinh “giải phóng” cho ông Huỳnh và người lính dưới quyền, dặn hai người qưẳng quần áo lính vào rừng, mặc quần xà lỏn, cởi trần, tìm đường ra quốc lộ, nhập vào đoàn nhân dân đang chạy loạn… Huỳnh nói với Trinh là chỉ mặc xilip, làm sao vứt chiếc quần dài được. Trinh vào nấp dưới bụi cây, lúc sau cầm chiếc quần đùi của mình vứt cho Huỳnh: tí nữa vào rừng thay mà mặc. Huỳnh hỏi lại, vậy mày có cần xilip của tao không?

    - Sư bố mày – Trinh trả lời bằng một câu chửi thân mật mà thời học sinh họ vẫn thường dùng với nhau.

    Huỳnh cho Trinh biết ông vẫn còn giữ chiếc quần đùi, cất kín dưới đáy vali làm kỷ niệm, ông có mang theo về Việt Nam. Xung quanh cái chuyện quần đùi cũng lắm chuyện cười ra nước mắt với bà xã ông và lũ con mỗi lần ông mang ra phơi nắng hoặc đưa vào lò sấy khô…

    Ông Trinh đành kể lại chuyện ra tòa án binh rồi đi tù cho bạn nghe vì ông Huỳnh nhiều lần hỏi đi hỏi lại. Ông Trinh bảo quân đội nào chẳng vậy, vi phạm kỷ luật chiến trường mà chẳng phải nhận án. Ban đầu lúc mới quay về đơn vị, Trinh cũng khai báo loanh quanh để chạy tội, không qua mặt được ông Trung đoàn trưởng, một người dày dạn trận mạc và từng trải sự đời. Ông vỗ vai Trinh bảo: cậu về viết tường trình trung thực, rõ ràng từng chi tiết, động cơ gì mà cậu thả hai thằng lính.

    Trước cách kể nhấm nhẵng của Trinh, Huỳnh sốt ruột bảo:

    - Ông viết thế nào kể thật kỹ cho tôi nghe?

    - Biết là không lừa dối cấp trên được, tao tường trình không bỏ sót chi tiết nào, kể cả chi tiết lột quần đùi cho mày, chắc cấp trên đọc tới đoạn này cũng không nhịn được cười. Còn về động cơ – danh từ mà quân đội bên chúng tao hay dùng – tao viết dài hơn hai trang giấy học trò, nói thật về tình bạn thời chúng mình cùng học với nhau ở trường tiểu học Hàng Than, trường Chu Văn An. Không sót chuyện tao thường lên Hàng Cót học chung với mày, được ba mày kèm cặp, nhiều hôm mệt quá, hai đứa lăn quay ra sàn nhà, ngủ thiếp đi lúc nào không biết, mẹ mày phải lay dậy dọn cơm cho ăn. Dạo này ông bà cụ còn khỏe không Huỳnh?

    - Nhờ trời ba mẹ tao cũng khỏe. Dạo mới về Sài Gòn, kể lại chuyện tao với mày “gặp nhau” ở chiến trường, ông bà già nhớ ra mày ngay, thương mến và kính phục mày, mẹ tao thường dặn: ơn mày sống để bụng chết mang theo, quên là có tội. Tao về đầu tư một phần là vì đất nước, nói thật, phần chính là vì mày. Hồi mới ra tù chắc đời sống mày khó khăn lắm, phải không?

    - Đời sống vật chất không có gì đáng phàn nàn, nhục nhất là bà con hàng phố xì xào về việc tao phải ra tòa quân sự, lãnh án tù giam. Có người độc mồm bảo tao bắn chết đồng đội, quay súng bỏ chạy; có người còn dựng chuyện, trên đường bỏ chạy ra Hà Hội tao vào làng dùng súng đe dọa bà con dân tộc, cướp vàng bạc của họ. Bà con dân tộc thiểu số, khoai sắn không đủ ăn, làm gì có vàng bạc, những kẻ bịa chuyện chả hiểu gì về nhân tình thế thái, thích thế nào “vẽ rồng rắn” thế đó, dân Hà Nội mình mày còn lạ gì. Sau này bà con khu phố biết chuyện tao thả tù binh là một thằng bạn học, nhiều người xung quanh phố Hàng Bè, nhất là bọn cùng trang lứa với chúng ta, vẫn còn nhớ mày, họ lại thương tao và thương cả mày nữa. Cái nhà ở Hàng Bè bây giờ vợ chồng ông anh cả mở tiệm kinh doanh đồ điện, hai cụ ở dưới đó với ông anh, đời sống cũng dễ thở… Những lần mày tới, chắc hai cụ đã kể cho mày nghe về thân phận của tao.

    - Có kể, song chỉ nói qua loa thôi, các cụ chỉ nói mày ra tù sống vất vả lắm, hết vác bơm xe ra ngồi vỉa hè “ăn” bụi, thu nhập cò con, lại đóng cái hòm nhỏ bơm gas máy lửa và chữa khóa, trần ai lắm mới kiếm đủ ăn… Sao bây giờ mày nhà cao cửa rộng thế này?

    - Nhờ bung ra cho dân làm ăn theo cách mà chúng ta vẫn nói kinh tế thị trường, tao mới có như ngày nay. Mày biết đấy, tao là thằng toán học, nói không phải khoe, tao là thằng giỏi toán nhất nhì trường đại học ngày xưa. Nhờ thằng bạn, học cùng khóa, cùng dạy một trường ở Đông Triều ngày trước. Nó cũng là thằng giỏi toán, hiện đang dạy đại học Huế. Biết hoàn cảnh tao, gọi vào, cùng nó luyện thi đại học cho các em. Nó với tao luyện thi đứa nào, đứa đó đậu đại học. Xứ Huế nghèo nhưng cũng rất nhiều đại gia, họ không tiếc tiền khi chi trả cho công lao cho hai đứa chúng tao. Với lại, bà xã nhà tao là dân Hóa, mở công ty sản xuất hóa chất, thu nhập cao hơn cả tao. Bây giờ tao mở Trung tâm có sáu cơ sở luyện thi, khóa nào cũng có các em tứ xứ về đây học chứ không chỉ là con em Hà Nội. Tao lấy giá rất mềm vì các em thuộc diện con nhà cày sâu cuốc bẫm. Còn cái công ty đồ gốm của mày, sản xuất hơn hai năm rồi, chắc đã bắt đầu có lãi, nghe người ta đồn nhờ xuất khẩu mà mày lãi lớn, đúng không. Bí quyết của nghề gốm là gì?

    - Chẳng có bí quyềt gì ghê gớm cả đâu. Mẫu mã và men là hai yếu tố quyết định. Trước đây bà con sản xuất nhỏ, ít chịu thay đổi mẫu mã, do đó tiêu thụ rất chậm. Mày biết đấy, dân mình thông minh, nhiều sáng tạo lại cần cù. Nhiều phẩm chất tốt đẹp, không có tiền phải bó tay, tài năng muốn phát huy phải có người biết tập hợp và dùng tài năng của họ.

    - Mày là người đã làm được việc này, rất đáng khen. Hôm sang cơ sở của mày tao thích nhất là các hoa văn thời Lý Trần được chúng mày đắp nổi lên sản phẩm. Hàng Tàu cũng không sánh bằng. Phù điêu của chúng mày, đẹp không kém ai. Tao “chịu” nhất là thứ hàng độc, chỉ một sản phẩm duy nhất, uốn cong nhiều khúc, tạo được dáng đứng mềm mại của thiếu nữ Việt Nam, mặc áo dài, mà cũng giống như mặc áo đầm, đông tây kết hợp rất khéo, đó là mốt các cháu gái Hà Nội, Sài Gòn… hay chưng diện.

    - Không chỉ cái đó, nhiều cái nữa, chúng tao thiết kế đưa vào catôlô, ai “kết”, làm cho họ. Dân nhà giàu không thích trong nhà mình có đồ gốm “đụng hàng”. Thứ hàng “độc”, duy nhất một bản đó, mày biết không, chúng tao bán với giá hai mươi nghìn đô mà làm không xuể.

    Trinh hỏi lại

    - Hai mươi nghìn đô, theo tỷ giá bây giờ là hơn hai trăm tiền Việt Nam, lớn quá, ngoài sức tưởng tượng của người bình thường. Tao biết công ty của mày giàu lên rất nhanh là nhờ biết kinh doanh nhiều thứ. Tao kính phục các đại gia là cái đầu siêu hạng của họ, mày là một trong những cái đầu đó.

    - Thôi đi mày, đừng bốc thơm tao. Muốn làm ăn lớn – Huỳnh nhấn mạnh – không thể tư duy theo lối cò con, manh mún của đầu óc Khổng Mạnh…ngoài gốm là thế mạnh của sản phẩm mang màu sắc Việt Nam, công ty tao còn kinh doanh địa ốc, xuất nhập khẩu hàng điện tử, chủ yếu là máy vi tính. Lĩnh vực điện tử, công ty có một đội ngũ sản xuất phần mềm toàn các chuyên gia dưới 30 tuổi. Nhiều công ty lớn và vừa trên thế giới, đặt mua phần mềm của tụi tao…

    - Tao nghĩ – Trinh nói thủng thẳng – kinh doanh trúng nhất của công ty mày, chắc là buôn bán bất động sản, đúng vậy không?

    - Mày cũng là một nhà kinh tế tầm cỡ đấy chứ, chứ đâu chỉ là nhà toán học chuyên nghề luyện thi – Huỳnh cười thành lời – kinh doanh địa ốc là thứ khó nhất, giá đất giá nhà, không ổn định, tính toán theo cảm tính có ngày lỗ sặc gạch. May mắn, công ty tao có một đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư và công nhân xây dựng giỏi tay nghề và giỏi nắm bắt “thời tiết” về đất đai nhà cửa nên chưa hề bị hòa vốn bao giờ chứ không nói lỗ vốn. Có nhiều đợt thắng lớn.

    Hai ông già một thời trận mạc, đối mặt, đối súng, may mà còn sống sót tới ngày hôm nay để ngồi quanh ly rượu trò chuyện làm ăn kinh tế và nhân tình thế thái. Lớp đệ Lục trường Chu Văn An mà hai ông là đồng môn, không còn nguyên vẹn như ngày xưa. Lớp di cư vào Nam, lớn lên đi lính cộng hòa, chết gần chục mạng. Bên bộ đội miền Bắc, chết trận còn nhiều hơn phía bên kia. Có lần Trinh nói với Huỳnh, nếu ngày đó gia đình mày không di cư mà ở lại miền Bắc, sẽ cũng đi lính như tao thôi, ngược lại, gia đình tao di cư vào Nam như mày thì số phận tao cũng không thể thoát lính được. Chiến tranh mà. Chuyện cũ chúng ta cố quên đi, nói theo cách nói của các báo là khép lại quá khứ. Khó đấy, rất khó là đằng khác. Lịch sử đã qua không thể làm lại, chỉ có điều phải biết nhìn thẳng vào lịch sử để không lặp lại những điều đau đớn mà dân tộc đã hứng chịu với giá không rẻ.

    Hai người lính già thường tâm sự với nhau về những đứa con. Con ông Huỳnh không muốn về nước, các cháu đều sinh trưởng bên Tây, quen với văn hóa phương Tây… dù đã rất cố gắng, ông Huỳnh vẫn không “cấy” được văn hóa phương Đông, văn hóa Việt Nam vào đầu óc các cháu. Ông Trinh phiền muộn ở một nhẽ khác. Những đứa con ông học giỏi, tốt nghiệp xong không chịu làm cho các công ty nhà nước, chỉ đi làm cho công ty nước ngoài, vui vẻ trong thân phận làm thuê chỉ với một lý do rất đơn giản: lương cao.

    Hai ông bạn già ơi, đoạn đời các ông đã gần kết thúc, đừng quá bận lòng cho con cái. Tuổi trẻ bây giờ không ngu ngốc, cả tin, dễ bị lừa đâu. Chúng nó sẽ quyết định tương lai mình bằng trí tuệ của chính chúng. Thế hệ công dân của đất nước thời chia cắt sắp hết trách nhiệm rồi, yên lòng sống nốt quảng đời còn lại. Liệu có yên lòng được chăng, vẫn còn là câu hỏi nặng nề trong chúng ta.

    Hai ông già, đụng ly, đây là ly rượu cuối cùng của hai chai rượu các ông nhâm nhi suốt cả ngày hôm nay. Rượu cạn, tình đời, tình người, nói đến bao giờ cho cạn được. Hai ông bỗng cười to, ngúc ngắc, đứng lên ôm nhau nhảy múa cuồng loạn… Mệt quá, lăn ra ngủ.

     

    4

    Thằng cháu nội ông Trinh dí khẩu tiểu liên nhựa vào hai ông:

    - Nằm im hai ông tù binh. Vùng dậy bỏ chạy là cháu cho ăn đạn đấy.

    Ông Huỳnh giật mình ngồi dậy, lay lay ông Trinh. Ông Trinh cũng tỉnh ngủ. Hai ông già trố mắt nhìn thằng bé.

    - Bỏ súng xuống. Nhóc! Vứt mau! Đừng chơi trò chiến tranh, các ông ngán tới cổ rồi.

    Chiếc súng nhựa, hàng Trung Quốc, được thằng bé quẳng xuống đất. Chú chó con xông tới, ngậm vào miệng tha ra sân. Thứ trò chơi bạo lực vẫn được ai đó sản xuất. Ngẫm mà rùng mình…

     

    Hà Nội mưa dầm 2006

    Rút từ tập truyện ngắn: Hai người đàn ông và một người đàn bà ở phố Hàng Đào. Tác giả: Xuân Đài. NXB Văn học sắp xuất bản.

    www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,000,241

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/