Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập45,818,658

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Hiệp sĩ thánh chiến

Henryk Sienkiewicz

  • Thứ tư, 08:38 Ngày 26/05/2021
  • CHƯƠNG BA

    Trước đây, quận chúa Danuta, ông Maćko và Zbyszko đã có lần đến Tyniec, nhưng trong đoàn tùy tùng của quận chúa nhiều kẻ lần đầu mới được trông thấy nơi đây, họ kinh ngạc ngước mắt ngắm nhìn tu viện tuyệt vời này, ngắm những bức tường đỉnh răng cưa lởm chởm chạy dọc theo bờ đá trên những sườn dốc dựng đứng, ngắm những tòa nhà đủ kiểu, cái đứng cheo leo chừng núi, cái xây bên trong tường thành phòng thủ, tầng tầng lớp lớp chen chúc nhau, vươn lên cao, rực rỡ trong ánh vàng của vầng thái dương vừa mọc. Chỉ cần thoáng trông những bức tường thành, những tòa ngang dẫy dọc, những công trình xây dựng phục vụ cho các loại mục đích khác nhau, những khu vườn cây ăn quả nằm dưới chân núi và những cánh đồng được chăm bón công phu trải dài đến hút tầm mắt người đứng trên cao nhìn xuống - cũng đã có thể nhận ngay ra sự giàu có được tích tụ từ bao đời, không sao lường hết, sự sung túc mà những cư dân miền Mazowsze nghèo khổ chưa từng quen, khiến họ phải bàng hoàng kinh ngạc. Thực ra, ở những miền khác của đất nước cũng có những tu viện dòng Benedykyn cổ xưa, tỷ như tại thành Lubus trên sông Odra[1], tại Płock, tại Mogilna vùng Đại Ba Lan và tại nhiều nơi khác nhau nữa, nhưng không một tu viện nào sánh nổi với tu viện Tyniec nơi đây, tu viện có điền sản trội vượt hơn khá nhiều ngay cả những công quốc riêng lẻ, còn về thu nhập có thể khiến nhiều vị vua chúa đương thời phải ghen tỵ.

    Vì thế, niềm thán phục trào dâng trong đám quần thần tùy tùng, một số kẻ thậm chí không dám tin vào mắt mình nữa. Muốn làm quãng đường ngắn lại và làm vui đám thị tỳ, quận chúa bèn yêu cầu một tu sĩ kể lại câu chuyện cổ xưa khủng khiếp về chàng Walgier Tuấn Tú mà đã có lần ở kinh thành Kraków bà đã được người ta kể sơ qua cho nghe.

    Các thị nữ liền xúm xít lại thành một đám chen chúc quanh nữ chúa, cùng thong thả leo lên dốc núi. Trong những tia nắng sớm mai, trông họ hệt như những đóa hoa di động.

    - Chuyện về Walgier xin đề cha đồng đạo Hidulf đây kể, bởi một đêm kia chính mắt cha đồng đạo đã trông thấy hồn hiện về, - một tu sĩ vừa nói vừa đưa mắt sang vị tu sĩ thứ hai, một người đã khá tuổi tác, đang đi bên cạnh hiệp sĩ Mikołaj xứ Długolas với dáng đi hơi còng.

    - Có phải chính cha, thưa cha thánh thiện, đã tận mắt trông thấy hồn chàng? - quận chúa hỏi ông.

    - Thưa, chính tôi đã thấy, vị tu sĩ u ẩn đáp. - Đã có những hoàn cảnh đặc biệt, mà theo ý chúa, linh hồn ấy được phép rời chốn địa ngục thâm u để hiện ra cho người đời được thấy.

    - Chuyện xảy ra bao giờ?

    Tu sĩ nhìn hai vị tu sĩ kia và nín bặt, bởi lẽ đã có lời đồn rằng hồn ma chàng Walgier hiện ra khi kỷ cương của Giáo đoàn bị hư hoại, khi các tu sĩ nghĩ đến sự giàu sang và lạc thú của thế gian nhiều hơn mức cần thiết, mà đó là điều chẳng ai muốn thừa nhận. Song, bởi lẽ người ta cũng đồn rằng hồn ma hiện lên để báo trước chiến tranh hay các thứ tai ương chướng họa khác, nên sau hồi lâu im lặng, cha đồng đạo Hiđulf thốt lên:

    - Hồn ma xuất hiện chẳng báo hiệu điều gì tốt lành.

    - Ta cũng chẳng muốn trông thấy hồn đâu, - quận chúa vừa nói vừa làm dấu thánh. - Nhưng tại sao hồn lại phải lưu đày hỏa ngục, một khi như tôi nghe nói, chàng chỉ trả thù bao điều xúc phạm gớm ghê đến chính bản thân chàng mà thôi?

    - Dẫu suốt đời y có phẩm hạnh đến đâu đi nữa thì y vẫn bị rủa nguyền, - tu sĩ nói bằng giọng khắc nghiệt, - bởi y đã sống vào thời ngoại đạo, không hề được rửa sạch những tôi lỗi nguyên sơ bằng một lễ rửa tội thiêng liêng.

    Nghe những lời ấy, lông mày quận chúa chau lại đớn đau, bởi bà chợt nghĩ rằng phụ thân vĩ đại của bà, - người mà bà yêu thương và kính trọng bằng tất cả tấm lòng, - cũng đã chết với những lỗi lầm ngoại đạo và sẽ bị thiêu đốt trọng ngọn lửa vĩnh hằng của hỏa ngục.

    - Chúng tôi chờ nghe ngài kể đây, - sau giây lâu im lặng, bà thốt lên.

    Đồng đạo Hidulf bắt đầu kể:

    - Vào thời ngoại đạo mông muội, có một vị bá tước giàu có được người đời mệnh danh là chàng Walgier Tuấn Tú, bởi chàng có sắc đẹp mê hồn. Cả một vùng đất mênh mông trải rộng đến hút tầm mắt thuộc về chàng. Mỗi khi lên đường chinh chiến, ngoài đám bộ đinh, chàng còn dắt theo hơn trăm hiệp sĩ thiết kỵ trường thương[2], bởi lẽ toàn bộ các phú nông[3] trong cả miền nằm giữa Opole ở phía tây sang tận Sandomierz ở phía đông đều là chư hầu thuộc hạ của chàng Walgier. Đàn súc vật của chàng đông không ai tính xuể. Ngay tại Tyniec này chàng cho xây cả một ngọn tháp đựng đầy tiền vàng, nhiều như số vàng bạc mà quân Thánh chiến bây giờ đang tích giữ ở thành Malborg vậy.

    - Ta biết, chúng có đấy! - quận chúa Danuta chen vào.

    - Chàng Walgier là một người có tầm vóc khổng lồ, - tu sĩ kể tiếp, - chàng có thể nhổ trốc cả gốc những cây sồi cổ thụ. Còn về sắc đẹp, tài chơi đàn luýt, tài ca hát thì không một ai trên đời có thể sánh nổi chàng. Một lần, khi đến chơi ở cung vua Pháp, công chúa Helgunda - người mà vua Pháp đã định dâng cho Giáo đoàn làm tặng vật hiến lên Chúa, - đã phải lòng chàng, nàng bỏ trốn theo chàng về Tyniec để sống với nhau trong sự vô sỉ gớm ghê, bởi không một cha cố nào dám làm phép cưới Thiên Chúa giáo cho họ. Hồi đó, tại Wiślica có gã Visław Điển Trai, thuộc dòng dõi vua Popiel. Trong những lúc chàng Walgier Tuấn Tú vắng nhà, gã đã từng cướp bóc Tyniec. Chàng Walgier đã đánh thắng gã, mang về Tyniec làm tù binh, chàng đâu có ngờ rằng một khi đã trông thấy gã, bất cứ thiếu nữ nào cũng đều sẵn sàng từ bỏ cả cha mẹ chồng con, chỉ cốt được cùng gã thỏa lòng khao khát.

    Chuyện ấy cũng đã xảy ra với công chúa Helgunda. Công chúa bèn nghĩ cách trói chàng Walgier, trói chặt đến nỗi tuy là người khổng lồ có thể nhổ bật gốc sồi nhưng chàng vẫn không tài nào giằng ra nổi. Và công chúa đem chàng nộp cho Wisław, gã liền mạng chàng về Wiślica giam hãm. Nhưng ở đó, khi nghe tiếng hát của Walgier vang lên từ dưới hầm giam, nàng Rynga em gái của Wisław đã đem lòng yêu chàng, và cô gái giải thoát cho chàng khỏi nơi tù ngục. Chàng bèn dùng gươm đâm chết cả Wisław lẫn Helgunda, vứt tHey cho qua rỉa, rồi cùng nàng Rynga quay về Tyniec.

    - Chàng làm thế chẳng phải lẽ lắm sao? - Quận chúa hỏi.

    Tu sĩ Hidulf đáp:

    - Giá như chàng được rửa tội và chịu hiến Tyniec cho các tu sĩ dòng Benedyktyn thì có nhẽ Chúa đã thứ lỗi cho chàng, nhưng chàng đã không làm điều đó, vì vậy đã bị đất đen nuốt chửng.

    - Chẳng lẽ hồi ấy các tu sĩ dòng Benedyktyn đã có mặt ở vương quốc này rồi sao?

    - Vương quốc này hồi ấy chưa có các tu sĩ dòng Benedyktyn, hồi ấy dân ngoại đạo vẫn còn sinh sống ở đây.

    - Thế thì làm sao Walgier có thể chịu lễ rửa tội hoặc dâng hiến đất Tyniec này được?

    - Chàng đã không thể, - và chính vì vậy mà bị lưu đày địa ngục để chịu cực hình vĩnh viễn, - vị tu sĩ trang nghiêm đáp lời bà.

    - Phải! Ngài nói phải lắm! - vài giọng tán đồng vang lên.

    Lúc ấy, họ đã lên đến gần cổng chính tu viện, nơi cha tu viện trưởng dẫn đầu một đoàn đông đảo các tu sĩ và trang chủ quý tộc đã đứng sẵn đợi quận chúa. Những vị quan chức bên đời - các lý trưởng, lục sự, chưởng bạ - cùng các chức sắc đủ loại của Giáo đoàn, bao giờ cũng có mặt rất đông trong tu viện. Nhiều trang chủ, thậm chí cả những hiệp sĩ quý tộc giàu có, cai quản những vùng đất bạt ngàn không tài nào đo hết của tu viện này, bị ràng buộc với tu viện theo luật chư hầu khá đặc thù ở Ba Lan thời ấy, và với tư cách "chư hầu", họ thích lui tới cung đình của "chính quốc", nơi bên ban thờ Chúa họ rất hay nhận được những quà tặng, những sự miễn giảm khoản nộp, cùng bao lợi lộc ấm thân khác, mà nhiều khi chỉ tùy thuộc vào một việc làm nhỏ nhặt, một lời nói khéo léo, hoặc một thoáng vui vẻ của cha tu viện trưởng hùng mạnh mà thôi. Vả lại, các lễ lạt đang được sửa soạn tại kinh kỳ cũng thu hút nhiều vị chư hầu như vậy từ cả những miền xa ngái về đây. Những kẻ không tìm được chốn tá túc tại Kraków do quá đông người, cũng tìm về trú chân ở Tyniec. Vì thế, ngài Abbas centum villarum[4] có thể dẫn theo cả một đoàn tùy tùng đông đúc hơn lệ thường rất nhiều để đón chào quận chúa.

    Cha tu viện trưởng là một người cao dong dỏng, vẻ mặt khô khan, thông tuệ, với cái đầu cạo trọc trên chóp chẩm, còn bên dưới có vành tóc óng ánh bạc bao quanh chạy phía trên tai. Trán ông có sẹo của một vết thương mà hẳn ông đã nhận được từ thuở còn là một hiệp sĩ trẻ trung. Đôi mắt tinh anh dưới hàng lông mày đen toát ra vẻ cao ngạo. Ông mặc kệ áo chùng habit như các tu sĩ khác, nhưng bên ngoài là chiếc áo khoác thâm viền tía, trên cổ ông đeo sợi dây chuyền vàng có chiếc thánh giá cũng bằng vàng cẩn đá ngọc qúy - biểu trưng của quyền hành tu viện trưởng. Cả thân hình ông mang dáng vẻ một người giàu tự hào, đầy tự tin, quen với việc ban phát mệnh lệnh cho kẻ khác.

    Song ông chào hỏi quận chúa rất lịch thiệp, thậm chí hơi có phần nhún nhường, bởi ông biết chồng bà thuộc dòng dõi các công vương miền Mazowsze, những người đã sản sinh ra các vị vua Władysław[5] và Kazimierz[6], còn nếu tính theo họ ngoại thì cả hoàng hậu đương triều[7] nữa - vị nữ chúa của một trong những quốc gia vĩ đại nhất thế gian. Vì vậy, ông ra đón tận bên ngoài cổng thành, cúi đầu thật thấp, rồi sau khi dùng chiếc hộp nhỏ bằng vàng mà ông cầm trong những ngón tay của bàn tay phải làm dấu thánh ban phước cho quận chúa Anna Danuta cùng đám quần thần của bà, ông lên tiếng:

    - Xin kính chào lệnh bà tôn nghiêm trên ngưỡng cửa nghèo hèn của Giáo đoàn chúng tôi. Cầu thánh Benedyktyn xứ Nursja[8], các thánh Morus, thánh Bonifacy, thánh Benedyktyn xứ Aniane cũng như thánh Jan xứ Tolomej, các vị tổ của Giáo đoàn chúng tôi hằng sống trong ánh sáng cực lạc, ban cho quận chúa sức khỏe, hạnh phúc, mang ơn lành đến cho bà bẩy lần mỗi ngày trong suốt cả cuộc đời.

    - Họa có là người điếc mới không nghe thấu lời cầu nguyện của một cha viện trưởng vĩ đại nhường này, nhất là khi chúng tôi đến tu viện của ngài để dự lễ mixa, để dâng mình cho sự chở che của chính các vị thánh hiển linh ấy.

    Nói đoạn, quận chúa chìa một tay cho cha, cha tu viện trưởng quỳ một gối cung kính hôn tay bà theo phong thái của giới hiệp sĩ, rồi sau đó cả hai cùng bước qua cổng vào tu viện. Hẳn đã từ lâu người ta đang đợi lễ mixa bắt đầu, nên đúng lúc ấy các chuông lớn nhỏ đều nhất loạt gióng lên, những người thổi kèn đứng bên cửa nhà thờ rúc lên vang động hiệu kèn chào đón quận chúa, những người khác thẳng cánh dập dùi vào các trống đại, tang bằng đồng đỏ bịt da thú, khiến chúng phát ra những tiếng trầm hùng vang động. Đối với một người vốn không phải sinh ra trên mảnh đất thiên chúa giáo như quận chúa, các nhà thờ bao giờ cũng gây ấn tượng mạnh, nhưng giáo đường Tyniec này gây cho bà ấn tượng đặc biệt hơn nhiều, bởi khó nhà thờ nào có thể sánh ngang nó về vẻ đẹp. Lúc ấy bóng tối vẫn bao phủ trong lòng giáo đường, chỉ riêng bên cạnh bàn thờ cực lớn là lung linh một dải ánh sáng nhiều màu, hòa trộn với ánh nến soi tỏ những chỗ thép vàng óng ánh của các pho tượng. Một vị tu sĩ mặc áo lễ bước ra cúi chào quận chúa rồi bắt đầu lễ dâng hương. Khói hương thơm tỏa nghi ngút, che khuất cả cha hành lễ lẫn ban thờ, xoáy thành những cuộn khoan thai bốc lên cao, càng tăng vẻ thâm u thần bí của nhà thờ. Quận chúa Anna Danuta ngả đầu về phía sau, hai tay để ngửa cao ngang mặt, khẩn thiết nguyện cầu. Tiếng đại phong cầm - hồi ấy thứ đàn này vẫn là của hiếm trong các nhà thờ - vang lên, những thanh âm trầm hùng tuyệt diệu làm rung động cả phòng nguyện - lúc thì thầm những giọng thiên sứ ngọt ngào, lúc lại thánh thót như khúc hót họa mi. Mắt quận chúa hướng lên vòm cao. Trên vẻ mặt bà, xen lẫn niềm mộ đạo và kính sợ là một sự khoái cảm vô biên. Ngắm nhìn bà lúc này, ai cũng cảm thấy như đó là một nữ thánh đã siêu thoát, đang say ngắm lòng trời rộng mở trong sự hiển hiện thiêng liêng.

    Người con gái của Kiejstut vốn sinh ra ở một đất nước ngoại đạo đã cầu nguyện như thế! Dẫu thường ngày bà vẫn nhắc tên Chúa thân mật như tất thẩy những cư dân chất phác thời ấy, nhưng khi ở trong ngôi nhà của Chúa, bà lại ngẩng mặt cầu nguyện thế lực bí ẩn vô biên kia với lòng kính sợ và niềm sùng mộ trẻ thơ.

    Và đình thần cũng cầu nguyện với lòng mộ đạo nhiệt thành như bà, dẫu ít kính sợ hơn. Zbyszko quỳ trước hàng lan can con tiện chắn khoang hành lễ, giữa đám dân vùng Mazury, chỉ riêng các thị nữ được cùng quận chúa quỳ bên kia hàng lan can. Chàng cũng dâng mình cho sự chở che của Chúa. Thỉnh thoảng, chàng lại liếc nhìn Danusia đang quỳ bên quận chúa mà nghĩ rằng được làm hiệp sĩ cho nàng quả là một vinh hạnh, và dẫu có thế nào chăng nữa, việc tuyên thệ với nàng vẫn không thể là điều vớ vẩn. Giờ đây, khi men bia và rượu nho vừa uống trong tửu quán đã hả, chàng mới thấy lo, không hiểu sẽ thực hiện lời thề nguyện ra sao. Đang là thời bình, đâu phải buổi chiến chinh - tuy ở vùng biên cương hỗn loạn chẳng khó đụng độ một tên Đức có võ trang để dần nát xương cốt nó hoặc chịu điều ngược lại, chả phải chàng đã nói thế với ông Maćko đó sao? Nhưng đâu phải thằng Đức nào cũng được mang ngù lông công hay đà điểu trên mũ. Trong đám khách của Giáo đoàn, chỉ các vị bá tước mới mang ngù lông công, còn các hiệp sĩ Thánh chiến từ chức trấn thành trở lên mới có ngù lông trên mũ. Nếu chiến tranh không bùng nổ, biết bao giờ chàng mới có cơ hội đoạt nổi ba ngù lông công? Chàng lại vừa nhận ra thêm một điều bất lợi nữa: là kẻ cho đến nay chưa được phong tước hiệu hiệp sĩ, chàng chỉ có thể thách đấu với những kẻ cũng chưa có tước hiệu mà thôi. Đành rằng chàng vẫn có hy vọng được nhận đai hiệp sĩ từ chính tay Đức vua trong các trận đua tài đã loan báo sẽ được tổ chức nhân dịp lễ đặt tên cho ấu chúa, nhưng sau đó thì sao? Sau đó chàng sẽ đến chỗ hiệp sĩ Jurand xứ Spychow giúp ông đánh giết bọn bộ quân Đức, nhưng cũng chỉ có thể giáp mặt bọn ấy thôi - mà lũ bộ quân Thánh chiến đâu phải là những trang hiệp sĩ được quyền mang ngù lông công trên mũ?

    Lòng đầy băn khoăn, nghĩ rằng nếu không được Chúa ban cho niềm ưu ái đặc biệt thì chẳng thể làm nên cơm cháo gì, Zbyszko khẩn thiết cầu nguyện:

    "Lạy chúa Jezus, xin hãy cho con được đánh nhau với lũ Thánh chiến hay bọn Đức, những kẻ thù truyền kiếp của Vương quốc này cũng như của tất thẩy các dân tộc hằng ngưỡng mộ tên thiêng liêng của Người, có cùng tiếng nói giống chúng con. Xin Chúa hãy ban ơn lành cho chúng con, quét sạch bọn chuyên thờ phụng ma vương địa ngục hơn là phụng sự Người. Chúng mang trong tim niềm thù hận gớm ghê chống chúng con, chúng hằn học bởi lẽ bằng cách cải đạo của Litva, Đức vua và hoàng hậu của chúng con đã chặn được lưỡi gươm chúng đang bổ xuống đào những bầy tôi thiên chúa. Xin Chúa hãy trừng phạt chúng vì niềm thù hận ấy.

    Còn riêng con, kẻ bầy tôi hèn mọn đầy tội lỗi là Zbyszko, rập đầu ăn năn cầu xin cứu rỗi trên năm vết thương nơi mình Chúa, xin Người hãy gửi tới cho con ba tên giặc Đức giàu có mang ngù lông công trên mũ. Và xin Chúa nhân từ hãy cho phép con được giết chúng, bởi con đã thề danh dự sẽ cướp những ngù lông đó dâng cho tiểu thư Danusia, con gái yêu của hiệp sĩ Jurand, một kẻ bầy tôi trung thành của Chúa.

    Những gì thu được bên xác chúng, con xin thành thực dâng nộp theo thuế thập phân cho nhà thờ thiêng liêng của Chúa, để Chúa Jezus ngào ngọt của con được hưởng chút lợi lộc và niềm ngưỡng mộ, để Người thấy rằng con thành thật chứ chẳng hứa suông. Xin Chúa hãy cho con thành đạt trong niềm mong ước ấy, amen!"

    Song không hiểu sao càng cầu nguyện, niềm mộ đạo trong tim chàng càng nhạt đi. Chàng bèn hứa thêm một điều nữa: sau khi chuộc lại trang Bogdaniec, chàng xin hiến nhà thờ toàn bộ sáp ong thu được trong cả năm. Chàng tin là ông Maćko sẽ không phản đối, và Chúa Jezus hẳn sẽ vui mừng khi có sáp làm nến thắp dâng Người. Mà muốn chóng có nến thì xin Chúa hãy giúp chàng thật nhanh. Chàng thấy suy nghĩ ấy quả là sòng phẳng, và lòng chàng tràn đầy vui sướng. Chàng vững tin rằng lời cầu nguyện kia sẽ được Chúa nghe thấu, và cuộc chiến chẳng bao lâu nữa nhất định sẽ bùng nổ, còn nếu không, chàng vẫn có cách chứng minh sức mạnh của chàng. Tay chân chàng ngứa ngáy quá, lúc này đây chàng sẵn sàng một mình một ngựa lao vào đánh cả một đạo quân[9]. Và rồi chàng nghĩ: nếu đã hứa thêm với Chúa, cũng nên hứa thêm với Danusia hai thằng Đức nữa! Lòng nhiệt tình hừng hực của tuổi trẻ suýt khiến chàng hứa thêm như thế, nhưng may thay, lần này sự chín chắn thận trọng đã thắng thế: chàng sợ rằng đòi hỏi quá mức có thể xúc phạm lòng nhẫn nại của Chúa chăng!

    Sau lễ mixa, sau hồi lâu nghĩ ngợi, niềm tin của chàng càng tăng thêm, khi trong bữa sáng, chàng nghe được câu chuyện giữa cha tu viện trưởng với quận chúa Anna Danuta.

    Thời ấy, do lòng mộ đạo và những món quà tặng hậu hĩnh mà các đạo trưởng và Thống lĩnh của Giáo đoàn Thánh chiến không tiếc dâng hiến, phu nhân của các vị vương công và vua chúa tỏ ra rất thân thiện với các hiệp sĩ của Giáo đoàn. Lúc sinh thời, hoàng hậu Jadwiga thánh thiện đã bao phen kìm giữ cánh tay vị phu quân đầy quyền uy những khi ông định chống lại Giáo đoàn. Chỉ mỗi mình quận chúa Anna Danuta - người bị chúng gây bao điều xúc phạm gớm ghê cho gia đình - là căm thù chúng. Vì vậy, khi cha tu viện trưởng hỏi thăm về tình hình vùng Mazowsze, bà liền cay đắng lên án Giáo đoàn:

    - Làm gì có chuyện tốt đẹp dành cho Vương quốc khi có những vị láng giềng như vậy, thưa cha? Bây giờ vẫn là thời bình đấy, các sứ đoàn mang thông điệp vẫn thường xuyên được trao đi đổi lại, nhưng chẳng giờ nào ngày nào được sống an toàn, yên ổn. Vùng biên ải, chúng tôi ban đêm ngả lưng ngủ không dám tin ngày mai tỉnh dậy sẽ không bị cùm trói, sẽ không có mũi dao nào gí vào cổ, sẽ không có một vòm lửa rừng rực trên đầu... Những lời thề nguyện, các thứ ấn triện lẫn văn thư ghi trên giấy da cừu đều chẳng thể đảm bảo cho người ta không bị phản bội. Thì chuyện ở thành Złotorja đó, ngay giữa thời buổi yên bình, mà bọn chúng vẫn ngang nhiên bắt giam công vương chúng tôi. Bọn Thánh chiến bảo rằng tòa thành ấy có thể gây nguy hiểm cho chúng. Nhưng người ta củng cố thành trì là để tự vệ chứ đâu phải để tấn công? Và chẳng lẽ các công vương không có quyền xây dựng hoặc sửa chữa thành trì trên chính đất đai của mình nữa sao? Cả kẻ yếu lẫn người mạnh đều không làm Giáo đoàn vừa ý. Kẻ yếu thì chúng khinh thường, người mạnh thì chúng đố kỵ, cố làm cho suy sụp. Ai làm điều thiện với chúng, chúng đáp trả bằng điều ác. Trên thế gian này, liệu có Giáo đoàn nào được hưởng những quyền lợi như chúng từng được hưởng nhờ ân huệ của các công vương Ba Lan hay chăng? Thế mà chúng đã đền đáp ra sao? Bằng lòng thù hận, bằng những cuộc chiến tranh và bằng sự phản bội. Ta chỉ phí công kêu ca, chỉ phí công lên án chúng, ngay tại thủ đô của các sứ đồ, bởi vốn quen với lạc thú và sự ngang ngược, bọn chúng chẳng thèm vâng lời một ai, ngay cả Giáo hoàng La Mã. Bây giờ, tuy ngoài mặt chúng vẫn cử sứ đoàn đến dự lễ đặt tên cho ấu chúa, nhưng trong lòng chúng chỉ ngấm ngầm thầm mong vua ta nguôi cơn giận trước những gì chúng đã gây ra tại Litva đó thôi. Tận trong đáy lòng chúng chỉ nghĩ tìm cách tiêu diệt vương quốc chúng ta cùng toàn thể các bộ tộc Ba Lan mà thôi.

    Cha viện trưởng chăm chú lắng nghe, đầu gật gật, rồi nói:

    - Tôi có biết, tổng quản[10] Lichtenstein dẫn đầu đoàn sứ giả đã tới Kraków. Đó là một đồng đạo rất được tín nhiệm trong Giáo đoàn Thánh chiến, vì dòng dõi cao sang, vì lòng can trường và sự quảng trí. Thưa lệnh bà, rất có thể không bao lâu nữa lệnh bà sẽ giáp mặt ông ta tại đây, bởi hôm qua ông ta đã gửi tin báo cho tôi hay là sẽ ghé thăm Tyniec để được cầu nguyện trước các thánh tích của chúng tôi.

    Nghe thấy thế, quận chúa bèn tiếp tục ta thán:

    - Người ta bảo, - và cũng có thể đúng vậy, - rằng sắp nổ ra một cuộc chiến tranh lớn, một bên là Vương quốc Ba Lan cùng tất cả những dân tộc có tiếng nói giống chúng ta, còn bên kia là bọn Đức và Giáo đoàn. Hình như đã từng có lời tiên tri của một vị thánh nữ nào đó về cuộc chiến này thì phải...

    - Dạ, đó là thánh nữ Brygida[11],  - cha tu viện trưởng thông tuệ thưa cắt ngang. - Tám năm trước đây bà được liệt vào hàng các thánh. Các nhà Piotr xứ Alwaster và Maciej xứ Linkoping đã từng ghi lại những lần hiển thánh của bà. Trong những lần ấy bà quả có tiên báo một cuộc đại chiến sắp xảy đến.

    Zbyszko rùng mình vì vui sướng khi nghe những lời cha tu viện trưởng nói. Không kìm nổi lòng mình, chàng bật lên hỏi:

    - Thế đã sắp chưa ạ?

    Nhưng tu viện trưởng đãng quá mải mê trò chuyện nên không nghe thấy, hoặc ông vờ như không nghe câu hỏi của chàng.

    Quận chúa nói tiếp:

    - Các hiệp sĩ trẻ tuổi vùng chúng tôi rất vui mừng đón chào cuộc chiến tranh ấy. Những người có tuổi chín chắn hơn thì bảo: "Chúng tôi chẳng sợ gì bọn Đức, dẫu thế lực và tiền của của chúng thật gớm ghê, chúng tôi cũng chẳng kinh giáo gươm của chúng, nhưng chúng chỉ e các thánh tích chúng có được mà thôi, bởi không sức người nào có thể chống lại những thánh tích ấy".

    Nói đến đây, quận chúa Anna Danuta đưa mắt e sợ nhìn tu viện trưởng, rồi bà hỏi, giọng khẽ hẳn xuống:

    - Hình như bọn chúng có được cả một thanh gỗ đích thực của cây Thánh Giá Thiêng Liêng thì phải. Làm sao ta có thể địch nổi chúng kia chứ?

    - Chính vua Pháp đã gửi vật đó đến cho họ, - cha tu viện trưởng đáp.

    Một hồi lâu im lặng bao trùm, sau đó ông Mikołaj xứ Długolas biệt hiệu Lưỡi Việt Phủ, một người từng trải và dày dạn kinh nghiệm, lên tiếng:

    - Tôi đã từng bị giam ở bên chỗ bọn Thánh Chiến, tôi đã thấy những buổi lễ trong đó người ta rước thánh tích vĩ đại ấy đi. Ngoài thứ đó ra, tại tu viện ở Oliwa còn nhiều thứ thánh tích thiêng liêng vô cùng nữa, không có những thứ đó chắc Giáo đoàn không tài nào có thể hùng mạnh nhường kia.

    Nghe ông nói, các tu sĩ dòng Benedyktyn đều vươn cổ về phía ông, hỏi tới tấp vẻ rất tò mò:

    - Xin ngài hãy kể xem đó là những gì vậy?

    - Đó là một dải vải lấy từ chính áo choàng của Đức Mẹ Đồng Trinh Tối Linh, - vị trang chủ xứ Długolas đáp, - đó là một chiếc răng hàm của chính thánh nữ Maria Magdalena, một mẩu củi cháy dở rút từ chính đám lửa nơi Đức Chúa Cha hiện hình cho Mojżesz được thấy, đó là bàn tay của thánh Liberiusz, còn các xương cốt của những vị thánh khác thì dẫu có đếm hết các đốt ngón tay ngón chân cũng không thể tính xuể...

    - Thế thì làm sao địch nổi chúng đây? - Quận chúa thở dài lặp lại.

    Cha tu viện trưởng nhăn vần trán cao vòi vọi, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thong thả thốt lên:

    - Đánh nhau với chúng quả là khó, vì dẫu sao chúng cũng là những kẻ tu hành mang dấu thánh giá trên áo choàng. Nhưng nếu chúng sa đà trong tội lỗi, những thánh tích kia sẽ thấy hổ thẹn khi phải ở bên chúng. Khi ấy, không những không tiếp sức cho chúng, các thánh tích ấy sẽ tước bớt sức lực chúng đi, để được chuyển sang những bàn tay mộ đạo thánh thiện hơn. Xin Chúa hãy chở che cho dòng máu Thiên Chúa, nhưng nếu chiến tranh nổ ra thì ở Vương quốc chúng ta đây cũng có những thánh tích thiêng liêng sẽ vì chúng ta mà tham gia chiến trận. Giọng nói thánh linh lên tiếng khi nữ thánh Brygida hiển hiện có nói rằng: "Ta đã để cho chúng làm những con ong hữu ích, ta đã dùng chúng để củng cố bờ cõi của nước Chúa. Nhưng giờ chúng ta chống lại ta, chúng chẳng hề chăm chút linh hồn, chẳng thương tiếc thân xác những kẻ từ bỏ lỗi lầm trở về với lòng tin Thiên Chúa, về với ta. Chúng biến họ thành nô lệ, không chịu dạy bảo họ những lời phán truyền của Đức Chúa Cha, tước đi của họ lễ rửa tội thiêng liêng, đày họ vào những cực hình hỏa ngục khốn khổ hơn cả khi họ còn theo tà giáo. Chúng gây chiến để thỏa lòng tham không cùng. Vì vậy sẽ đến ngày nanh vuốt chúng bị bẻ gẫy, tay phải chúng bị chặt lìa, chân phải chúng bị thọt hẫng, để chúng nhận thấy tội lỗi đã phạm".

    - Cầu Chúa ban cho được thế! - Zbyszko thốt lên.

    Những hiệp sĩ và các tu sĩ khác cũng rất phấn chấn khi nghe lời tiên báo. Cha tu viện trưởng quay sang phía quận chúa nói:

    - Vì vậy, xin lệnh bà cứ vững tin nơi Chúa, bởi những ngày sống của chúng sẽ chóng được tính sổ hơn những ngày sống của lệnh bà. Và bây giờ, lệnh bà hãy làm ơn nhận chiếc hộp này có một ngón chân của thánh Ptolomeusz, một trong các thánh bổn mạng hằng che chở cho tu viện chúng tôi.

    Quân chúa chìa đôi tay run run vì sung sướng quỳ xuống đón nhận chiếc hộp thiêng, rồi bà đưa lên môi hôn. Đám cung nhân và thị nữ cũng chia xẻ cùng nữ chúa niềm vui, bởi không một ai dám nghi ngờ những ân phước và điều lành mà món quà tặng kia sẽ mang lại cho tất thẩy mọi người, cho toàn công quốc. Zbyszko thấy lòng sung sướng lâng lâng, chàng cảm thấy chiến tranh sắp bùng nổ ngay, ngay sau những ngày lễ trọng thể tại Kraków mà thôi.

    CHƯƠNG BỐN

    Trời đã ngả về chiều khá lâu trước khi quận chúa cùng đoàn tùy tùng rời vùng Tyniec hiếu khách lên đường về Kraków. Mỗi khi sắp bước chân vào các thành phố hoặc những thành trì phòng thủ để viếng thăm các nhân vật quan yếu, giới hiệp sĩ thời ấy thường nai nịt đầy đủ võ khí và giáp phục. Cũng theo phong tục đương thời, ngay sau khi bước qua cổng thành, họ lại tháo bỏ ngay khí giới khi được nghe chủ nhân tòa thành nói lên những lời thiêng liêng đã được ban ơn lành sau đây: "Hãy tháo bỏ vũ khí, thưa ngài, bởi ngài đã đến với những người bạn!" Dẫu sao, việc trang bị đầy đủ nhung y tiến vào thành theo kiểu chiến sĩ vẫn oai vệ hơn, làm tăng thêm giá trị của trang hiệp sĩ. Nên muốn có được vẻ đàng hoàng uy nghi ấy, ông Maćko và Zbyszko liền khoác lên người bộ giáp phục với những tấm giáp che tay tuyệt hảo đã cướp được của các hiệp sĩ xứ Fryz, đó là những giáp sắt màu sáng lấp lánh, có cải xen những sợi chỉ bằng vàng ròng để trang trí. Hiệp sĩ Mikołaj xứ Długolas - kẻ trong đời từng chu du khắp thế gian, mắt từng gặp biết bao hiệp sĩ tuấn kiệt, rất am tường chuyện chiến chinh - nhận ra rằng đó là những thứ giáp phục mà chỉ những hiệp sĩ giàu có phong lưu nhất mới sắm nổi, mỗi bộ quả là cả một gia tài lớn. Vì vậy, có thể đoán rằng những hiệp sĩ xứ Fryz kia chắc hẳn phải là những nhân vật lẫy lừng ở quê hương họ, và cũng bởi vậy, ông càng thêm thán phục ông Maćko và Zbyszko hơn nữa. Những chiếc mũ sắt của họ tuy không phải loại xoàng nhưng không được quý giá đến thế. Riêng mấy con chiến mã cao lớn với yên cương tuyệt mỹ khiến cả đám quần thần đều thán phục và ghen tỵ. Ngồi trên những chiếc yên cao ngất nghểu khác thường, ông Maćko và Zbyszko như bề trên nhìn xuống đám quần thần của quận chúa. Trong tay họ cầm một ngọn trường thương, bên lưng đeo thanh kiếm, một lưỡi rìu chiến dắt cạnh yên. Khiên thì họ để trên xe cho nhẹ, tuy không mang khiên song nom họ cứ như những chiến sĩ đang chuẩn bị giáp trận chứ không phải những người sắp vào thành đô.

    Cả hai cưỡi ngựa đi cạnh xe nhỏ, quận chúa và Danusia ngồi ghế sau, ghế trước là bà thị nữ Ofka, một người rất chín chắn, vợ góa của hiệp sĩ Krystyn xứ Jarząbkowo, cùng hiệp sĩ Mikołaj xứ Długolas. Mắt Danusia như bị dán chặt vào hai trang hiệp sĩ giáp phục đầy người. Còn quận chúa chốc chốc lại rút chiếc hộp đựng thánh tích của thánh Ptolomeusz ra đưa lên môi.

    - Ta tò mò quá thể, không rõ chiếc xương trong hộp nom ra sao, - lát sau bà thốt lên, - nhưng tự ta, ta chẳng dám đường đột mở ra đâu, e xúc phạm đến thánh thiêng liêng. Ta sẽ nhờ đức giám mục Kraków mở hộ.

    Nghe thấy thế, vốn là người cẩn trọng, hiệp sĩ Mikołaj bèn nói:

    - Hey! Tốt nhất chẳng nên để vật này rời khỏi tay, thưa quận chúa, bởi đây là món bảo vật quá đỗi hấp dẫn.

    - Có nhẽ ông nói phải, - quận chúa đáp lại sau một hồi lâu cân nhắc, rồi bà nói thêm:

    - Đã lâu, chưa ai mang lại cho ta niềm sung sướng lớn lao như đức cha tu viện trưởng phúc thiện, cả món quà quý này lẫn việc người đã khiến ta yên tâm về các thánh tích của bọn Thánh chiến.

    - Đức cha nói rất thông minh và công bình, - ông Maćko xứ Bogdaniec lên tiếng. - Khi tấn công thành Wilno chúng cũng mang theo nhiều thánh tích lắm chứ, hơn nữa chúng lại muốn thuyết phục mọi người là chúng đi đánh dân tà giáo. Nhưng kết cục thì sao? Chúng tôi đã tận mắt thấy rõ: hễ cứ nhổ nước bọt xoa tay mà vung rìu lên thì mũ sắt chúng cũng cứ rơi, đầu chúng cũng cứ rụng như thường. Các thánh quả có trợ giúp thật - nói khác đi thì phải tội! - nhưng chỉ giúp những ai công minh chính đại, bước vào trận mang theo chính nghĩa và nhân danh đức Chúa mà thôi. Tâu lệnh bà, tôi cũng nghĩ như đức cha tu viện trưởng, nếu cuộc chiến tranh lớn nổ ra, thì dù tất tật bọn Đức có hùa theo giúp sức quân Thánh chiến, chúng ta cũng sẽ giết chúng như ngả rạ thôi, bởi lẽ dân tộc ta vĩ đại, lại được chúa Jezus ban cho nhiều sức lực tự trong xương cốt. Còn nói về thánh tích, thì đâu phải trong tu viện tại Swiętokrsyski của ta không có một mẩu gỗ của cây Thánh giá Thiêng liêng?

    - Phải lắm, đúng như Đức Chúa lòng lành! - quận chúa trả lời. - Nhưng có điều ở ta mảnh gỗ ấy để yên trong tu viện, còn chúng thì khi cần chúng chở theo người.

    - Cũng như nhau thôi, tâu lệnh bà. Sức mạnh của Chúa không hề biết đến khoảng cách.

    - Có đúng thế không? Ông hãy nói ta nghe, có đúng thế không? - Quận chúa ngoảnh sang ông Mikołaj xứ Długolas uyên thâm hỏi. Ông đáp:

    - Điều ấy bất cứ giám mục nào cũng đều có thể xác nhận. Roma xa xôi là thế mà đức Giáo hoàng còn trị vì được thế gian, nữa là Chúa.

    Những lời ấy khiến quận chúa hoàn toàn yên tâm, vì vậy bà chuyển sang bàn chuyện về Tyniec và những mặt tuyệt vời của tu viện. Dân cư vùng Mazury không chỉ kinh ngạc trước sự giàu có của tu viện mà còn ngạc nhiên trước vẻ phong lưu của cả vùng đất mà họ đang đi qua lúc này. Chung quanh là những làng mạc trù phú, đủ đầy, những khu vườn cây trái xum xuê, những rừng cây gia có cò làm tổ trên ngọn, bên dưới xếp đầy các tổ ong đậy nắp bằng rơm. Suốt bên đường trải dài những ruộng ngũ cốc đủ loại. Chốc chốc gió lại làm chao đưa cả biển lúa rập rờn, giữa những bông lúa còn xanh vươn cao, dày như sao trên trời, nhấp nháy những ngọn thỉ xa cúc xanh thắm cùng những đóa anh túc đỏ nhạt. Xa xa, phía bên kia những cánh đồng ngũ cốc, khi thì nổi lên một vệt rừng đen thẫm, khi là những dải rừng sồi và cây tống quá sủ tắm nắng rực rỡ làm vui mắt nhìn, khi lại là những cánh đồng cỏ ẩm ướt với những cánh hải âu chao lượn quanh vòng trên những đầm lầy ngập nước, rồi lại đến những ngọn đồi với nhà cửa chi chít, tiếp theo lại là đồng lúa.  Rõ ràng vùng đất này là nơi sinh sống của những cư dân đông đúc và cần cù, thích trồng trọt canh tác. Rộng dài đến tít tắp chân trời, mảnh đất này không chỉ tràn trề sữa thơm và mật ngọt mà còn mang vẻ thanh bình và hạnh phúc.

    - Vương quốc của Kazimierz Đại đế quả là một sản nghiệp đế vương, - quận chúa thốt lên, - những chỉ muốn sống nơi đây mà không phải nhắm mắt xuôi tay.

    - Đức Chúa Jezus mỉm cười với mảnh đất này, - ông Mikołaj xứ Długolas tiếp lời, - và ân phước của Chúa Trời hằng ngự trị nơi đây. Vả, làm sao khác được, bởi chốn đây, khi tiếng chuông ngân nga, chẳng xó xỉnh nào tiếng chuông không vang vọng tới. Bọn quỷ dữ ma ác không tài nào chịu nổi tiếng chuông nhà thờ, phải trốn chạy vào những khu rừng câm đặc tận biên giới nước Hung[12].

    - Vậy thì cũng lạ, - bà Ofka, vợ góa của hiệp sĩ Krystyn xứ Jarząbkowo nói, - là tại sao hồn ma chàng Walgier Tuấn Tú mà các tu sĩ vừa kể lại có thể hiện ra ở Tyniec, nơi mỗi ngày bẩy lần nhà thờ thỉnh chuông?

    Câu hỏi đó khiến hiệp sĩ Mikołaj bối rối mất một thoáng, nhưng sau khi ngẫm nghĩ, ông đáp:

    - Trước hết, người trần mắt thịt chúng ta không thể thấu hiểu những điều phán quyết của Chúa; hai nữa, bà cũng phải nên biết rằng mỗi lần y hiển hiện đều phải được phép của Chúa cả đấy.

    - Cứ cho là đúng như ngài nói, nhưng tôi vẫn mừng là ta không trú đêm lại tu viện. Tôi đến chết vì kinh hãi mất thôi nếu nhỡ hồn ma của con người khổng lồ ấy hiện lên.

    - Hey! Cũng chưa biết đâu mà nói trước; người ta đồn rằng anh chàng ấy đẹp trai lắm đấy!

    - Dù anh ta có xinh đẹp đến đâu chăng nữa, tôi cũng chả muốn nhận cái hôn từ đôi môi sặc mùi lưu hoàng kia đâu.

    - Sao bà đã vội nghĩ là anh ta muốn hôn bà?

    Quận chúa, rồi tiếp đó ông Mikołaj và hai hiệp sĩ trang Bogdaniec đều phá lên cười. Cả Danusia cũng cười theo, dẫu cô không hiểu tại sao. Còn bà Ofka xứ Jarząbkowo ngoảnh bộ mặt sưng sỉa sang phía ông Mikołaj xứ Długolas mà bảo:

    - Thà phải hôn anh ta còn hơn là hôn ông.

    - Ấy, chớ có mà gọi sói trong rừng ra - vị hiệp sĩ vùng Mazury vui vẻ thốt lên, - ma quỷ hay lang thang dọc đường cái quan giữa Kraków và Tyniec lắm đấy, nhất là những lúc trời chạng vạng tối thế này. Nhỡ nó nghe thấy lại hiện hình thành một người khổng lồ ngay trước mặt bà thì khốn!

    - Phỉ thui nhà ông đi! - bà Ofka thốt lên.

    Đúng lúc ấy, ông Maćko xứ Bogdaniec đang cưỡi con ngựa đực cao to lực lưỡng, có thể nhìn xa hơn những người ngồi trong xe, chợt kéo mạnh cương thốt lên:

    - Ôi, lạy chúa lòng lành, cái gì kia vậy?

    - Cái gì?

    - Một người khổng lồ nào đó từ phía sau đồi vừa hiện ra ngay trước mặt ta kìa!

    - Lời nói hiện thành người rồi nhé! - quận chúa kêu lên. - Các người chớ dại mồm nói những điều vớ vẩn mà khốn đấy!

    Zbyszko nhổm người trên bàn đạp, thốt lên:

    - Nhanh thật! Một người khổng lồ, đích thực chàng Walgier, chẳng phải ai khác đâu!

    Nghe thấy thế, người xà ích hoảng hốt gìm ngay ngựa lại, tay không rời dây cương bác ta bắt đầu làm dấu thánh, bởi lẽ ngồi trên ghế đánh xe cao lênh khênh bác cũng đã trông thấy hình dáng khổng lồ của người kỵ sĩ sừng sững trên quả đồi đối diện.

    Quận chúa cũng nhổm lên nhìn rồi ngồi phịch ngay xuống, mặt biến sắc vì kinh hoàng. Danusia giấu đầu vào giữa các nếp váy của quận chúa. Đám quan nhân, thị nữ và ca công cưỡi ngựa theo sau xe, nghe thấy cái tên ghê gớm nọ cũng đều túm tụm lại quanh xe. Đàn ông tuy vẫn tỏ ra cười cợt nhưng trong mắt đã hiện lên những ánh lo ngại, đàn bà thì mặt mày đã tái xanh tái xám. Riêng hiệp sĩ Mikołaj xứ Długolas, người đã ăn cơm thiên hạ đến mòn răng, thì vẫn giữ nguyên vẻ mặt bình thản, cất tiếng nói để quận chúa yên lòng:

    - Đừng sợ, thưa lệnh bà. Mặt trời đã lặn đâu, mà dẫu đêm có buông xuống thì thánh Ptolomeusz vẫn đương đầu được với hồn ma Walgier kia mà.

    Trong khi đó, người kỵ sĩ vô danh kia dừng ngựa lại đứng yên bất động trên chỏm đồi trước mặt. Trong ánh mặt trời đang lặn có thể thấy rõ nét người ấy, và quả thực vóc dáng ông ta có vẻ to lớn quá đỗi, vượt hẳn tầm vóc người thường. Khoảng cách giữa kỵ sĩ với đoàn người ngựa của quận chúa không quá ba trăm bước chân.

    - Sao hắn dừng lại thế nhỉ? - một ca công cất tiếng hỏi.

    - Vì chúng ta cũng dừng lại đấy mà, - ông Maćko đáp.

    - Hắn đang ngó về phía ta, hình như đang chọn xem nên bắt ai đấy, - người ca công thứ hai nhận xét. - Nếu biết chắc đó là người chứ không phải hồn ma, tôi dám phóng ngựa lại gần phang cho hắn chiếc đàn luýt vào đầu.

    Đám phụ nữ kinh hoàng thật sự, họ lớn tiếng cầu nguyện. Muốn tỏ rõ lòng can đảm trước quận chúa và Danusia, Zbyszko bèn thốt lên:

    - Tôi vẫn cứ xông lên! với tôi, Walgier thì mùi mè gì!

    Nghe chàng nói, Danusia kêu lên; tiếng nghe đã có phần nức nở: "Zbyszko! Anh Zbyszko!" Nhưng chàng trai đã phóng ngựa mỗi lúc một xa, vững tin rằng dẫu gặp phải Walgier thật thì vẫn có thể xiên cho y một mũi giáo như thường.

    Vốn có đôi mắt tinh tường, ông Maćko chợt nói:

    - Nom y có vẻ khổng lồ vì y đứng trên đồi, chứ thực ra tuy to lớn song y cũng chỉ là người trần thôi. Ôi! Tôi cũng phải phóng  lên trước mới được, để tránh chuyện đụng độ giữa y với Zbyszko!

    Trong khi đó Zbyszko đang cho ngựa phi nước kiệu và suy tính xem đã nên chĩa giáo ra chưa, hay trước hết nên đến gần giáp mặt kẻ đang dùng ngựa trên đồi kia đã. Rồi chàng quyết định trước hết nên gặp xem đã, và ngay lập tức sau đó chàng thấy ngay rằng quyết định ấy là sáng suốt, bởi càng tiến đến gần, người lạ kia càng mất dần vẻ khổng lồ. Đó là một người đàn ông cao lớn, lại cưỡi trên con ngựa lực lưỡng, to hơn cả con ngựa đực của Zbyszko, nhưng không có gì là siêu nhiên. Người đó lại không mặc giáp phục, đầu đội một chiếc mũ nhung hình chuông, ngoài khoác chiếc áo choàng rộng không tay màu trắng,  bụi đường phủ mờ mờ, bên dưới lộ ra chiếc áo dài màu xanh lục. Người ấy đứng trên đồi ngẩng đầu cầu nguyện. Hẳn ông ta dừng ngựa chỉ cốt để đọc nốt bài kinh chiều mà thôi.

    "Ấy, thế mà ta đã ngỡ là Walgier!" - chàng trai nghĩ thầm.

    Ngựa chàng đã đến gần, có thể chạm giáo vào người kỵ sĩ lạ mặt. Người kia, khi thấy một trang hiệp sĩ trang bị tuyệt mỹ đứng trước mặt bèn mỉm cười thốt lên:

    - Sáng danh Chúa Jezus Christ!

    - Đời đời!

    - Dưới kia phải chăng là đoàn tùy tùng của quận chúa Mazowsze?

    -  Chính vậy!

    -  Các vị vừa rời Tyniec đấy chăng?

    Nhưng câu hỏi ấy không có lời đáp, bởi Zbyszko đang bàng hoàng đến nỗi không nghe thấy câu hỏi. Chàng đứng lặng người như đã hóa đá, không tin vào mắt mình: cách chừng một phần tư dặm sau lưng người kỵ sĩ không quen biết nọ, chàng chợt nhìn thấy khoảng mươi tên lính kỵ, dẫn đầu và vượt hẳn lên trước là một trang hiệp sĩ giáp phục sáng lòa, với chiếc áo choàng bằng da trắng mang hình cây thập tự đen và chiếc mũ sắt có đính ngù lông công tuyệt đẹp trên chóp đỉnh.

    - Một thằng Thánh chiến! - Zbyszko thốt lên.

    Thấy cảnh tượng ấy, chàng chợt nghĩ ngay rằng những lời cầu nguyện của chàng đã được nghe thấu, và trong niềm từ tâm Chúa đã gửi đến cho chàng tên Đức mà chàng từng cầu xin lúc còn ở Tyniec. Bụng bảo dạ phải đón nhận ngay niềm ưu ái của Chúa, nên không ngần ngừ một giây, trước khi kịp suy nghĩ, trước khi đủ thì giờ thoát khỏi nỗi sửng sốt, chàng đã cúi rạp người trên yên ngựa, đặt ngọn giáo vào giữa hai tai tuấn mã, thét vang tiếng thét xung trận : "Mưa đá! Mưa đá!”của dòng họ, rồi lao thẳng ngựa về phía tên hiệp sĩ Thánh Chiến.

    Gã hiệp sĩ cũng thảng thốt không kém, y cũng dừng ngựa, nhưng không rút ngọn thương mũi vẫn đang chĩa lên trời, cán tỳ vào bàn đạp, mắt nhìn sững sốt như không hiểu người ta đang chĩa mũi giáo vào mình.

    - Chĩa thương ra! - Zbyszko vừa thét lên vừa chọc đôi cựa sắt ở gót giầy vào sườn ngựa. - Mưa đá! Mưa đá!

    Khoảng cách chia cắt hai người giảm đi nhanh chóng. Rốt cuộc gã hiệp sĩ Thánh chiến cũng hiểu ra rằng gã đang bị tấn công. Gã liền ghì ngựa, chĩa vũ khí ra. Chỉ còn chút nữa mũi giáo của Zbyszko chạm vào ngực gã. Đột nhiên, một cánh tay cực kỳ mạnh mẽ tóm lấy bẻ nó gẫy vụn ra như một cây sậy khô, chỗ gẫy ngay sát tay cầm của Zbyszko, rồi cũng chính bàn tay ấy ghì cương ngựa của chàng mạnh đến nỗi con ngựa quỵ cả bốn vó xuống đất mà đứng yên như bị chôn chặt chân vào đấy.

    - Thằng điên này, ngươi làm gì vậy? - một giọng trầm dữ tợn quát lên. - Chĩa giáo vào sứ giả, ngươi định coi thường Đức vua chăng?

    Zbyszko ngoảnh lại, nhận ra đó chính là người đàn ông khổng lồ mà đám đình thần của quận chúa vừa hoảng hồn tưởng là chàng Walgier lúc nãy.

    - Buông ra cho ta đánh thắng giặc Đức! Ông là ai? - Chàng hét lên, nắm vội chiếc cán rìu.

    - Buông ngay rìu ra! Lạy Chúa lòng lành! Buông ngay rìu ra! Ta bảo kìa! Nếu không ta sẽ cho ngươi ngã ngựa ngay bây giờ! - người lạ mặt quát lên bằng giọng dữ tợn hơn. - Ngươi đã phạm tội khi quân, sẽ phải ra tòa lãnh án!

    Rồi ngoảnh lại những kẻ cưỡi ngựa đi sau lưng tên hiệp sĩ Thánh chiến, ông lớn tiếng:

    - Xin chào!

    Đúng lúc đó ông Maćko phóng ngựa đến, vẻ mặt hằm hằm đầy phẫn nộ. Ông hiểu rằng Zbyszko đã hành động một cách điên rồ, việc này có thể khiến chàng mất mạng như chơi, nhưng ông vẫn sẵn sàng nghênh chiến. Cả đám tùy tùng của vị hiệp sĩ lạ mặt  cùng đám theo sau tên hiệp sĩ Thánh chiến chỉ độ mươi lăm người, mang theo giáo và cung nỏ, hai vị hiệp sĩ vũ trang đầy đủ vẫn có hy vọng chiến thắng khi đương đầu bọn họ. Ông Maćko nghĩ rằng nếu vì chuyện gây sự này phải ra tòa lãnh án thì tốt hơn nên đánh thắng đám người này rồi ẩn trốn ở một nơi nào đó, chờ cho bão táp lắng đi. Vì vậy, mặt ông nhăn lại giống một cái mõm sói chực cắn xé con mồi, ông lao ngựa xen vào giữa Zbyszko và người đàn ông lạ mặt, vừa quát hỏi vừa rút gươm ra:

    - Ngươi là ai! Ngươi có quyền gì gí mũi vào?

    - Ta có quyền, bởi chính đức vua đã lệnh cho ta phải canh giữ trật tự và an ổn trong vùng, - người lạ mặt đáp: -Tên ta là Powała xứ Taczew[13].

    Nghe những lời ấy, ông Maćko và Zbyszko giương tròn mắt nhìn người hiệp sĩ nọ, vội đút ngay vũ khí đang rút nửa chừng vào vỏ, rồi cùng cúi đầu. Không phải họ sợ hãi, họ cúi đầu trước cái tên lừng lẫy mà họ đã từng nghe đồn đại bao phen. Hiệp sĩ Powała xứ Taczew là một vị quý tộc có dòng dõi cao sang, một trang chủ giàu có, chủ nhân những vùng đất bao la quanh vùng Radom, một trong những hiệp sĩ lừng danh nhất khắp toàn Vương quốc. Các ca công thường hát tên ông trong các khúc ca, coi ông như mẫu mực của danh dự và lòng can đảm, ngợi ca tên ông ngang với tên tuổi các hiệp sĩ như Zawisza xứ Garbowo, Farurej và Skarberg xứ Góra, Dobek xứ Oleśnica, Jaśko xứ Nasan, Mikołaj xứ Moskorzew và Zyndram xứ Maskowice. Hơn nữa, ông vừa xưng danh là người làm theo lệnh Đức vua, tấn công vào ông lúc này chẳng khác chi đút đầu vào dưới lưỡi rìu đao phủ.

    Bình tĩnh lại phần nào, ông Maćko liền cất giọng trang trọng:

    - Xin kính chào hiệp sĩ, kính chào áng vinh quang và lòng can trường lừng lẫy của ngài!

    - Tôi cũng xin chào ngài, - hiệp sĩ Powała  đáp, - mặc dầu tôi không muốn phải quen biết với ngài trong một hoàn cảnh gay cấn như thế này.

    - Sao kia ạ? - ông Maćko hỏi lại.

    Hiệp sĩ Powała hướng sang phía Zbyszko:

    - Gã trẻ tuổi kia, ngươi làm gì vậy? Ngay trên đường cái quan sát cạnh đấng Kim thượng mà người dám đường đột tấn công sứ giả! Ngươi có biết điều gì đang đợi ngươi không?

    - Cháu nó nhỡ tấn công sứ giả bởi nó quá trẻ người non dạ, nghĩ chậm hơn làm, - ông Maćko phân trần. - Cúi xin ngài đừng kết tội cháu quá nghiêm khắc. Tôi xin được tâu trình tình đầu câu chuyện với ngài.

    - Ta không phải là người sẽ xử tội hắn. Việc của ta chỉ là trói hắn lại thôi...

    - Kìa, thưa ngài! - ông Maćko thốt lên, đưa mắt rầu rĩ nhìn khắp lượt. - Sao lại thế?

    - Tuân theo chỉ dụ của Hoàng thượng.

    Im lặng bao trùm sau những lời ông vừa thốt ra.

    - Nhưng cháu nó dẫu sao cũng là một trang quý tộc, - sau cùng ông Maćko thốt lên.

    - Vậy thì được. Họ tên các ngươi là gì?

    Ông Maćko xưng danh và gia huy.

    - Nếu các ngươi là đình thần của quận chúa Mazowsze thì hãy tâu trình quận chúa đến gặp Đức vua xin giảm tội cho.

    - Chúng tôi không thuộc triều thần quận chúa, thưa ngài. Chúng tôi đang trên đường từ Litva, chỗ công vương Witold  trở về. Giá như chúng tôi đừng gặp triều đình quận chúa cho xong! Chính vì cuộc gặp gỡ ấy mới có nỗi bất hạnh giáng xuống đầu con trẻ thế này!

    Nói đoạn, ông Maćko bắt đầu thuật lại những điều xẩy ra trong tửu quán. Ông kể lại cuộc gặp gỡ đám triều thần quận chúa và việc Zbyszko tuyên thệ. Kể đến cuối, đột nhiên ông nổi cơn giận bừng bừng đối với Zbyszko, kẻ đã hành động thiếu chín chắn khiến cả hai rơi vào hoàn cảnh nan giải nhường này, ông ngoảnh về phía chằng thét lớn:

    - Sao mày không chết mất xác ở thành Wilno cho rồi! Đồ lợn non háu dũi, mày nghĩ ra cái trò hay hớm chưa!

    - Thôi đi chú, - Zbyszko phân trần. - Sau khi thề nguyện, cháu đã cầu xin đức Chúa Jezus mang bọn Đức đến cho cháu rửa thù, và cháu hứa sẽ dâng lễ cho Người. Vì vậy, khi trông thấy chỏm lông công với chiếc áo choàng có hình thánh giá đen, một tiếng nói chợt vang lên trong lòng cháu: "Hãy xông tới đánh thằng Đức kia đi, bởi chính phép màu đem nó tới đấy!" Thế là cháu bèn xông ngay lại. Mà ai có thể không xông ngay lại kia chứ?

    - Ngươi hãy nghe đây, - hiệp sĩ Powała ngắt lời chàng. - Ta chẳng mong điều dữ cho các ngươi, ta thấy rõ gã trai kia phạm lỗi chẳng qua vì nóng vội hơn là thù thận. Ta cũng muốn bỏ qua coi như không thấy hành vi của y, đi tiếp như chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng ta chỉ có thể làm điều ấy nếu việc tổng quản kia hứa sẽ không tâu trình đức vua. Các ngươi hãy cầu xin y điều đó, biết đâu y cũng thông cảm, không muốn trừng trị một gã thiếu niên.

    - Thà ra tòa chịu tội chứ tôi không thèm lạy lục một thằng Thánh chiến! - Zbyszko hét lên. - Như thế không xứng với danh dự hiệp sĩ của tôi.

    Nghe chàng nói, hiệp sĩ Powała xứ Taczew nghiêm nghị nhìn chàng, bảo:

    - Ngươi nhầm rồi. Người cao tuổi hiểu rõ hơn ngươi việc gì xứng và việc gì không xứng thanh danh hiệp sĩ. Người đời đã từng nghe danh ta, vậy nhưng ta bảo ngươi này: nếu ta phạm phải một hành động như ngươi vừa rồi, ta cũng sẽ không chút hổ thẹn xin người ta tha lỗi đâu.

    Zbyszko xấu hổ, nhưng chàng vẫn bướng bỉnh nhìn quanh rồi đáp:

    - Đất quanh đây bằng phẳng, chỉ cần dẫm thêm chút ít là có bãi đấu trường. Thay vì xin lỗi thằng giặc Đức, tôi muốn thà quyết đấu sống mái với hắn, dù trên ngựa hay trên bộ, chịu chết hay chịu bị bắt làm nô lệ.

    - Đồ ngu! - Ông Maćko cắt ngang. - Mày là cái thớ gì mà dám đòi đấu với sứ giả? Mày không xứng để đấu với ông ta, ông ta cũng chẳng thèm đấu với đồ trẻ ranh vắt mũi chưa sạch như mày.

    Nói đoạn ông quay sang phía hiệp sĩ Powała :

    - Xin tôn ông tha lỗi. Trải chinh chiến, thằng cháu tôi đã trở nên cuồng khấu quá đỗi. Nhưng xin ngài đừng bắt nó phải xin xỏ gã người Đức kia, e nó nỏ mồm chửi bới người ta thêm phiền. Tự tôi, đích thân tôi sẽ xin hắn. Còn như sau khi hắn kết thúc nhiệm vụ sứ giả, nếu tay tổng quản kia muốn quyết đấu tay đôi, thì tôi đây rất sẵn lòng nghênh chiến.

    - Đó là một hiệp sĩ dòng dõi cao sang, không phải với bất kỳ ai ông ta cũng đấu đâu, - hiệp sĩ Powała  nói.

    - Sao lại thế? Đâu phải tôi chưa được đeo đai và chưa được mang cựa gót? Ngay cả các công vương cũng chịu đấu với tôi kia mà!

    - Đúng vậy, nhưng xin ông chớ tự mình thách hắn, trừ phi chính hắn tự nói ra thì không kể, bởi nếu không hắn chẳng chịu bỏ qua chuyện này. Thôi, cầu chúa che chở cho các vị.

    - Tao phải chịu nhún vì mày vậy, - ông Maćko bảo Zbyszko. - Cứ đứng yên đợi đấy!

    (còn nữa)

    Nguồn: Hiệp sĩ Thánh chiến tập I. Tác giả Henryk Sienkiewicz, {The Knights of the Cross, or Krzyzacy- còn dịch là Hiệp sĩ Thập tự chinh}, viết xong năm 1900. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan: KRZYŻACY Państwowy Instytut Wydawniczy. Warszawa, 1973. Xuất bản lần thứ XXX, theo bản in Toàn tập tác phẩm của H. Sienkiewicz do giáo sư Julian Krzyżanowski chủ biên, PIW Warszawa 1948. NXB... & Công ty Đông A sắp xuất bản.

    Cám ơn Dịch giả, Nhà văn Nguyễn Hữu Dũng đã gửi www.trieuxuan.info

    ___

    [1] Các tu sĩ dòng Benedyktyn đã xây dựng tu viện tại thành Lubus trên sông Odra từ thời Kazimierz (thế kỷ XI). Đến thời vua Jaghełło, Lubus không còn thuộc đất Ba Lan nữa.

    [2]   Kopijnik - hiệp sĩ được trang bị giáp phục nặng, với các võ khí nặng và thương dài, thường được dùng làm lực lượng tiên phong tấn công trước tiên vào hàng ngũ địch.

    [3]   Nguyên văn: Wlodyk - tầng lớp trung lưu ở nông thôn, giữa các trang chủ quý tộc và nông nô. Họ cũng có quyền lợi và nghĩa vụ như quý tộc, nhưng không có gia huy và chiến lệnh riêng, không có nhiều đất đai và ít khi được phong tước cao.

    [4]  La tinh: Tu viện trưởng bách thôn.

    [5]  Tức vua Władysław I Łokietek (1260 - 1333), lên ngôi 1320.

    [6] Tức Kazimierz III Đại đế (1310-1370) - con của vua Władysław I Łokietek, lên ngôi năm 1333, có nhiều công với nước.

    [7] Hoàng hậu Jadwiga - cháu của chị gái vua Kazimierz Đại đế, nữ hoàng nước Hung Elżbieta Łokietkówna (1305 - 1380), mẹ vua Hung Ludwik.

    [8] Thánh Benedyntyn xứ Nursja (480 - 543), người lập tu viện đầu tiên tại Monte Casino vào năm 529, sáng lập Dòng tu Benedyktyn. Những vị thánh tiếp theo là các thánh hộ mệnh của dòng tu này.

    [9] Nguyên văn: Churagiev - đơn vị chiến vị chiến đấu trong quân đội thời cổ, không có số lượng quân nhất định. Ở Ba Lan thời bấy giờ, đạo quân thường gồm khoảng 100 hiệp sĩ trang bị nặng (thiết kỵ trường thương) và 200 quân .

    [10] Komtur - chức hiệp sĩ chỉ huy các thành của quận Thánh chiến nơi có giáo đường của Dòng tu, cai quản luôn vùng đất trực thuộc (komturstwo), thành nào không có giáo đường thì chức quan được gọi là lý trưởng (wójta).

    [11] Thánh nữ Brygida (1301 - 1373) - nguyên là quận chúa Thụy Điển, sáng lập dòng tu nữ mang tên bà. Có ảnh hưởng lớn đến việc vận động Giáo hoàng Avinion về Roma. Bà đã báo trước cuộc chiến tranh Ba Lan - Thánh chiến.

    [12] Hồi ấy, Ba Lan tiếp giáp với vương quốc Hung ở phía Nam, biên giới là dãy núi Carpat.

    [13] Phiên âm: Pôvala xứ Tatrep.

    Mục lục: 1 2 3

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập45,818,658

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/