Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,343,072

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lấp lánh tình đời

Triệu Xuân

  • Thứ năm, 10:09 Ngày 15/10/2020
  • Lấp lánh tình đời

    CẢM NHẬN BÌNH PHƯỚC

    Thị trấn Đồng Xoài, địa danh nổi tiếng trong chiến tranh, từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bình Phước. Từ thành phố Hồ Chí Minh đi Đồng Xoài, gần 110 kilômét, gần hơn đi Vũng Tàu, đường trải nhựa cũng tốt hơn. Tỉnh Bình Phước tách ra từ năm huyện miền núi phía bắc nghèo khó nhất của tỉnh Sông Bé cũ: đó là Đồng Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bình Long và Bù Đăng. Bình Phước đất rộng người thưa, dân trí thấp, sản xuất chủ yếu là tự cấp tự túc. Bình Phước có hàng trăm kilômét đường biên giới với Campuchia, có hai quốc lộ lớn là Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 và nay mai có trục đường Trường Sơn xuyên Bắc-Nam chạy qua, nhưng hiện tại, hầu hết các tuyến giao thông trong tỉnh chẳng khác gì đường Trường Sơn thời chiến tranh.

    Bình Phước có Nhà máy Thủy điện Thác Mơ, có đường dây tải điện 500KV Bắc-Nam băng qua tỉnh, nhưng bảy mươi phần trăm hộ dân trong tỉnh đang còn phải dùng ánh sáng đèn dầu khi đêm xuống. Hàng chục ngàn hộ dân trong diện phải khẩn trương xóa đói giảm nghèo, vùng đồng bào dân tộc có hơn năm mươi phần trăm đồng bào chưa biết chữ, tình trạng đói gạo, đói muối, đói thuốc, đói chữ, đói thông tin vẫn tồn tại.

    Ngày xửa ngày xưa, Bình Phước có tới ba trăm ngàn hécta rừng gỗ quý, nhiều thú hiếm. Nay thì tài nguyên rừng cạn kiệt, rừng nguyên sinh còn rất ít, chỉ còn đất trống đồi trọc, lưa thưa những cánh rừng tái sinh, rừng trồng mới. Tôi nghe nói trong lòng đất Bình Phước có nhiều khoáng sản lắm, điều đó thực hư ra sao, chưa biết, chỉ biết những thứ đang có trên mặt đất quả là nghèo, là quá ít để có thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để có thể làm cho dân giàu, tỉnh mạnh.

    Nước sinh hoạt và sản xuất trong mùa khô là cái thiếu thứ nhất của Bình Phước. Hai chục năm sau giải phóng, chúng ta đã được rất nhiều công trình lớn, trong đó có thủy điện Thác Mơ trên đất Bình Phước. Thế nhưng những gì thiết thân đối với người dân Bình Phước thì còn rất thiếu thốn. Toàn tỉnh Bình Phước hiện có khoảng hai trăm ngàn hécta cao su, điều, tiêu, cà phê. Cao su chủ yếu do Tổng Công ty Cao su Việt Nam quản lý. Cao su tiểu điền (của dân trồng) mới vừa phát triển được vài ngàn hecta. Nguồn lợi do tiêu, điều, cà phê và khoai mì mang lại khá lớn, nhưng do chưa có nhà máy chế biến cho nên giá trị không cao.

    Năm học 1996-1997, Bình Phước thiếu hai ngàn giáo viên. Trường Phổ thông Trung học Dân tộc Nội trú Bình Phước đặt tại Thủ Dầu Một, nay tách tỉnh, bàn việc chuyển lên Đồng Xoài thì không một thầy cô giáo nào muốn lên theo trường. Hơn ba mươi phần trăm trường lớp của Bình Phước là tranh tre nứa lá. Tình trạng học ca ba, học dồn lớp vì thiếu thầy, tình trạng học sinh bỏ học, học sinh đến độ tuổi đi học nhưng không đến trường còn nhiều. Chị Nguyễn Thị Kim, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tâm sự: “Điều day dứt nhất của chúng tôi là làm cách nào có đủ hai ngàn giáo viên cho con em trong tỉnh. Đến bao giờ Bình Phước mới đào tạo kịp khi mà Trường Cao đẳng Sư phạm đến bây giờ mới xin thành lập?”. Không riêng gì ngành giáo dục, ngành y tế cũng ngập tràn khó khăn. Đến bao giờ Bình Phước mới có nổi một bệnh viện tỉnh, bởi vì ngay trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh còn chưa có, phải làm việc nhờ trụ sở Ủy ban Nhân dân huyện Đồng Phú kia mà! Ra khỏi thị trấn Đồng Xoài vài cây số là thấy ngay cảnh nghèo khó. Những căn nhà lụp xụp, tạm bợ, những đứa trẻ thiếu dinh dưỡng bụng ỏng đít beo, màu da chìm lẫn cùng màu đất.

    Cách trung tâm Đồng Xoài 18 kilômét đang xây dựng khu định canh định cư Đồng Tâm dành cho đồng bào dân tộc Stiêng rộng hơn một trăm hécta. Hiện nay Xí nghiệp Cầu đường Đồng Phú đã xây dựng xong cầu và đường vào khu định canh định cư Đồng Tâm. Toàn bộ hạ tầng cơ sở như điện, nước, trường học, bệnh xá, nhà ở, chợ, khu vui chơi… do Nhà nước đầu tư xây dựng. Một trăm hộ người Stiêng định cư tại đây có nhà, có đất vườn, được giao khoán chăm sóc một trăm hécta cao su. Tại các huyện Bình Long, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng đều đang xây dựng khu định cư, mỗi khu một trăm hộ dân, dành cho người dân tộc. Trò chuyện với bà con dân tộc, tôi thấy sự thấm thía của hai chữ đổi đời.

    Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đồng Phú, chị Lương Thị Bích Liên, nói với tôi về niềm vui của người dân từ khi thành lập tỉnh mới. Ai cũng nghĩ rằng đây là cơ hội bằng vàng để thay đổi cuộc sống! Tôi đã thấy cả sự lo lắng của người dân Bình Phước. Vấn đề bức xúc nhất tại Đồng Phú cũng như cả tỉnh Bình Phước hiện nay là khủng hoảng thừa sắn lát khô, nông dân không bán được. Có người mua, nhưng giá bán không bù đắp nổi chi phí sản xuất. GDP bình quân đầu người năm 1996 tại Đồng Phú đạt 313 đôla Mỹ (bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 210 đôla Mỹ). Khắp nơi trong huyện bà con chí thú làm ăn, nhiều gia đình sớm trở nên giàu có bằng lao động chân chính.

    Ba tháng đầu năm 1997, kim ngạch xuất khẩu của Bình Phước mới đạt 2,7 triệu đôla so với kế hoạch cả năm là 90 triệu đôla. Khó khăn lớn nhất, theo ông Bùi Huy Thống - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước - là vốn. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản ba tháng đầu năm chỉ đạt 14 tỷ đồng (kế hoạch cả năm là 50 tỷ). Chủ tịch Bùi Huy Thống nói: “Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Bình Phước, từ nay đến năm 2000, mỗi năm cần từ 300 đến 500 triệu đôla đầu tư”.

    Bình Phước có 240 doanh nghiệp, trong đó chỉ có 24 doanh nghiệp Nhà nước. Lực lượng doanh nghiệp tư nhân có doanh thu một năm từ 5 tỷ đồng trở xuống chiếm đa số. Tại huyện Đồng Phú có Xí nghiệp Dịch vụ và Xây lắp Đồng Phú do anh Trần Hữu Loan làm chủ. Xí nghiệp của Hữu Loan có 150 công nhân, đang thi công các công trình dân dụng và công nghiệp cho huyện và tỉnh. Năm 1996, Hữu Loan đạt doanh thu 5 tỷ đồng, nộp thuế 180 triệu đồng. Năm 1997, anh Loan dự kiến đạt doanh thu 7 tỷ đồng. Xí nghiệp Cầu đường Đồng Phú của anh Trần Văn Chánh với hơn hai chục thiết bị xe máy và năm chục công nhân, năm 1996 đạt doanh thu 3,3 tỷ đồng, nộp ngân sách 200 triệu đồng. Thu nhập bình quân đầu người tại hai doanh nghiệp này từ 600 ngàn đến 1,2 triệu đồng một tháng.

    Khi được hỏi: “Anh nghĩ gì về tương lai của Bình Phước?”, Trần Hữu Loan trả lời: “Nếu như Bình Phước nhanh chóng thu hút được đầu tư trong nước và ngoài nước thì chẳng mấy năm nữa, tiềm năng sẽ được khai thác, người dân Bình Phước chúng tôi sẽ giàu có, phồn thịnh”.

    Một vài tư liệu về Bình Phước:

    Tỉnh Bình Phước được tách ra từ tỉnh Sông Bé cũ; dân số 531.600 người; gồm 7 thị trấn; 5 huyện là Đồng Phú, Phước Long, Bình Long, Lộc Ninh và Bù Đăng. Tỉnh lỵ đặt tại Đồng Xoài, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 110 km.

    - Tổng diện tích tự nhiên: 6.814 km2.

    - Rừng và đất rừng chiếm: 328.900 ha.

    - Phía đông Bình Phước giáp tỉnh Đồng Nai; tây giáp tỉnh Tây Ninh và Kongpongcham (Campuchia); nam giáp tỉnh Bình Dương; bắc giáp tỉnh Đắc Lắc và Kratie, Mundukiri (Campuchia).

    - Đất có rừng: 219.100 ha.

    - Cây công nghiệp: 130.700 ha, trong đó gồm:

    + Cây cao su: 70.700 ha (sản lượng năm 1996: gần 40.000 tấn);

    + Cây điều (đào lộn hột): 50.100 ha (sản lượng 1996: 13.500 tấn);

    + Cà phê: 7.100 ha (sản lượng 1996: 12.000 tấn);

    + Cây tiêu: 2.150 ha (sản lượng 1996: 5.700 tấn);

    + Cây ăn quả: 3.500 ha.

    - Giao thông: Quốc lộ 13, Quốc lộ 14, đường Trường Sơn xuyên Bắc-Nam chạy qua tỉnh, nối liền Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ với thành phố Hồ Chí Minh. Trên địa bàn Bình Phước có các sân bay: Phước Bình, Bình Long, Đồng Xoài, Lộc Ninh, có thể khai thác các loại máy bay trực thăng và vận tải nhỏ.

    - Bình Phước có đường dây tải điện Bắc-Nam 500 KV chạy qua tỉnh, có Nhà máy Thủy điện Thác Mơ.

    - Trước năm 1975, địa bàn Bình Phước gồm hai tỉnh Bình Long và Phước Long. Tỉnh Phước Long là tỉnh được giải phóng đầu tiên ở Nam Bộ (ngày 06/01/1975). Bình Phước có đồn điền cao su Phú Riềng là một trong những cái nôi của Cách mạng Việt Nam, có núi Bà Rá nổi tiếng là một trong những nơi giam giữ tù nhân tàn bạo nhất của chế độ thực dân Pháp.

    Nếu như Bình Phước nhanh chóng thu hút được đầu tư trong nước và ngoài nước thì chẳng mấy năm nữa, tiềm năng sẽ được khai thác, người dân Bình Phước sẽ giàu có, phồn thịnh.

    In trên Báo Đầu Tư, số ra thứ Năm ngày 10 tháng 4 năm 1997.

    SÀI GÒN XANH

    Nội ô thành phố Hồ Chí Minh có sáu trăm đường phố lớn nhỏ thì 440 con đường có cây xanh. Tổng số cây xanh đường phố hiện có hơn 26 ngàn cây, cây trong các công viên 23.108 cây, cây trong khuôn viên cơ quan, dinh thự, nhà máy dọc đường phố 42.587 cây. Tổng cộng toàn thành phố (nội thành) có hơn chín chục ngàn cây xanh. Thế nhưng, phần lớn trong số cây nói trên mới được trồng từ mười đến mười lăm năm nay. Những cây cổ thụ thuộc thế hệ trồng từ thời thuộc Pháp, cùng với Thảo cầm viên, ngày càng hiếm. Mỗi năm, vì nhiều lý do, người ta đốn hạ hàng trăm cây thuộc thế hệ cây có độ tuổi từ bốn mươi năm trở lên. Trên đường Nguyễn Đình Chiểu quận Nhất trước năm 1990 có năm cây dầu con rái (thường quen gọi là cây dầu) có đường kính từ trên một mét tám đến hai mét. Nay chỉ còn có hai cây đứng đối diện với số nhà 51, hiện là trụ sở (tạm thời) của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ. Đường Trần Hưng Đạo nối trung tâm quận Nhất với quận 5 là đường trồng nhiều cây dầu, nhưng không có cây nào lớn như hai cây dầu còn sót lại ở đường Nguyễn Đình Chiểu. Ai dám bảo rằng hai cây dầu thuộc hàng trưởng lão này sẽ không bị đốn trong thời gian tới? Trong khuôn viên của Cơ quan Thông tấn xã Việt Nam tại 120 Nguyễn Thị Minh Khai còn sót lại hai cây xà cừ có đường kính trên hai mét. Trong khuôn viên của Trường Phổ thông Trung học Lê Quí Đôn (nay bị chia xẻ thành khá nhiều trường và cơ quan) tôi đếm được hơn hai chục cây xà cừ, trong đó có ba cây có đường kính từ một mét rưỡi đến hai mét. Đặc biệt có một cây đường kính hai mét nằm ở mé tường rào giáp đường Võ Văn Tần, nơi đã bị người ta xây dãy nhà tạm để cho thuê dạy ngoại ngữ. Khi xây nhà này, người ta đổ bê tông kín diện tích xung quanh gốc cây. Tôi e rằng đến một lúc nào đó, cây xà cừ lớn nhất trong khuôn viên trường Lê Quí Đôn sẽ không thọ nổi, và nếu gặp giông gió, cành gãy đổ thì tính mạng của các học viên ngoại ngữ ba ca mỗi ngày sẽ ra sao? Mỗi khi đi ngang qua những con đường có những cây xanh trưởng lão vừa kể trên, thấy các “ông” ấy còn uy nghiêm đứng trong trời đất, lòng thấy vui và lo. Lo vì không biết số phận các ông rồi sẽ ra sao khi mà rừng tự nhiên đã bị từng bước đóng cửa?

    Nếu tính toàn bộ diện tích công viên của mười hai quận nội thành thì có con số gần 235 hécta, tăng hơn so với trước năm 1975 được 180 hécta. Hai chục năm xây dựng thêm được 180 hécta công viên và trồng mới được 27 ngàn cây (chỉ tính riêng Công ty Cây xanh thành phố), là một điều đáng mừng. Thế nhưng, trong khi trồng mới được 27 ngàn cây thì phải chặt hạ do nhiều lý do (sâu bệnh, mục gốc, ngã đổ tại mưa bão, hạ thấp tán, và cả... móc nối tiêu cực, phá cây nhằm thông thoáng nhà mặt tiền nữa!) hơn năm ngàn cây! Về chủng loại, cây xanh thành phố thuộc hơn tám mươi họ thực vật với gần năm trăm loài, có nhiều loài rất giá trị về mặt khoa học. Hai khu công viên lớn là Thảo cầm viên và dinh Thống Nhất liên hoàn với công viên Tao Đàn ở trung tâm thành phố là những vườn cây có giá trị lớn, với những bộ sưu tập thực vật quí giá cần được bảo tồn như tài sản quốc gia. Tại Thảo cầm viên có những cây đại thụ sáu bảy người vòng tay ôm mới xuể. Dinh Thống Nhất mấy năm nay trồng được nhiều cây và hoa kiểng quí hiếm. Tại đây có cây vạn tuế, mùa xuân năm 1997 nở cùng lúc hai hoa, người ta bảo đó là sự báo hiệu điềm lành cho thành phố, cho đất nước!

    Những năm qua, cùng một mục tiêu là bảo tồn và phát triển mảng xanh nhưng thành phố chia ra quá nhiều cơ quan quản lý. Cấp thành phố thì có Công ty Công viên Cây xanh. Cấp quận thì có Xí nghiệp Công trình Đô thị. Ngoài ra còn có hàng loạt công viên lớn như Đầm Sen, Kỳ Hòa, Suối Tiên lại do Công ty Dịch vụ Du lịch cấp quận quản lý. Đã đến lúc thành phố phải có chiến lược bảo tồn các bộ sưu tập thực vật có nhiều chủng loại phong phú, có giá trị khoa học và cảnh quan môi trường tại các công viên trung tâm. Bảo tồn cảnh quan phải gắn liền với các địa danh di tích lịch sử, kiến trúc văn hóa tiêu biểu; Bảo tồn các loài cây đặc trưng thể hiện sự hùng vĩ và độc đáo của hệ thực vật Nam Bộ; Bảo tồn những cây cổ thụ vô cùng quí hiếm, gắn liền với lịch sử ba trăm năm của Sài Gòn. Riêng Công ty Cây xanh thành phố đang thực hiện kế hoạch trồng mới, trồng dặm, trồng cải tạo thay thế để đến năm 2010 sẽ có 45 ngàn cây xanh đường phố. Với đường có hè phố rộng thì trồng cây dầu con Rái, dầu lông, sao đen, sến mủ, gõ đỏ, gõ mật, Giáng hương, me chua. Với đường có lề hẹp thì trồng cây thấp, dáng tán lá đẹp, hoa lá có màu sắc như vấp, mặc nưa, long não, mai Xiêm, viết chát, bằng lăng tím, sò đo cam, móng bò (hoàng hậu hoa), điệp phượng, bò cạp nước, muồng các loại, lim xẹt, me tây, giá tỵ, giá tỵ giả, các loại dây leo và cây kiểng tạo dáng. Với đường có vườn làm phân cách luồng xe thì trồng các loại cây kiểng như trắc bá diệp, trúc đào, muồng bông vàng, sứ, cây tạo hình dây leo. Nếu giải phân cách rộng thì trồng các cây thuộc họ cau dừa: cau bụng, dừa dầu, kè đỏ, các cây có hoa, lá đẹp. Nếu có hồ nước vòi phun có thể trồng liễu rủ, tràm bông đỏ, các loại tre trúc... Cách nay ba năm, tôi có viết một bài trên tờ Khoa học Phổ thông về việc du nhập từ Úc về Đà Lạt và trồng thành công cây phượng tím của nữ Tiến sĩ Ngọc Mai - Tiến sĩ công nghệ cấy mô sinh học từ Pháp về nước từ năm 1978. Trước đó ba mươi năm đã có người trồng hơn chục cây phượng tím ở Đà Lạt, đến nay chỉ còn hai cây, một ở đường vào chợ trung tâm và một ở cổng nhà thủy tạ Hồ Xuân Hương. Cả hai cây phượng tím này trổ hoa vào dịp tháng 11 Dương lịch và kéo dài đến hết mùa Xuân. Rất tiếc là vì hoa lạ, quí nên người ta thi nhau bẻ hoa, làm cho hai cây đó không thể nào lớn kịp. Nay thì Đà Lạt đã có hàng ngàn cây phượng tím do bà Ngọc Mai cung cấp, nhiều cây đã trổ hoa cực đẹp. Thành phố Hồ Chí Minh lẽ nào không có đường phố trồng hoa phượng tím (một loài cây mà thủ đô Pretoria Nam Phi coi là Quốc mộc); lẽ nào lại không có một con đường trồng toàn bằng lăng tím như Hà Nội với đường Đại Cồ Việt, vào mùa hè, hoa bằng lăng nở tím trời, nao lòng du khách?

    Ông Bùi Văn Thanh, Giám đốc Công ty Công viên Cây xanh thành phố Hồ Chí Minh khi trình bày chiến lược phát triển mảng xanh đô thị đến năm 2010 đã nhấn mạnh đến việc xây dựng những công viên mới; trong đó có việc di chuyển Thảo cầm viên đến xã Long Trường huyện Thủ Đức với diện tích khoảng ba trăm hécta, Thảo cầm viên hiện nay sẽ trở thành vườn sưu tập thực vật đặc trưng Nam Bộ.

    Hướng phát triển mảng xanh chủ yếu vươn ra các huyện ngoại thành. Còn nội thành, đến năm 2000 sẽ xây dựng ở quận 3 công viên dọc theo ga Hòa Hưng - rạch Nhiêu Lộc rộng 20 ngàn mét vuông. Quận Tư có công viên rộng 14 ngàn mét vuông. Quận 5 sẽ đưa diện tích công viên lên 28 ngàn mét vuông. Quận 6 xây dựng khu du lịch Bình Phú, Phú Lâm với diện tích đáng nể là 114 ngàn mét vuông. Quận 10 mở rộng công viên Kỳ Hòa lên 32 ngàn mét vuông. Quận Tân Bình xây dựng công viên Nhà Thờ và Bàu Cát rộng gần 12 ngàn mét vuông. Nhưng lớn nhất phải là quận Bình Thạnh với diện tích gần 3,6 triệu mét vuông, riêng công viên Rạch Nhiêu Lộc đã rộng nửa triệu mét vuông rồi! Quận Phú Nhuận đứng thứ nhì với diện tích công viên hơn 60 ngàn mét vuông. Theo kế hoạch đó, đến năm 2000 diện tích công viên sẽ tăng gần 4 triệu mét vuông; đưa diện tích công viên nội thành lên 600 hécta, bình quân đầu người sẽ đạt hơn 3,6m2. Bên cạnh đó, mảng xanh ngoại thành (cả rừng phòng hộ) sẽ phát triển lên cỡ 41 ngàn hécta ở Cần Giờ; 4 ngàn hécta ở Thủ Đức; Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh 11 ngàn hécta; vùng cực Bắc thành phố tức Củ Chi 9.500 hécta. Thế nhưng vốn đầu tư sẽ tìm theo hướng nào? Trong hai chục năm qua, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu cả nước về việc tự lo vốn đầu tư phát triển công viên, khu vui chơi giải trí. Nay, theo chiến lược vừa nêu thì cần bao nhiêu vốn? Gọi vốn trong nước hay vốn nước ngoài? Trong những biện pháp mà ông Giám đốc Công ty Công viên Cây xanh nêu ra, thấy một biện pháp khả thi là phát triển vườn ươm: hiện có 11 hécta vườn ươm, sẽ đưa lên 22 hécta vườn ươm và dưỡng cây xanh cùng 10 hécta sản xuất hoa kiểng. Vẫn không thấy nói đến việc đầu tư những loại hình mới trong công viên hiện đại và qui mô như Disney Land. Giá như tầm vĩ mô có chính sách khuyến xanh thì sức dân sẽ được phát huy để cho đất nước càng ngày càng Xuân như lời Bác Hồ đã dạy.

    Thành phố Hồ Chí Minh, 15-9-1997.

    In trên Báo Thể Thao & Văn Hóa, số 76 (856) ra ngày 20 tháng 9 năm 1997.

    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    MƯỜI NĂM MỘT GIẤC CHIÊM BAO

    Tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh, khu nhà tôi ở là một đường phố nhỏ, con đường này tỏa ra hàng chục con hẻm nhỏ khác từ sáng sớm đến đêm khuya xôn xao tiếng nói cười, tiếng nhạc, tiếng hót thánh thót của những con chim nuôi trong vườn; chim câu gù nhau trên nóc mái ngói đỏ nhà ai. Hàng loạt căn nhà mới, kiểu dáng đẹp mọc lên. Từ lễ Noel và Tết Dương lịch đến Tết Nguyên đán Kỷ Sửu, những con hẻm nhỏ như bừng sáng lên! Những ánh mắt long lanh của các cô gái, tà áo dài trắng học trò phơi phới trong gió xuân. Thanh niên nam nữ mới hôm nao tôi thấy họ còn nhỏ xíu, như chợt lớn vụt lên, chân dài, cao to hơn hẳn cha mẹ, ăn mặc đúng môđen mới nhất, khỏe mạnh, hưng phấn. Họ là niềm tự hào của cha mẹ, của khu phố, là gương mặt của cuộc sống hôm nay. Ngẫm nghĩ lại toàn cảnh thành phố cách nay mười năm, cứ ngỡ như mình vừa chiêm bao. Một nhà báo nước ngoài trong bài viết về mười năm đổi mới của Việt Nam - do Hãng AFP phát - đã viết:

    “... Những thành quả đạt được có lẽ vượt quá sự mong đợi của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một người Việt Nam bình thường đã có cuộc sống tốt hơn rất nhiều năm 1986 mà khi đó người ta có nằm mơ cũng không thấy... Công cuộc Đổi Mới là không thể đảo ngược được”.

    Thành phố Hồ Chí Minh có bao nhiêu đại lộ và đường phố lớn, điều này chỉ cần nhìn bản đồ là biết. Nhưng hỏi có bao nhiêu con đường nhỏ (rộng 3 mét trở xuống đến 1 - 2 mét đủ cho hai chiếc xe gắn máy tránh nhau) thì đến Sở Giao thông Công chánh cũng không thể có số liệu chính xác. Ước có tới cả ngàn đường nhỏ và hẻm nhỏ. Cách nay vài năm, những con hẻm này là một thế giới hoàn toàn khác với những gì trên những đại lộ ở khu trung tâm thành phố. Do nghề nghiệp, tôi thường đi công tác xa nhà, xa thành phố. Nhưng mỗi khi về tới Sài Gòn, bao giờ tôi cũng dành thời gian, nhất là vào giờ tập thể dục buổi sáng hoặc những buổi chiều đưa con gái út đi dạo để quan sát cảnh vật, con người trong thế giới ngõ hẻm. Không biết từ bao giờ, thói quen đó là niềm say mê của tôi. Cuộc sống trong các ngõ hẻm dường như còn giữ được cốt cách phong tục của làng quê Việt Nam. Giữa chốn thị thành, thật thú vị khi gặp một khóm trúc, bụi tre ngà, vài cây chuối hay một khoảnh vườn nho nhỏ trồng đủ thứ rau thơm hành ớt; đàn gà con theo mẹ kiếm mồi bên một con gà trống mã thật oai vệ. Sự phồn vinh của một thành phố, suy cho cùng chính là sự phồn vinh của dân chúng, mà tới tám chục phần trăm hộ dân sống trong thế giới ngõ hẻm! Cuộc sống trong thế giới ngõ hẻm, vì thế là biểu tượng sinh động nhất cho sự tiến bộ hay là sự suy vong của một thành phố.

    Ngay tại quận Nhất, trung tâm thành phố, tôi đã thấy hàng chục con hẻm nhỏ nổi danh từ trước năm 1975 là những tụ điểm xì ke ma túy, tệ nạn xã hội. Đó là khu vực nhà ổ chuột trên rạch Thị Nghè, khu Đồng Tiến - Mả lạng, hay khu phố nghèo ở phường 5 quận Tư - cách những tòa nhà ngân hàng lớn bên quận Nhất chỉ một cây cầu nhỏ - vậy mà đến dưỡng khí và nước sạch cũng không có cho con người. Cái gọi là nhà thực ra chỉ là những tấm các tông và giấy dầu quây lại giống như một cái hộp, mỗi hộp từ sáu đến tám mét vuông, và mỗi hộ gia đình như thế có từ sáu đến mười bốn người! Trẻ em thất học cùng người lớn đi lột vỏ hành mướn, hoặc khuân vác thuê cho các chủ hàng trong chợ, hoặc đá cá lăn dưa tại các bến cảng chợ Cầu Muối và Cầu Ông Lãnh. Chị Trần Thị Nga, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường 5 quận tư tâm sự: “Đau lòng nhất là cuối năm, khi lĩnh tiền cứu trợ của thành phố và của các nhà hảo tâm, dân trong phường em đa số không biết ký tên. Trên bản danh sách hàng trăm người, đỏ chói những dấu ngón tay lăn trên mực hộp dấu để điểm chỉ”. Hàng ngàn con người chen chúc nhau như cá mòi trong những chiếc hộp dựng trên con rạch cạn mà thực chất như một hố xí công cộng lộ thiên. Đường vào khu phố này cũng chỉ là những tấm đan bê tông ghép với nhau trên hàng cọc cắm xuống con rạch cạn. Chỉ cần đi hết từ đầu hẻm tới cuối hẻm thì một người sức khỏe kém có thể phải cấp cứu vì thiếu dưỡng khí, do ở đây tràn ngập mùi xú khí. Từ nhiều chục năm nay, người dân nơi đây chịu cảnh sống như thế như một định mệnh. Họ không biết thoát khỏi nó bằng cách nào. Ba năm trở lại đây, khi thành phố có chủ trương xóa đói giảm nghèo, phường 5 quận Tư đã có hàng chục gia đình thoát nghèo, nhưng vẫn còn hơn 140 hộ gia đình sống dưới mức nghèo khổ. Họ không biết dùng tiền vay từ quỹ xóa đói giảm nghèo để làm gì vì một tấc đất không có, nghề nghiệp chỉ là làm mướn, học vấn không, đầu óc kinh doanh buôn bán cũng không nốt. Ước mơ lớn nhất của họ là có người kêu gánh nước mướn, lột vỏ hành thuê, kiếm được đủ tiền mua gạo và nước tương nuôi nhau trong ngày!

    Từ dinh Thống Nhất đi vài phút là tới sở thú, qua cầu Thị Nghè là tới khu phố 4 của phường 17 quận Bình Thạnh. Cách đây chỉ hai năm thôi, đây là bản doanh của thế giới bụi đời: bài bạc, xì ke ma túy, mại dâm, đá gà cá độ, đâm thuê chém mướn, ăn cướp... Tội phạm từ đây qua thành phố gây án rồi khi bị truy đuổi thì dùng rạch Thị Nghè đen ngòm làm nơi thoát thân an toàn. Từ bao năm nay vẫn thế. Cùng với phong trào xóa đói giảm nghèo, chương trình giải tỏa kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là phong trào xây dựng khu dân cư toàn diện. Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới đã thực sự có hiệu quả bởi nó vì dân, hợp lòng dân. Khu phố 4 phường 17 Bình Thạnh như lột xác. Những con hẻm được bê tông hóa hoặc tráng xi măng, nhà cửa khang trang hơn. Nhà nghèo nhất cũng không còn bị dột nát. Tình làng nghĩa xóm thấm vào từng căn hộ, làm dịu bớt nỗi cô đơn hờn oán và nâng con người đứng thẳng dậy để sống cho ra sống. Phường cùng khu phố đã huy động nhiều nguồn vốn cho dân vay để mưu sinh. Không còn nạn cho vay nặng lãi như trước. Không còn cảnh mạnh ai nấy sống, đèn nhà ai nấy rạng như trước. Tại đây đã có tới mười lăm phần trăm số hộ thoát đói nghèo, trở nên khấm khá. Vào một buổi trưa, tôi dừng lại trước một lớp học tình thương với hơn ba chục cháu tuổi từ sáu đến mười bảy. Các cháu thất học, nay được khu phố tổ chức cho học chữ quốc ngữ và chữ dân tộc Chăm. Học miễn phí, sách vở được cấp. Lớp học còn tuềnh toàng, quần áo các cháu còn luộm thuộm, nhưng nghe tiếng trẻ ê a học bài, học để thoát khỏi kiếp lầm than như cha mẹ thì ai mà không xúc động đến nao lòng.

    Tại quận Tân Bình, các khu dân cư đã giúp 182 triệu đồng cho hơn 1.700 trẻ em nghèo đến trường. Phường 14 quận 8 giúp cho 90 trẻ em nghèo ăn một bữa trong ngày là hai ngàn đồng để các cháu không phải bỏ học. Các khu dân cư đã giáo dục được khá nhiều trẻ em hư hỏng thành người: quận Nhất được 120 cháu, quận Phú Nhuận 200 cháu, Tân Bình 370 cháu. Phường 15 quận 10 với 23 ngàn nhân khẩu nổi tiếng là khu vực kinh doanh cà phê đèn mờ và mại dâm. Năm 1996 là năm phường 15 quận 10 thanh toán được khu vực nhức nhối này, làm lành mạnh môi trường; 40 gái mại dâm, 50 tên ma cô dắt mối và hàng chục chủ chứa đã bị xử lý. Điều quan trọng rút ra ở đây là việc thanh toán nạn mại dâm không chỉ bằng biện pháp hành chính đơn thuần để rồi chẳng khác chi bắt cóc bỏ dĩa. Ở đây toàn dân cùng hành động. Chính vì thế mà các chủ chứa mới chịu chuyển nghề. Phong trào thu gom rác ở quận 8 đã thu được 600 tấn rác trong các ngõ hẻm và kênh rạch. Việc toàn dân xi măng hóa các con hẻm đã thực sự làm đẹp môi trường cảnh quan, xóa đi hình ảnh bùn lầy nước đọng, ổ chuột của thế giới ngõ hẻm Sài Gòn từ nhiều chục năm qua. Anh Phan Văn Chiến, Bí thư Đảng ủy phường 15 quận 10 nói: “Nếu không có sức dân và không được lòng dân nhất trí thì mọi chủ trương dù đúng, không thể thành hiện thực”. Đó không phải là bài học của một phường, đó là bài học cho cả một chế độ, một Nhà nước.

    Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Long khi trả lời phỏng vấn nhân đầu năm Dương lịch rất vui vẻ kể rằng năm 1996, thành phố đã xây dựng được 1.412 căn hộ cho dự án giải tỏa kênh Nhiêu Lộc; nhà tình nghĩa xây được 370 căn, nâng tổng số lên 10.112 căn. Thành phố đã chi 5 tỷ đồng để chống dột 1.643 hộ gia đình chính sách. Đã huy động được 63,2 tỷ đồng cho quỹ xóa đói giảm nghèo, trợ vốn cho gần 70 ngàn hộ. Trong năm, đã giải quyết việc làm cho 175 ngàn người lao động. Quận 10 và Gò Vấp đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Trường mầm non thực hành 19 tháng 5, hiện đại nhất nước, đã đưa vào sử dụng. Năm 1996, thành phố có 198 học sinh giỏi bậc trung học được tuyển vào đội tuyển dự thi học sinh giỏi toàn quốc tháng 3-1997... Những con số khô khan ấy là kết quả của biết bao công sức, mồ hôi, nước mắt của người dân thành phố. “Họa phúc mối phi nhất nhật”, không phải cứ nằm chiêm bao là có, không tự nhiên mà có những thành tựu đó. Phải tiến hành cuộc kháng chiến ba mươi năm mới có ngày 30 tháng Tư năm 1975. Phải mất mười năm ấu trĩ, chủ quan, sai lầm liên tiếp mới có sự nghiệp Đổi Mới. Phải kinh qua mười năm Đổi Mới mới có hôm nay. Những con số lấp lánh niềm vui, niềm tin vào một tương lai phồn vinh không còn xa nữa!

    Trong se lạnh của đất trời sáng Xuân Kỷ Sửu, thật là tuyệt vời khi tận mắt chứng kiến những niềm vui của người thành phố từ trong ngõ hẻm. Người đẹp ở đâu mà ùa ra phố nhiều đến thế! Cứ như một cuộc thi hoa hậu vòng chung kết không bằng. Ở gần nhà tôi, trong một con hẻm, có một nữ sinh vừa đoạt vương miện hoa hậu báo Tiền Phong. Từ khi trở thành hoa hậu, ngõ nhỏ ấy rộn ràng hẳn lên, suốt ngày ngõ nhỏ đầy dấu chân và vết xe của những người yêu cái đẹp, của các nhà doanh nghiệp, các bạn bè của cô và cả những người nước ngoài cùng những lời mời làm người mẫu, mời đóng phim, mời đi du lịch. Thế nhưng hoa hậu của chúng ta lại trả lời rất hồn nhiên và tự tin rằng: “Em vẫn là một sinh viên!”. Có thể nói chưa khi nào, trong suốt hơn hai chục năm kể từ ngày Giải phóng, danh hiệu Sinh viên Đại học trở thành ước mơ bỏng cháy đối với lớp trẻ như hôm nay. Cao trào học, tự học, học ngoài trời không chỉ học sinh ngữ hay tin học mà là học văn hóa, học nghề, học vẽ, học âm nhạc, học võ, học làm người... đã và đang thu hút hầu như toàn bộ thời gian của lớp trẻ. Khi mà tuổi trẻ ham học, ấy là dấu hiệu cường thịnh của một dân tộc. Nhà tôi có con trai lớn đang học năm thứ ba Đại học Kinh tế, con trai thứ hai học lớp mười một trường chuyên chất lượng cao Lê Hồng Phong. Thấy các cháu học mà tôi phát lo, lo cho sức khỏe các cháu. Ngay cả cô con gái út đang học lớp hai cũng học suốt ngày! Thời của tôi, rất ít người đang học trung học mà đã làm chủ một ngoại ngữ và thành thạo computer với đủ các hệ word, excel, coreldraw... như bây giờ. Nhìn bọn trẻ ùa ra từ thế giới ngõ hẻm, làm sáng bừng những đại lộ đường phố, ai cũng thấy trẻ lại như tuổi đôi mươi, tràn đầy nhiệt huyết và lòng yêu đời. Cũng trong khu vực dân cư nơi tôi thường trú, có nhiều giáo sư và tiến sĩ, hơn hai chục cán bộ giảng dạy đại học, kỹ sư thì đạt con số trăm, ca sĩ nổi danh cũng năm bảy người, họa sĩ sáu người, giáo viên trung học hơn hai chục, thợ kỹ thuật từ bậc năm đến bậc bảy gần bốn chục, khoảng chục cô người mẫu, số người tinh thông nghề nghiệp đang giữ những trọng trách trong guồng máy Nhà nước và các doanh nghiệp tới con số trăm. Tôi thường trò chuyện với Anh hùng Đại tá phi công Nguyễn Thành Trung. Nhà anh cũng trong một con hẻm gần nhà tôi. Chúng tôi chia sẻ với nhau những rung động đến nao lòng về đổi thay đáng mừng, đáng trân trọng của cuộc đời hôm nay. Có rất nhiều người tài đã vào đời và còn rất nhiều nhân tài đang được nuôi dưỡng, ấp ủ. Tất cả, họ và gia đình họ đang sống trong những ngõ hẻm đầy ắp tiếng cười, ngập tràn niềm hy vọng và chí tiến thân ngày càng mãnh liệt.

    Mùa Xuân, mùa cưới. Thật là thiêng liêng và gợi cảm khi nhìn chú rể dìu cô dâu lên xe hoa. Tôi vừa dự đám cưới con trai một người bạn. Ngõ nhỏ chỉ vô lọt chiếc xe du lịch, vì thế mà cả đoàn xe du lịch nối đuôi nhau hết chiều dài con hẻm nhỏ, tràn ra đến đại lộ Nguyễn Văn Trỗi. Điều đáng nói về đám cưới này là chú rể trưởng thành trong một gia đình rất nghèo, vừa đi làm, vừa đi học, chú rể đã có hai bằng đại học và thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp. Còn cô dâu, trong diện xuất cảnh qua Mỹ theo gia đình, vẫn kiên quyết ở lại với người yêu, với đất nước quê hương. Cô là một kỹ sư giỏi, vừa được công ty cho đi tu nghiệp sáu tháng tại Hoa Kỳ. Xe hoa của họ hiệu Rolls-Royce. Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có nhiều loại xe hơi đời mới, nhưng xe Rolls-Royce thì mới có vài ba chiếc. Thành phố ngày một sang trọng, con người ngày càng quen thụ hưởng những tiện nghi sinh hoạt đắt tiền. Thế nhưng, làm thế nào để lớp trẻ của chúng ta gìn giữ được những tinh tú của dân tộc, giàu có về tâm hồn và lòng nhân ái? Khi mà những lo toan về vật chất vượt qua được giai đoạn ào ạt, xô bồ ban đầu, tin rằng các bậc cha mẹ sẽ lặng lẽ trở về với những giá trị nhân văn chân chính. Và ngay từ hôm nay, chúng ta hãy nuôi dưỡng con em mình theo hướng đó. Điều này tôi cảm nhận được ở khắp nơi tại thành phố Hồ Chí Minh. Và đó có lẽ là tín hiệu đáng mừng nhất trong mùa xuân này. Không chỉ mơ mộng hão huyền, không chỉ lãng mạn viển vông, bởi vì nếu chúng ta mộng hão, duy ý chí, chúng ta sẽ phải trả giá đắt như thời kỳ mười năm sai lầm 1975-1985. Phải biết mộng mơ, phải lãng mạn, nhưng chúng ta cũng phải biết làm gì để thành quả của mười năm Đổi Mới được bền vững và ngày càng nở hoa kết trái.

    Thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Đinh Sửu 1997.

    In trên Báo Đầu Tư, số đặc biệt Xuân Đinh Sửu 1997.

    LẤP LÁNH TÌNH ĐỜI

    Lời Tòa soạn: Khi nói tới vùng ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Nhà Bè, Bình Chánh... có thể nhiều bà con trong nước không biết đến. Nhưng chắc chắn là khi nhắc đến Củ Chi, không chỉ đồng bào trong nước mà nhiều người nước ngoài cũng biết đến Củ Chi - Đất Thép Thành Đồng, biểu tượng anh hùng của dân tộc ta trong kháng chiến. Báo chí đã nói nhiều đến những thay đổi đáng mừng của huyện Củ Chi trong mười năm Đổi Mới về phát triển kinh tế, nhất là việc xóa đói giảm nghèo. Thế nhưng, về phương diện văn hóa tinh thần, nhất là nền tảng đạo lý, truyền thống nhân ái, tình làng nghĩa xóm, vẻ đẹp trong sáng, thánh thiện của miền quê... thì Củ Chi còn là bức tranh buồn... Vào Xuân Đinh Sửu 1997, bức tranh ấy đã lấp lánh niềm vui. Nhà văn Triệu Xuân sẽ kể cùng các bạn một diện mạo khác của Củ Chi.

    Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh gần bốn chục kilômét, xã Thái Mỹ huyện Củ Chi có một thời lừng danh là trung tâm buôn lậu thuốc lá ngoại từ biên giới Campuchia về thành phố. Địa giới hành chánh tạo cho Thái Mỹ thế mạnh để phát triển "cây và con": cây thuốc lá ngoại và con buôn! Xã Thái Mỹ nằm lọt vào giữa Quốc lộ 22 nối Sài Gòn với Tây Ninh đi Phnôm Pênh và tỉnh lộ 7 nối Củ Chi với huyện Đức Hoà (Long An) và huyện Trảng Bàng (Tây Ninh), cách cửa khẩu biên giới của hai huyện này chưa đầy một giờ xe chạy. Bởi thế, khi mà người nông dân kiếm sống bằng ruộng vườn của mình vất vả quá, suốt đời lam lũ cũng chẳng cất đầu lên được, nước tưới cho lúa và nước sinh hoạt cũng thiếu thì "đầu gối phải bò". Thế là người người đi buôn lậu, nhà nhà đi buôn lậu, cả xã đi buôn lậu. Vào năm 1990-1991, thời điểm cực thịnh của thế mạnh “cây và con”, xã Thái Mỹ có hơn hai ngàn hộ dân thì gần bảy chục phần trăm số gia đình đi buôn lậu!

     Nhìn trên bản đồ, huyện Củ Chi giống như một con rùa vàng (ba ba) mà ta thường thấy trong các quán nhậu. Một trong bốn cái chân của con rùa đó là xã Thái Mỹ: mười ngàn dân, hơn hai ngàn hộ, diện tích tự nhiên 2.350 hécta, đang canh tác 1.100 hécta, còn 400 hécta bỏ hoang hóa do phèn mặn thiếu nước. Một phần tư số gia đình trong xã thuộc danh sách xóa đói giảm nghèo. Xã chia làm bảy ấp, có 448 liệt sĩ, 338 gia đình liệt sĩ, 176 gia đình có công với cách mạng, 750 hộ gia đình chính sách, 156 thương binh và cán bộ hưu trí. Tôi ghi những con số này vào sổ tay khi nghe Bí thư Đảng bộ Thái Mỹ cung cấp mà thấy người cứ rờn rợn, nổi da gà, lòng se thắt. Chiến tranh đã qua đi hơn hai chục năm rồi mà hội chứng của nó như còn lẩn quất đâu đây. Biết bao nhiêu đau thương tang tóc mà kẻ thù đã bắt người dân Củ Chi hứng chịu như còn hiển hiện trong từng bước đi, trong từng xóm ấp, trong từng ánh mắt người dân Thái Mỹ mà tôi cảm nhận được. Có thể xóa đói giảm nghèo, có thể hàn gắn lại thế giới như lời một bài hát nổi tiếng của danh ca Mỹ Michael Jackson, nhưng làm sao và đến bao giờ mới khả dĩ làm nguôi dịu được những vết thương lòng?

    Đầu Xuân này về thăm lại Thái Mỹ, thấy ngút tầm mắt màu xanh của lúa và đậu phộng (lạc). Dòng kênh Đông dẫn nước hồ Dầu Tiếng về, ăm ắp nước bạc, lóng lánh trong nắng như một đường băng cho Thái Mỹ và Củ Chi cất cánh. Đường - nước - điện, đó là ba mục tiên cơ bản của Đảng bộ Thái Mỹ nhằm hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cần và đủ cho người nông dân Thái Mỹ trở về với ruộng đồng, trở về với bản tánh lương thiện cần cù của mình để mưu sinh. Tỉnh lộ 7 chạy xuyên qua xã, đất đỏ bụi mù năm nào, nay được tráng nhựa phẳng lỳ, đưa vùng nông thôn heo hút lại gần với thành phố. Bí thư Đảng bộ Lê Minh Tấn, ba mươi bảy tuổi, chưa vợ, không giấu nổi vẻ tự hào, khoe với tôi rằng trong ngân sách làm con đường này có một phần không nhỏ do nông dân trong xã tự nguyện đóng góp. Khơi dậy sức dân - Đó là chủ trương sáng suốt của lãnh đạo xã. "Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong". Hàng loạt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước hợp lòng dân, nhanh chóng đi vào cuộc sống, được người dân tự nguyện bảo nhau biến thành hiện thực. Ba chục kilômét kênh mương gồm 53 tuyến kênh đảm bảo nước tưới cho đất quay hai vòng rưỡi mỗi năm, năng suất lúa bình quân 3,5 tấn/ ha/vụ, năng suất đậu phộng vỏ 2,2 tấn/ ha/vụ, là kết quả đầy tính trí tuệ và thấm đẫm tình làng nghĩa xóm của người nông dân Thái Mỹ. Không phải tự nhiên mà có kết quả đó. Đảng bộ Thái Mỹ coi mục tiêu chăm lo đời sống nhân dân là lẽ tồn tại của mình. Có đường giao thông, có nước ngọt, có điện lưới quốc gia, vấn đề còn lại là vốn sản xuất và kỹ thuật nông nghiệp. Bảy dự án vay vốn từ Quỹ Quốc gia Giải quyết Việc làm, với hơn hai tỷ đồng, mỗi hộ được vay một triệu đồng, cùng với hàng tỷ đồng vốn từ Quỹ Xóa đói Giảm nghèo, vốn của Ngân hàng Nông nghiệp, vốn của Ngân hàng Sài Gòn Thương tín... với lãi suất thấp, thủ tục vay đơn giản, chủ yếu là tín chấp thông qua bảo lãnh của xã, đã làm thay đổi căn bản diện mạo của Thái Mỹ. Trước khi được bầu làm Bí thư Đảng bộ, Lê Minh Tấn đã bảy năm liền là Chủ tịch xã Thái Mỹ. Anh thuộc từng nỗi đau và niềm mong đợi của mỗi gia đình trong xã. Anh tâm sự: "Có thời, do ấu trĩ, chúng tôi hoạch định cơ cấu phát triển kinh tế xã to tát quá, để rồi đầu voi, đuôi chuột. Điều đó phải trả bằng giá gần bảy chục phần trăm số hộ trong xã đi buôn lậu, ruộng đồng hoang hóa, xóm ấp tiêu điều, gia đình xào xáo, đạo lý băng hoại, thuần phong mỹ tục tiêu tùng chỉ vì người ta chạy theo đồng tiền bất lương. Từ khi chúng tôi đặt lên hàng đầu cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nghề phụ: đan rổ rá xuất khẩu thì sức dân thực sự được chắp cánh. Hiện nay Thái Mỹ có tám cơ sở đan rổ rá xuất khẩu cho Nhật, Đài Loan, Đức và Singapore, thu hút bốn ngàn lao động nông nhàn và cả trẻ em, thu nhập bình quân một người là hai chục ngàn đồng một ngày. Nghề đan rổ rá xuất khẩu càng phát triển khi mà Ngân hàng Sài Gòn Thương tín thông qua xã và Chi nhánh điện Củ Chi đã cho gần một ngàn hộ dân vay tiền lắp điện kế. Chỉ từ khi có điện kế trong từng hộ gia đình, cái gọi là điện khí hóa nông thôn mới thực sự có ý nghĩa. Có điện, người dân có cơ phát triển sản xuất tùy theo thế mạnh của từng nhà. Từ chỗ gần bảy mươi phần trăm gia đình đi buôn lậu, nay toàn xã chỉ còn ba hộ đi buôn (ba hộ này từ nhiều đời không biết làm ruộng) - Một kết quả phi thường!

    Thế nhưng, ấn tượng về Thái Mỹ mà tôi cảm nhận được mạnh nhất, sâu sắc nhất là việc tái lập tình làng nghĩa xóm, tình đời. Ấn tượng ấy cứ lấp lánh, cứ dào dạt khi được tiếp xúc với những người nông dân vô cùng hiếu khách và chất phác. Đây có lẽ là thành tích nổi trội hơn cả của Đảng bộ Thái Mỹ trong suốt hơn hai chục năm qua. Việc thành lập hơn sáu mươi tổ nhân dân toàn diện hoạt động đều đặn, chất lượng, theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và trên nền tảng của đạo lý tình làng nghĩa xóm đã đem lại cho Thái Mỹ một đời sống tâm linh mới, một bộ mặt tinh thần mới. Có 22 tổ được xếp hạng là tổ vững mạnh. Tiêu biểu là tổ do anh Nguyễn Văn Nghĩa ở ấp Bình Hạ Đông. Anh Nghĩa đã vận động bà con trong tổ góp được mười ba triệu đồng mở con kênh dài 1.700 mét, dẫn nước tưới cho bốn chục hécta lúa hồi nào tới giờ không có nước. Kế đó là tổ 2 ở ấp Mỹ Khánh B, do ông Dương Văn Diệm làm tổ trưởng. Đây là tổ vận động tình làng nghĩa xóm tốt nhất. Thông qua tình làng nghĩa xóm, tổ của ông Diệm gồm những gia đình nông dân sản xuất giỏi, vay vốn và hoàn trả vốn cho ngân hàng đúng hạn. Bà con trong tổ đã đóng góp công, của làm đường giao thông, góp ba triệu rưỡi đồng đào một con kênh dài bảy chục mét tưới cho mười hécta lúa xưa nay chỉ cấy được một vụ". Tôi hỏi: "Sao gọi là tổ nhân dân toàn diện?”. Bí thư Lê Minh Tấn trả lời: "Chúng tôi chủ trương đây là tổ chức chân rết của chính quyền ở bên dưới ấp, hướng dẫn nhân dân thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước”. Đây là những con số lấp lánh niềm vui: Xã có một trường cấp hai kiên cố với 20 phòng học, 831 học sinh. Bốn điểm trường cấp 1 xây kiên cố với 40 phòng học, 1.300 học sinh. Chín lớp mẫu giáo xây kiên cố thu hút 280 cháu. Trong ngân sách xây chín lớp mẫu giáo, dân góp một trăm triệu đồng. Thái Mỹ đã phổ cập cấp 1 được chín mươi bảy phần trăm, xóa mù chín mươi bảy phần trăm, đang phổ cập cấp hai cho 33 người trong độ tuổi lao động. Trong toàn xã, không còn trẻ em hư hỏng, không có trẻ em phạm pháp, tình trạng bỏ học nửa chừng được chấm dứt. Xã có một trạm y tế, một bác sĩ, một y sĩ và bốn y tá, tỷ lệ uống thuốc, chích ngừa theo chương trình quốc gia đạt một trăm phần trăm. Thái Mỹ mới có 845 người học xong cấp ba, có 14 người tốt nghiệp đại học nhưng chỉ có một người về làm việc tại xã. Đó là kỹ sư Dương Văn Minh, ba mươi bốn tuổi, phụ trách khuyến nông của Thái Mỹ.

    Bí thư Lê Minh Tấn nói rằng Đảng bộ và chính quyền xã đang tập trung sức cho việc xóa đói thông tin. Chỉ cách trung tâm thành phố gần 40 cây số nhưng báo chí đến với Thái Mỹ chậm và hiếm, như là thứ hàng xa xỉ. Bởi thế mục tiêu là xóa đói thông tin bằng tivi và radio. Hiện tại toàn xã mới có 966 tivi và 1.070 radio. Phần lớn hộ gia đình có tivi lại có cả radio, một nửa số hộ trong xã không có tivi, không có radio. Mười ngàn dân nhưng trong xã cũng như khu vực gần xã không có một tụ điểm vui chơi giải trí. Sau giờ vật lộn với ruộng đất, nông dân và thanh thiếu niên Thái Mỹ có muốn giải trí, bồi bổ tinh thần cũng không có phương thức gì khác đành phải lao vào karaoke, phim Hồng Kông, bài bạc và... rượu. Trước trụ sở xã, có một băng khẩu hiệu rất lớn, nền đỏ chữ vàng: "Cấm say rượu". Thế nhưng, dự một cuộc họp nông dân do xã triệu tập để vay vốn Ngân hàng Sài Gòn Thương tín, tôi thấy phần lớn đàn ông đều có mùi rượu. Lúc đó mới tám giờ sáng! Bí thư Đảng bộ Thái Mỹ, một người được bà con trong xã thương mến, coi như ruột thịt, trả lời vanh vách những con số, những vấn đề bức xúc của xã, nhưng khi tôi hỏi: "Thái Mỹ hiện có bao nhiêu người đang học tại các trường đại học và trung học dạy nghề" thì... không trả lời được. Anh nói rất thật lòng: "Thú thực là con số đó rất ít và chúng tôi cũng thiếu sót là chưa nắm được, chưa có động thái khuyến khích. Việc này sẽ được chấn chỉnh ngay".

    Anh Nguyễn Văn Khoen, bốn mươi bảy tuổi, ấp Bình Hạ Tây xã Thái Mỹ nói rằng ước mơ lớn nhất của đời anh là sắm được một chiếc máy cày MTZ, thời giá hiện nay khoảng gần chín chục triệu đồng. "Nếu có tiền, tôi đi mua máy cày ngay lập tức. Nếu có máy cày, vợ chồng tôi sẽ làm vài hécta lúa chứ không chỉ làm tám chục cao (tám ngàn mét vuông) như hiện nay. Anh coi, nhìn trà lúa xuân lên xanh mướt, thấy dễ thương vô cùng, ham vô cùng!". Trong khi có không ít nông dân vùng ven đô bán ruộng đất để sắm xe Dream II và tiêu xài cho đã thì niềm mong ước của anh Khoen đáng trân trọng biết bao! Vô nhà anh, tôi càng thấm thía tại sao người nông dân một nắng hai sương với ruộng đất, giỏi giang chăm chỉ như anh cũng chỉ đủ ăn chứ chưa thể sắm nổi tivi, máy cày. Làm sao có thể xóa đói thông tin đối với những gia đình nông dân như anh Khoen? Hai ngàn hộ, mới có 27 máy cày (đa số loại nhỏ, công suất 12 mã lực, chỉ có 4 chiếc MTZ); 1.200 hộ có xe gắn máy, tám mươi phần trăm hộ xây nhà ngói. Đó là những con số thách thức chí tiến lên của người Thái Mỹ. Bởi vì tuy tám mươi phần trăm gia đình có nhà ngói, nhưng bên trong còn tuềnh toàng lắm. Đời sống tinh thần của người Thái Mỹ vô cùng nghèo. Làm sao có được tri thức khoa học kỹ thuật để làm giàu? Làm sao có được tinh thần ham học để tạo dựng được lớp trí thức nông thôn làm giàu cho quê hương mình?

     Thái Mỹ vào Xuân Đinh Sửu với rất nhiều dự cảm tốt lành, đâu đâu cũng hứa hẹn niềm vui, thể hiện lòng người Thái Mỹ đã qui về một mối. Tình nghĩa xóm làng, tình đời lấp lánh nơi đây, đang giúp cho Thái Mỹ cất cánh vào tương lai.

    Xuân Đinh Sửu 1997.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Lấp lánh tình đời. Truyện, Ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,343,072

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/