Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,913

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lấp lánh tình đời

Triệu Xuân

  • Thứ bảy, 10:25 Ngày 10/10/2020
  • Lấp lánh tình đời

    THÀNH PHỐ QUA BA MÙA NẮNG

    Thư gửi anh Nguyễn Văn Thuyết, Trường Đào tạo Công nhân Kỹ thuật Giao thông Đường thủy Thanh Hà, Hải Hưng.

    Anh Thuyết thân!

    Những đêm cuối tháng Tư này tôi khó ngủ quá anh ạ. Thành phố đã yên ắng, tới hai, ba giờ sáng rồi mà tôi vẫn thao thức không chợp mắt được. Đọc thư anh, tôi cứ mường tượng ra vẻ mặt đầy nhiệt tình và giọng nói sôi nổi của anh đang nói với tôi: “Nhớ viết dài dài về những đổi thay của thành phố cho mình, Xuân nhé. Thư nào cậu cũng kể đấy, nhưng ít quá. Bọn mình ngoài này muốn được nghe tin thành phố Hồ Chí Minh đang đổi mới...”. Tôi hiểu tâm trạng của anh. Cũng như tôi, ngày còn công tác ở ngoài đó, hình ảnh miền Nam luôn luôn là một cái gì thôi thúc giống như một món nợ tình cảm vậy. Đến khi được lên đường vào tham gia cuộc chiến đấu, tôi càng thấy mình gắn bó với nửa miền đất thương yêu này. Là một cán bộ đào tạo công nhân kỹ thuật, anh quan tâm đến phong trào công nhân trong này, khao khát được nghe, được thấy những đổi thay của con người, của thành phố, của sông nước, cũng là một sự thôi thúc của con tim...

    Nhớ lại ngày theo bước các binh đoàn giải phóng tiến vào Sài Gòn, thành phố chói chang ánh nắng. Mới hôm nào còn ở rừng sâu âm u, mưa trắng đất trắng trời, mà nay đi giữa Sài Gòn, đi giữa rừng cờ, đi trong ánh nắng chói mắt, tôi thật không thể nào nén nổi những cảm xúc cứ rộn lên trong lòng. Nắng Sài Gòn, nắng miền Nam, có lẽ cách đây hàng chục năm, hàng trăm năm thì dải đất này cũng vẫn nắng cái màu nắng thế thôi. Nhưng sao cái mùa nắng đầu tiên Sài Gòn giải phóng nó làm tôi suy nghĩ nhiều thế. Qua đi những ngày vui như thác lũ, thành phố bước vào những thử thách gian nan không kém gì thuở trên rừng ta thiếu cơm, thiếu muối. Tôi nghỉ và làm việc tại một căn nhà khá sang trọng, vốn là dinh cơ của một tư sản đã “di tản”. Vợ chồng nhà tư sản đó luống cuống thế nào mà có cậu con trai vừa cưới vợ, cả hai vợ chồng vừa tốt nghiệp đại học ở Canada về, đã rủ nhau ở lại, thế mà cha mẹ không hay. Cặp vợ chồng trẻ, đẹp như cặp tài tử xinê ấy làm quen với những “Việt cộng” đang ở trong nhà họ khá nhanh. Một lần, tôi đang làm việc thì anh chị dắt nhau vào, sau những câu chào hỏi, người con trai nói:

    - Thưa ông (cho đến bây giờ, thỉnh thoảng vẫn có người gọi mình là “ông” đó anh Thuyết ạ), ông thấy Sài Gòn thế nào, có đẹp không ạ?

    - Chắc chắn là cứ nhìn vào các đường phố chính, với những tòa nhà kiến trúc hiện đại, thì Sài Gòn đáng gọi là đẹp. Nhưng, thành phố còn tới hàng chục vạn người thất nghiệp, gái mại dâm và xì ke...

    - Chắc các ông tin là (người con gái hấp tấp ngắt lời tôi) các ông sẽ cải tạo được, sẽ làm đẹp hơn thành phố này? - Cô gái có đôi mắt tuyệt đẹp đó nhấn mạnh vào hai chữ “cải tạo”.

    Tôi cười, rồi nói thong thả, mắt không rời đôi mắt đẹp ấy:

    - Sao lại “các ông”, mà không là chúng ta! Bởi vì, trong đó, đích thị là có trách nhiệm của cả anh chị cơ mà!

    - Nhưng... nhưng chúng tôi là... con tư sản... Chúng tôi lại được đào tạo từ một nước tư bản...

    - Liệu chúng tôi có phải đi cải tạo không? Thưa ông? (cô gái tiếp lời chồng, vẫn nhấn vào hai chữ “cải tạo”).

    Tôi trả lời cặp vợ chồng trẻ ấy rằng đất nước đang cần được hàn gắn sau những năm dài tổn thất; rằng những người có tới hai bằng kỹ sư như anh chị đây, là rất cần thiết... Đại để, trong những ngày của mùa nắng năm 1975 đó, tôi cũng như mọi người đã phải trả lời rất nhiều câu hỏi theo nội dung đó. Có một cái gì đó, anh Thuyết ạ, giống như một sự lo sợ, hoài nghi và dò dẫm, để rồi thoát thai, lột xác, trong tâm trạng của cả một thế hệ... Thế rồi những ngày sau đó, cơ quan tôi về đóng cố định ở một nơi, tôi chẳng còn biết người con trai có hai bằng kỹ sư với cô gái có đôi mắt đẹp và cũng có cả đôi bằng kỹ sư kia sống và làm gì nữa. Mãi đến hôm 10 tháng 3 vừa rồi, tôi trở lại thị xã Ban Mê Thuột, đúng vào ngày cách đây ba năm, ta điểm huyệt Mỹ - Ngụy, tình cờ tôi gặp lại họ. Thật thú vị. Cả hai vợ chồng đang công tác ở một khâu hệ trọng của một công trường lớn. Nắng, gió, lao động bùn đất làm cho họ đen sạm lại, nhưng có lẽ vì thế mà hình như đôi mắt của người vợ càng quyến rũ hơn. Người chồng, sau khi kể cho tôi nghe chuyện công trường, đã nói như kết luận: “Thế đó, anh ạ. Có những đổi thay rất đắt giá, mà qua đó con người tìm được cái chất thơ thực sự của cuộc đời. Vợ chồng tôi đã trải qua những đổi thay đó một cách gian khổ, suốt ba năm qua, để rồi bây giờ, chúng tôi thấy câu thơ của Lu-i A-ra-gông nói về hạnh phúc là đúng!”. Đêm đó tôi được các anh chỉ huy công trường cho biết thêm về “cuộc lột xác” của những thanh niên trí thức Sài Gòn và của hàng ngàn thanh niên Sài Gòn suốt ba năm qua đã dứt bỏ ánh đèn màu, dứt bỏ cuộc đời thừa, đi đến những nẻo đường mới chan hòa ánh nắng. Anh Thuyết ạ, tôi dám chắc rằng nếu nhà văn nào đó cần có một mẫu nhân vật kiểu này để đưa vào tiểu thuyết, thì cặp vợ chồng trẻ mà tôi quen kia sẽ là hình tượng điển hình đứt đuôi rồi. Hẳn là ở một nơi xa xôi nào đó, dẫu có sẵn tiền của, thì cha mẹ của đôi trai gái đó cũng không thể nào hạnh phúc bằng những đứa con của họ. Thêm một hình ảnh để khẳng định sức mạnh của tình yêu đất nước quê hương...

    Không cuộc đời nào giống cuộc đời nào. Cũng cùng thế hệ với cặp vợ chồng trẻ kia, thì cô Đàm Tô Nữ đã phải đi làm thuê từ mười lăm tuổi. Chính tên cô là Khanh. Vì mới có mười lăm tuổi, không được chủ thâu nhận nên Khanh phải đội tên chị, mượn thẻ căn cước của chị để đi làm kiếm sống. Thật tội nghiệp em bé gái con một gia đình nghèo ở trung tâm Chợ Lớn, mới mười lăm tuổi, cao một mét tư, đã phải vắt sức làm ra của cải cho chủ tư bản. Nơi làm việc của Nữ là hãng dệt Visyfasa. Cứ nghe cái tên đó, thì anh cũng biết nó là của ai rồi. Visyfasa với những mặt hàng dệt kim độc đáo đã độc chiếm thị trường, phát tài lớn: Cái túi tiền của bọn chủ tư bản ngày càng phình to ra nhờ bóc lột mồ hôi, sinh lực của những công nhân như Nữ. Mãi tới mùa nắng năm 1975, cô gái đội tên chị đó mới thực sự được ngẩng đầu. Trước hết, cô được công khai mang cái tên thiệt của mình. Và điều vui sướng hơn đối với Khanh là cô được nhà máy cho học chữ. Đến nay thì Khanh đã học xong lớp ba rồi. Anh có hình dung ra niềm vui của Khanh đã làm cô thay đổi thế nào không? Này nhé: Cô trở thành công nhân xuất sắc của nhà máy, với thành tích nổi bật là tiết kiệm băng keo, một loại vật tư nhập cảng rất quý. Từ chỗ chỉ dùng một lần rồi liệng, Khanh đã nâng hệ số sử dụng băng keo lên ba rồi bốn lần. Đặc biệt Khanh đã hợp lý hóa các thao tác trong công nghệ dệt, phân loại môbin thu hồi để tái sản xuất. Đàm Tô Nữ - à quên, Khanh là vậy đó. Một cô gái ít nói, hay cười, đang như được chắp cánh bay lên. Trong đôi mắt đen lay láy, tôi không còn thấy những nét buồn của lần gặp đầu khi nhà máy mới công quản. Năm 1977, một trong những công nhân được bầu chiến sĩ thi đua của nhà máy là Khanh. Bây giờ, Visyfasa đã trở thành Nhà máy Dệt Phước Long rồi. Ở đó, những gương mặt mới như Khanh, có nhiều lắm. Những người đó, những cuộc đời như vậy, dẫu chỉ một lần gặp mặt, cũng không làm sao quên được, anh Thuyết ạ.

    Trong thư vừa rồi anh viết: “Cảm ơn Triệu Xuân đã kể cho mình nghe khá tường tận về ngành điện miền Nam. Nhưng về những người thợ điện thì sao...”. Thú thiệt, lá thư trước vì bận quá nên không viết được một vài cuộc đời người thợ điện cho anh hay. Hôm nay, lúc tôi ngồi viết cho anh, tôi biết miền Bắc đang còn thiếu điện. Chúng ta phải tiết kiệm điện dành cho sản xuất. Ở trong này, nhờ có việc phục hồi toàn bộ các cơ sở phát điện nên hiện tại, điện chưa đến nỗi thiếu, anh ạ. Nhưng vài năm tới, khi các phụ tải cho công nghiệp tăng lên thì việc xây dựng các nhà máy điện mới là rất cấp bách. Đáp lại mong mỏi của anh, tôi xin gửi về cho anh hình ảnh của một bác thợ điện mà tôi rất mê. Thiệt đó, anh Thuyết ạ. Khi gặp bác Phạm Hoài, dẫu mới một lần hay hơn một lần, tôi nghĩ rằng, ai cũng có cảm tình với bác. Đó là một người thợ thực thụ với hai mươi chín năm làm nghề thợ, mà mới có ba năm được làm công nhân! Chắc anh còn nhớ, tiếng nói đầu tiên của cách mạng phát trên làn sóng điện từ thành phố Hồ Chí Minh là tiếng nói phát đi từ đài Sài Gòn cũ, ở 37 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó cũng là nơi Dương Văn Minh được bộ đội ta đưa đến đọc lời đầu hàng. Vâng, đúng ở căn nhà đó, bác Phạm Hòa đã có mặt từ giờ phút đầu tiên khi Cách mạng vào. Điện hỏng, bác làm cho lưới điện an toàn, đảm bảo dòng điện liên tục suốt những ngày đầu giải phóng. Bác nói: “Tôi không sợ nguy hiểm, chỉ nghĩ nếu máu mình còn chảy trong cơ thể thì dòng điện này phải sống để cho cách mạng cất lên tiếng nói chiến thắng”... Ba mùa nắng qua, bác Hoài có nhiều thành tích lắm. Có những việc làm, bác đã làm vượt tay nghề, làm trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ, tỷ như việc đại tu đường dây 15 KV chẳng hạn. Bác Hoài còn là cây sáng kiến của Sở Quản lý Phân phối điện thành phố, với sản phẩm tự chế là “sào” thao tác điện trung thế rất có giá trị.

    Buổi sáng tháng Tư nắng lóa mắt, tôi theo bác về căn nhà ở bên xóm Thị Nghè. Cảnh gia đình vợ nội trợ, chín con nhỏ, với đồng lương của thợ bậc bảy, chẳng phải hỏi thì cũng rõ gia đình bác sinh hoạt thế nào. Trong câu chuyện, đôi mắt người thợ điện luôn sáng quắc lên, nhất là khi kể về những ngày làm thuê dưới chế độ cũ. Bác không né tránh những chật vật về cơm áo hiện tại, nhưng bằng một giọng sảng khoái, bác nói: “Cực mấy cũng chịu được, anh ạ. Cái hệ trọng nhất là tinh thần mình nó trẻ lại rồi...”. Nghe bác nói, nhìn dòng nước đen ngòm dưới rạch Thị Nghè đang cuồn cuộn trôi, tôi cứ nghĩ mãi về những khó khăn cũng là các thứ rác rưởi ở Sài Gòn mà chúng ta đang thải đi. Phải “hệ trọng nhất là cái tinh thần mình nó trẻ lại rồi”. Có lẽ chẳng cần văn chương gì, bác Hoài đã thốt lên câu cửa miệng, đủ khái quát cả những gì gọi là thay đổi ở Sài Gòn qua ba mùa nắng. Rạch Thị Nghè vẫn lờ đờ ì ạch cuốn ra sông Sài Gòn, rồi đổ ra biển một thứ nước đen ngòm, đặc sệt, ấy là cặn bã của thành phố. Tôi cứ nghĩ mãi về câu nói của bác thợ điện ngót lục tuần ấy, với dòng sông đen ngòm kia. Thành phố đã có nhiều đổi thay đắt giá, và cái lớn lao nhất là sự hồi sinh, sự trẻ lại của tâm hồn hàng triệu con người. Nắng Sài Gòn vẫn chói chang lóa mắt. Nắng soi vào từng ngõ ngách, xua tan mọi xú khí, đốt nóng lên tất cả. Mùa nắng thứ ba này, các vườn hoa và các trung tâm sinh hoạt văn hóa ở Sài Gòn đã thực sự có được cái chức năng của nó rồi. Anh Thuyết ạ, tôi muốn nói tới những chiến dịch nếp sống văn hóa mới. Hàng vạn gái mại dâm, xì ke, xưa nay vẫn đứng đầy chật, làm ô uế các vườn hoa cây cỏ, nay đã được quét sạch. Hoa lá đã được tẩy trần. Ghế đá công viên đến nay đã làm yên lòng, đẹp mắt ta, mỗi khi đi dạo sau giờ làm việc. Nắng đang bừng lên trên toàn thành phố. Từ hướng cảng Nhà Rồng, tôi nhận ra trong lô xô hàng trăm chiếc tàu, có một chiếc tàu hút bùn (xáng) đang nạo vét lòng sông. Phải nạo vét cho các dòng kênh rạch sâu rộng, để nó cuốn đi mau hơn, nhanh hơn các thứ rác rưởi, cặn bã của thành phố. Dòng sông không ô nhiễm, thành phố không ô nhiễm và con người cũng vậy, đó là ước mơ của những người chủ đang biến Sài Gòn thành thành phố Xã hội Chủ nghĩa xứng đáng mang tên Bác Hồ.

    Anh Thuyết thân!

    Mùa nắng này, thành phố đã cho ra đời một loạt cửa hàng thương nghiệp quốc doanh. Đây sẽ là những trung tâm buôn bán, đảm bảo quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trên lĩnh vực phân phối. Mùa nắng này, phong trào công nhân thành phố cũng đang bừng lên sức mới, hướng về đại hội công đoàn toàn quốc. Kể ra còn nhiều khó khăn lắm. Nhưng cứ lấy câu nói của người thợ làm ra ánh sáng mà suy: “Có hề chi, cái hệ trọng nhất là tinh thần mình nó trẻ lại rồi!”.

    Dừng bút, anh Thuyết nhé. Có gì thư sau tôi viết tiếp. Chúc anh khỏe, và xin được gửi lời nhắn với đội ngũ các bạn trẻ, những công nhân kỹ thuật sắp ra trường rằng ở trong này cả một thực tế sống động, đầy sức hấp dẫn, đang chờ đón họ.

    Thành phố Hồ Chí Minh, Mùa nắng 1978.

    In trên Báo Lao động, số 2919 (Từ ngày 28 tháng 4 đến 4 tháng 5 năm 1978).

    Phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Kỷ niệm ba năm ngày miền Nam giải phóng.

    *

    CHỦ VỰA - VẤN ĐỀ TỒN TẠI SUỐT MƯỜI NĂM QUA

     

     

    Nhân dân Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh đang sống, lao động và học tập ở mùa nắng thứ mười kể từ ngày thành phố hoàn toàn giải phóng. Mùa nắng này, thành phố có rất nhiều niềm vui. Đó là những thành tựu thu được sau quá trình phấn đấu bền bỉ, không chùn bước, trên các mặt sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, phân phối lưu thông, văn hóa-xã hội, v.v... Nhân dịp kỷ niệm mười năm ngày thành phố ta được giải phóng, đã có nhiều bài báo phản ánh, ca ngợi những thành tích mà nhân dân thành phố đã đạt được. Đó là những niềm vui lớn, niềm tự hào chính đáng của người dân thành phố mang tên Bác Hồ. Trong bài viết này, tôi đi vào một khía cạnh nhỏ - nhưng lại là một trong những điểm nóng bỏng nhất của mặt trận phân phối lưu thông! Đó là vấn đề chủ vựa, một vấn đề tồn tại suốt mười năm qua ở thành phố Hồ Chí Minh.

    Khi dành thời gian để tìm hiểu giai tầng chủ vựa và “nghệ thuật” kinh doanh của tầng lớp này, chúng tôi đã được nhiều nguồn cung cấp số liệu, sự kiện và quan điểm đánh giá. Rất tiếc là những số liệu này đôi khi chưa thống nhất. Nguồn thì nói ở Sài Gòn có tới hàng ngàn chủ vựa. Nguồn thì nói chỉ có khoảng năm trăm chủ vựa cỡ lớn, v.v... Thành thử, thay vì viết về tầng lớp chủ vựa ở thành phố, chúng tôi chỉ tập trung viết về số chủ vựa ở chợ Đầu cầu: Cầu Muối, cầu Ông Lãnh, thuộc quận Nhất - quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh.

    Chủ vựa và “nghệ thuật” kinh doanh đặc biệt của họ:

    Có nhiều tài liệu cũ để lại cho ta nghĩ rằng chợ Cầu Muối - Cầu Ông Lãnh là một trong số ít những chợ ra đời sớm nhất ở thành phố Bến Nghé cổ xưa. Nơi đây chính là bến cảng. Trước khi người Pháp xây dựng đường sắt thì con đường Verdun rồi Lê Văn Duyệt, nay gọi là đường Cách Mạng Tháng Tám xuất phát từ bến cảng - nối chợ Đầu Cầu này. Chạy thẳng lên ngã tư Bảy Hiền và nối liền với Phnôm Pênh. Bến cảng và chợ ra đời cùng một lứa với nhau, và tồn tại đến nay. Hàng ngày có từ năm trăm đến một ngàn tấn nông sản thực phẩm cập bến chợ Đầu Cầu theo các ghe xuồng vận chuyển bằng đường sông từ các tỉnh về đây. Người có hàng bán gọi là nhà vườn. Người mua hàng là chủ vựa ra đời từ bao giờ? Điều đó thật khó xác định, nhưng có thể nói, hình thức kinh doanh của họ đã được hình thành hàng mấy chục năm nay và đã đạt tới một trình độ thương mại hoàn hảo với bốn mục tiêu: gom hàng nhanh nhất, tiêu thụ nhanh nhất, lãi suất cao nhất, đồng vốn quay vòng nhanh nhất. “Trước ngày giải phóng - một chủ vựa nói - chúng tôi kinh doanh dựa vào vốn, chất xám và quyền lực. Và ngày nay, chúng tôi vẫn theo lời đó”. Sau đây, chúng tôi sẽ trở lại câu nói này, nhưng ở phần này, sau khi dẫn câu nói đó, tôi muốn nhấn mạnh rằng: Chủ vựa là một vấn đề phức tạp. Cải tạo họ không đơn giản một chút nào. Chỉ có thể cải tạo họ khi hiểu biết được họ. Thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: Suốt mười năm qua vấn đề chủ vựa vẫn tồn tại. Vua lúa gạo ở Chợ Lớn (chợ gạo Trần Chánh Chiếu, quận 5) đã được cải tạo, xóa bỏ từ tháng 5 năm 1983 sau tám năm giải phóng. Nhưng vua trái cây rau quả, cá tôm và nông sản thực phẩm khác ở chợ Đầu Cầu thì vẫn ngang nhiên tồn tại, dù một loạt biện pháp cải tạo được tiến hành từ nhiều tháng qua.

    Cần phải nói ngay là muốn làm một “chủ vựa” không dễ. Nếu có người nào đó cho rằng chỉ cần có vốn bỏ ra là có tất cả, là thành chủ vựa - là chỉ việc ngồi ở Sài Gòn hốt bạc, thì thật là phiến diện. Đúng là muốn làm chủ vựa thì phải có vốn. Nhưng sử dụng đồng vốn như thế nào là cả một vấn đề. Đối với một chủ vựa, câu nói “Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” được coi là kim chỉ nam. Người chủ vựa tồn tại được khi tạo được mối quan hệ với chủ vườn. Nếu không có mối quan hệ với chủ vườn (nhà vườn) thì không thể nào cạnh tranh nổi với các chủ vựa khác. Quy luật “cá lớn nuốt cá bé” hoành hành rất dữ ở lĩnh vực này, cho nên chủ vựa rất gắn bó với chủ vườn. Một chủ vườn cỡ lớn ở Mỹ Tho nói chuyện với tôi: “Từ khi tôi biết nói, biết nghĩ, tôi đã thấy cha tôi làm ăn với chủ vựa ở Sài Gòn. Cha tôi là con rể của chủ vựa. Em gái của cha tôi là dâu của chủ vựa đó. Đến đời tôi, hai đứa con gái tôi cũng làm dâu của chủ vựa ở Sài Gòn. Hằng năm, quà Tết lớn nhất mà tôi nhận được là của chủ vựa. Những ngày giỗ, ngày vui trong nhà tôi đều có sự góp của, góp tình của chủ vựa. Tôi đi Sài Gòn không cần mang theo tiền. Thôi thì, cần gì có nấy. Chủ vựa cung phụng từ phòng ngủ, ăn nhậu, đi coi hát cải lương, đi Vũng Tàu, Đà Lạt và kể cả “mèo mỡ” cũng có liền. Bởi thế, từ ngày Nhà nước trực tiếp thu mua hàng hóa, tôi mất đi hẳn một thói quen suốt mấy chục năm...”.

    Một chủ vựa trái cây cỡ lớn, hiện đã vào liên doanh với Công ty Rau quả, thổ lộ: “Luôn luôn và lúc nào cũng phải tạo quan hệ máu thịt với nhà vườn. Nhà vườn cần tiền có tiền, cần phân bón, máy bơm, thuốc trừ sâu, cần hàng hóa tiêu xài phải cung cấp đủ. Đặc biệt, chủ vựa còn đầu tư kỹ thuật như giống, thuốc tăng trưởng, v.v… và phương tiện tay nghề khi thu hoạch, bảo quản vận chuyển. Đến kỳ thu hoạch, chẳng cần phải nhắc nhở, nhà vườn tự ý mang nông phẩm đến cho mình...”.

    - Giao một lúc hai ba ngàn trái dưa hấu, làm sao mà đếm? - Tôi hỏi.

    - Ồ! - Người chủ vựa cười - có lẽ ông ta cười vì câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn đó! - Không bao giờ có chuyện đo đếm cân đong giữa chủ vựa và nhà vườn. Mọi chuyện xác lập trên cơ sở của chữ tín và tình nghĩa. Chủ vườn cho ba ghe trái cây lên Sài Gòn, chỉ có người làm đi áp tải. Chủ vườn khỏi cần đi theo. Ngày hôm sau, chủ vựa giao tiền cho người làm mang về. Luôn luôn có sự ăn khớp giữa người bán và người mua. Có sai số cũng rất nhỏ. Ông tính, nếu chuyến hàng nào cũng phải đếm thì còn làm ăn gì...

    Như vậy, trong khâu tạo nguồn hàng, chủ vựa nắm nguồn hàng theo nguyên tắc như sau: Nắm hàng tận gốc, từ khi cây chưa ra trái, rau chưa gieo hạt, cá chưa được bắt lên... bằng cách ứng trước tiền vốn, vật tư và xác lập quan hệ tình nghĩa chí cốt với chủ vườn, với nông ngư dân.

    Đây chính là bí quyết tại sao thương nghiệp quốc doanh chưa nắm được nguồn hàng, mà chủ vựa thì luôn luôn có hàng. Đây là lối làm ăn trói chặt chủ vườn vào quỹ đạo của chủ vựa. Đây cũng chính là lý do tại sao chủ vườn chỉ muốn bán nông phẩm cho chủ vựa, hoặc là chọn lựa thứ tốt bán cho chủ vựa, thứ dở bán cho Nhà nước.

    Mặt khác, trong khâu tạo nguồn hàng, chủ vườn có trách nhiệm rất cao về chất lượng và số lượng đối với chủ vựa. Mang lên một ngàn trái dưa hấu thì tỷ lệ hư hỏng cũng rất thấp. Mang lên hàng trăm con cá lóc (cá quả) thì con nào cũng còn sống trong thùng cá chuyên dùng để chuyên chở. Rau Đà Lạt về tới Công ty Rau quả thì dập nát, hư hỏng từ năm đến mười phần trăm nhưng rau Đà Lạt về tới chủ vựa thì nguyên vẹn, tươi rói như mới hái vậy. Phải nói rằng chủ vựa có trong tay một số người tuy rất ít nhưng có tay nghề cao để đảm bảo chất lượng hàng hóa. Đây chính là bí quyết giúp cho chủ vựa thành công trong việc tiêu thụ hàng hóa sau khi gom về.

    Mỗi ngày tại chợ Đầu Cầu ở quận Một thành phố Hồ Chí Minh có trung bình từ năm trăm đến một ngàn tấn nông phẩm được nhận về và tỏa đi khắp các chợ trong thành phố. Trong số năm trăm chủ vựa kinh doanh tại đây, có những chủ vựa mỗi ngày tiếp nhận một trăm tấn nông sản thực phẩm. Vậy thì họ bảo quản bằng cách nào? Kho bãi ra sao? Họ tiêu thụ nhanh hay chậm? Hàng hóa của họ có “ế” không?

    Phương thức tiêu thụ hàng hóa của chủ vựa:

    Giống như giới tư sản thương nghiệp kinh doanh các mặt hàng khác, giới chủ vựa nông sản thực phẩm luôn phải dựa vào các yếu tố để tồn tại. Đó là vốn, chất xám và quyền lực. Câu nói của một chủ vựa mà chúng tôi dẫn ra ở phần đầu bài viết này đúng là một sự cô đúc mánh lới làm ăn của họ.

    Trả lời câu hỏi: Vì sao chủ vựa nắm được nguồn hàng - ta thấy vì chủ vựa nắm được chủ vườn. Thế nhờ đâu chủ vựa tiêu thụ được hàng hóa? - Nhờ tiểu thương. Tiểu thương chính là công cụ của chủ vựa. Đối với chủ vườn, chủ vựa đầu tư tình nghĩa, đầu tư vốn và chất xám, giành thế chủ động. Trước ngày giải phóng, chủ vựa sử dụng tối đa quyền lực của đồng tiền, và luôn luôn tạo được chỗ dựa chắc chắn vào quyền lực của Nhà nước, để tồn tại, để thoát khỏi quy luật cá lớn nuốt cá bé. Thực chất, hầu hết các chủ vựa cỡ lớn đều có làm ăn móc ngoặc với cảnh sát hoặc chính quyền các cấp dưới chế độ cũ.

    Còn đối với tiểu thương thì sao?

    Nếu như với giới chủ vườn, với người làm ra hàng hóa, chủ vựa tuân theo câu “đồng tiền đi trước” thì với giới tiểu thương, chủ vựa lại theo sách: thu tiền sau, giao hàng hóa trước. Không phải là họ nâng đỡ tiểu thương. Mà chính là bằng cách này, họ trói chặt tiểu thương vào quỹ đạo của họ. Một khi đã giao hàng cho tiểu thương mà không cần lấy tiền trước, họ có quyền quy định cho tiểu thương về giá cả. Và đây chính là phương pháp để họ tăng giá ở thị trường, trực tiếp đánh vào người tiêu dùng. Vì thế, mặc dầu họ thu tiền sau, họ vẫn sử dụng tối đa quyền lực của đồng tiền đối với tiểu thương.

    Vào mùa dưa hấu, tôi đã có dịp chứng kiến cảnh nhận dưa và phân phối dưa ở chợ Đầu Cầu. Một chủ vựa nhận được tin báo là chín giờ đêm nay có ba ghe chở dưa về. Lập tức họ cho người đi báo cho các tiểu thương đến. Đúng chín giờ, ghe cập bến và tiểu thương có mặt đông đủ. Từng trái dưa được chuyển từ ghe lên các phương tiện của tiểu thương. Tiểu thương nhận dưa rồi chuyển thẳng về sạp của mình tại chợ. Thế là hàng chục ngàn trái dưa hấu tươi ngon được đưa thẳng từ nơi trồng đến nơi tiêu thụ, không phải lưu lại ở nhà chủ vựa một giờ nào. Một tiểu thương chuyên làm ăn với chủ vựa rau Đà Lạt kể với tôi:

    - Tôi trở thành đại lý của ông chủ từ mười năm nay. Chưa bao giờ tôi bị “cúp” không được giao. Có hàng về, tôi đều được báo trước. Hàng bán xong tôi mới trả tiền cho vựa.

    - Chị có suy nghĩ gì về chủ vựa?

    - Tôi dựa vào họ để sống. Tôi hiểu là không có tiểu thương thì chủ vựa không làm giàu nổi, nhưng không có chủ vựa thì chúng tôi cũng không có hàng bán để kiếm lời.

    - Chị có được tự ý định giá không?

    - Làm gì có chuyện đó. Chủ vựa quyết định hết thảy. Muốn được làm ăn lâu dài với chủ vựa, thì tốt nhất là phải làm mọi việc để chủ vựa hài lòng.

    Cần phải hiểu rõ mối quan hệ qua lại giữa chủ vựa và tiểu thương để thấy được mạng lưới chân rết của chủ vựa. Tiểu thương chính là tai mắt của chủ vựa ở thị trường. Chợ nào cần cá nước ngọt? Chợ nào chỉ ăn thịt heo? Chợ nào chỉ ăn cá biển? Giá cả hàng ngày của các loại hàng hóa, nghĩa là tất cả những biến động của thị trường đều được báo về chủ vựa nhanh nhất, chính xác nhất. Trên cơ sở nhu cầu tiêu thụ mà chủ vựa định đoạt giá cả, dốc vốn đầu tư theo mùa vụ, v.v…

    Tóm lại, trong khâu tiêu thụ, chủ vựa làm vai trò bán buôn, phân phối hàng cho tiểu thương và thu tiền sau. Chủ vựa nắm chặt tiểu thương, đồng thời với việc nắm được quy luật của các chợ, thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng.

    Như thế, bằng hình thức kinh doanh đạt tới trình độ hoàn hảo, chủ vựa ở Sài Gòn nắm được sản phẩm từ nơi sản xuất ra, lưu thông và điều phối nó tới nơi tiêu thụ. Bộ ba: chủ vườn - chủ vựa - tiểu thương tạo thành thế kiềng ba chân, trong đó chủ vựa giữ vai trò quyết định hết thảy mọi vấn đề. Đây chính là thực chất của sức mạnh - nếu có thể nói như thế - của chủ vựa. Đây là bí quyết thành công của họ.

    Từ năm 1975 đến năm 1982, lĩnh vực kinh doanh ăn uống và nông sản thực phẩm ở Sài Gòn vẫn chưa được cải tạo. Từ năm 1983, nhất là từ khi có Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị, thì các chủ vựa mới được “hỏi thăm”. Năm trăm chủ vựa ở chợ Đầu Cầu quận Một thành phố Hồ Chí Minh đã được cải tạo.

    Vấn đề cải tạo chủ vựa:

    Anh Ba Thành, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận Một cho biết: “Cho đến nay, việc cải tạo các chủ vựa ở chợ Đầu cầu đã thu được một số kết quả bước đầu. Hơn năm trăm chủ vựa, có một số nghỉ kinh doanh, còn thì đã được nắm lại và thực hiện năm quản. Quận đã thực hiện việc liên doanh với sáu vựa trái cây, mười lăm vựa nông sản thực phẩm và mười ba vựa rau Đà Lạt. Với phương châm liên doanh, sử dụng tay nghề của tư thương, đã thành lập được tất cả ba mươi bốn gian hàng rau quả nông sản phẩm, trong đó có các gian hàng của Công ty Rau quả, của hợp tác xã tiêu thụ thành phố và hợp tác xã tiêu thụ quận. Chúng tôi đã đưa được mười sáu người có tay nghề cao vào các gian hàng liên doanh. Trong số một trăm năm chục chủ vựa trái cây đã quản lý được một trăm...”.

    Tôi nghĩ rằng đó là một kết qua đáng khích lệ. Nhưng thực chất của vấn đề cải tạo như thế nào?

    Nhờ liên doanh, ta đã nắm được đúng doanh thu của chủ vựa và số thuế thu được tăng lên. Thu nhập của chủ vựa tháng đầu khá cao. Nhưng sau một tháng tự nhiên nguồn hàng giảm hẳn đi, dẫn tới doanh thu giảm và thuế giảm. Vì sao? Rõ ràng là ở đây đã có sự câu kết giữa chủ vựa và chủ vườn. Nguồn hàng về chủ vựa giảm đi một cách giả tạo. Thực ra, nguồn hàng vẫn về đều đặn, nhưng thay vì đến vựa tại chợ Đầu cầu, nó lại được chia bớt nhỏ ra, phân tán thẳng cho các tiểu thương ở các chợ, không thông qua chủ vựa nữa. Ở chỗ này chủ vựa đã “qua mặt” được cơ quan quản lý thị trường!

    Những chủ vựa rau Đà Lạt chịu sự quản lý và điều phối của Nhà nước, nhưng vẫn qua mặt dễ dàng. Chủ vựa mua chuộc cả lực lượng bốc xếp để tuồn hàng cho tiểu thương không qua vựa ở chợ. Hàng chục đại lý cho Công ty Rau quả đã không được giao hàng. Vì nguồn rau về không đều đặn. Từ bảy mươi đến tám mươi phần trăm lượng rau Đà Lạt vẫn nằm trong tay chủ vựa. Một chủ vựa có cỡ, trong khi say sưa, đã thốt ra với tôi, giọng đanh lại và rất hả hê:

    - Sức mấy mà Nhà nước cải tạo nổi! Nếu cần, giới chủ vựa ở chợ Cầu Muối sẽ dời chợ đi nơi khác. Vấn đề là hàng hóa chớ không phải là cái chợ!

    Câu nói đó bộc lộ sự tự tin và chân tướng của một chủ vựa. Câu nói đó cũng phản ánh: Giới chủ vựa nắm được nhược điểm của Nhà nước. Đó là: Cải tạo chủ vựa mà không nắm được nguồn hàng. Muốn tách tiểu thương ra khỏi chủ vựa nhưng lại không có hàng hóa giao cho tiểu thương!

    Trong báo cáo chính thức của quận Nhất, đến nay tám mươi phần trăm nguồn hàng ở chợ Đầu cầu đã được quản lý. Nếu quả như vậy thì thật đáng mừng. Nhưng thực tế, nguồn hàng ở chợ Đầu cầu đã giảm rất nhiều từ khi ta cải tạo. Một phần lớn hàng hóa vẫn đến với chủ vựa nhưng không qua chợ Đầu cầu. Quan hệ bán buôn trong giai đoạn này là cái thế chân vạc: chủ vườn - chủ vựa - tiểu thương vẫn tồn tại nhưng chỉ có khác là chủ vựa đã “tàng hình, nhập thân” vào hai yếu tố kia để chi phối. Bởi vậy một chủ vựa mới nói là y không cần cái chợ. Y chỉ cần nắm được nguồn hàng và người tiểu thương. Thành thử tỷ lệ tám mươi phần trăm hàng hóa ở chợ Đầu cầu nhà nước quản lý được, thực chất chỉ bằng một phần nhỏ trong số hàng hóa về thành phố!

    Từ thực tế cải tạo chủ vựa ở chợ Đầu cầu quận Một thành phố Hồ Chí Minh, tôi nghĩ muốn cải tạo được chủ vựa, thì không thể chỉ cải tạo bản thân chủ vựa đó. Vấn đề là phải nắm được cả ba khâu trong thế chân vạc gồm: chủ vườn, chủ vựa và tiểu thương. Nói thì dễ, nhưng làm không dễ chút nào. Muốn nắm được nguồn hàng tức là chủ vườn, Nhà nước phải có vốn đầu tư, phải có vật tư nhiên liệu cung ứng cho chủ vườn, tức là Nhà nước phải thực sự đầu tư cho nông dân, kết thân với nông dân! Muốn nắm được tiểu thương, Nhà nước phải có hàng hóa cung cấp cho họ theo kiểu đại lý. Như thế, Nhà nước phải thực hiện chức năng của chủ vựa - tất nhiên là ở quỹ đạo nền kinh tế thương nghiệp xã hội chủ nghĩa! Mô hình Công ty Kinh doanh Lương thực ở thành phố là một minh chứng cho lập luận này. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng ngoài gạo ra, các mặt hàng khác gặp khó khăn rất lớn khi thu mua. Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng ta còn nhiều khó khăn về vốn liếng, muốn nắm được nguồn hàng, ngoài vấn đề vốn và vật tư nhiên liệu ra, cần phải có biện pháp về giá, tức là phải mua bằng giá được thỏa thuận giữa người làm ra nông sản với người thu mua. Không được ép giá nông dân! Tất nhiên, cần phải có biện pháp nâng cao nhiệt tình yêu nước của người sản xuất hàng hóa. Mặt khác, đối với tiểu thương, phải có hàng hóa với chất lượng cao giao cho họ làm đại lý. Thông qua phương thức đại lý mà xóa bỏ những mặt tiêu cực của người buôn bán nhỏ. Rõ ràng là chừng nào Nhà nước chưa làm thay được vai trò của giới chủ vựa thì giới chủ vựa vẫn còn y xì, làm sao “cải tạo” nổi! Lúc đó, không thể có sự bình ổn về giá cả, chưa thể đảm bảo phục vụ đời sống người lao động!

    Chủ vựa và bản chất của tầng lớp này, mánh lới làm ăn của họ, chân rết của họ là những vấn đề cần hiểu thấu đáo để có biện pháp cải tạo hầu góp vào quá trình lập lại trật tự trên mặt trận phân phối lưu thông theo tinh thần Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị về thành phố Hồ Chí Minh.

    * Giải đặc biệt Cuộc thi Phóng sự Điều tra của Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam tổ chức, tháng 3 năm 1985.

    In trên Báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Tuần báo ra ngày thứ sáu, tháng Tư năm 1985, kỷ niệm mười năm Giải phóng.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Lấp lánh tình đời. Truyện, Ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,913

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/