Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,948,288

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Hưng Đạo Vương và những truyện khác

Hoài Anh

  • Thứ tư, 08:16 Ngày 18/08/2021
  • Hưng Đạo Vương và những truyện khác

    LÁ ĐƠN PHÊ CHIỀU XUÂN MUỘN

    Nguyễn Thị Hinh trầm ngâm trước đống đơn từ các làng đệ lên mà chồng nàng - ông huyện Thanh Quan((1) Tức Lưu Nguyễn Uẩn, đỗ cử nhân năm 1821, làm tri huyện huyện Thanh Quan (nay thuộc tỉnh Thái Bình), cũng vì thế mà người ta gọi bà Nguyễn Thị Hinh (người làng Nghi Tàm huyện Từ Liêm nay thuộc ngoại thành Hà Nội, là Bà Huyện Thanh Quan). 1) nhờ nàng phê. Lại vẫn như mọi hôm: đơn trình về vụ mất trộm và tình nghi cho người láng giềng, đơn thưa về một vụ mạ lỵ và hành hung đánh người có thương tích, đơn kiện về việc quịt nợ không trả xin phép cho sai áp tài sản của con nợ, đơn kiện tranh chấp gia tài của người quá cố, đơn xin đo đạc lại đất đai bị người khác lấn chiếm. Nàng mỉm cười nghĩ đến cái thói sính kiện cáo của dân quê, hơi một tí là lôi nhau lên cửa quan nhờ phân xử. Nhưng nàng bỗng nghĩ lại. Có lẽ do dân nghèo thất học không biết luật pháp, bị kẻ xui nguyên giục bị cho họ kiện nhau để chúng ở giữa đục nước béo cò cũng nên. Nghĩ vậy, nên nàng cố tìm cách hòa giải những vụ kiện cáo vô lý, không đầy đủ chứng tang và nghiêm trị bọn thầy cò thầy kiện xui bẩy trai cò mổ nhau để chúng đóng vai ngư ông đắc lợi. Nhưng khi thấy có kẻ cố tình cậy thế lấn kiếp người thấp cổ bé họng, nàng cũng thẳng tay nghiêm trị để giữ mực công bằng cho dân được nhờ cậy.

    Bỗng có một lá đơn khiến nàng chăm chú đọc mê mải. Lời lẽ trong đơn như sau:

    Kính bẩm quan tri huyện huyện Thanh Quan,

    Con tên là Nguyễn Thị Đào, 22 tuổi, quán làng Ngô Xá, làm đơn này kính xin quan lớn xét xử cho con được nhờ ơn.

    Nguyên năm 18 tuổi, con lấy chồng là tên Ngô Văn Tập, được một năm thì chồng con không may qua đời, con đã để tang chồng theo đúng lễ. Đến nay đã mãn tang, con nghĩ mình còn đầu xanh tuổi trẻ nên muốn bước đi bước nữa. Nguyên có một trai làng đã thương yêu con từ trước, nhưng cha mẹ con vì nợ tiền nhà anh Tập nên gán cho vào làm dâu nhà này để trừ nợ. Nay thấy con góa chồng nên anh trai làng muốn nối lại tình xưa, cậy người đến ướm ý với con. Con đã thưa chuyện với gia đình nhà chồng, xin được tái giá, không ngờ anh chồng con là tên Ngô Văn Học không chịu, nói trước đây cha mẹ con gán con vào nhà này để trừ nợ, mới ở được có vài năm, chưa đủ trả nợ, bắt con phải làm lụng cho nhà này dăm năm nữa, trả hết nợ rồi mới được phép tái giá. Con nghĩ rằng nếu để dăm năm nữa, tuổi xuân qua đi thì lúc ấy ai còn thèm nhìn nhõi đến con nữa. Huống chi bây giờ con lại gặp lại người từng yêu thương con ngày trước, nay anh ấy đã tha thứ cho con mà mong chắp nối tơ thừa, anh ấy đã vì con mà lỡ mối nhân duyên, con không thể để anh ấy chờ đợi thêm được nữa. Kính xin quan lớn mở lượng hải hà, cho phép con được tái giá, con vô cùng đội ơn quan lớn.

    Nguyễn Thị Hinh đặt lá đơn xuống, nghĩ ngợi. Cảnh ngộ Thị Đào cũng ngang trái không khác gì cảnh của mình. Vì cha mẹ Hinh chỉ có một mình nàng là gái, yêu thương rất mực nên chiều ý nàng cho nàng theo học chữ nho với thầy đồ trong làng. Hinh học giỏi nhất trường nên nhiều bọn đàn ông con trai đem lòng thầm yêu, trong đó Hinh để ý đến một học sinh xuất sắc nhất, anh ta đã hứa với Hinh là bao giờ thi đỗ sẽ đến xin cưới Hinh làm vợ. Vì Hinh là gái, triều đình không cho phép con gái đi thi, nên đến khoa thi, anh học sinh kia đỗ thủ khoa kỳ thi Hương, năm sau vào thi Hội lại đỗ luôn Tiến sĩ. Ông Nghè tân khoa xin cha mẹ cho đón Hinh về làm vợ, không ngờ cha mẹ anh ta cố chấp, hủ lậu, bảo Hinh là con gái mà đi học chung với con trai, không giữ đúng lễ giáo nam nữ thụ thụ bất tương thân((1) Trai gái không được gần gũi cho và nhận của nhau.1) như vậy là gái hư mất nết, không xứng đáng là dâu con trong nhà. Tin đồn Hinh bị ông Nghè tân khoa từ hôn lan đi. Thành thử có nhiều người khá giả tị hiềm không dám đến xin cưới Hinh, e thua kém ông Nghè kia, cũng có bậc cha mẹ ngại có dâu con hay chữ trong nhà sẽ khó dạy bảo. Thành thử Hinh đến năm ba mươi tuổi vẫn cam phận phòng không chiếc bóng. Mãi sau mới có ông Lưu Nguyễn Uẩn, bốn mươi tuổi, góa vợ, đến xin cưới Hinh về làm kế thất. Vì Hinh thấy ông Uẩn có chân cử nhân, nên mới nhận lời. Được cái ông Uẩn là người biết trọng tài của vợ, nên khi được bổ làm tri huyện Thanh Quan, bao nhiêu đơn từ văn án đều nhờ tay nàng phê, ông thấy nàng phê đều thỏa đáng nên cũng đem lòng tin cậy.

    Nàng nhìn ra ngoài sân. Chiều xuân muộn, nắng đã nhạt, nhưng những cành liễu vẫn còn phất phơ đùa với gió. Chỉ ít hôm nữa thôi, cành liễu kia sẽ ủ rũ dưới cái nắng gay gắt... Bỗng nàng cầm bút lên phê luôn vào lá đơn mấy câu:

                Phó cho con Nguyễn Thị Đào,

    Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai.

    Chữ rằng: xuân bất tái lai,

    Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

    Thị Đào được lời, tái giá cùng với anh trai làng. Ông huyện về, biết chuyện cũng tin bà hiểu tâm lý, hoàn cảnh của người phụ nữ kia nên yên tâm không hỏi đến nữa.

    Không ngờ chỉ một tháng sau, ông huyện bị quan tuần phủ gọi lên trách quở, bảo hiện nay đang nêu cao phong hóa, khuyên dân phải đôn nhân luân, giới dâm thắc((1) Nêu cao đạo luân thường, răn cấm chuyện dâm ô.1), đàn bà thủ tiết thờ chồng được vua ban tấm biển đề chữ tiết hạnh khả phong, sao quan huyện không khuyên người đàn bà kia thủ tiết mà lại cho phép tái giá trong khi nhà chồng thị không bằng lòng, kiện lên tỉnh. Nói xong, quan tuần quở:

    - Ông làm quan mà không biết giáo hóa cho dân, để họ làm những việc tồi bại không có liêm sỉ, trái với cương thường. Lẽ ra tôi phải cách chức ông, nhưng nghĩ ông từ trước đến nay làm việc mẫn cán, nên chỉ phạt bổng ông một năm, để ông tìm cách lập công chuộc tội. Thôi cho ông về, từ nay đừng dại dột như thế nữa.

    Ông huyện Uẩn hú vía, tạ ơn quan tuần rồi ra về. Vừa đi ông vừa nghĩ, cái hồi ông hỏi lấy bà Hinh, có người đã gàn quải ông bảo lấy đàn bà hay chữ về chỉ tổ hại. Có lẽ từ nay mình phải cấm bà ấy dính dáng vào việc quan thì mới yên thân.

    KIẾM BÊN ROI

    Trên sập gụ chân quỳ trong tư thất, quan Tổng đốc Hoàng Diệu đang tỉ mẩn gọt một củ thủy tiên. Đã thành lệ, từ khi ông còn là thầy đồ dạy học đến khi đã thành đường quan, năm nào cũng vậy, cứ đến gần tết, ông gọt một củ thủy tiên thưởng xuân - chỉ một củ thôi - bấm làm sao cho nở đúng giao thừa.

    Hoàng Diệu nâng củ hoa đơn lên ngắm nghía xem nên cắt bên nào để không phạm đến nhiều giò hoa, rồi cầm con dao, một đầu mài sắc một đầu lòng máng, cắt một bên củ, còn đáy củ để nguyên, trang trọng như một kỳ công nghệ thuật.

    Án sát Tôn Thất Bá, khăn nhiễu tam giang, áo sa, quần lụa, nón dứa quai lụa, đi giày kinh, bước vào, vồn vã:

    - Kính chào cụ lớn - Ông ta nhìn quanh - Bẩm, gần tết mà sao dinh cụ lớn vắng vẻ quá!

    Hoàng Diệu đáp lễ:

    - Kìa quan Án... Lính tráng tôi cho về ăn tết, chỉ giữ vài đứa lại sai vặt. Thì quan Án tính, ra trấn Hà Nội, đất đầu sóng ngọn gió, mang theo gia quyến làm gì, chỉ tổ quẩn chân. Nhỡ xảy ra bất trắc thì sao?

    - Ôi dào, có gì mà bất trắc. Theo hòa ước Giáp Tuất((1) Năm 1884.1) người Phú((1) Hồi đó, ta gọi Pháp là Phú lang sa, do phiên âm chữ France theo kiểu ta, đến khi thấy Trung Quốc phiên âm là Pháp lan tây, ta mới gọi là Pháp.1) hứa không xâm phạm đến Hà Nội, chữ ký của họ chả rành rành ra đấy là gì.

    - Quan Án chưa biết, tôi vừa được mật báo chúng nó mới tăng số quân đồn trú Hà Nội từ một trăm tên theo hòa ước, lên tới năm trăm. Chúng cho tàu chiến đi lại trên sông, lại có một số tàu khác lởn vởn ngoài biển.

    - Ty chức cho đó chẳng qua chỉ là hoảng báo. Cứ theo hòa ước, họ có quyền thông thương trên sông Cái. Khéo tàu buôn mà “lính do” họ nhầm là tàu chiến đấy thôi.

    - Đâu có nhẽ lại trông gà hóa cuốc thế được.

    - Vâng, cẩn thận vẫn hơn, cụ lớn cứ phòng xa cũng phải. Giờ xin phép cụ lớn cho ty chức về Mọc. Đầu năm khai ấn((2) Cuối năm bỏ ấn vào hộp niêm lại, đầu năm mở lấy ra làm việc gọi là khai ấn.2), ty chức xin lên hầu.

    - Quan Án cứ tùy tiện. Nhưng hễ động dạng thì phải về thành ngay đấy nhá...

    Tôn Thất Bá đi rồi, Hoàng Diệu lại gọt thủy tiên. Nhưng vì đầu óc bực dọc, có lần suýt nữa cắt vào giò hoa định cho nở. Ông nghĩ thầm: Tôn thất gì cái lão Án sát này, chỉ mê mệt cái cô vợ hai ở Mọc, chả nghĩ gì đến việc phòng thủ thành trì.

    Việc Tôn Thất Bá về quê ăn tết với vợ, gợi cho ông nhớ đến gia quyến hiện đang ở quê, làng Xuân Đài, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Làng ông cùng mười mấy làng nữa ở trên một khoảnh đất cao nằm giữa sông Thu Bồn và chi nhánh sông này, hình thể giống như cái đảo con con, chung quanh có nước bao vây nên tục gọi là đất Gò Nổi. Tuổi nhỏ của ông trôi qua trên dòng Thu Bồn vang tiếng cười của các cô gái giặt lụa, hai bờ sông ngàn dâu xanh ngắt, dưới sông vẳng giọng hát đò đưa... Mới lên sáu tuổi thì cha mất, mẹ ông phải ở vậy, trồng dâu nuôi tằm nuôi con ăn học. Nhiều bữa không có gạo, mẹ ông phải đi bắt hến về trộn khoai cho con ăn. Biết thương mẹ nên Hoàng Diệu cố gắng học hành để khỏi phụ công ơn của mẹ. Nhưng thi khoa Hương không đỗ, ông phải đi làm thầy đồ dạy trẻ một thời gian, để có lương ăn học thêm, sửa soạn khoa sau. Năm 24 tuổi, ông vừa đỗ phó bảng, thì cũng là lúc đại bác của Tây bắt đầu nã vào cửa Hàn, gần quê hương ông, phá vỡ những gì êm đẹp nhất.

    Ngày đi làm quan, bà mẹ tiễn ông một quãng đường, dặn ông phải giữ liêm khiết. Bà kể cho con một câu chuyện mà bà nghe được từ nhỏ: có một ông quan cũng người Quảng Nam, khi từ giã đất Bắc về Kinh, có người theo mãi phía sau xin tạ ân bằng một chiếc gậy. Ông bèn bẻ đôi chiếc gậy ra, thấy nửa gỗ, nửa là vàng. Nể lời cầu khẩn ông chỉ xin lĩnh nửa toàn bằng gỗ thôi.

    Câu chuyện ấy Hoàng Diệu nhớ mãi, nên suốt đời làm quan, từ chức Tri phủ Tuy Viễn, Đa Phúc, đến khi vào Kinh làm Lại bộ tham tri, kiêm Đô sát viện, hay ra Bắc làm Tổng đốc Hà Ninh, bao giờ Hoàng Diệu cũng giữ liêm chính làm đầu. Đức liêm của ông đã nổi tiếng trong các bạn đồng liêu, đến nỗi vua Tự Đức cũng phải nể vì. Ông làm quan ở địa phương nào cũng có chính tích tốt, được dân chúng hết sức ca ngợi. Lần này, vì tình thế Hà Nội rối ren, cần một vị quan có đức độ được lòng dân để trấn phục, nên vua Tự Đức không còn chọn ai xứng đáng hơn Hoàng Diệu đảm nhận chức trách lớn lao đó.

    Mấy chục năm làm quan, đến nay đã quá ngũ tuần mà chưa bao giờ mang biếu mẹ một cái áo, đó là điều Hoàng Diệu luôn áy náy trong lòng. Năm nay, bà cụ đã tám mươi tuổi, suốt đời cụ đã trải qua nhiều nỗi đắng cay vất vả. Ở góa từ hồi còn trẻ, cụ tần tảo làm ăn nuôi sáu con trai đều thi đỗ, Hoàng Diệu là một trong ba người thành đạt hơn cả. Vậy mà ông vẫn chưa báo đáp được ơn mẹ chút gì. Nhưng ông thầm nghĩ, chắc mẹ cũng hiểu cho lương bổng quan lại có được là bao, lại nhận chức nơi xa. Ở chốn phồn hoa đô hội gạo châu củi quế, bao nhiêu cũng không đủ chi dùng. Giá như ông quan khác thì đã giở ngón bóp nặn hà lạm của dân, nhưng điều đó với Hoàng Diệu là tối kỵ.

    Cách đây một tháng, hai bang Quảng Đông, Phúc Kiến cử người đến bái yết quan Tổng đốc nhân dịp tất niên. Bang Quảng Đông có lẽ đã dò biết ông là người thanh liêm nên không dám mang lễ lạt gì, chỉ làm một đám rước tấm hoành nét chữ viết rất tốt quan thanh dân lạc((1) Quan thanh liêm thì dân vui sướng.1). Ông cũng vui lòng nhận vì cảm cái tình của họ. Còn bang Phúc Kiến thì không hiểu sao lại mang biếu một tấm đoạn, thứ đoạn Ngô lăng rất quý. Ông khăng khăng từ chối. Viên bang trưởng nói đây là hàng trong nHà Bán, chứ không phải mua ở đâu, nhất định để lại, không chịu mang về. Hoàng Diệu nghĩ một tấm đoạn cũng không đến nỗi là một tặng phẩm quá lớn, mình không nhận họ cho là cố chấp, tổn thương đến hòa khí giữa quan Nam và Hoa thương ở đây. Ông đành phải thu nhận và dặn họ từ sau không được làm thế nữa. Tính ông thích giản dị, khi phải mặc triều phục thì không kể, còn ở nhà ông chỉ mặc áo the thâm, chít khăn xanh,  thắt lưng nhiễu đỏ, chứ không ưa gấm vóc. Bây giờ may cái áo đoạn mặc vào không hợp với phong thái ông. Ông chợt nghĩ ra, bấy lâu nay mình vẫn định biếu mẹ một tấm áo mà chưa sắm được. Đến người dân thường mà còn may được áo cho mẹ huống hồ một ông quan. Nhất là may áo để cụ mặc trong buổi con cháu mừng thọ bát tuần, thì cũng là đúng lễ chứ không phải quá xa xỉ. Hoàng Diệu chậc lưỡi, sai lính trạm gấp đường mang công văn về Kinh nhân tiện mang tấm đoạn về quê biếu mẹ.

    Hôm nay nghĩ lại chuyện đó, Hoàng Diệu cũng thấy đỡ áy náy. Ông lại tiếp tục công việc. Củ thủy tiên đã gọt xong, trông tròn trĩnh xinh xắn. Ông gọi lính nhà chè dặn nó đem ngâm úp vào trong chậu.

    Thau nước bưng lên, ông chưa kịp rửa tay thì thấy suất đội Nguyễn Đình Trọng dẫn một người Hoa kiều vào. Người ấy đội mũ nan to vành cụp xuống có chóp nhọn, áo cộc bằng vải dãi hạt cau đã bạc màu, áo năm thân tay chẽn cài giải ở ngực và ở nách, quần cộc đến nửa ống chân, đi đôi guốc mộc quai da buộc chéo kiểu quai dép. Người ấy trông thấy Hoàng Diệu, luống cuống tụt guốc cắp vào nách, nhưng quên không bỏ mũ cứ đội sùm sụp, vội chắp tay vái lia lịa. Khi anh ta sực nhớ bỏ mũ xuống, Hoàng Diệu thấy tóc anh tết bím đuôi sam bỏ lòng thòng,  mặt mũi hốc hác nhọ nhem. Suất đội Trọng nói:

    - Bẩm, chú Khách này đến cửa thành cứ đòi gặp quan Tổng đốc bằng được, bảo có việc cơ mật, chỉ gặp cụ lớn mới chịu nói ạ.

    Hoàng Diệu khoát tay cho suất đội Trọng lui, rồi hỏi:

    - Có chuyện gì vậy chú?

    - Bẩm cụ lớn, con là Ả Sềnh làm công cho ông Quảng Phát Tường, bang trưởng Phúc Kiến ạ. Dạ, ông Bang mười năm trước có đón ông Thông Phong là thông ngôn của quan ba Ngạc-nhe((1) Ta phiên âm (Garnier).1) về làm sí-giề((2) Sư gia, thầy dạy trẻ trong nhà.2) trong nhà dạy các con ông ấy học chữ Tây. Khi ông Ngạc-nhe chết, ông Thông hấp tấp xuống tàu đi Sài Gòn. Cách đây nửa tháng, con thấy ông Thông ở đâu lại đến ông Bang, hai người bàn bạc chuyện gì lâu lắm. Khi con vào sắp bàn đèn cho ông Bang, nghe loáng thoáng ông Thông Phong nói với ông Bang: quan ba Rivie sắp mang quân từ Sài Gòn ra, đánh thành Hà Nội, ông phải thu xếp mua lúa gạo tiếp tế cho các quý quan. Dạ, con vừa nghe đến đấy thì ông Bang đuổi con xuống nhà dưới.

    Hoàng Diệu ngạc nhiên:

    - Sao chú lại có lòng tốt báo chuyện này với ta?

    - Bẩm, chả là con không ưa gì cái bọn bạch quỷ((3) Quỷ trắng, ám chỉ thực dân Pháp.3), lần trước tụi nó ra Hà Nội, con đang làm phu bốc dỡ ngoài bến sông Cái, khuân vác đồ dưới tàu lên tụi nó đã quịt tiền công mà khi con đòi, còn đánh con hộc máu mồm. Lần này, thấy tụi nó lại định ra, con phải đến báo để cụ lớn liệu cách ngăn cản.

    Hoàng Diệu cảm ơn Ả Sềnh, dặn giữ kín việc báo tin cho ông, nếu thấy gì khác ý thì lại cho ông hay. Ả Sềnh đi rồi, ông thầm nghĩ: cũng là Hoa kiều cả nhưng hai cảnh sống thật một vực một trời. Những Hoa thương giàu thì sung sướng tha hồ buôn bán trục lợi, bóc lột cả đồng bào của họ. Còn những Hoa kiều nghèo phải đi làm công hay bốc dỡ ngoài bên sông thì có khi còn khổ hơn cả người Nam. Ông biết Hoa thương có người buôn bán dễ dãi phải chăng, giữ đúng luật cư trú của nước Nam, nhưng cũng có một số buôn gian bán lận, mua hàng của ta xong đóng chai dán nhãn hiệu Tàu rồi bán lại cho ta với giá cao, bảo là của Tàu chính hiệu. Như thứ chè Ô Long, Liên Tâm đóng bao có tranh núi Vũ Di hẳn hoi mà thật là ở... Phú Thọ, hay cao Phú Yên, sâm Bố Chính, họ đem gói theo kiểu Tàu bảo là cao, sâm của Tàu gửi sang. Những người buôn bán kiểu này thường phải đấm mõm các quan, gọi là tiền trà thủy((1) Tiền trà nước.1) trong việc buôn bán, bao giờ họ cũng trù sẵn món ấy là mấy phần trăm, coi là chuyện tất nhiên.

    Nhưng chuyện ấy cũng không đến nỗi nguy hiểm lắm, đằng này họ buôn bán lúa gạo với Tây, nối giáo cho giặc, thì không thể tha thứ được. Hèn chi bang trưởng Phúc Kiến vờ thân thiện mang tấm đoạn đến biếu để che mắt ông. Ông gọi suất đội Trọng giao cho trách nhiệm theo dõi hành tung của Quảng Phát Tường đi lại với Thông Phong như thế nào. Mặt khác, ông nghĩ cách tăng cường phòng thủ thành Hà Nội.

    Không phải bây giờ ông mới nghĩ đến chuyện ấy, mà từ lâu thấy mình đang ở trong thế dễ bị bao vây, Hoàng Diệu biết chỉ có một cách là liên lạc chặt chẽ với bên ngoài, vận dụng cả lực lượng quân đội và dân chúng từ ba phía Bắc, Tây, Nam bọc lại thành một vòng rộng lớn mới tồn tại được. Nếu giữ một cô thành mỗi bề trăm trượng thì dù thành cao, tường chắc, hào sâu mấy cũng không chịu nổi với sức công phá của đại bác mới. Vì vậy ông giao ước ứng cứu với thống đốc Tam Tuyên là Hoàng Kế Viêm và nhiều tỉnh thần trung châu. Đồng thời với việc xin bố trí vành ngoài như thế, Hoàng Diệu vẫn cứ gắng hết sức mình trong việc bồi thành, đắp lũy.

    Ông cho bồi tường thành Hà Nội lên cao thêm bốn thước ta, có đoạn cao hơn để giặc khó bắc thang trèo lên như lần đánh thành mười năm trước, bồi bề dày từ một thước rưỡi ta đến hai thước ta, và cho khoét thêm nhiều lỗ châu mai. Lại đắp thành đất suốt từ cửa Đông sang cửa Tây. Cổng thành dù bằng gỗ lim dày cũng có thể bị đạn đại bác bắn tan tành như lần trước, phải dùng đất và gạch đá lấp chặt cả lại, ra vào dùng thang dây.

    Số đại bác cũng phải tăng thêm. Bao nhiêu súng ống phải cho đặt cả lên mặt thành. Còn thuốc súng ta đem giấu kỹ ở kho Hậu lâu, kẻo hao hụt, ướt át hay bị bọn gian tìm cách phá hủy. Cần phải tăng quân cho đủ hai nghìn, khi tình thế nghiêm trọng thì cho một quan văn, một quan võ đưa một số quân ra đóng bên ngoài, phòng quân địch đánh thành, không thể cứ ỷ vào thành cao hào sâu. Một mặt, mời Thống đốc quân vụ Hoàng Kế Viêm đem một nghìn quân về đóng ở Sơn Tây, gần phủ Hoài Đức để làm thanh viện. Một mặt, nghiêm cấm người nước ngoài không được tự do vào thành, muốn vào phải được phép của Đốc bộ đường.

    Mới đây Hoàng Diệu đã dâng biểu lên Tự Đức, xin “kinh lý kỹ hơn, củng cố cho mạnh thượng du để bảo vệ trung châu, bọn kia tiện ở nước mà không tiện lên núi, thì cũng biết là khó gây hấn mà không dám hành động”. Tự Đức khen lời lẽ thích hợp cơ nghi nhưng cũng không theo. Đối với kế sách phòng thủ của Hoàng Diệu thì Tự Đức buộc cho tội “chế ngự không phải lúc”, và khi Hoàng Kế Viêm xin điều quân, vua đã cho là ông ta làm “rối rít” lên, như vậy là “đe dọa” họ.

    Tự Đức lại ban chỉ dụ cho các tỉnh thần Bắc Kỳ: “Phàm mọi việc cốt xếp khéo, chớ để động hình lộ tích, như có thể im lặng mà làm cho họ đổi ý, rút đi thì càng tốt; ví bằng họ dám hoạnh, việc đến nước thì cũng tùy đó mà làm, để tròn trách nhiệm giữ đất”.

    Tuy vậy Hoàng Diệu vẫn không nản lòng, vì nghĩ rằng Hà thành là đất cuống họng của Bắc Kỳ, lại là khu yếu hại của nước ta, nếu một ngày tan tành như đất lở thì các tỉnh lần lượt mất như ngói bong. Ông vẫn đêm ngày đôn đốc việc phòng thủ.

    Chiều ba mươi tết, lính trạm mang về trình ông một gói dài từ quê gửi ra. Khi lật đật giở ra xem, ông thấy lại là tấm đoạn bữa trước và kèm theo một cây roi. Ông hiểu ý mẹ gửi cây roi là ngụ ý trách phạt ông không giữ liêm khiết. Ông run rẩy, cầm cây roi lên ngắm nghía. Nhớ lại hồi còn nhỏ đã có lần ông trốn học bỏ đi chơi, bà mẹ giận quá đã bắt ông nằm sấp xuống cầm roi quất một cái vào mông, từ đó ông vâng lời mẹ dạy, chăm chỉ đèn sách, không hề xao nhãng. Và cũng từ đó không bao giờ ông còn bị đòn của mẹ nữa. Hôm nay những vết roi vô hình của mẹ lại quất lên mông, nhói đau cả vết roi lần trước, tưởng chừng thịt da rát bỏng...

    Hoàng Diệu mường tượng trong ngôi nhà tranh ba gian lạnh lẽo ở làng Xuân Đài, bà cụ lưng còng tóc bạc, lẩy bẩy bắc ghế trèo đứng lên với lấy cây roi giắt trên mái nhà xuống, gạt mồ hôi thở hổn hển. Không ngờ đến lúc mẹ tuổi già, mà con còn để mẹ phải buồn giận vì con. Chiếc roi vừa là lời răn con giữ đức liêm khiết, vừa là mệnh lệnh bắt con phải giữ thành Hà Nội, không để mất vào tay giặc, vì nước mất thì nhà tan.

    Đêm hôm ấy, Hoàng Diệu đặt củ thủy tiên lên chiếc yên thư sơn son bày đỉnh đồng và ống bút. Phía trên, cạnh thanh kiếm mà Hoàng Kế Viêm đã tặng ông, ông treo cây roi của mẹ.

    Giữa lúc pháo giao thừa nổ ran thì những giò hoa cũng bắt đầu nở hàm tiếu. Thủy tiên cánh trắng nhị vàng, từng hoa như chén vàng đặt trên đĩa ngọc, được những chiếc lá chiếc uốn vào trong, chiếc cong ra ngoài, nâng lên cho hoa nở đều chun vào giữa trên tầng lá, không đâm díu vào nhau.

    Sẵn ngọn bút ô long và thoi mực thượng phẩm, ông định thảo một bài thơ ca ngợi hoa thủy tiên, như một nàng tiên trong trắng nhô lên từ mặt nước, mỉm cười với người trần. Nhưng ông lại đổi ý, làm một bài “hành” ca ngợi thanh kiếm và ngọn roi.

    Kiếm ta sắc chừ, chém đầu quân giặc,

    Roi ta mạnh chừ, trị lũ tham quan,

    Có roi thiếu kiếm chừ, nước sao vững,

    Có kiếm thiếu roi chừ, dân không an.

    Kiếm bên roi chừ, nguyện lòng son sắt,

    Roi bên kiếm chừ, đẹp nghĩa chi lan...

    Mùi hương thủy tiên thoảng ngát khắp gian nhà, quyện cùng mùi trầm hương nồng nàn trên đỉnh đồng. Khói trầm quấn quít vào thanh kiếm và cây roi trên tường như dải lụa xanh dài buộc chuôi, phấp phới...

    CÓ CÔNG MÀI SẮT

    Thế là Cao Thắng đã có một khẩu súng bắn nhanh của Tây đúng như lòng mong ước. Đang khi nghĩ ngợi chưa biết làm thế nào kiếm được loại súng ấy thì một người dân đến báo tin có một toán lính tập từ Nghệ An lên đồn Phố áp tải mấy hòm bạc “con cò”, tiền lương tháng phát cho lính. Cao Thắng liền cho đón đường đánh úp toán lính kia. Khi chúng đi tới con đường độc đạo, giữa có một hòn núi trọc chắn ngang, chung quanh toàn lau sậy um tùm, nghĩa quân dùng đoản đao bất ngờ xông lên, diệt được hai tên quan Tây, mười lăm lính tập, thu được mười bảy khẩu súng Tây kiểu 1874, trong đó có hai khẩu hai nòng, sáu trăm viên đạn và nhiều tiền bạc mà bên mình không sứt mẻ gì.

    Cao Thắng là người làng Lê Động, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, con nhà nông dân nghèo, dáng thấp nhỏ, ngón tay ngón chân ngắn, anh em gọi là “ngũ đoản tướng quân”. Thắng có đi học chữ, nhưng thích võ nghệ và săn bắn với em là Cao Nữu.

    Năm 1874, Hà Tĩnh có khởi nghĩa của Đội Lựu, triều đình gọi là giặc cờ vàng. Cậu bé Cao Thắng đã theo Đội Lựu, bị triều đình truy nã, nhờ anh của Phan Đình Phùng là Phan Đình Thuật che chở mới khỏi bị bắt. Lớn lên, Thắng chiêu mộ một số người giang hồ mã thượng hùng cứ núi rừng, thường đánh phá nhà giàu lấy của chia cho dân nghèo.

    Năm 1885, Phan Đình Phùng dựng cờ Cần Vương chống Pháp ở quê nhà là làng Đông Thái huyện La Sơn, Hà Tĩnh, Cao Thắng cùng bạn là Nguyễn Kiểu đem 60 bộ hạ ra xin theo, được làm quản cơ, lúc ấy Thắng mới 20 tuổi, võ nghệ tinh thông nổi tiếng khắp một vùng. Thắng còn có tinh thần chiến đấu rất dũng cảm. Là người chỉ huy, Thắng bao giờ cũng xung phong đi đầu trong các trận đánh.

    Qua một vài trận chiến đấu, đầu năm 1886 nghĩa quân lui đến làng Phùng Công, huyện Hương Sơn. Rồi vì lực lượng mới nhóm lên đã phải đối phó với nhiều cuộc tấn công của giặc, nghĩa quân phải vượt lên vùng rừng núi, dùng lối đánh du kích để chống đỡ.

    Sang năm 1887, biết rằng lực lượng của mình chiến đấu cô độc, đã không thể thắng được mà còn có thể bị tiêu diệt, Phan Đình Phùng quyết định ra Bắc Kỳ để liên lạc với văn thân ngoài ấy. Cụ dặn dò các tướng ở lại không nên bạo động vội, cần phải xây dựng lực lượng vững chắc và đợi đến khi nào cụ về sẽ nổi lên.

    Cụ Phan đi rồi, tướng tá và nghĩa quân còn lại do Cao Thắng, Cao Nữu, Cao Đạt và Nguyễn Niên chỉ huy rút về làng Lê Động, quê Thắng. Kinh nghiệm thất bại vừa qua giúp các ông nhận ra rằng muốn có thắng lợi, phải có một lực lượng mạnh mẽ, nghĩa là phải có đầy đủ nghĩa quân, lương thực và vũ khí. Không thể ham đánh mà phải bắt tay vào xây dựng.

    Cao Thắng cầm khẩu súng Tây lên ngắm nghía. Nước thép sáng xanh, bóng đến soi gương được. Nòng súng thẳng, cứng, lò xo khỏe như thế này trách nào đạn đi chẳng xa, chẳng mạnh. Thật chả bù với cái loại súng hỏa mai của ta mỗi lần bắn lại phải nạp thuốc. Ấy thế mà hồi đầu Thắng chỉ có hai trăm khẩu hỏa mai vẫn đánh được Tây thua liểng xiểng. Có gì đâu, thấy súng bắn chậm, Thắng chia quân làm hai toán, cho một toán bắn trước rồi nạp thuốc, trong khi toán đó nạp thuốc thì toán sau bắn, địch chỉ nghe tiếng nổ liên thanh, không biết súng của Thắng chỉ là hỏa mai thôi, cũng không biết súng nhiều hay ít, liền bỏ chạy rùng rùng.

    Nhưng muốn đánh Tây lâu dài thì súng hỏa mai không đủ nữa. Phải làm cách nào chế được súng như của Tây thì mới ăn thua. Ý nghĩ ấy đã bao nhiêu ngày ám ảnh đầu óc Thắng. Hôm nay khẩu súng đã có đây, nhưng còn cách chế tạo. Thắng lại không phải thợ rèn, mà trong số bốn trăm nghĩa quân cũng không có ai quen cái nghề nhọ nhem này.

    Cao Thắng bàn với Cao Nữu:

    - Chú biết ở vùng này có làng nào làm nghề rèn không?

    Cao Nữu vỗ vỗ trán rồi nói:

    - Em nhớ ra rồi. Ở huyện Can Lộc có hai làng Trung Lương và Vân Tràng nổi tiếng về nghề rèn hàng mấy trăm năm nay.

    Cao Thắng mắt sáng lên:

    - Nếu vậy thì chú cải trang làm một người buôn đồng nát đi mua móng lừa, móng ngựa, các thứ sắt vụn, cày hư cuốc bể của nhà nông, đem về đập ra để làm nguyên liệu, nhân tiện chú tạt qua các làng Trung Lương, Vân Tràng, đem đại nghĩa ra thuyết phục một số thợ rèn về đây giúp ta trong việc chế súng.

    Cao Nữu nhận lời đi. Chỉ nửa tháng sau, Nữu đã quẩy đôi bồ chứa đầy sắt vụn, dẫn theo một số thợ rèn ở hai làng về Lê Động. Thắng đi tìm một chỗ rộng rãi và kín đáo để dựng xưởng chế súng, nơi này ở bên cạnh thác nước, để người đi bên ngoài không nghe được tiếng đe búa bên trong. Toán thợ rèn chia làm hai ban, ban rèn và ban đúc. Ban rèn do ông phó cả làng Vân Tràng chỉ huy, còn ban đúc do ông phó cả làng Trung Lương chỉ huy.

    Ban rèn cho dựng lò và bễ. Lò được đào sâu hai tấc, bên trong thành được quây gạch (trừ rãnh thông gió) cho đất khỏi lở, trên bề mặt đặt hai bờ đất làm má lò để giữ than, giữa hai bờ đất đặt những thanh sắt tròn làm ghi lò. Ở bên phía người thợ cả ngồi, làm một bức vách rộng 6 tấc, cao 2 thước 5 để ngăn sức nóng tỏa ra. Bễ để quạt gió vào lò gồm ống dẫn gió, bầu bễ và tay quay.

    Đe có hai loại: đe rèn còn gọi là đe nóng có mặt phẳng bằng dùng để kê đập thanh sắt nung đỏ và loại đe nhỏ hơn gọi là đe dàn, dùng để tu sửa sản phẩm.

    Búa có ba loại: búa quai tay, tức búa tạ dùng cho thợ phụ đập sắt tạo hình, và búa cái nẻ tức búa nhỡ, gõ cho mặt sản phẩm thẳng và búa tay để thợ cả dùng tu sửa hoàn chỉnh sản phẩm.

    Kìm có ba loại: kìm dài chuyên dùng bạ thép, kìm tôi, kìm ngắn thợ cả dùng cặp sản phẩm.

    Lưỡi ươi gọt (gọt cánh) lưỡi hoàn toàn bằng thép nguyên chất đã được tôi kỹ, một đầu cạp dây thép và xoắn chặt lại tạo thành hai quai để cầm cho chắc. Xong các công đoạn, người thợ dùng gọt cánh, nạo sạch lớp vẩy sắt làm cho bề mặt sản phẩm vừa có độ mỏng lại làm thẳng mặt thép.

    Ngoài ra còn có chậu để tôi, đá mài, rổ đựng than, xẻng xúc than. Than có hai loại: than củi và than đá, than củi chỉ dùng để nhóm lò, còn suốt trong quá trình rèn người ta dùng than đá.

    Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ đồ nghề, Cao Thắng bèn tháo rời một khẩu súng ra từng bộ phận, rồi giao cho các tổ rèn y theo nguyên mẫu mà chế tạo một khẩu khác.

    Nòng súng thì giao cho ban đúc đảm nhiệm, vì nòng bằng thép nguyên chất ở giữa rỗng, chờ đúc xong thì đem các bộ phận khác gắn vào, hàn sắt liền với thép.

    Người thợ phụ đem sắt chặt ra theo kích thước từng bộ phận, thép nguyên chất chặt ngắn hơn để chồng lên sắt phần định tạo thành sản phẩm, sau đó cho vào lò nung sao cho sắt và thép nóng chảy dính vào nhau rồi bỏ ra ngoài khoảng một khắc cho vào lò quay nhỏ lửa, khi thấy có sắc đỏ trắng, bỏ ra đe. Những sản phẩm đã có hình thù ở giai đoạn cháy được chuyển sang giai đoạn làm nguội, mang ra đe dàn dùng búa và chạm chặt cho bằng rồi dùng búa tay và búa nẻ dàn cho thẳng, phẳng, giũa cạnh, giũa mặt, gọt cho quang nhẵn, có những bộ phận phải gọt cho thật mỏng đúng kích thước đã định.

    Đến giai đoạn tôi, thợ cả dùng kìm tôi cặp sản phẩm đưa vào lò, bằng mắt thường nhìn thấy hiện vật màu đỏ hung, gắp ra nhúng vào chậu dầu, hoặc bùn ao hòa loãng để tôi, rồi lại vớt ra bỏ vào chậu nước lã. Nhưng đó chỉ là áp dụng cho loại sản phẩm lớn, sù sì, còn những bộ phận nhỏ, mỏng, người thợ cầm kìm cặp chặt tay đưa nhanh lên bề mặt than hồng, bản mỏng nên rất khó nhận biết có đỏ đều hay không, vì thế trước khi đưa vào lò phải bôi một ít nước muối loãng lên bề mặt, sản phẩm đưa qua lửa đến đâu muối khô trắng đến đó, muối khô hết mới cho vật nung vào chậu nước. Nếu thấy sản phẩm tôi quá già thì dùng phương pháp yếm lửa, dùng kìm cặp sống lưng rồi đưa nhanh qua lửa nhiều lần, thấy có màu vàng rơm bỏ ra, lấy nước vẩy vào thấy trôi ngay là được, sau đó cho hiện vật vào chậu nước lã có pha một ít giấm chua.

    Cứ trông ông phó cả Vân Tràng làm việc để hướng dẫn cho thợ phụ thì ai cũng phải mê: Tay trái cầm kìm, cặp một thanh sắt nung đỏ trong lò ra đặt trên đe. Tay kia cầm một chiếc búa nhỏ gõ gõ lên thanh sắt hoặc gõ ra ngoài khi nhanh, khi chậm, khi nặng, khi nhẹ, làm hiệu cho hai thợ bạn theo đó mà quai búa. Khi muốn rèn riêng một chỗ nào, ông đặt chỗ ấy vào giữa đe cho hai thợ bạn giáng búa xuống, tay ông cứ thoăn thoắt điều khiển thanh sắt đẩy ra đẩy vào, lật đi lật lại, hai người cứ thay nhau quai búa nhịp nhàng mà thanh sắt mỗi lúc một thay hình đổi dạng. Xong ông lại cặp đưa vào lò cho đỏ đều, đầu thanh sắt muốn cho già hơn khi cặp ra ông còn để thêm trong lửa một chút cho đỏ sẫm. Khi đưa vào dầu tôi, ông cầm dốc ngược lên, chấm đầu ấy vào dầu trước, đợi đoạn trên đã nguội bớt trong không khí, ông mới quẳng cả vào trong dầu tôi.

    Mỗi khi cặp sắt trong lò ra, gỉ sắt bong lộ ra màu thép hơi xanh không trắng mà cũng không xám, lúc ấy ông phó cả mới cho là được. Khi rèn xong từng bộ phận, ông lại đem so với bộ phận của khẩu súng Tây xem dài, ngắn, rộng, hẹp, có đúng từng tấc, từng phân một hay không.  Hễ sai thì ông bắt phá ra làm lại. Ruột gà tức lò xo trong súng thì dùng cây gọng dù uốn lại mà làm. Nhờ có dụng cụ tinh xảo và tay nghề cao, nên chẳng bao lâu, ban rèn đã rèn được tất cả các bộ phận khác của khẩu súng. Gay nhất là nòng súng, vì phải nấu thép đổ vào khuôn đúc, khi thì thép già quá, khi thì thép lại non quá. Ông phó cả Trung Lương phụ trách ban đúc, đã toát cả mồ hôi hột khi thấy ban rèn đã hoàn thành công việc mà ban đúc vẫn còn loay hoay với cái nòng súng phải gió.

    Cuối cùng rồi cũng đúc được một nòng súng bằng thép tốt, Cao Thắng cho lắp các bộ phận khác vào hàn liền lại và cho bắn thử. Nhưng khi bắn thì viên đạn lại rơi ngay trước mặt, còn khói thì phụt ra phía sau.

    Thắng lấy khẩu súng Tây đem so với khẩu súng mới chế thì thấy lò xo của nó làm bằng thứ thép dẻo hơn của ta nên có thể vì thế mà sức bật mạnh hơn, đẩy viên đạn đi xa. Thắng lại sai người đi thu mua và lạc quyên những dụng cụ bằng thép tốt hơn, đem về chế lò xo. Lần này đem bắn thử, thấy khói không phụt ra đằng sau nữa, nhưng nòng súng lại vỡ toác ra.

    Thắng xem xét lại khẩu súng hiểu ra rằng, khi điểm hỏa cháy lên nó tạo ra một sức ép rất mạnh mà không có chỗ thoát hơi nên mới phá vỡ nòng súng.

    Sau hai lần thử đều thất bại, anh em ai cũng chán nản. Nguyễn Niên bảo rằng hay là khi nấu thép có lẽ Tây phải pha thêm chất gì đó mà mình không biết, nên khi bắn nòng súng mới chịu đựng được. Cao Đạt vốn nóng tính bảo ta cứ dẹp quách cái trò chế súng này đi, dùng súng hỏa mai chơi nhau với Tây cho gọn, vẽ vời ra làm gì cho tốn công tốn sức mà chỉ uổng phí vô ích. Nhưng Cao Thắng không chịu. Nếu cứ dùng kiểu súng hạt nổ mỗi lần bắn lại phải chùi súng, nhồi thuốc vào ống súng, ấn con cò máy cho chẹt vào hạt nổ có lửa bật ra thì đạn mới chạy, mất công phu thời giờ nhiều như thế thì địch làm sao nổi với Tây.

    Một hôm, Thắng đem đập nòng khẩu súng của Tây vỡ đôi ra, xem lại. Ông phát hiện ra trong lòng nòng súng có đường rãnh xoắn, hình xoáy trôn ốc, mà trước đây mình không nhìn vào bên trong được nên không thấy. Thôi phải rồi, có cái rãnh này mới tạo được đường trơn cho viên đạn bắn đi xa, như người cầm dao đâm mà xoáy mạnh một cái thì ngập sâu hơn chỉ nhắm mắt đâm thẳng. Phải tìm cách nào tạo được đường rãnh xoắn trong lòng nòng súng mới có thể đẩy viên đạn đi ra mà không bị sức ép làm vỡ nòng.

    Nghĩ ra điều đó, Cao Thắng như người ngủ mê chợt tỉnh. Ông không có lúc ngã lòng như trước nữa mà tin tưởng là mình có thể đúc được súng như kiểu Tây. Ông vẫn sai Cao Nữu đi mua sắt vụn và thép tốt mang về chất đầy mấy gian nhà. Trong khi chờ đợi tìm được cách đúc nòng súng, ông cho làm đạn trước. Ông bảo mọi người góp nhặt những nồi đồng, mâm đồng, kèn đồng đập dập ra rồi cuốn lại. Thuốc đạn ông cử người sang bên Xiêm mua. Không hề bỏ phí một chút thì giờ nào dành cho việc chế súng. Trong khi đó ông lên đường đi khắp nơi để tìm bằng được người thợ có khả năng đúc nòng súng có đường rãnh xoắn.

    Thuyền của Cao Thắng từ Hương Sơn theo sông Ngàn Phố đi đến ngã ba Linh Cảm, nơi hội nước của sông Ngàn Phố từ phía Hương Sơn chảy về và Ngàn Sâu từ núi rừng Hương Khê mé Tây Nam chảy lại. Nhìn thấy bờ Nam có núi Tùng Lĩnh, nghe nói trên đỉnh núi có đền thờ Đinh Lễ, một tướng giỏi của nghĩa quân Lam Sơn khi xưa, Thắng thấy kính nể nên dừng thuyền lên bờ, rồi trèo lên đỉnh núi vãn cảnh. Trên đỉnh núi có một ngôi đền, trong đền có một pho tượng đồng của Đinh Lễ đúc rất tinh xảo nên trông rất sống động, từ đường gờ sống mũi, đường lõm của mí mắt đến đường lượn của sợi râu đều rõ nét. Cao Thắng thầm nghĩ: nếu đã có thể đúc được pho tượng đồng tinh vi như thế này thì sao lại không tạo được đường rãnh xoắn trong lòng nòng súng. Nếu tìm được người đã từng đúc pho tượng này thì có thể nhờ người ấy đúc giùm nòng súng. Nghĩ vậy, Cao Thắng liền xuống núi, vô sâu trong làng mạc, hỏi thăm ai là người đã đúc pho tượng đồng thờ trong ngôi đền.

    Hỏi dân làng ở đây họ đều nói là ngôi đền và pho tượng đã có từ lâu lắm rồi, lúc họ còn chưa đẻ, nên không biết ai là người đúc tượng.  Mãi mới gặp được một cụ già đã gần trăm tuổi, cụ cho biết là từ đời các cụ truyền lại, pho tượng ấy là của thợ ở ngôi làng dưới chân núi Thiên Nhẫn đúc.

    Cao Thắng cám ơn cụ già rồi nhằm về phía Đông Bắc mà đi tới. Phía trước là dãy núi Thiên Nhẫn 999 đỉnh trập trùng.

    Thiên Nhẫn là một dãy núi ở giáp giới hai huyện Hương Sơn và Thanh Chương, trong đó có nhiều chỏm như Lạp Phong, Bùi Phong... các chỏm đều đầu tròn và cao ngất lên, giống như hình một đàn ngựa chạy đua vậy. Đến ngôi làng ở chân chỏm Lạp Phong, Cao Thắng gặp một cụ già, hỏi thăm, thì cụ cho biết:

    - Ngày xưa, đức Lê Thái Tổ khởi nghĩa đánh nghĩa quân Minh đã dựng căn cứ ở đây sáu năm, nên ngôi thành nhà vua đắp được gọi là thành Lục niên. Trên núi có nhiều vết tích thành lũy của nghĩa quân Lam Sơn trước khi đánh dụ hàng quân Minh ở thành Nghệ An. Tôi nghe các cụ xưa truyền lại là: nhà vua đã cho tập trung thợ rèn thợ đúc ở khắp vùng đến đây để rèn đúc khí giới cho nghĩa quân, vì thế ở làng này còn sót lại một phường làm nghề đúc sắt, đúc đồng. Ông thử vào trong làng hỏi thăm xem sao.

    Khi Cao Thắng vào trong làng, hỏi thăm đến phường đúc thì dân làng cho biết cụ phó cả từng đúc pho tượng ở ngôi đền trên núi Tùng Lĩnh đã qua đời từ lâu, giờ chỉ còn sót một người cháu của cụ mà thôi. Thắng lại tìm đến nhà thì gặp một chàng trai mặt mũi khôi ngô, dáng dấp nhanh nhẹn. Sau khi Thắng hỏi anh ta có rành nghề đúc đồng không, anh nói:

    - Tôi cũng được các cụ truyền nghề lại, nhưng không đúc nổi những pho tượng tinh xảo như cụ tôi trước đây mà chỉ có thể đúc được, lư, đỉnh, hạc, để thờ và mâm, nồi, âu trầu mà thôi. Theo các cụ truyền lại thì làng tôi xưa là làng Vạc ở Nghĩa Đàn, ở đấy từ thời cổ xưa đã đúc được rìu, lưỡi kéo, dao găm, nồi, muôi, thạp, thố, chậu và trống đồng... nên giữ được bí truyền về nghề đúc đồng. Tới nay thì tay nghề của chúng tôi đã kém cỏi, nên nghề đúc đồng ngày càng sa sút. Chẳng hay ông muốn hỏi về nghề đúc để làm gì?

    Cao Thắng nói:

    - Chẳng giấu gì anh, tôi là người Lê Động cùng huyện, đang mộ nghĩa quân đánh Tây nên cần đúc thêm khí giới. Liệu anh có thể đúc được những đường rãnh xoắn trong lòng nòng súng như thế này không? - Dứt lời ông đưa một mảnh nòng súng, mang theo trong người ra, cho anh ta xem.

    Anh ta ngắm nghía một hồi rồi nói:

    - Nếu chỉ như thế này thì chúng tôi làm được.

    Cao Thắng mừng rỡ:

    - Vậy thì hay quá, xin mời anh về Lê Động giúp cho chúng tôi.

    - Một mình tôi thì không làm nổi, ông cứ về trước để tôi rủ thêm một số anh em trong phường đến giúp các ông.

    Cao Thắng từ biệt người thợ đúc trở về Lê Động. Trước khi chia tay,  ông hỏi họ tên thì anh ta nói mình tên Tiệp.

    Cao Thắng trở về Lê Động được mấy ngày thì Tiệp đã dẫn sáu người thợ đúc đến, trong số đó có một ông già đã sáu mươi tuổi tên Quyên là thợ bạn của ông nội Tiệp trước đây, nên tay nghề vững hơn Tiệp. Ngay hôm sau, mọi người bắt tay vào việc đúc.

    Đầu tiên, cụ Quyên bảo Cao Thắng cho người đi kiếm đất đồi về đập vụn, rồi rây nhỏ mịn như bột gạo tám, nhào nước trộn cùng giấy gió rừng băm thật tơi, để đắp khuôn bên trong cho khỏi co giãn.

    Cụ Quyên khắc lên khố thao những đường rãnh xoắn theo ý muốn, gọi là cắt ván xe, rồi in đáp tức là dùng bay tre miết những đường quan cho nhẵn, đặt vào bên trong để in thao.

    Khuôn bên ngoài gọi là bìa, đất áo ngoài phải dùng gạch chịu lửa, giã trộn với đất và trấu đốt cháy nghiền thành bột. Đắp bìa xong, cụ lại dùng đá mài mài nhẵn cạnh bìa cho khỏi ráp.

    Khi nung khuôn, lúc mới đốt thì cho nhiều lửa, nhưng dần dần hạ tỷ lệ, khuôn êm đi khỏi bị xe.

    Trong khi đó cụ cho bắc nồi đồng lên lò, nấu thép, trộn với một tỷ lệ đồng nhất định, dùng than đốt.

    Nung khuôn xong thì dỡ ra để đổ, phải tính thời gian khuôn ra nguội thế nào, nếu để nóng thì bị sộc rỗ.

    Khi nước thép trộn đồng xèo xèo sôi bỏng đã biến thành màu lửa, cụ nghiêng nồi rót vào trong khuôn.

    Đến khi nước thép trộn đồng nguội, dỡ khuôn ra, bên trong nòng súng đã có những đường rãnh từ thao in lên, thọc ngón tay vào sờ có thể thấy được.

    Cao Thắng cho lắp nòng mới chế vào các bộ phận khác, đem súng bắn thử, thì thấy lần này đạn đã bắn xa được 12 trượng, mới chỉ bằng một phần ba của khẩu súng Tây. Cụ Quyên nói:

    - Tôi cho rằng: sở dĩ súng Tây chế bắn xa hơn súng ta là vì họ có thể đưa máy mài luồn sâu vào bên trong lòng nòng để mài cho khỏi ráp, có thể giảm bớt ma sát của viên đạn đi trong nòng súng để đẩy nó xa hơn. Nếu như đường rãnh này mà nổi ở mặt ngoài, thì ta tha hồ mài cho nhẵn, nhưng nó lặn sâu vào bên trong thì làm thế nào được.

    Cao Thắng nói:

    - Bước đầu được như thế này đã là tốt lắm rồi. Xin cảm ơn cụ và anh em phường đúc đã tận lực giúp đỡ cho nghĩa quân chúng tôi.

    Cụ Quyên nói:

    - Chúng tôi chỉ muốn đóng góp chút công sức nhỏ mọn của mình vào công cuộc đánh Tây, nào có gì đáng kể là ơn huệ. Nhưng ông cứ yên tâm,  thế nào tôi cũng nghĩ chế ra được dụng cụ có thể luồn sâu vào lòng súng để mài, nếu làm được như vậy thì súng ta bắn chẳng thua gì của Tây.

    Trong tiệc mừng khánh thành khẩu súng đầu tiên, Cao Thắng nhìn những người thợ đúc vừa ăn uống vừa chuyện trò rôm rả. Ông thầm nghĩ: chẳng bì với lúc đang đốt lò và rót nước đồng vào lò, cứ uy nghiêm như một trận đánh lớn, mọi người không ai nói với nhau một tiếng nào, chỉ dùng mắt và ngón tay ra hiệu với sự chính xác như liều lượng các kim loại trong hỗn hợp đến độ nào nước đồng đã được, đến độ nào nghiêng rót vào khuôn, đến độ nào thì ngừng. Mọi người đều tập trung hết tình cảm và ý nghĩa vào công việc, bắt đồng, sắt lạnh lùng vô tri phải ngoan ngoãn tuân theo ý muốn của con người mà thay đổi hình dáng. Nếu không có lửa từ trái tim con người nhóm thêm vào thì liệu có thể làm cho lửa lò nóng lên nghìn độ đủ sức nung chảy sắt thép hay không? Cái tình im lặng của mọi người nấu nung trong dồn nén, khi phát ra thì thành tiếng nổ.

    Sau khi hoàn chỉnh thêm khẩu súng để bắn được gần 20 trượng, Cao Thắng cho chế 350 khẩu đầu tiên, rồi cho người ra Bắc mời cụ Phan Đình Phùng vào cầm đầu nghĩa quân. Cụ Phan khi ra Bắc, giả làm tú tài dạy học ở Sơn Tây mà liên lạc với các nhà ái quốc ở Hải Dương và nhất là Đề Thám. Nhưng cụ thấy ít hy vọng. Cụ đang chuẩn bị về Hà Tĩnh thì đúng vào dịp thư của Cao Thắng đến.

    Nghĩa quân lại gặp lãnh tụ, một người vừa có danh vọng vừa có lòng yêu nước thiết tha. Khi gặp Cao Thắng, cụ Phan cầm tay Thắng mà nói:

    - Xưa Gia Cát Vũ hầu chế mộc ngưu lưu mã((1) Trâu gỗ, ngựa gỗ có thể di chuyển được.1), cũng chỉ dùng vào việc vận chuyển lương thực mà thôi. Nay tướng quân chế được súng như của Tây, còn cơ trí hơn Vũ hầu nhiều lắm.

    Cao Thắng khiêm tốn:

    - Công đầu là thuộc về anh em phường rèn, phường đúc chứ tiểu tướng nào có công gì. Lòng người mới là thứ vũ khí lợi hại nhất, nếu có lòng người thì việc gì mà chẳng xong?

    CON CÒ BAY LÊN THÀNH CHIM PHƯỢNG

    Trên cánh đồng trời mênh mang, từng chòm sao hình cái đó, cái nơm, con vịt, sông Ngân Hà, ông Thần Nông la liệt… hình như trên đó cũng đang tấp nập làm lụng. Ngô Lý((1) Còn có tên Ngô Trân, Ngô Chuân1) nhớ đến ánh sao lấp lánh trên mặt đầm Mông Lãnh quê Lý hồi Lý còn nhỏ. Nước đầm mùa xuân đục, mùa hạ mặn, mùa thu đông trong mà lạt, nơi mẹ con Lý nương ngụ.

    Đêm đã khuya, Ngô Lý còn lò dò ra trảng cát đặt bẫy bắt nhông.  Nhông là một loài thằn lằn lớn dài đến một thước ta, thịt ăn rất ngon.

    Lý đặt một cái ống tre, để khi nhông chui vào, cái cần sập xuống, dây thòng lọng thít chặt vào cổ nó. Cách đánh bẫy này, Lý đã học được của anh Tư, người từng làm nghề săn bắn trên rừng. Anh Tư thấy Lý mồ coi, lại chịu khó học, nên dạy cho Lý cách đánh bẫy nhông, đem bán lấy tiền học.

    Đặt bẫy xong, Lý về nằm chợp mắt được một lúc, lại dậy giúp mẹ ra chợ dọn hàng, xong lại về nhà giở sách ra học và làm bài. Đầu bài thầy ra hôm nay khó quá, Lý phải cắn bút nghĩ mãi mới làm được. Nhưng vừa vụt nảy ra một ý thì Lý đã viết lia lịa một hơi, chữ đuổi không theo kịp ý nghĩ.

    Văn Lý lời tuy không bóng bẩy hoa mỹ, nhưng Lý rất cứng cỏi, nhiều khi cãi lại cả lời chú giải trong kinh sách của tiên nho. Lý mỉm cười nghĩ đến câu người ta thường nói: “Quảng Nam hay cãi...”. Phải rồi, những người ở đất Điện Bàn, Quảng Nam này có tiếng là cương trực. Ông Phạm Phú Thứ ở Đông Bàn còn cãi lại cả vua, ông Hoàng Diệu ở Xuân Đài còn dám cự lại cả Tây. Lý thầm nghĩ: mình phải cố gắng học để chóng thành tài, noi gương hai ông, làm việc có ích cho dân cho nước...

    Mải nghiền ngẫm văn bài đến quá trưa, Ngô Lý mới sực nhớ vội ra trảng cát tháo bẫy. Những chú nhông mắc bẫy đã có thì giờ vùng vẫy cắn đứt dây thòng lọng siết cổ, chui xuống hang tự bao giờ. Lý tiếc ngẩn người. Nếu không bẫy được đủ mười con nhông thì làm sao đổi được hơn lon gạo để nấu cơm chiều. Lý biết mẹ cho Lý đi học là đã cố gắng nhiều lắm.

    Ngô Lý quê làng Mông Lãnh, tổng Phú Xuân, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, sinh trưởng trong một gia đình nghèo, mồ côi cha từ lúc còn nhỏ, mẹ phải rời quê ra ngụ cư ở làng Cần Sa((1) Sau đổi là làng Cẩm Sa, nay thuộc xã Điện Nam.1) huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mẹ Lý phải bán trầu cau ở góc chợ để nuôi con. Thấy Lý lớn lên đòi đi học hơn đòi ăn, mẹ Lý cố lo cho bụng con dù lưng cơm chứ không đói chữ. Nghĩ như vậy nên Lý đi học về là làm thêm việc nhà đỡ đần mẹ. Trưa, chiều, Lý vừa bửa cau giúp mẹ vừa học. Lý nhận phần nấu cơm tối, cơm sớm nhờ bếp lửa học cho đỡ dầu đèn. Suốt cả mùa hè, đi học về, Lý ăn vội vài chén cơm khoai rồi tay xách bẫy, tay cầm vở ra trảng cát đặt bẫy nhông. Nhiều đêm đông lạnh buốt, Lý vẫn như thân cò lội khắp bàu Cẩm Sa nơm cá. Có hôm Lý nơm được giỏ diếc lớn, cũng có hôm Ly câu được xâu cá tràu to, nhưng Lý chỉ đem một con về cho mẹ, còn thì bán hết, đành chịu ăn cực. Tối không có dầu đèn, Lý phải chẻ tre làm đuốc hay xâu trái mù u đốt làm đèn để học. Lúc mới học, giấy mực cũng không tốn bao nhiêu, giấy viết là lá chuối hơ lửa cho dịu và ít rách. Mực làm bằng đất sét, bồ hóng, lọ nồi và keo da trâu, chỉ cần mua một cây bút lông. Nhưng đến khi trình độ khá hơn, viết chữ hàng tư, tức là viết bốn dòng trên một trang giấy, Lý phải mua giấy bản loại xấu gọi là giấy trung. Lý hà tiện giấy chỉ dùng giấy bản chép bài theo lời thầy đọc trong sách và làm bài nộp thầy, còn khi ôn tập ở nhà Lý viết chữ to trên khay cát, viết chữ nhỏ trên lá chuối và lấy lông mèo bện làm bút, lấy than làm mực cho đỡ tốn tiền!

    Nhớ lại buổi đầu mới đến học thầy, Lý xin mỗi ngày chỉ học một buổi, thầy không chấp nhận, mẹ Lý phải đến van xin thầy chấp nhận cho con mình vào học, thầy thương tình nên không nỡ khước từ. Có hôm Lý đến muộn hàng giờ, thầy định đuổi học, nhưng lúc xem bài vở, thầy ngạc nhiên: “Bài phú đáng loại ưu”. Tan học, Lý bị thầy giữ lại hỏi vì sao đến muộn. Lý kể cho thầy nghe chuyện nhà. Thầy gật gật, chợt chỉ tay vào bàn chân sưng húp của Lý hỏi:

    - Chân con sao vậy?

    - Bẩm thầy, hôm kia con đào khoai, mải nghĩ về bài phú của thầy ra, con cuốc phải chân. Con vô ý quá!

    Thầy chép miệng:

    - Tâm trí con dốc hết vào kinh sử, còn đâu nữa mà vô với hữu.

    Từ đó, thầy càng để tâm rèn cặp cho Lý nhiều hơn.

    Thầy của Lý là Hoàng giáp Phạm Như Xương, quê làng Ngân Thanh((1) Sau đổi là làng Ngân Câu, nay thuộc xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn. 1), huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Làm quan trải qua các viện, bộ; năm 1880 thăng Bố chánh tỉnh Phú Yên; 1883 chuyển về Huế sung vào phái đoàn do Nguyễn Thành Ý dẫn đầu đi thương lượng ở Thuận An với Pháp xin đình chiến. Cuộc thương lượng thất bại, ông lại trở về nhiệm sở cũ ở Phú Yên.

    1884-1885, khắp nơi từ Huế đến Bình Thuận đâu đâu nghĩa quân nghĩa sĩ đều đứng lên chống Pháp, ông cáo quan không cộng tác với chính quyền triều Đồng Khánh.

    Ông là tác giả bài Sát tả Bình Tây Quảng Nam văn thân hịch của Nghĩa hội Quảng Nam do tiến sĩ Trần Văn Dư làm Hội trưởng. Sau khi Trần Văn Dư hy sinh, ông chiêu tập nghĩa quân liên kết với nghĩa quân Bình Định do Mai Xuân Thưởng cầm đầu đứng lên chống Pháp. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân ở các vùng núi từ Phú Yên đến Bình Thuận khiến quân địch ngày đêm không yên giấc. Quân triều Đồng Khánh do Nguyễn Thân chỉ huy, hợp lực với đội quân đánh thuê do Trần Bá Lộc chỉ huy bao vây tấn công căn cứ nghĩa quân, ông và gia quyến bị bắt. Ông bị áp giải về Huế, triều đình xử trảm giam hậu((2) Xử chém nhưng còn giam lại.2), tên ông bị đục ở bia Tiến sĩ tại Văn miếu Huế.

    Đến đời vua Thành Thái ông được tha, cho khởi phục chức Điển tịch, sung chức Tu thư ở Quốc Tử Giám. Sau đó được phái đi kinh lược hai tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An rồi giữ chức quyền tri phủ Anh Sơn (Nghệ An) một thời gian. Ông bị đòi về Huế làm việc tại Viện Cơ mật với hàm Tử vụ. Năm 1893, ông xin cáo quan về quê mở trường dạy học. 

    Lý đã được nghe người ta đồn đại nhiều về gương hiếu học của ông Hoàng giáp. Nhà nghèo, bà vợ ông phải làm nghề hàng xáo, làm nghề này vừa có cám nuôi heo, vừa có phân bón ruộng, có đồng ra đồng vào và chồng con có thể vừa học vừa xay lúa giã gạo. Nhờ thế mà bà đã nuôi chồng ăn học thi đỗ được Cử nhân. Nhưng đến khi trở thành ông cử rồi, ông vẫn đòi gánh gạo vào tận phố Hội An đỡ vợ, luôn tiện tìm thuê sách đọc. Khi ông thầy thuốc Bắc người Hoa kiều biết được rằng anh chàng gánh gạo đi rao khắp dãy phố Chùa Cầu chẳng ai mua kia lại là cử nhân, vào đến sân nhà ông thì không mời mua gạo mà chỉ dán mắt vào giá sách ở góc tường rồi xin mượn một cuốn ngồi đọc. Ông liền hứa mỗi ngày tìm mối bán giúp cho một gánh gạo và mượn hoặc bỏ tiền thuê sách cho mà học để kịp khoa thi. Thế là ông Cử Xương khỏi phải đi khắp các hiệu sách ở Đà Nẵng hỏi thuê đọc mà vẫn chọn được những cuốn vừa ý, tay lật, mắt chớp như chụp hình, trong vài giờ vừa  chụp vừa chuyển vào bộ não hàng trăm trang rồi trả và nói dối là sách không hợp nhu cầu. Có đoạn nào quên, ông lại tìm nơi vắng ngồi ghi thoắng.

    Ngày thi Đình sắp đến, ông Cử Xương chỉ còn dồn tâm trí nghiền ngẫm sách vở, văn bài. Có lúc con mời cha ăn cơm mãi không được, vợ bưng mâm đặt lên quyển vở trên bàn, đứng ép chồng ăn như ép người ốm. Có lần thấy chồng vừa ăn vừa học, bưng chén cơm đưa lên miệng húp, húp chẳng được thì gặm, còn bưng bát canh lại và, vợ bụm miệng cười ngất. Chồng nói như mắng: “Thôi… thôi… để tôi học!”, vợ mới chịu đi.

    Bà Cử Xương còn tính chuyển cối xay ra sau nhà để chồng được yên tĩnh mà học. Bà phải mua lúa, làm gạo thâu đêm đến sáng sớm gánh gạo đến phố Hội An xa mười lăm cây số, bán kiếm lời vài ba xu gộp lại cho chồng đi thi. Đến những bữa ăn có đĩa cá, bát canh bà đều ăn cơm trước. Ông Cử thấy lạ, để ý. Bốn con cá chuồn đều cắt đôi, kho rất ngon. Vợ ăn trước sao vẫn còn nguyên thế này. Ông rình xem. Hóa ra bà ăn cơm ghế khoai ngô rắc muối mè với bát nước lã để bên cạnh. Ông xúc động gọi các con tới chứng kiến các món ăn của mẹ. Bốn cha con đều khóc, chỉ có mình bà tỉnh khô. Bà nói:

    - Tui ăn bún bò rồi. Tội chi mà nhịn.

    Những bữa cơm sau, bà bị bắt ăn cùng cả nhà. Phần cá ai nấy ăn. Thừa lúc xới cơm cho chồng, bà tráo nhanh miếng cá của mình vào giữa chén cơm rồi đắp cơm lên. Ông phát hiện, không ăn, bà bảo: “Ăn đi để lấy sức mà học. Lao tâm khổ hơn lao lực”.

    Khoa thi năm Canh Thìn, 1880,  Phạm Như Xương đi thi Hội trúng tuyển, đến khi vào thi Đình, Tự Đức - ông vua hay chữ, giỏi thơ nhất trong các vua nhà Nguyễn - đọc quyển thi của Phạm Như Xương cho là văn chương tuyệt tác, lấy đỗ đầu Hoàng giáp. Khoa này ông đỗ đồng khoa với Tống Duy Tân, Trần Văn Dư, Hồ Bá Ôn. Ba vị này sau đều hy sinh vì nước. 

    Các con của ông Hoàng giáp Xương người con lớn chỉ thi một khoa đỗ cả tam trường, sau đó đỗ Cử nhân. Người con thứ hai mới mười, mười hai tuổi đã thuộc làu Tứ thư, Ngũ kinh, sau đó đỗ Tú tài.

    Trước những tấm gương hiếu học của thầy và các con thầy, Lý tự nhủ phải cố gắng học để noi gương và không phụ công thầy dạy bảo. Vì hàng ngày phải làm thêm công việc quá mệt nên đến tối ngồi học dễ buồn ngủ, Lý phải xổ búi tóc của mình buộc vào một sợi dây treo lên xà nhà, và ngồi chăm chú đọc sách. Đến khuya, khi nào ngủ gật, thì lập tức đầu bị giật lên... để tỉnh lại, tiếp tục đọc sách, học.

    Thầy cũng nói với Lý, người Quảng Nam tuy nghèo nhưng học giỏi, như Đỗ Thúc Tĩnh ở La Châu, đỗ Tiến sĩ năm 30 tuổi, Phạm Phú Thứ ở Đông Bàn, đỗ Tiến sĩ năm mới có 23 tuổi, bốn khoa thi Hội đầu ở trường Thừa Thiên đều do bốn người Quảng Nam đỗ Tiến sĩ đầu bảng. Đó là Lê Thiện Trị, Phạm Phú Thứ, Đỗ Thúc Tĩnh, Phạm Đại Khuê, được tôn xưng là “tứ hùng”.

    Cùng trang lứa với Lý cũng không thiếu gì người giỏi như Phạm Liêu, Huỳnh Hanh((1) Tức Huỳnh Thúc Kháng, quê Thăng Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, cùng Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Hiến, Phạm Liệu được gọi là “tứ hổ”. 1) là hai thí sinh thông minh hay chữ nhất tại Kinh đô Huế. Các khoa này đều thi tại trường La Chữ (Thừa Thiên) học sinh các tỉnh rớt hàng loạt, riêng hai người Quảng Nam Phạm Liệu, Huỳnh Hanh đều được vào Tam trường, tên bay khắp kinh sư, người tới xem mặt đông như kiến ổ. Lý quyết dốc chí học hành để không hổ thẹn là người đất Quảng Nam địa linh nhân kiệt.

    Nhiều nhà phú hào trong làng thấy Lý học giỏi nên nhờ Lý dạy con mình học và bảo:

    - Tao cho mày bọc gạo, rá khoai, nhưng mày chớ nói cho ai biết là tao trả công mày dạy cho con tao học nghe chưa?

    Nhờ vậy, Lý cũng tạm đủ ăn để có thể dốc tâm vào việc đèn sách.

    Năm hai mươi tuổi, một hôm Lý ngồi bên mẹ thỏ thẻ nửa vui nửa buồn:

    - Thưa mẹ! Thầy bảo con nộp đơn ứng thí. Thầy tin sức học của con. Nhưng mẹ ơi! Chắc chi lý trưởng làng này đã hạ viết đóng triện vào đơn, vì cha mẹ đều là dân ngụ cư, tộc lẻ.

    Bà mẹ thương con nên cùng con đi đến nhà lý trưởng làng sở tại. Quả nhiên, sau khi nghe mẹ con Lý van xin thì lý trưởng miệt thị:

    - Thằng lọt lòng mụ bán trầu cau ở góc chợ mà dám nói tới thi với cử.

    Lý trở về quê cha sau những ngày ly hương, để mong bà con trong họ công nhận Lý thuộc dòng máu họ Ngô, nhưng các quan viên trong họ, thấy mẹ con Lý nghèo khó, không chịu nhận. Bà mẹ lại phải về quê mình, nhờ cha mẹ nói giùm và tốn lễ vật mới xin được chữ ký và áp triện của lý trưởng, xác nhận mình là dân làng Hà Thanh((1) Nay thuộc xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn.1).

    Lúc đi thi, Lý chẳng có gia nhân tiểu đồng hộ tống. Trong khăn gói chỉ có cái quần trắng đã sờn, cái áo lương, khăn đóng của ông ngoại cho mượn. Và Lý đem theo cả cưa đục để đến ven đô Huế xin tre đóng chồng.

    Bà mẹ Lý, trong hai mươi năm trời vừa tần tảo nuôi con, vừa bỏ bùng binh mỗi ngày vài đồng tiền. Tới lúc con đi thi, bà đục hai cái bùng binh chỉ được hai quan rưỡi, bà phải mượn đủ bốn quan đưa con đi ăn đường. Bà dúi vào tay con cái túi vải đựng tiền. Lý đỡ túi tiền ứa nước mắt, cúi chào mẹ, lặng lẽ ra đi. Khi con đi khuất rồi, hai hàng nước mắt mới từ từ lăn trên gò má hốc hác của bà mà lúc nãy bà cố giấu khong muốn để con nhìn thấy.

    Khoa thi Đình năm Mậu Tuất, 1898, cả năm ứng thí tỉnh Quảng Nam đều đậu cao: Phạm Liệu((1) Phạm Liệu (1872-1936), quê làng Trừng Giang, huyện Diên Phước, (nay là xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).1), Phan Quang((2) Phan Quang (1873-1939), quê xã Phước Sơn (nay là xã Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam).2), Phạm Tuấn((3) Phạm Tuấn (1852-1917), quê làng Xuân Đài, huyện Diên Phước (nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).3) đậu Tiến sĩ, Ngô Lý và Dương Hiển Tiến((4) Dương Hiển Tiến (1866-?)4) đậu Phó bảng.

    Tổng đốc Quảng Nam - Đào Tấn tặng Ngô Lý bài thơ sau đây:

    Giang sơn thành thục dị tài đa,

    Tam quế tề khai nhất dạng hoa.

    Cánh hữu Quảng Hàn cung ngoại khách,

    Do tường thế bát tả Hằng Nga.((5) Non sông thành thục nhiều tài lạ,

    Ba quế nở cùng một dạng hoa.

    Có khách ở ngoài cung Quảng tới,

    Còn đem bút mực tả Hằng Nga. 5)

    Tổng đốc Quảng Nam lại xuống lệnh may một bức trướng gấm thêu năm con chim phượng, trên ba dưới hai, giang cánh bay và bốn chữ do ông hạ bút đề “Ngũ phụng tề phi”((1) Năm con chim phượng cùng bay.1). Đồng thời, Tổng đốc có trát cho các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn lo võng lọng, lễ nhạc, lính hầu, cho dân khiêng ra tận đỉnh đèo Hải Vân đón “ngũ phụng” về vinh quy bái tổ.

    Khi về qua làng Ngân Thanh, Ngô Lý qua nhà thầy, bước vào hiên, Lý hướng vào án thư, gọi “Thầy!” rồi nhào tới vừa quỳ vừa ôm lấy chân thầy. Thầy hỏi Lý đã về thăm mẹ chưa, Lý bảo chưa, thầy vội giục Lý về gấp để thăm mẹ.

    Về đến nhà, thấy mẹ, Lý thưa với mẹ, giọng xúc động xen lẫn tự hào:

    - Thưa mẹ, con đã về!

    Nhìn Lý mặc áo gấm thêu chim phượng hoàng rực rỡ, bà mẹ cười hỏi:

    - Con mặc áo quần chi lạ vậy?

    Lý đang lúng túng thì một ông già trong làng đến nhà mừng Lý thi đỗ,  đã nói ngay:

    - Áo mão vua ban cho quan tân khoa Phó bảng đó bà!

    Nhìn con, bà mẹ lại hỏi:

    - Con đậu Phó bảng, vậy ai đậu chánh bảng hả con?

    Cả nhà cười rộ lên trước câu nói mộc mạc của người mẹ nghèo.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Hưng Đạo Vương và những truyện khác. Quyển 4 trong bộ Tuyển tập truyện Lịch sử của Hoài Anh – gồm 16 quyển. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, viết Tựa. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập49,948,289

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/