Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,524

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lấp lánh tình đời

Triệu Xuân

  • Thứ hai, 08:45 Ngày 12/10/2020
  • Lấp lánh tình đời

    DƯỚI ĐÁY THÀNH PHỐ LỚN

    Ra ngõ gặp người nghèo

    Sài Gòn mùa Giáng sinh năm 1990. Xe du lịch, xe Cub đời mới chạy nườm nượp trên đường. Nam thanh nữ tú ăn mặc theo đủ loại mốt rất đẹp, rất lạ, rất hấp dẫn. Các khách sạn, nhà hàng, vũ trường, khu vui chơi... náo nhiệt, “dập dìu tài tử giai nhân”. Chỉ riêng khu du lịch Kỳ Hòa ở quận 10, trong năm 1990 đã có chín triệu lượt người tới đây vui chơi giải trí. Toàn cảnh đó đẹp biết bao! Đáng mừng biết bao!

    Nhưng tại Sài Gòn, còn một thế giới khác. Thế giới của những thân phận dưới đáy xã hội.

    Tại một nhà hàng mini, máy lạnh, cửa kính đóng chặt, có bảo vệ ngồi ngoài canh chừng. Thừa dịp người bảo vệ vào trong uống nước, ngay lập tức đội quân ăn mày, hát rong, bán vé số, đánh giày, bán báo xô cửa tràn vào trong nhà hàng. Trên những chiếc bàn trải khăn trắng muốt có đủ các món ăn sơn hào hải vị, đủ các loại bia, rượu, thuốc lá ngoại. Quanh bàn, những gương mặt hồng hào, thỏa mãn. Bốn người đàn ông có bốn cô gái mặc mini jupe ngồi bên. Họ vừa ôm ấp nhau, vuốt ve nhau, ca hát và bón cho nhau ăn uống. Đội quân ăn mày, hát rong, vé số, đánh giày, bám sát từng bàn ăn và... hành nghề. Nhân viên bảo vệ nắm tay từng người lôi họ ra khỏi nhà hàng. Họ kiên quyết bám trụ, bất chấp sự mắng nhiếc xô đẩy... Mục tiêu của họ là những tờ giấy bạc hai trăm đồng, năm trăm đồng, những miếng xương, miếng thịt, chút nước xúp thừa. Họ hối hả trút những thứ ăn thừa vào túi, vào vỏ lon sữa bò, hoặc phồng mang trợn mắt... cố nuốt được thật nhiều. Người hát rong không kịp hát xong một nửa bài ca. Người đánh giày không kịp mời được khách. Tất cả bị xô ra đường. Miếng ăn nghẹn lại giữa cổ. Một chục người rách rưới, hôi hám, da bọc xương, môi thâm xì, mắt lờ đờ vì đói lâu ngày thất vọng lê bước ra đường. Nhưng họ không đi mà ngồi lại gần nhà hàng để chờ lòng hảo tâm của các thực khách. Nhưng họ đâu được quyền ngồi lại! Nhân viên bảo vệ đuổi họ đi xa, khỏi bãi để xe...

    Sáng sớm thức dậy tập thể dục, đã gặp những người đàn bà lưng còng địu đứa con sau lưng, tay cầm kẹp bới rác. Một “pô” rác có tới ba, bốn chục người bới. Họ tìm gì trong cái “pô” rác cao, đầy ruồi bọ và hôi thối kia? Bao nilông, vỏ lon bia bằng nhôm, những mẩu sắt, vỏ chai Coca, giày dép, giẻ rách và quần áo cũ. Họ phải có mặt tại “pô” rác thật sớm kẻo xe chở rác tới thì họ chết đói. “Pô” rác là nguồn sống của họ.

    Sài Gòn có hàng ngàn tiệm phở, hủ tiếu. Ở trong nhà, trên lề đường... ở đâu có quán ăn là ở đó có người ăn xin, hát rong, bán vé số và đánh giày. Tại tiệm phở Hiền trên đường Đồng Khởi ở trung tâm thành phố, một người đánh giày mặt xanh mét như màu áo anh ta mặc đã rách hai bả vai, khuỷu tay và lưng. Anh ta chầu chực ở đây từ năm giờ sáng đến mười giờ trưa mà không kiếm được một vị khách đánh giày. Anh ta nói với tôi rằng anh là thương binh từ chiến trường Campuchia về. Anh đã đi xin việc làm suốt một năm không được. Đành phải đi đánh giày. Đói lắm! Vì những người đi giày thường chỉ ăn uống trong nhà hàng, khách sạn, không thể lọt vô đó mà đánh giày. Còn ở trên lề đường, các quán phở, rất ít người có nhu cầu này. Đường Hàm Nghi, khúc Chợ Cũ (quận Nhất) có hàng chục tiệm phở, bánh mì thịt quay, giò chả, bánh ngọt và các loại đồ hộp, rượu bia nhập cảng. Tại đây có tiệm Như Lan nổi tiếng Sài Gòn. Hàng ngày, từ sáng sớm đến đêm khuya có hàng trăm lượt người ăn xin chầu chực tại đây. Khu vực quận Nhất, có tới vài chục người thân thể tàn phế, mất cả tứ chi, hàng ngày trượt trên mặt đường để chờ lòng hảo tâm của người đi đường. Họ thường lăn lết ở cổng chợ, bến xe buýt, xe lam, các cửa hàng bách hóa... Nhiều người cố ý đắp mủ xương rồng vào cho vết thương sưng lên và dòi bọ đục khoét để kêu gọi lòng thương của người đời. Trên các con đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nguyễn Thị Minh Khai, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, có nhiều bà mẹ với đứa con trên tay, đầu oặt qua một bên, nước dãi chảy lòng thòng. Người mẹ kiệt sức, dựa vào gốc cây, chân co quắp, chờ ai đó rủ lòng thương...

    Cùng đội ngũ những người ăn mày, mấy năm gần đây xuất hiện những người đàn ông, đàn bà còn khỏe mạnh, ăn mặc sạch sẽ. Họ nói là từ ngoài Trung bị bão lụt cuốn trôi nhà cửa nên vô Sài Gòn xin ăn. Cũng có nhiều thanh niên tự xưng là bộ đội, bị thương, thất nghiệp, phải đi xin ăn. Số này gõ cửa từng nhà để xin tiền.

    Họ đã phải là những người nghèo nhất Sài Gòn chưa? Dạ thưa: Chưa. Có những người khác, số phận không hơn gì họ. Đó là hơn năm trăm người nghèo nhất của khu Đồng Tiến - Mả lạng. Đó là trên sáu trăm người sống trong khu phố 4 của các phường 5, 6 quận Tư. Đó là hàng trăm người mượn gầm cầu Ông Lãnh, cầu Chữ Y, các mái hiên nhà ngân hàng, nhà ga, nhà chờ xe buýt, nhà mồ, làm nơi ngủ và tránh mưa gió. Đó là mười sáu ngàn hộ sống trên kênh rạch đen ngòm khu vực quận Tư, quận 6, quận 8, v.v... Phường 12 quận 8 với hơn ba trăm hộ, gồm 2.100 nhân khẩu sống trong 280 căn nhà rách nát, không điện, nước, không nhà vệ sinh, quanh năm chỉ có sình lầy, muỗi mòng và bệnh tật. Trong vòm hang cao nửa mét của gầm cầu Ông Lãnh, có một cái võng và đống chiếu, quần áo rách nát. Đó là gia đình gồm hai vợ chồng với ba đứa con còn nhỏ. Gầm cầu dài bốn chục mét bắc qua kênh Khánh Hội đen ngòm này là nơi sinh sống của hơn một trăm con người. Họ không có nhà cửa, không việc làm, không miếng ăn, không có tương lai. Họ không có tất cả, trừ sự nghèo đói.

    Sài Gòn hiện có bao nhiêu người nghèo? Con số của ngành thương binh xã hội chắc chắn là chưa đầy đủ. Chỉ biết rằng vào thời điểm này, ở Sài Gòn, ra ngõ là gặp người nghèo!

    Ai ở dưới đáy thành phố?

    Đi trên những đại lộ sầm uất như Nguyễn Huệ, Đồng Khởi, Lê Lợi... thật khó tin được ngay giữa Sài Gòn lại có những gia đình nghèo khổ cùng cực như ở phường 5, quận Tư.

    Ông Lê Văn Bon, năm mươi lăm tuổi, số nhà 241/33/66 Bến Vân Đồn. Hai vợ chồng, mười hai đứa con. Con trai lớn là liệt sĩ Lê Văn Giàu, hy sinh ở Campuchia. Con trai thứ hai Lê Văn Hùng, bộ đội xuất ngũ, thất nghiệp. Gia đình ông Bon vừa được phường dựng lại cho căn nhà mười lăm mét vuông. Trong con hẻm sâu hun hút, là hàng trăm căn nhà dựng trên kênh rạch như những cái hố xí lộ thiên! Nhà ông Bon sống bằng nghề lột vỏ hành (bóc vỏ hành bỏ mối cho tiệm ăn). Ẵm đứa con nhỏ nhất hai tuổi, ông Bon nói: “Nỗi lo lớn nhất của tôi là làm sao kiếm đủ gạo ăn hàng ngày!”.

    Anh Nguyễn Văn Lợi, thương binh từ Campuchia về, sống bằng nghề giữ xe tại chợ Xóm Chiếu. Một tuần Lợi được giữ ba buổi chợ. Lợi có vợ và bốn con. Vợ anh vừa bị tai nạn, trọng thương. Con gái lớn sáu tuổi, con trai nhỏ nhất được tám tháng. Vợ chồng con cái sống trong túp lều tranh, sàn kê trên rãnh thoát nước hôi thối. Túp lều rộng bốn mét vuông rưỡi. Không thể gọi là nhà. Anh có hộ khẩu chính thức nhưng cái gọi là nhà của anh không có số, phải dùng số ké nhà bên là 209/132 Bến Vân Đồn. Bà Nguyễn Thị Thế có hộ khẩu và con cháu cả thảy năm người sống chui rúc trong gầm cầu thang của lô D cư xá Vĩnh Hội. Bà Thế đi đẩy xe ở chợ Cầu Muối. Khi tôi đến, chỉ thấy cái võng trong gầm cầu thang với đứa bé đang ngủ. Tất cả những gia đình ông Bon, bà Thế, anh Lợi và hàng trăm gia đình nghèo ở phường 5 quận Tư đều giống nhau ở những điểm: sống lay lắt, chạy ăn từng bữa; trong nhà không điện, không nước máy, không có dưỡng khí để thở. Đến không khí còn thiếu nữa thì hết biết. Chị Trần Thị Nga - Chủ tịch phường 5 nói: “Phường 5 có 12.500 dân với 1.800 hộ thì có tới 800 hộ nghèo khổ như gia đình ông Lê Văn Bon. Họ sống trên những cái chòi và lều dựng trên kênh rạch chẳng khác gì một dòng sông. Ô nhiễm đến cùng cực! Tất cả trẻ em trong những gia đình ấy đều thất học! Nếu không có lớp học tình thương ở phường mở ra cho sáu chục em thì nạn mù chữ ở đây ngày một tăng”. Hy vọng rằng qua bài báo này, những nhà hảo tâm ở Sài Gòn và cả nước sẽ dành chút ít tiền của gửi về cứu giúp bà con nghèo ở phường 5 quận Tư.

    Một câu hỏi đặt ra là: Những ai sống ở dưới đáy thành phố? Họ là người lương thiện hay bất lương?

    Không phải chỉ có những người ăn mày, gái mại dâm, trẻ bụi đời... là nghèo khổ. Còn nhiều thành phần khác đã và đang bị bần cùng, gia nhập vào thế giới “dưới đáy xã hội”.

    Sài Gòn có bốn triệu dân với 738 ngàn hộ. Đó là nói số dân có hộ khẩu, có khai điều tra dân số. Còn khách vãng lai và một số rất lớn sống không hộ khẩu ở đây. Mười lăm năm qua, đặc biệt là mấy năm gần đây, đội quân thất nghiệp tăng rất nhanh. Chỉ riêng năm 1990, những người có việc làm phải nghỉ việc đã lên đến hàng trăm ngàn. Toàn thành phố có gần mười hai ngàn hộ với ngót hai mươi chín ngàn nhân khẩu thuộc diện già yếu neo đơn cần cứu giúp. Quận Nhất có gần năm trăm hộ. Quận 10 có bốn trăm hai mốt hộ phải trợ cấp thường xuyên. Riêng giáo viên ở quận 10 có tới hai trăm thầy cô giáo phải trợ cấp. Thành phố có 644 thương binh nặng, tàn phế; 2.936 bệnh binh; 37.721 gia đình liệt sĩ (52.755 nhân khẩu). Số hưu trí là 26.208 người, số quân nhân phục viên là 32 ngàn. Có 23 liệt sĩ anh hùng với gần một trăm thân nhân đang sống túng thiếu. Đội quân đạp xích lô, xe ba bánh, nếu tính theo đầu xe thì có gần 39 ngàn xe xích lô và xe ba bánh, nhưng đa số là xe thuê. Một xe được hai - ba người thuê mướn. Bởi thế đội quân đạp xe ba bánh, xe xích lô cỡ năm, sáu chục ngàn người. Có người đưa ra con số 400 ngàn người đang thất nghiệp tại Sài Gòn. Trong các số báo trước, Đại Đoàn Kết đã giới thiệu với bạn đọc bài điều tra riêng về nạn mại dâm. Ở đây xin miễn nhắc lại. Như thế người sống nghèo khổ nhất Sài Gòn gồm:

    - Ăn mày, bụi đời, gái mại dâm.

    - Người thất nghiệp.

    - Cán bộ công nhân viên phải nghỉ việc vì cơ quan không có việc làm.

    - Cán bộ công nhân viên sống bằng đồng lương, đặc biệt là giới chức hành chính sự nghiệp, giáo viên, y tế...

    - Giới buôn gánh bán bưng, xích lô, ba bánh.

    - Gia đình thương binh liệt sĩ, cán bộ về hưu.

    - Những người già, neo đơn, tai nạn, bệnh tật.

    Ông Tư Kẹt, năm mươi tuổi, đạp xe xích lô, cùng gia đình tám người sống trong cái gọi là nhà rộng bốn mét vuông, che chắn bằng đủ loại vật liệu: tôn, cót ép, bìa các tông… ở khu Đồng Tiến, Mả lạng. Đây là khu dân cư nằm giữa trung tâm thành phố. Cũng tương tự như phường 5 quận Tư, tại đây hiện có 530 hộ thường trú và cũng chừng ấy số hộ tạm trú. Họ sống lay lắt, hầu như không hề dám nghĩ tới ngày mai. Ông Tư Kẹt tâm sự: “Gia đình tôi đi kinh tế mới, sống không nổi phải bỏ về Sài Gòn. Nhà đông con, lại không cửa nhà, sống vật vạ cho qua ngày. Tôi mướn xích lô để hai cha con thay nhau đạp. Thằng con trai đầu bị rủ rê, mắc chứng ghiền xì ke nên kiếm được đồng nào nó chích choác cả. Còn lại năm đứa nhỏ, không đứa nào được đi học, tối ngày đi lượm ve chai. Vợ tôi bệnh tật chả làm gì ra tiền. Tôi mà bệnh một ngày không chạy xe được là cả nhà đói”. Đứng trước cái gọi là nhà của ông Tư Kẹt, trong con hẻm đầy phân, rác và nước cống, suốt ngày ầm ĩ tiếng trẻ con đánh nhau, người lớn chửi nhau, bài bạc sát phạt, rượu chè be bét... ai cũng phải thở dài ngao ngán. Đâu là lối thoát cho những người nghèo này? Đi vào khu Đồng Tiến, Mả lạng ở quận Nhất, cũng như phường 5, phường 6 quận Tư, tôi được nghe kể nhiều về các tệ nạn bài bạc, rượu chè, xì ke, trộm cắp. Nhưng đau xót nhất vẫn là các em nhỏ: bụng ỏng, đít teo, đầu trọc lốc, da đầy mụn ghẻ. Các em thiếu ăn ngay từ trong bụng mẹ, bệnh tật ngay từ trong bụng mẹ. Các em thiếu tất cả. Nhìn các em mà thấy lo sợ cho tương lai của giống nòi. Tôi đã nhiều lần tới khu vực Cống Bà Xếp ở quận 3. Ở đây người ta làm đủ nghề: buôn bán xì ke, chứa gái mại dâm và hành nghề mại dâm, buôn lậu, trộm cướp. Khu vực này nối liền với ga xe lửa Hòa Hưng, là địa bàn hoạt động của bọn tội phạm. Trung tá, Giám đốc Công an quận nói: “Một trong những nguồn gốc của tội phạm là vì họ nghèo đói kinh niên!”. Khi anh kể cho tôi nghe về sự nghèo khổ của người dân, tôi thấy anh quay đi lau nước mắt.

    Báo chí, truyền hình ở Sài Gòn đã có nhiều bài điều tra về cảnh đời những cán bộ về hưu, gia đình thương binh liệt sĩ. Nét chung nhất của những người này là đói. Thật sự là đói, vì tuy có cơm ăn đấy nhưng chất dinh dưỡng không có. Ốm đau không có tiền mua thuốc. Chết, không đủ tiền làm lễ mai táng. Tôi biết có nhiều cán bộ về hưu, vì bức bách quá, phải gom chỗ ngủ cả nhà lại một xó để cho thuê bán bia ôm, cho thuê làm nhà chứa. Và chính ông cán bộ ấy ngồi “canh chèo” và giữ xe để kiếm tiền.

    Câu ca truyền khẩu ở Hà Nội năm nào, nay vô Sài Gòn được nối tiếp thêm: “Đầu đường đại úy sửa xe. Cuối đường thiếu tá bán chè đậu đen. Cổng trường cán bộ bán kem. Trong nhà liệt sĩ... chị em hành nghề” (Cho thuê bán bia ôm).

    Đâu phải ai cũng có nhà mặt tiền mà cho thuê, mà mở tiệm tạp hóa, tiệm may... Phần đông cán bộ về hưu xoay ra bán thuốc lá, bán vé số. Và, may mắn lắm, kiếm được chân gác cổng. Có rất nhiều người đang sống trong cảnh đói nghèo và cô đơn, như ông Nguyễn Trung Trọng - sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam về hưu, đang nằm liệt giường tại phường 5 quận Tư. Ông Cao Văn Thân cũng ở phường 5 về hưu trong cảnh cô độc đến mãn đời!

    Sài gòn, 28-12-1990.

    In trên Báo Đại Đoàn Kết, số 1 và số 2 năm 1991, ra ngày 1 và ngày 8 tháng 1 năm 1991.

    NHỮNG NGƯỜI DƯỚI ĐÁY

    * Sau khi Báo Đại Đoàn Kết, số 50 và 51 ra ngày 11 và 18-12-1990 đăng bài Mại dâm ở Sài Gòn; Rồi số 1 và số 2, ra ngày 1 và ngày 8-1-1991 đăng bài Dưới đáy thành phố lớn; và kế tiếp là bài Vũ trường ở Sài Gòn (có in trong sách này), Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (Fas Eastern Economic Review) đã cử nhà báo Murray Hiebert - đặc phái viên, là Trưởng Đại diện tại Hà Nội (Văn phòng ở số 8 Trần Hưng Đạo) vô Sài Gòn, thông qua Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh, tìm gặp và phỏng vấn tôi suốt bốn giờ liền. Người đồng nghiệp ngoại quốc này tỏ ra rất quan tâm đến thực trạng tha hóa trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ và công việc đầy khó khăn mà Việt Nam đang nỗ lực tiến hành là xóa đói giảm nghèo. Bốn năm sau ngày báo Đại Đoàn kết đăng loạt ký sự của tôi về thế giới dưới đáy, thực trạng người nghèo tại thành phố đông dân nhất nước này ra sao? Tôi viết tiếp ký sự cùng chủ đề trên:

    Tôi bước đi trên những tấm đan bê tông, mỗi tấm có chiều dài đúng một mét. Những tấm đan này đặt trên những cây cừ tràm cắm xuống rạch Cùi Dừa là một nhánh của kênh Bến Nghé, thông sang kênh Đôi. Nhưng đã từ lâu rồi, rạch Cùi Dừa cạn dần. Trên lòng rạch, người ta cắm xuống những cây cừ tràm rồi dùng giấy các tông, giấy dầu và tôn o bế thành những cái hộp, gọi là nhà. Mỗi cái hộp như vậy có diện tích từ bốn đến sáu mét vuông, thảng hoặc mới có cái rộng tám mét vuông, sát liền nhau. Tất cả những cái hộp dựng trên lòng rạch Cùi Dừa đều giống nhau ở những điểm sau đây: có bảng số nhà gắn trước cửa, bắt đầu bằng 209/149/... Cụm thứ ba sau cái xuyệt thứ hai không chỉ mang hai con số mà còn A, B, C, D... và bis nữa. Cái giống nhau thứ hai là trong mỗi cái hộp ấy có rất nhiều người ở. Hộp ít nhất là bốn nhân khẩu. Thường là từ sáu đến tám rồi mười bốn nhân khẩu. Họ không có khái niệm nhà vệ sinh! Chỗ nằm ngủ còn không đủ, lấy chỗ đâu làm nhà vệ sinh. Họ không có nước máy theo đường ống hay giếng nước. Mỗi nhà đều phải mua nước, tùy theo khoảng cách mà trả sáu trăm đồng đến tám trăm đồng một gánh nước. Hình thành một nghề gánh nước mướn. Có nhà hai vợ chồng đi gánh nước tối ngày không đủ tiền nuôi bốn đứa con! Điều giống thứ tư là trong những cái hộp ấy, cả người lớn và trẻ em đều thất học. Cơm chẳng đủ ăn, làm sao đi học. Văn hóa trở thành thứ xa xỉ phẩm! Trò giải trí là nhậu ba xị đế với cóc, ổi, chơi bài và... đánh lộn, chửi lộn. Vài năm lại đây có karaôke, ai trúng mánh thì đi hát karaôke cho bảnh, từ trong nhà cho mướn karaôke bước ra, mặt vênh lên, bảnh lắm! Không bảnh sao được, bởi một chầu hát karaôke có thể mua gạo ăn một ngày kia lận. Điều giống nhau thứ năm, ôi đau lòng lắm thay! là tất cả đều không có dưỡng khí để thở! Tất cả đều thở bằng xú khí. Xú khí từ lòng con rạch cạn bốc lên. Mưa cũng như nắng. Mùa nắng, nhiệt độ tới hơn bốn chục độ, cái mùi của nó như mùi tử thi trong chiến tranh không chôn cất kịp. Mùa mưa, mùi của nó còn kinh khủng gấp ngàn lần mùi chuột chết quyện với mùi phân người. Tôi đã từng đến đây bốn năm trước và có bài đăng trên Báo Đại Đoàn Kết. Bài báo đó sang tới Mỹ, Anh và Úc, làm động lòng nhiều bà con xa Tổ quốc. Nhiều người hảo tâm và nhiều tổ chức từ thiện đã gửi tiền về giúp đỡ đồng bào mình. Lần đó, khi vào từng nhà hỏi chuyện bà con, lòng tôi rưng rưng, không cầm được nước mắt. Nhưng phải thú thật một điều: Trong suốt thời gian lưu lại đó để lấy tư liệu (gần một ngày) tôi đã bị ói hai lần. Đến lần thứ ba thì chỉ ói khan vì không còn gì trong ruột nữa. Mình chỉ ở thoáng qua mà vậy, thương cho hàng ngàn bà con nơi đây phải sống hết đời này tới đời khác trên lòng rạch cạn mà thực sự là cái hố xí khổng lồ lộ thiên. Nay trở lại, sau bốn năm, mức độ ô nhiễm môi trường, xú khí còn khủng khiếp hơn trước. Tôi đưa máy chụp những hố phân rác ngay trước nhà và dòng nước đen ngòm đặc quánh dưới sàn nhà mà tay cứ run lên. Sau gần hai mươi năm đất nước thanh bình, chứng kiến cảnh sống nơi đây, tôi không cầm lòng được.

    Nếu không tin, mời các bạn cứ đến khu phố 3, phường 5, quận Tư thành phố Hồ Chí Minh sẽ biết. Quận Tư là quận có cảng Sài Gòn, sát trung tâm thành phố, ngay cạnh những tòa nhà cao tầng và những khách sạn sang trọng. Thế mà chỉ cần qua một cây cầu, mọi vật sẽ đổi khác như sau một lời hô biến của mụ phù thủy độc ác. Phường 5 có tất cả 1.548 hộ với hơn chín ngàn nhân khẩu (bốn năm trước trong sổ tay tôi ghi được hơn mười ngàn nhân khẩu, nay ít đi vì quận vừa giải tỏa một số hộ để làm con đường Khánh Hội dài hơn một kilômét). Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường là người tôi đã phỏng vấn bốn năm trước: Cô Trần Thị Nga, năm nay ba tám tuổi, vẫn chưa lập gia đình riêng. Chủ tịch Nga tiếp tôi thân tình, trong căn phòng làm việc chật chội, đầy ắp người. Vừa làm việc với Chủ tịch, tôi vừa được ghi nhận thái độ rất ân cần và niềm nở của nhân viên Ủy ban phường với những người dân nghèo trong phường. Không khí ở Ủy ban là không khí đầy tình thương và trách nhiệm. Chỉ khổ một nỗi là mùi xú khí từ rạch Bến Nghé bốc lên được gió thốc vào làm tôi không sao chịu nổi. Dường như thông cảm nỗi khó chịu của tôi, Chủ tịch Nga nói: “Chúng em ở riết rồi quen, anh ạ!”. Tôi nhìn gương mặt xanh tái vì vất vả của Chủ tịch Nga và anh em nhân viên Ủy ban và hiểu được tấm lòng của họ: luôn sát với dân, chia nỗi khổ với dân. Chủ tịch Nga cho biết: “So với trước, người nghèo ở phường 5 đã được quan tâm hơn. Phong trào xóa đói giảm nghèo đã cho năm mươi hai hộ vay vốn. Hộ vay nhiều nhất một triệu đồng. Hộ vay ít nhất từ hai trăm ngàn đến ba trăm ngàn đồng. Đa số người vay là người buôn bán nhỏ, chỉ có vài gia đình có nghề may gia công. Còn năm mươi sáu hộ nghèo đói mà anh đã từng tiếp xúc thì không biết vay tiền để làm gì! Họ không có nghề, không biết chữ, không biết buôn bán, không có mặt bằng buôn bán, nên họ nghèo đói mà không dám vay tiền. Dịp Tết Giáp Tuất vừa qua quận tặng cho mỗi hộ tám chục ngàn đồng. Danh sách những người được tặng đây anh...”. Chủ tịch Nga đưa cho tôi coi bảng danh sách. Từ trang đầu tới trang cuối, ở cột người nhận ký tên, tôi thấy nhức mắt vì chỉ có năm sáu chữ ký, còn lại toàn là dấu ngón tay điểm chỉ bằng mực đỏ của hộp dấu. Màu đỏ như máu của dấu tay điểm chỉ thay cho chữ ký kia cứ day dứt mãi trong tôi. Làm sao người ta thoát khỏi đói nghèo khi mà chữ ký tên mình cũng không biết viết? Cô Tươi, còn rất trẻ, Phó Chủ tịch phường 5 nói: “Người giàu thì cứ giàu mãi lên, còn người nghèo ở phường em thì không có cách nào ngóc đầu lên được!”. Quả đúng vậy. Xóa đói giảm nghèo bằng cách nào khi mà được vay vốn cũng không dám vay vì vay rồi không biết làm gì cho tiền đẻ ra tiền, ăn bứt vốn rồi lấy chi để trả! Chị Võ Thị Hoa ngoài bốn mươi tuổi, hai vợ chồng, bốn đứa con sống trong căn nhà dột nát mang số 209/149/68 Bến Vân Đồn, kể với tôi mà muốn khóc: “Chồng em làm thợ hồ bữa đực bữa cái, em lột vỏ hành mướn, chỉ đủ tiền mua gạo. Thèm cho con đi học dữ lắm mà không lo nổi cho con. Tủi lắm!”. Tôi hỏi: Chị được cho vay vốn chứ? “Dạ được nhưng biết làm gì. Ăn vào vốn vay rồi lấy gì để trả nên hổng dám vay nữa!”. Lại hỏi: Có được cứu trợ gì không? “Dạ có! Cách nay vài tháng có Tổ hợp may cho năm ký gạo. Biết ơn lắm!”. Lại hỏi: Hàng xóm với chị có ai khá hơn chị không? “Dạ không, toàn cảnh như em, có người còn cực hơn nhiều!”.

    Bà Bùi Thị Tư ngoài năm mươi tuổi, ở 209/149/66 Bis Bến Vân Đồn, chồng chết, một mình gánh nước mướn nuôi bốn miệng ăn. Bà Trần Thị Bình ngoài năm mươi tuổi ở 209/149/77A. Chồng chết, bà Bình đi làm mướn việc nhà, nuôi tám miệng ăn cùng với đứa con trai mới lớn chạy vớt đầu xe xích lô (Không có tiền mướn xe xích lô, mượn lại xe của người có tiền mướn nhưng nghỉ giấc trưa, chạy lẹ được một cuốc xe phải trả gọi là chạy vớt). Cụ bà Nguyễn Thị Hiếu, bảy mươi tuổi, ở 209/149/72 Bến Vân Đồn, có độc đứa con gái. Con gái lấy chồng, có hai con thì chồng bỏ. Thế là ba mẹ con quay về ở với bà ngoại. Họ sống trong cái gọi là nhà nhưng chỉ cần một cơn gió hơi mạnh một chút là hết chỗ chui ra chui vô liền, v.v… Không thể kể hết những người nghèo khổ ở đây. Một điều giống nhau nữa mà giờ tôi mới nói đến là tất cả họ đều là những người dân lành, sống nghèo khổ, cam chịu, không còn biết cách nào khác để thoát khỏi đói nghèo.

    Khu phố 3 của phường 5 không phải là nơi nghèo nhất, ô nhiễm nhất của quận Tư. Còn rất nhiều nơi bi đát, nhưng thôi, xin kể tiếp về phường 5. Trong số hơn năm chục ngàn căn nhà ổ chuột trên kênh rạch cần phải giải tỏa ở thành phố Hồ Chí Minh thì phường 5 quận Tư có tới hơn hai trăm năm chục hộ. Thiếu gạo, thiếu tiền, thiếu thuốc, thiếu chữ, thiếu chỗ ngủ (ban ngày tứ tán, ban đêm mới về chui vô hộp ngủ xếp lớp như cá hộp)... nhưng thiếu cả dưỡng khí để thở thì quả là kinh khủng. Cả phường 5 không có một doanh nghiệp Nhà nước hay tư nhân nào “có máu mặt” để người nghèo nhờ cậy. Họ chỉ biết sống bằng nghề lột vỏ hành thuê cho các sạp bán laghim ở chợ, lột cả ngày được năm ngàn đồng tiền công, và nghề gánh nước mướn. Đó là căn nguyên khiến cho khá nhiều em bé gái ở đây bước vào con đường mại dâm. Hiện có chín cô gái mại dâm hành nghề nơi khác, sau cải tạo được đưa về địa phương quản lý. Tôi hỏi một trong những cô gái ấy: Cô thực sự bỏ nghề rồi chưa? Trả lời: “Biết lấy gì sống hả ông! Phải cam đoan với phường là bỏ nghề, nhưng ban ngày thì ở nhà, chiều đến, bọn em lại ra đi kiếm khách đến sáng mới về! Phường làm sao mà quản nổi. Đói thì đầu gối phải bò thôi!”. Ngoài chín cô gái đó, phường 5 còn khoảng hơn chục cô hành nghề lén lút (hành nghề nơi khác, tất nhiên). Họ cam chịu dù biết là nghề xấu, dù biết họa AIDS, nhưng không còn con đường nào khác! Nam thanh niên thì có mười tám người ghiền xì ke đã được cai ở Trung tâm Cai nghiện Ma túy thành phố, nay giao về phường quản lý. Có trời mà quản lý được họ. Thanh thiếu niên phường 5 xưa nay chỉ có mỗi con đường: Trẻ thơ thì đói ăn, lớn lên thì đi đẩy xe cút kít xe ba bánh trong chợ Cầu Ông Lãnh hay là “đá cá lăn dưa” ở bến sông Cầu Ông Lãnh. Lớn nữa thì đi làm mướn tiếp nếu không phạm pháp. Đối với lớp thiếu niên, trong vòng ba năm lại đây, phường có lớp học phổ cập. Ba năm trước gọi lớp học “Tình thương” hay biết bao nhiêu! Lớp phổ cập ở phường 5 hiện có một trăm bốn mươi lăm em theo học, được miễn phí và được cấp tập vở. Hỡi những người giàu có, hãy ra tay giúp đỡ lớp trẻ ở phường 5 quận Tư!

    Bức tranh toàn cảnh về phường 5 quận Tư hôm nay quả là quá u buồn. Hy vọng rằng bà con xa gần, trong nước và ngoài nước, các nhà hảo tâm, các nhà doanh nghiệp dành một tấc lòng cho những người dưới đáy thành phố lớn đang sống ở phường 5 quận Tư. Tôi tin là rồi đây phường 5 sẽ khá hơn!

    Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 1994.

    In trên Báo Lao động - Xã hội, số 30 (39) năm 1994 (Số đặc biệt kỷ niệm sinh nhật lần thứ nhất).

    (còn tiếp)

    Nguồn: Lấp lánh tình đời. Truyện, Ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,524

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/