Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,604

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lấp lánh tình đời

Triệu Xuân

  • Thứ bảy, 08:51 Ngày 17/10/2020
  • Lấp lánh tình đời: Tự tình cao su/ Minh Long tỏa sáng

    TỰ TÌNH CAO SU

    Sau Tết Nhâm Ngọ, có một tín hiệu gây ấn tượng mạnh từ ngành cao su: Từ tháng cuối tháng 2 năm 2002, giá bán cao su đã tăng dần lên! Trước đó, giá cao su thế giới sụt tới mức thấp hơn cả giá thành. Giá thành một tấn cao su bình quân bảy triệu rưỡi đồng, mà có công ty chào bán bảy triệu đồng một tấn vẫn ứ đọng sản phẩm, không có người mua! Hàng chục ngàn tấn cao su nằm ngủ li bì ở biên giới Việt - Trung. Biết các doanh nghiệp cao su Việt Nam đang rất cần tiền mặt để lo trang trải, lo Tết Nhâm Ngọ cho công nhân nên người ta cố tình ép giá! Đến đầu tháng 3, giá một tấn sản phẩm loại SVR 3L xuất mậu biên được 5.200 nhân dân tệ. Tháng 4 năm 2002, Công ty Cao su Dầu Tiếng bán cao su loại 3L với giá chín triệu năm trăm bốn chục ngàn đồng một tấn không có ba lét (nếu có ba lét: 9.840.000 đồng một tấn). Thế nhưng, vào thời điểm này, hầu hết các công ty cao su đã không còn sản phẩm để mà bán. Mùa khai thác cao su năm nay đến chậm mất một tháng do thời tiết nắng nóng kéo dài, do bệnh phấn trắng rụng lá non diễn ra trên diện rộng… Câu chuyện về cao su là một câu chuyện đầy ấn tượng, kể hoài không hết!

    Năm 1978, ông Ngô Văn Thiệu dẫn vợ và sáu đứa con rời làng quê nghèo ở Quảng Trị vào lập nghiệp tại vùng cao su đất đỏ Đồng Nai. Cùng đi một đợt với ông còn hơn một trăm gia đình đồng hương Quảng Trị. Năm ấy, cả nước thiếu lương thực, nhiều gia đình đói, đói vàng mắt! Vào đến đất cao su, ông Thiệu và đoàn di dân được ông Lê Sắc Nghi, lúc đó là Giám đốc Công ty cao su Đồng Nai, quê gốc Quảng Trị, trực tiếp đón tiếp và tạo mọi điều kiện để nhanh chóng định cư bà con di dân. Họ được cấp đất làm nhà, mỗi gia đình được vài công đất vườn (mỗi công một ngàn mét vuông). Gia đình nào cũng được cấp ba tháng lương thực. Những người công nhân cao su tại chỗ, với tinh thần lá lành đùm lá rách đã chia ngọt sẻ bùi, giúp những người vừa tha hương yên ấm gia đình để lập nghiệp. Kế đó, những công nhân lâu năm truyền dạy kỹ thuật trồng cao su, trồng xen canh cây họ đậu dưới gốc cao su trong hai năm đầu, truyền dạy kỹ thuật cạo mủ, cách chăm sóc cây cao su. Người Quảng Trị nổi tiếng cần cù và thông minh, hai vợ chồng ông Thiệu với hai đứa con gái lớn chả mấy chốc trở thành những công nhân cao su mới, có tay nghề vững vàng. Một năm sau họ có dư gạo ăn, mỗi năm hoa lợi từ vườn nhà bán được tiền triệu. Ba năm sau họ xây nhà cấp bốn. Mười năm sau, họ xây nhà một trệt một lầu theo lối biệt thự. Trong nhà có bốn xe Dream Thái, tivi, tủ lạnh, lò viba. Mùa cưới, trước tết Dương lịch 2002, họ làm lễ vu quy cho cô con gái thứ ba. Cô là kiện tướng cạo mủ cao su từ năm mới mười bảy tuổi! Chú rể là con trai út một công nhân cao su lão thành, tốt nghiệp Đại học Kỹ thuật, được đi tu nghiệp ở nước ngoài về chế biến cao su. Tôi là khách mời của họ nhà trai. Khi cô dâu xuất hiện, tôi thấy cặp vợ chồng trẻ này quá đẹp đôi, ánh mắt họ ngời ngời hạnh phúc. Chợt nghe lòng mình rưng rưng… Biết bao người đã vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất đỏ đất cao su, linh hồn họ nếu chứng kiến được niềm vui này hẳn sẽ hài lòng! Cô dâu đẹp, vẻ đẹp long lanh của tuổi trẻ. Ông Thiệu nhìn con gái lên xe hoa, xúc động nói với tôi: “Đời tôi được như ngày hôm nay là nhờ chuyển vào vùng cao su này anh ạ! Thế là ba cháu gái đầu đã thành gia thất. Cháu trai thứ tư sắp tốt nghiệp đại học. Cháu trai thứ năm là đội trưởng một đội sản xuất của nông trường, còn thằng trai út, hồi mới vô đây đang còn ẵm ngửa, nay đang học năm thứ nhất đại học nông nghiệp”. Nhà trai cách nhà gái chỉ mười phút đi bộ. Xe hoa là chiếc xe hơi đời mới nhất, phải chạy thật chậm, và chạy đường vòng để đoàn rước dâu có dịp bộc lộ hết niềm vui giữa rừng cao su bạt ngàn!

    Từ năm 1976 đến nay, có hàng chục ngàn gia đình quê Bắc –Trung - Nam di cư lập nghiệp ở vùng cao su đất đỏ hay đất xám, miền Đông Nam Bộ cũng như Tây Nguyên. Tại Công ty Cao su Tây Ninh, với diện tích không lớn, chỉ 7.500 hécta, nhưng đã giải quyết việc làm cho hơn 2.300 lao động tại chỗ cũng như những người từ miền quê khác đến lập nghiệp. Công ty Cao su Tây Ninh vừa hỗ trợ cho hơn một ngàn gia đình số tiền ba tỷ đồng để ngói hóa nhà ở. Ở Công ty Cao su Dầu Tiếng, đơn vị Anh hùng Lao động, lá cờ đầu của ngành cao su Việt Nam, thu nhập bình quân hàng tháng của một công nhân gần một triệu rưỡi đồng. Tiền lương hầu như là tiền để dành. Các gia đình công nhân cao su có thu nhập rất khá từ hoa lợi trong vườn nhà… Những di dân lập nghiệp này có số phận khác hẳn những người phu contrat trước năm 1945 từ Bắc vô Nam Kỳ.

    Tôi có người bác là Triệu Văn Triện, năm 1940 vì quá đói và không có tiền nộp thuế thân, phải bỏ quê hương Hải Dương đi phu contrat cao su Nam Kỳ (contrat, tiếng Pháp, nghĩa là hợp đồng). Đến năm 1950, cực khổ hết chịu nổi, bác tôi dồn hết số tiền kiếm được để lo tìm mọi cách thoát thân, hồi hương. May mắn hơn nhiều người khác, ông đã về tới làng; nhưng không ai nhận ra, một người đang tuổi bốn mươi lăm mà tiều tụy như đã ngoài sáu mươi rồi! Bác tôi chỉ sống thêm được vài năm rồi chết. Hồi nhỏ, tôi thường xoa bóp các khớp xương, đấm lưng, vuốt ngực cho ông để được nghe ông kể về cái đồn điền cao su Phú Riềng vô cùng khủng khiếp. Ấn tượng về rừng cao su trong lòng những người phu cao su như bác tôi thật u ám và kinh hoàng: “Bán thân đổi mấy đồng xu. Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”; “Cao su xanh tốt lạ đời. Mỗi cây chôn một xác người công nhân”…

    Ngay từ đầu thế kỷ 20, những người phu cao su không cam chịu cuộc đời nô lệ, đã vùng lên đấu tranh. Ngày 28 tháng 10 năm 1929, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng tại Phú Riềng đã ra đời. Từ đó, đồn điền Phú Riềng đã được mệnh danh là Phú Riềng Đỏ. Rừng cao su bạt ngàn từ miền Đông Nam Bộ đến Tây Nguyên đã trở thành căn cứ kháng chiến trong suốt hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ.

    Cây cao su được người Pháp đưa vào trồng tại Việt Nam từ năm 1897. Năm 1963, diện tích cao su Việt Nam đạt mức cao nhất: 192.800 hécta. Chiến tranh, bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ đã khiến rừng cao su bị tàn phá và hoang hóa hàng loạt, đến năm 1974, diện tích cao su chỉ còn 68.400 hécta, sản lượng 21 ngàn tấn mủ khô.

    Năm 1975, những chàng trai sinh ra ở các tỉnh phía Bắc như tôi lần đầu tiên vào Sài Gòn, khi tới Long Khánh đã yêu cầu người lái xe dừng xe lại để ùa xuống rừng cao su tha hồ ngắm nghía, vuốt ve cây cao su. Tôi lấy dao cạo thử một chút để cho nhựa ứa ra và đưa lên mũi ngửi, cảm nhận cái mùi hôi hôi nồng nồng của nó mà se lòng lại, nhớ tới ông bác xấu số của mình… Ngay sau ngày đất nước hoàn toàn hòa bình, thống nhất, cuộc sống trong rừng cao su đã hoàn toàn thay đổi. Người công nhân cao su thật sự thoát kiếp làm thuê. Diện tích cao su vào năm 1975 được Nhà nước tiếp thu khoảng 47 ngàn hécta, phần lớn cây cao su đã già cỗi, phải thanh lý để trồng mới. Mười nhà máy chế biến mủ thì ba cái đã bị tàn phá hoàn toàn, bảy cái bị xuống cấp trầm trọng. Nhìn sang các nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, diện tích vườn cây, sản lượng mủ cao su khô của họ gấp ta hàng chục lần. Phải làm gì, và làm cách nào để nhanh chóng khôi phục vườn cây, phát triển diện tích cao su, tiến tới hiện đại hóa ngành cao su Việt Nam?

    Câu hỏi ấy đã được cán bộ, công nhân ngành cao su trả lời bằng suốt quá trình lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ trong hai mươi sáu năm qua. Từ năm 1975 đến năm 1986, tôi thường xuyên đi về các công ty cao su tìm hiểu thực tế, học nghề để đưa tin, viết bài. Cuối năm 1986, tôi viết xong cuốn tiểu thuyết mang tên Đâu là lời phán xét cuối cùng? lấy bối cảnh từ ngành cao su. Năm 1987, Nhà xuất bản Văn nghệ đã xuất bản tác phẩm này. Hiện thực của ngành cao su hôm nay khác rất nhiều so với năm 1987, khi đất nước còn lúng túng trong khủng hoảng, chập chững tìm đường bước vào công cuộc Đổi Mới. Thời đó, sản xuất trì trệ, mọi thứ đều tụt hậu, đời sống công nhân cao su còn cực lắm, tỷ lệ hộ đói nghèo rất cao, rất nhiều người bị sốt rét, xơ gan cổ trướng, đưa về cấp cứu ở thành phố Hồ Chí Minh thì không kịp nữa!

    Vào mỗi buổi sáng tinh mơ, rừng cao su đã xôn xao tiếng cười. Bức tranh về các làng cao su hôm nay đã sáng lên rồi! Tổng Công ty Cao su Việt Nam hiện có 37 đơn vị thành viên, quản lý 218.000 hécta cao su, trong đó có 165.647 hécta đang kinh doanh; có 31 nhà máy chế biến được trang bị máy móc, công nghệ tiên tiến với tổng công suất 220.000 tấn một năm. Tổng Công ty hiện có 88.875 lao động, trong đó có gần 40 ngàn lao động nữ, 35 ngàn lao động trong độ tuổi thanh niên. Sau hai mươi sáu năm, diện tích cao su do Tổng Công ty Cao su quản lý tăng bốn lần rưỡi, sản lượng tăng mười hai lần.

    Năm 2001, các đơn vị trong Tổng Công ty đã khai thác được 230 ngàn tấn mủ quy khô. Quý tư là quý chiếm bốn mươi phần trăm sản lượng cả năm, riêng sản lượng khai thác trong quý tư đạt hơn một trăm ngàn tấn. Ông Lê Quang Thung, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cao su, nói rằng về hiệu quả kinh doanh, yếu tố giá thành là quan trọng nhất. Trong tình hình giá bán tất cả các loại nông sản trên thị trường quốc tế đều giảm, giá xuất khẩu cao su không ngừng giảm, thì việc hạ giá thành có tính chất quyết định cho ngành cao su trụ vững và phát triển. Từ năm 1997 trở về trước, giá thành một tấn mủ cao su là 9,2 triệu đồng. Nếu cứ để mức giá ấy thì không thể cạnh tranh với sản phẩm cao su thiên nhiên trong khu vực. Tổng Công ty Cao su đã kiện toàn bộ máy, đặt lên hàng đầu công tác quản lý sản xuất kinh doanh, hướng tới mục tiêu là hạ giá thành sản phẩm. Nhờ thế mà năm 2001 giá thành bình quân một tấn mủ khô chỉ còn ở mức 7,5 triệu đồng. Thế nên, mặc dù giá xuất khẩu cao su giảm nhưng lợi nhuận năm 2001 vẫn cao, nộp ngân sách nhà nước cao hơn năm 2000; giá bán sản phẩm thấp hơn năm 2000 tới hai mươi phần trăm nhưng lương công nhân chỉ giảm so với năm trước năm phần trăm. Trong khi có những tổng công ty lớn, phải nợ bảo hiểm suốt ba năm qua, thì Tổng Công ty Cao su vẫn đóng bảo hiểm đầy đủ (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế) cho công nhân.

    Hiện nay mối quan tâm lớn nhất của Tổng Công ty Cao su là làm sao đẩy mạnh tiến độ tiêu thụ sản phẩm, nhất là xuất khẩu. Tám mươi phần trăm sao su thiên nhiên được dùng cho việc chế tạo săm lốp xe các loại. Từ năm 1997 đến nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, mức tiêu thụ săm lốp xe giảm, do đó nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên ắt giảm theo. Giá cao su thiên nhiên vì thế giảm liên tục. Nước nào có sản phẩm chất lượng cao, giá bán thấp thì có khách hàng. Mặt khác, cơ cấu sản phẩm của ngành cao su Việt Nam nếu không thay đổi nhanh cho phù hợp nhu cầu thị trường thì không thể thắng nổi trong tình trạng cạnh tranh vô cùng gay gắt. Người ta chỉ mua cái họ cần. Các nhà máy sơ chế mủ cao su Việt Nam phải thực hiện một cuộc bứt phá, chiến thắng sự trì trệ, không ngừng tự vượt lên mình, nắm bắt nhu cầu thị trường thì mới mong bán được hàng. Năm 2001, Công ty Cao su Dầu Tiếng tiếp tục ở vị trí hàng đầu trong Tổng Công ty về nhiều mặt, nhất là việc nhạy bén tiếp thị, nhanh chóng thay đổi chủng loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng. Nhờ thế Công ty Cao su Dầu Tiếng tạo được thị trường xuất khẩu ổn định, giá bán luôn đạt mức cao nhất trong Tổng Công ty. Xin nêu vài số liệu: Năm 2001, Công ty Cao su Dầu Tiếng khai thác được 47.210 tấn cao su quy khô; chế biến được 48.508 tấn; tiêu thụ 44.213 tấn (trong đó xuất khẩu được 40.969 tấn, chiếm tỷ lệ 92,66 phần trăm tổng sản phẩm); giá bán bình quân (chưa có thuế VAT) đạt xấp xỉ 9 triệu đồng một tấn; tổng doanh thu đạt 394 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế là 55,5 tỷ đồng, đạt mức lãi ròng cao nhất Tổng Công ty Cao su; nộp ngân sách Nhà nước 49,8 tỷ đồng. Từ tháng 11 năm 2001, giá bán cao su tụt xuống một cách thê thảm, từ mức bình quân 9 triệu đồng tụt xuống 7,2 triệu đồng! Các công ty cao su vì cần tiền mặt để trang trải các khoản chi phí, nhất là cần tiền mặt trả lương, thưởng Tết Nhâm Ngọ và nộp bảo hiểm, nộp ngân sách… cho nên phải bóp bụng bán sản phẩm giá rẻ. Thật đau xót khi công lao làm lụng vất vả để ra sản phẩm mà phải bán đổ bán tháo, bán ngang với giá thành! Trước tình hình đó, Giám đốc Công ty Cao su Dầu Tiếng Lê Văn Khoa (Năm Khoa) táo bạo quyết định để lại 15.000 tấn sản phẩm, chờ giá lên mới bán! Công ty Cao su Dầu Tiếng chủ động đi vay ngân hàng 60 tỷ đồng để có tiền lo Tết cho công nhân. Và thật là may mắn, từ cuối tháng 2 năm 2002, giá bán cao su trên thị trường thế giới và xuất mậu biên đi Trung Quốc nhích dần lên. Giá cao su loại SVR 3L xuất mậu biên được 4.450 nhân dân tệ (NDT) một tấn, tương đương 8,2 triệu đồng Việt Nam. Đến tháng 3, vào lúc cao điểm, giá bán cao su 3L vọt lên tới 5.200 NDT một tấn. Lúc đó Công ty Dầu Tiếng ung dung tung sản phẩm ra bán, và bán hết ngay, thu lợi nhuận cao nhất Tổng Công ty Cao su! Vào thời điểm cuối tháng Tư, đầu tháng Năm, khi tôi đang viết bài này, Dầu Tiếng bán cao su 3L với giá 9,54 triệu đồng một tấn không có ba lét; nếu có ba lét thì 9,84 triệu đồng một tấn. Thế nhưng các công ty cao su đâu còn sản phẩm nữa! Mùa xuân 2002, do thời tiết nắng hạn kéo dài, cây cao su vừa thay lá mới đã bị bệnh phấn trắng, rụng lá hàng loạt! Việc xả miệng cạo cho cây cao su, vào mùa khai thác mới phải chậm lại mất một tháng. Thay vì vào đầu tháng Ba hàng năm được xả miệng cạo, năm nay phải mồng một tháng Tư mới được xả. Mất một tháng không được khai thác mủ là mất hàng chục ngàn tấn mủ. Sản phẩm tồn kho không còn, sản phẩm mới chưa có là bao. Người ta tiếc hùi hụi, tiếc đến đau lòng xót dạ vì trước Tết Nhâm Ngọ đã phải bán tống bán táng sản phẩm của mình với giá quá thấp!

    Chỉ một câu chuyện nhỏ vừa kể cho thấy làm ăn thời nay khó khăn như thế nào, đòi hỏi phải tỉnh táo, nhạy bén với thị trường, phải quyết đoán, táo bạo khi cần thiết. Ai cũng hiểu điều đó nhưng đâu phải ai cũng làm được!

    Công ty Cao su Đồng Nai có diện tích cao su lớn nhất và đông công nhân nhất: 15.129 người. Ông Nguyễn Thành Châu, Giám đốc Công ty Cao su Đồng Nai tâm sự: “Lo tiền lương cho chừng đó công nhân trong hoàn cảnh tiêu thụ sản phẩm đầy khó khăn như hiện nay là chuyện bạc đầu!”. Quả đúng như vậy, nhưng có một thực tế hiển nhiên là bộ mặt các khu dân cư của Cao su Đồng Nai hiện nay rất đẹp. Nhà công nhân xây một hai lầu hoặc xây theo kiểu biệt thự, mái ngói đỏ ẩn hiện trong vườn cây ăn trái xanh tươi quanh năm. Nhà nào cũng có tivi, máy nghe nhạc, tủ lạnh, nhiều gia đình xài bếp gas. Các công trình đường giao thông, trường học, bệnh xá, nhà trẻ, khu vui chơi giải trí… được xây dựng hoàn chỉnh từ mấy năm trước. Những năm sau 1978, khi đi tìm hiểu ngành cao su Thái Lan, Malaysia, thấy công nhân của họ đi xe Honda ra lô cạo mủ mà thèm! Nay thì ở Công ty Cao su Đồng Nai chuyện đó là bình thường! Nông trường Cao su Cẩm Mỹ có lẽ là biểu hiện sinh động nhất về cuộc đổi đời của công nhân cao su. Ấn tượng sâu sắc về Cẩm Mỹ đối với tôi là đời sống tinh thần thực sự phong phú, dân trí được nâng cao hơn hẳn. Nguyện vọng của mọi gia đình là mong cho con cháu mình được ăn ngon mặc đẹp, học hành đến nơi đến chốn để về lại rừng cao su tiếp bước cha anh… Đồng Nai vừa có thêm hai huyện mới, một trong hai huyện đó mang tên huyện Cẩm Mỹ, lấy khu dân cư cao su Cẩm Mỹ làm thị trấn! Nhiều khu dân cư cao su Đồng Nai sắp được đổi thành phường. Tốc độ đô thị hóa ở các làng cao su rất nhanh. Tất cả những điều đó để lại trong tôi ấn tượng mới về rừng cao su, tôi sẽ viết một tác phẩm mới về đề tài này.

    Tôi hỏi ông Lê Quang Thung, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cao su Việt Nam: Có trở ngại gì thuộc về cơ chế? Ông Thung cười, bộc bạch: “Từ năm 2000, Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đầu tư. Thế nhưng không hiểu vì sao Bộ Tài chính chưa cho ngành cao su được hưởng? Khác với các ngành khác, ngành cao su đầu tư cho sản xuất phải đồng thời đầu tư cho hạ tầng cơ sở xã hội, cụ thể là nước, điện, đường, trường, trạm. Số vốn đầu tư cho hạ tầng cơ sở xã hội rất lớn, phải tính vào giá thành sản phẩm! Nếu Bộ Tài chính thực hiện chủ trương ưu đãi đầu tư đối với ngành cao su thì năm 2001 vừa qua chúng tôi có thể giảm giá thành sản phẩm được nhiều hơn, nâng cao tính cạnh tranh hơn, và dôi ra hơn một trăm tỷ đồng để nâng cao thu nhập cho người lao động. Ách tắc thứ hai là chủ trương không cho thanh lý vườn cây cao su già nếu chưa khấu hao xong. Ai cũng biết khi cây cao su già, có kéo dài thêm vài năm khai thác thì sản lượng cũng rất thấp. Tổng Công ty Cao su đã xây dựng nhà máy chế biến gỗ cao su xuất khẩu, với công nghệ hiện đại. Nếu Nhà nước cho Tổng Công ty quyền chủ động thanh lý vườn cây thì số tiền bán sản phẩm chế biến từ gỗ cao su không những đủ xây dựng cơ bản vườn cây mới mà còn dư lãi rất lớn để làm chuyện khác! Nếu cứ coi vườn cây cao su là tài sản cố định, cây già cỗi vẫn phải chờ nộp xong khấu hao cơ bản mới được thanh lý thì thực chất là bó tay doanh nghiệp!”.

    Khi tôi đang viết bài này thì miền cao su Đông Nam Bộ đang tiếp tục khô hạn. Mùa mưa bao giờ mới về? Thời tiết nắng nóng kéo dài và bệnh phấn trắng ảnh hưởng rất nặng nề đối với năng suất và sản lượng cao su. Năm nay, Tổng Công ty Cao su xây dựng kế hoạch khai thác 237.640 tấn mủ cao su quy khô. Thế nhưng từ đầu năm đến hết tháng Tư năm 2002, toàn Tổng Công ty mới chỉ khai thác được 30.888 tấn, đạt mười ba phần trăm kế hoạch năm, so với cùng kỳ năm trước giảm mười bảy phần trăm về khai thác và mười một phần trăm về sản phẩm chế biến. Ông Lê Văn Khoa, Giám đốc Công ty Cao su Dầu Tiếng, nói: “Chúng tôi không bi quan. Hiện tại, chúng tôi tập trung chăm sóc vườn cây cao su và tiếp tục nghiên cứu thị trường để làm ra các loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Cao su Dầu Tiếng quyết tâm đạt mục tiêu của năm 2002 là khai thác 47.500 tấn, thu mua cao su tiểu điền 2.000 tấn, chế biến 49.500 tấn, tiêu thụ 47.500 tấn, trong đó xuất khẩu 42.750 tấn”.

    Năm nay, Dầu Tiếng có diện tích cao su khai thác là 28.478 hécta. Ông Trần Văn Du, Phó Giám đốc Công ty cao su Dầu Tiếng, sôi nổi nói với tôi: “Năng suất vườn cây của Dầu Tiếng hiện đang ở mức cao nhất ngành cao su, bình quân đạt 1,67 tấn một hécta. Anh chị em công nhân cao su Dầu Tiếng chúng tôi phấn đấu duy trì mãi cái nhất này, bởi chỉ khi nào chăm lo thật tốt cho vườn cây thì cây mới không phụ lòng người, hiến dâng vàng trắng cho đời! Vườn cây được chăm sóc tốt đồng nghĩa với sự phồn thịnh. Hai mươi mốt năm trước, khi Công ty Cao su Dầu Tiếng mới được thành lập (21-5-1981) thì tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới bốn chục phần trăm, nay tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn ba phần trăm trên tổng số 9.800 hộ”.

    Dầu Tiếng là một trong những doanh nghiệp cao su đã đầu tư mạnh cho các công trình phúc lợi nhằm nâng cao đời sống, nâng cao dân trí. Trong vòng mười năm gần đây, Dầu Tiếng đã chi hàng trăm tỷ đồng cho các công trình điện - đường - trường - trạm. Cho đến nay hơn chín mươi phần trăm hộ gia đình được sử dụng điện lưới, hệ thống y tế từ công ty đến các nông trường với 185 bác sĩ và nhân viên y tế, riêng Trung tâm Y tế của công ty có 90 giường bệnh, 14 bác sĩ. Nhà trẻ mẫu giáo với 2.000 cháu, 130 cô giáo do Công ty trực tiếp chăm sóc. Đến Công ty Cao su Dầu Tiếng hôm nay, cảnh và người ở đây để lại trong tôi ấn tượng rất sâu sắc…

    Sáng sớm, tôi đi trong lô cao su trồng năm 1985, cái năm tôi về đây học nghề trồng và cạo mủ cao su để có vốn sống viết tiểu thuyết. Nay thì ông Năm Tuần - chuyên gia nổi tiếng từ thời Pháp, người dạy tôi học nghề - không còn nữa, nhưng lô cao su này (thuộc nông trường Thanh An, Công ty Cao su Dầu Tiếng) là một trong những lô cao su cho năng suất cao nhất ngành. Mới năm giờ sáng, khí trời se lạnh y như tiết trời Đà Lạt. Tôi vuốt ve những thân cây cao su đang sung sức tuôn dòng nhựa trắng, ngắm nhìn những nữ công nhân trẻ trung xinh đẹp vừa thoăn thoắt cạo mủ vừa cười nói râm ran, mà nghĩ về ông bác của tôi cùng biết bao nhiêu người phu cao su thời Pháp thuộc đã bỏ xác ở miền Đông Nam Bộ. Tôi cũng nghĩ về những người cộng sản, những chiến sĩ, những công nhân cao su đã anh dũng chiến đấu, hy sinh cho rừng cao su mãi mãi giàu đẹp, yên bình… Lắng nghe trong rừng cao su âm thanh của cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, gian lao, thử thách, nhưng mỗi ngày có biết bao niềm vui, biết bao đổi thay đầy ấn tượng, biết bao nhiêu tình đất, tình người, biết bao nhiêu tình tự…

    Tháng 5 năm 2002.

    In trên Báo Văn nghệ, số 24 ra ngày 15 tháng 6 năm 2002.

    MINH LONG TỎA SÁNG

    Có những người suốt đời mê say sáng tạo, lẳng lặng làm việc và không thích người ta viết về mình. Một trong những người ấy là Lý Ngọc Minh. Ông sinh năm 1950 (Canh Dần) tại ấp Lợi Lộc, thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; Giám đốc Công ty TNHH Sứ Minh Long 1.

    Năm 1999, tôi đi trong đoàn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về làm việc với lãnh đạo tỉnh Bình Dương. Tôi được giới thiệu những doanh nghiệp nổi bật trong tỉnh, đầu bảng là Sứ Minh Long. “Cái tên Minh Long thành danh không phải là cố ý dùng từ Hán Việt - ông Lý Ngọc Minh nói với tôi - mà đơn giản là sự ghép tên của hai người bạn thân sát cánh cùng nhau lập nên cơ sở này. Minh là tên tôi. Long là người bạn thân của tôi, tuổi Nhâm Thìn. Cách nay vài năm, khi công ty của chúng tôi phát triển mạnh, chúng tôi bàn với nhau: Anh Long tách ra lập một công ty riêng, chuyên sản xuất các loại sứ dùng trong công nghiệp, đặc biệt là trụ sứ dùng cho lưới điện cao thế. Công ty mới không đặt tên mới mà vẫn lấy tên Minh Long: Minh Long 1 là công ty sứ dân dụng. Minh Long 2 là công ty sứ công nghiệp”.

    Trong chuyến đi công tác nước ngoài năm 2000, tôi giữ trên tay suốt mười tám giờ trên máy bay, chiếc hộp đựng bộ đồ uống trà bằng sứ Minh Long, làm quà tặng một người bạn sống cách trung tâm thành phố New York một giờ xe hơi. Bộ đồ trà có dáng thật đẹp, thanh nhã mà chắc chắn, men nền màu trắng sữa, với hình vẽ Vinh quy bái tổ, có viền chỉ vàng, rót nước trà móc câu Đại Từ Thái Nguyên vào, gợi cảm dễ sợ, người thích làm thơ có thể xuất khẩu thành thi! Lấy móng tay gõ nhẹ vào chiếc ấm, cái tách, phát ra âm thanh trong như ngọc, ngân nga. Bạn tôi mê quá, hỏi: Hãng nào sản xuất vậy? Noritake phải không? (Noritake là hãng sản xuất sứ nổi tiếng thế giới của Nhật). Khi biết là sản phẩm của Việt Nam! bạn tôi tròn mắt ngạc nhiên, úp cái ấm trà xuống, chăm chú nhìn logo (biểu tượng) hình tam giác cân với hai chữ ML tạo hình chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, phía trên có vương miện. Phía dưới logo là hàng chữ Fine Porcelain Vietnam (Sứ cao cấp Việt Nam). Bạn tôi khen rối rít rồi hỏi: Minh Long, nghĩa là gì? Đáp: Theo nghĩa Hán Việt thì Minh Long là con rồng sáng! Người bạn Mỹ trân trọng đặt bộ đồ trà Minh Long trên bàn giữa phòng khách sang trọng, tôi vui lắm. Vui, nhưng sau đó lại buồn vì thấy trong các siêu thị khắp Hoa Kỳ, toàn hàng Trung Quốc, rất ít thấy hàng Việt Nam. Không biết đến bao giờ đồ sứ Việt Nam, các loại sản phẩm của Việt Nam được bày bán khắp Hoa Kỳ - có thương hiệu hẳn hoi - Đến bao giờ?

    Hẹn hò gặp nhau từ lâu, hễ ông rảnh thì tôi mắc bận và ngược lại; mãi đến tháng 7 năm 2002, tôi mới gặp được ông Lý Ngọc Minh. Cả một lô đất rộng sát Quốc lộ 13, cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một khoảng mười phút xe hơi, là ba công ty sứ. Ngay từ quốc lộ vào là Minh Long 2. Kế đó là Minh Long 1. Bên trái Minh Long 1 là Công ty Sứ Cường Phát, do ông Lý Ngọc Bạch là em ruột Lý Ngọc Minh làm chủ. Lúc chúng tôi thăm Cường Phát thì Lý Ngọc Bạch đang tiếp một đoàn khách từ Pháp sang đặt hàng. Ông Bạch nói: Khách nước ngoài đến quá nhiều, tiếp khách mệt nghỉ anh ạ! Hai anh em ông Minh, ông Bạch giống nhau ở nhiều điểm, trong đó có điểm là nhà máy và văn phòng công ty được thiết kế đẹp, thiết bị, công nghệ hiện đại, khu văn phòng có sân rất rộng trồng nhiều hoa và cây xanh, văn hóa giao tiếp công ty, văn minh công nghiệp không thua gì các công ty lớn ở nước ngoài.

    Nhìn gương mặt ông Minh khi chưa nói chuyện, người ta có thể đoán ông ngoài năm mươi tuổi. Thế nhưng khi tiếp xúc, phong thái nói chuyện, tiếp khách, phương pháp tư duy khi diễn đạt, đối đáp, nhìn vầng trán cao và đôi mắt ông, ta thấy ông còn rất trẻ, chỉ ngoài bốn chục là cùng! Ông giới thiệu một số sản phẩm mới rồi nói: “Bên cạnh các mặt hàng sứ gia dụng cao cấp, Minh Long đang đi vào lãnh vực sứ mỹ thuật, như tượng tố nữ Việt Nam, tượng danh nhân, các loại hoa, thú quý, tranh ảnh, đồ chơi trẻ em… Thông qua những mặt hàng này, tôi mong giới thiệu được một phần truyền thống lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam…”.

    Càng nói Ngọc Minh càng say sưa. Ông đã cuốn hút tôi bằng câu chuyện về cuộc đời thăng trầm của mình. Ông sôi nổi nhưng chân thật, không bốc. Tôi đã gặp nhiều người thành đạt. Không ít người trong số họ thường khoa trương, quan trọng hóa, hơi nổ. Ông Ngọc Minh thì khác. Từ cách ăn mặc, giọng nói, nụ cười, cái nhìn… tất cả đều chân thật, bình dị, khiêm nhường. Ông lặp lại nhiều lần: “Tôi gặp may, tôi nhờ may mắn mà nên!”.

    Ông kể rằng từ khi biết nhận thức cuộc sống thì đã thấy ông nội làm nghề gốm rồi. Tân Phước Khánh, nơi ông được sanh ra là một miền quê yên ả, người người chăm làm, lương thiện. Cha truyền con nối, nghề dạy nghề, Ngọc Minh mười hai tuổi đã biết nghề gốm sứ! Đam mê thì đúng hơn. Mới mười ba tuổi, Ngọc Minh đã bị ba má rầy la vì dám đập bể nhiều chén đĩa kiểng do nước ngoài sản xuất, để coi trong nó có cái gì mà nó đẹp hơn tốt hơn mình! Những năm 1962-1963, kinh tế miền Nam khá phát triển, viện trợ Mỹ ồ ạt tuôn vô, người ta đua nhau dùng hàng ngoại nhập. Những cái chén (bát) ăn cơm có vẽ hình con cua, con rồng, khiến Ngọc Minh suy nghĩ rất nhiều: Làm sao để cái chén do mình làm ngang ngửa hoặc hơn hẳn chén do Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản làm? Câu hỏi này cứ ám ảnh miết. Muốn biết thì phải học. Người xưa từng dạy: Nhân bất học bất tri lý. Thế nhưng, do hoàn cảnh gia đình, ba mất sớm, Ngọc Minh chỉ học đến hết lớp ba trường làng, về Hoa văn thì học hết lớp năm. Mười sáu tuổi đầu, tuổi ăn tuổi học mà phải nghỉ học, buồn lắm! Ngọc Minh lao vào nghề. “Tôi phụ giúp má làm chén - Ông Ngọc Minh nói - nhưng mỗi mẻ sản phẩm ra lò, tôi nhìn chúng mà lòng buồn rười rượi, dù sản phẩm của gia đình tôi bán chạy nhất vùng. Thấy tôi rầu rĩ đến biếng ăn, mất ngủ, cứ nhìn đống chén như kẻ mất hồn, mẹ tôi hỏi vì sao, tôi trả lời: Má à, con không chịu nổi tình trạng chén đĩa đơn điệu, màu men không sáng không bóng như vầy mãi đâu! Má tôi hiểu được tâm nguyện của con trai, bằng lòng cho tôi lập xưởng thí nghiệm. Đó là năm tôi mười bảy tuổi. Tôi và Long, người bạn thân, với sự giúp việc của các em các cháu trong nhà trong họ, lao vào nghiên cứu, thí nghiệm, làm men, tìm nguồn đất, tạo dáng kiểu, mẫu mã. Hai năm ròng, từ năm 1967 đến năm 1969, tôi miệt mài nghiên cứu, làm thử, mong tìm ra “chân kinh” của nghề gốm sứ. Miệt mài trong nhà suốt, tôi không biết đến mưa nắng là gì! Năm tôi hai mươi tuổi, đang say sưa thí nghiệm và bước đầu có tín hiệu vui thì anh Long mười tám tuổi, bị bắt lính. Vô lính đúng một năm thì chúng tôi chạy được cho anh xuất ngũ. Chúng tôi đã tìm ra bí quyết của men, của màu. Người ta bảo phải nghe được tiếng nói của đất, cảm được hơi thở của lò nung, dáng đi của lửa trong lò thì sẽ có sản phẩm đẹp! Bắt đầu từ năm 1970, 1971 chúng tôi đầu tư sản xuất lớn. Năm 1972, hàng của chúng tôi đã xuất khẩu qua Hồng Kông, từ đây xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, tuy còn khiêm tốn. Năm 1975, Giải phóng về, chúng tôi chấp hành chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh… Khó khăn dễ sợ, không thể ngờ! Gia đình tôi gần như ngưng sản xuất. Rừng cấm khai thác, không có củi đốt lò. Một trăm bảy chục thợ, tôi cho nghỉ chỉ giữ lại hai chục người. Xưởng vẫn sản xuất, nhưng tôi nản quá, bỏ ra đây, nơi chúng ta đang ngồi đây, làm rẫy trồng rau, đu đủ. Ba năm làm rẫy, tôi đã trồng và bán hàng vạn trái đu đủ, hàng vạn củ cà rốt, hàng vạn cây bắp cải, đến nỗi bắp cải Đà Lạt không về nổi thị trường Bình Dương! Thế nhưng trong lòng tôi luôn luôn cháy bỏng thèm khát làm đồ sứ. Những khi nắng sớm mưa chiều, những đêm nằm nghe mưa rơi, tôi khắc khoải đau đớn vì sản xuất ngưng trệ, ước mơ làm sứ cao cấp không thành. Quanh tôi biết bao người đã vượt biên…”.

    Lý Ngọc Minh ngưng nói, ánh mắt thoáng buồn, nhìn tôi. Uống nước xong, ông nói tiếp: “Đó là giai đoạn đáng buồn của đất nước, may mà tôi đã trụ vững! Cuối năm 1980, một cán bộ lãnh đạo tỉnh đến gặp, động viên tôi trở lại làm nghề. Năm 1981, cơ sở của tôi thực sự lấy lại sinh khí. Sản phẩm Minh Long xuất qua Liên Xô. Tiếng là làm hàng xuất khẩu chứ thực ra tôi giao hàng cho Ngoại thương họ xuất, mình có được trực tiếp bán hàng bao giờ! Có đầu ra, bán được hàng là ngon rồi. Thế nhưng bi kịch là ở chỗ người làm ra hàng xuất khẩu lại mù tịt về thị hiếu, nhu cầu của người mua! Họ cần loại sản phẩm nào, thị hiếu thẩm mỹ, cái gu của họ, chúng tôi không hề biết. Xuất như thế là lợi bất cập hại. Rồi Liên Xô không còn nữa, thị trường Đông Âu bị đóng băng… May mắn làm sao, công cuộc Đổi Mới được Đảng và Nhà nước tiến hành rốt ráo hơn. Lần đầu tiên Nhà nước cho công ty tư nhân xuất khẩu trực tiếp. Doanh nghiệp của tôi là một trong bốn doanh nghiệp tư nhân đầu tiên được cấp Giấy phép xuất nhập khẩu. Giấy phép của tôi mang số 001. Nó không chỉ đơn thuần là tờ giấy cho phép. Nó chính là sự tin cậy doanh nhân, tôn vinh doanh nhân, kỳ vọng vào doanh nhân…. ”.

    Năm đầu tiên được cấp Giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp, Minh Long xuất khẩu được 120 ngàn đôla Mỹ. Những năm sau đó, kim ngạch xuất khẩu tăng vọt. Sau năm năm, Minh Long có tích lũy kha khá. Và hai người bạn thân nghĩ đến dự định, ước mơ từ thuở thiếu thời về sản xuất chén, tô (bát lớn), đĩa… bằng sứ cao cấp, chí ít cũng phải ngang tầm thế giới. Trong câu chuyện mà ông Ngọc Minh kể về giai đoạn này, toát lên ý chí mãnh liệt của một người không chịu thua kém đồng nghiệp nước ngoài. Ông tự nhủ lòng, rồi truyền cho bà Dung vợ mình quyết tâm: trở thành nhà sản xuất sứ cao cấp hàng đầu thế giới! Không chỉ sản xuất chén, tô, đĩa, Minh Long lao vào sản xuất bộ đồ uống trà. Việc làm ấm chén trà cũng là một duyên may. Ông Ngọc Minh kể: “Một lần Tổng Bí thư Đỗ Mười về thăm tỉnh Sông Bé (tháng 1 năm 1997 tỉnh Sông Bé mới tách thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước), ăn trưa xong, cầm tách trà bằng sứ Nhật Bản trên tay, Tổng Bí thư trầm ngâm, rồi nói: “Quê hương gốm sứ mà không làm nổi bộ ấm trà cho đẹp, cao cấp hay sao, cứ phải dùng đồ nhập cảng mãi sao?”. Ông Bí thư Tỉnh ủy, ông Chủ tịch tỉnh đưa mắt nhìn nhau, rồi hứa với Tổng Bí thư là sẽ cố gắng! Chiều hôm đó, tôi được mời đến, nghe lại câu nói của Tổng Bí thư. Không có Tổng Bí thư trước mặt nhưng tôi vẫn thấy mắc cỡ ghê gớm, cảm nhận hết nỗi đau nghề nghiệp. Thế là tôi xúc tiến thiết kế tạo mẫu, tìm đất, làm men, chọn màu để làm ấm chén trà. Sau năm 1985, Bình Dương có hơn chục doanh nghiệp làm gốm sứ (không kể những lò nhỏ), thì tới bảy chục phần trăm cơ sở sản xuất sành sứ, còn lại ba chục phần trăm làm gốm mỹ nghệ xuất khẩu. Ngành sản xuất chén tô đĩa, ấm trà chết từ lâu, gần như bỏ trống, bởi sự tràn ngập của hàng Trung Quốc. Đến cái chén sành hứng mủ cao su còn không có người làm nữa là chén, tô ăn cơm. Khi quyết định tạo ra bước đột phá trong việc sản xuất chén, tô, đĩa và bộ đồ trà, tôi đã lường hết mọi khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là sự cạnh tranh gay gắt của hàng sứ cao cấp thế giới. Còn sứ Trung Quốc tràn qua biên giới, giá rất rẻ nhưng đó chỉ là sứ bình dân, tôi không có gì phải lo! Tôi chỉ làm sứ cao cấp xuất khẩu. Tôi chấp nhận sự cạnh tranh với các hãng làm đồ sứ nước ngoài có lịch sử từ hàng trăm năm đến hàng ngàn năm! Chỉ có một con đường: làm sứ cao cấp. Đây chính là ước mơ của tôi từ năm mười ba tuổi!”.

    “Học hành dang dở nên tôi vừa làm nghề vừa tự học văn hóa và ngoại ngữ. Cả tôi và vợ tôi cùng theo học chương trình hàm thụ đại học, đào tạo từ xa của Đài Loan. Chỉ có chịu khó tự học thì mới thành công. Tự học qua sách vở, tự học qua chiêm nghiệm thực tế ở nước ngoài. Năm 1989, hai vợ chồng tôi sang Pháp. Việc tỉnh Sông Bé tin cậy cho cả hai vợ chồng cùng đi Cộng hòa Pháp là chuyện động trời lúc ấy! Anh còn nhớ những năm ấy vẫn còn không ít người tìm mọi cách vượt biên kia mà. Nếu tỉnh không tin doanh nghiệp thì làm sao doanh nhân mở mày mở mặt với thiên hạ. Vợ chồng tôi gặp may mắn lớn, đã đi khắp những nước và vùng lãnh thổ có lịch sử nghề gốm sứ lâu đời như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Pháp, Đức, Tiệp Khắc, Italia, Hoa Kỳ… Ở nước Pháp, tại một tỉnh chuyên làm sứ, tôi được người ta mời làm một chất trong men. Tôi đã làm ngon lành. Tôi đến Nhật, hãng Noritake nhiệt tình giúp đỡ tôi. Vui nhất là chuyến đi Đức, được thăm hầu hết những hãng làm sứ lớn nhất nước Đức. Không biết họ quá thật thà, quá nhiệt tình hay là họ… coi thường người Việt Nam mà họ cho tôi vào thăm cả vùng cấm địa, nơi ẩn chứa những bí quyết nghề nghiệp. Trong nghề, chỉ cần nhìn đường mương nước thải đang chảy là tôi biết men của họ gồm những chất gì. Thế mà họ cho tôi đi thăm búa xua, không giấu diếm gì cả. May mắn làm sao! Tôi ham đi vì ham học hỏi, anh ạ. Suốt đời tôi không thể nào quên chuyến đi Hội chợ Laixích Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1987. Tôi muốn đi thăm một cơ sở làm sứ ở cách Berlin hơn năm trăm cây số. Tàu hỏa chạy lúc ba giờ sáng. Đêm đông lạnh cắt da, nhiệt độ xuống âm 10 độ C. Vậy mà anh Hà, cán bộ của Đại sứ quán ta vẫn nhiệt tình thức dậy dẫn tôi ra ga xe lửa mua vé! Thật may, tôi thành công là nhờ có tới một nửa nhờ may mắn! Nếu không chịu tự học, không đi học hỏi thiên hạ thì tôi chỉ là ếch ngồi đáy giếng, biết gì để mà ngoi lên với đời?”.

    “Tôi quyết định đầu tư gần ba triệu đôla nhập những thiết bị hiện đại. Nhưng mua máy nào, lò nào cho đúng? Không phải cứ có tiền đi mua máy về là có hiệu quả đâu. Thiếu gì doanh nghiệp lớn nhập máy về không sử dụng được. Tôi rất may là mua máy đúng, mua lò đúng, không hề lãng phí một đồng ngoại tệ. Tôi còn gặp may ở những chuyện không ngờ, có lẽ Trời thương mình ăn ở hiền lành, có lẽ nhờ phước đức ông bà để lại. Một lần, khá lâu rồi, tôi thuê người ta xây một cái hồ (bể) chứa nước lớn. Khi bơm nước vào đầy, tôi ra coi, vừa rời khỏi hồ được năm sáu bước chân thì hồ bể tung, nước phóng ra mạnh như lũ quét. Chỉ ra chậm một phút là tôi chết rồi! Tôi nhận được đơn đặt hàng của nước ngoài sản xuất con ếch bằng sứ. Màu nhập rất đắt và thời đó, muốn mua đâu phải có liền; có biết người ta đặt làm con ếch màu này đâu mà nhập để trữ! Đúng lúc bí nhất thì một cán bộ Công ty xuất nhập khẩu tỉnh mang đến cho tôi một trăm gam màu mà tôi đang cần, bảo tôi: Màu mới mua, nhờ ông làm thử! Tôi mừng run lên. Với một trăm gam màu làm thử đó, tôi làm xong lô hàng con ếch theo đúng hợp đồng. Một chuyện khác: Người ta nhập một lô hàng màu xanh về để làm gạch bông, nhưng họ nhập lộn, không xài được. Thế là họ bán cho tôi với giá rẻ như cho. Không may là gì? May quá trời!”.

    “Tôi muốn có lò nung đốt bằng gas, bằng điện từ lâu rồi, nhưng mua lò ở đâu? Xưa nay Việt Nam ta chỉ đốt lò bằng than, bằng củi. Nhưng lò loại đó thì chỉ có thể làm đồ sành chứ không thể làm sứ cao cấp với hiệu quả cao. Tôi qua Đài Loan, mình còn nghèo mà phải cắn răng trọ ở khách sạn năm sao. Ở khách sạn năm sao thì người ta mới tìm đến mình! Tôi tranh thủ vào thư viện tìm đọc các loại sách viết về lò nung đồ sứ. Một rừng sách, biết sách nào mà đọc! May mắn làm sao, một nhân viên thư viện nhiệt tình giúp tôi. Tôi tìm được loại lò cần mua, từ khách sạn năm sao tôi gửi một bản yêu cầu qua máy fax. Thế là ông chủ bán lò đích thân tìm gặp tôi, đáp ứng mọi nhu cầu của tôi. Mua lò về lắp đặt rồi chạy thử ngon lành thì đến chuyện không có gas. Lấy gì đốt lò? Những năm ấy người ta mới nhập gas về để bơm hộp quẹt (bật lửa), chưa có gas nấu bếp, gas công nghiệp như hiện nay. Tôi phải mua vét từng chai gas bơm hộp quẹt về đốt lò nung sứ! Thành công mỹ mãn. Chén, tô, đĩa và bộ đồ trà bằng sứ cao cấp do Minh Long sản xuất, xuất khẩu gây tiếng vang lớn. Kim ngạch xuất khẩu của Minh Long thuộc loại hàng đầu trong các doanh nghiệp làm đồ sứ gia dụng của Việt Nam. Năm 2001, tôi xuất được hơn tám triệu đôla Mỹ. Năm 2002 vượt trên con số đó. Chín mươi tám phần trăm sản phẩm Minh Long bán ở nước ngoài. Nhiều năm liền tôi được thưởng về xuất khẩu. Nhưng tôi không thể bỏ trống mãi thị trường trong nước. Ước mơ từ năm mười ba tuổi của tôi: Người Việt mình phải có chén ăn cơm đẹp hơn chén nhập của nước ngoài luôn luôn ám ảnh tôi. Từ năm 1997, tôi tăng dần tỷ trọng hàng hóa bán trong nước, từ hai phần trăm đến nay gần mười lăm phần trăm. Sứ cao cấp, nhưng tôi bán với giá nội địa, vì thế mà làm không kịp bán! Sau khi nhập lò nung số 1, đến lò số 2 thì tôi không nhập nữa. Tôi tự chế tạo lò. Sản xuất càng phát triển, tôi càng tìm cách nâng cao chất lượng. Đồ sứ Minh Long 1 bán trên thị trường Bắc Âu được đánh giá rất cao…”.

    Ông chủ Minh Long 1 giới thiệu với tôi lô sản phẩm đang xuất sang Bắc Âu. Những món đồ sứ tuyệt đẹp, kiểu dáng, màu sắc mang đậm bản sắc đặc trưng của các nước Bắc Âu; gõ vào nó, cái thì ngân nga như chuông, cái thì như pha lê. Tôi hỏi ông về việc đưa sản phẩm vô thị trường Hoa Kỳ. Ông đáp: “Tôi không nghĩ Minh Long 1 khó vào thị trường Hoa Kỳ. Tôi vững tin về chất lượng, mẫu mã. Vấn đề là thương hiệu. Nếu tôi vô thị trường Mỹ, tôi phải có thương hiệu đàng hoàng chứ không phải xuất qua trung gian, không phải no name!”.

    Chiếc thuyền buồm ở trên đỉnh buồm có vương miện đang vượt đại dương là logo của Minh Long, đã và đang tỏa sáng trên khắp thế giới.

    Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2003.

    In trên Báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 8 tháng 2 năm 2003.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Lấp lánh tình đời. Truyện, Ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,605

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/