Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập45,851,539

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Một làng biên giới/ Từng khối bên nhau/ Mẹ bồng con

Võ Phiến

  • Thứ sáu, 09:21 Ngày 03/04/2020
  • Một làng biên giới

    Ngoại ô tỉnh lỵ Mộc Hóa có con kinh Cá Rô, có ấp Cá Rô v.v… Những chiếc “tắc ráng”, những xẽo Rô, xẽo Rồ v.v…, những cái ấy ngộ nghĩnh ư? - Bất quá đấy chỉ là những danh từ lạ tai. Trong đời sống ở đây, có những sự việc tự nó ngộ nghĩnh hơn nhiều.

    Chẳng hạn đang đi trên những bờ ruộng ngoằn ngoèo, một người bạn ở địa phương hất mặt lên, bảo:

    - Chợ đấy.

    - Đâu?

    - Đấy. Trước mặt. Chợ trời biên giới, trước kia thường họp. Từ ngày ta hành quân sang Campuchia, dân bên họ lùi xa vào nội địa, không thấy sang mua bán nữa…

    Dù có giải thích, sự việc vẫn khó hiểu. Chỗ đồng cỏ khô khất này, không quán xá, không một dấu vết lều trại này mà là chợ? Chợ búa, sao mà kỳ cục!

    Lại chẳng hạn câu chuyện về xã Th. T.

    Xế chiều đến xã. Trụ sở xã như một pháo đài. Văn phòng nằm trong ba vòng rào dây kẽm gai, có hào, có thành bao bọc. Lưỡng lự một lúc trước cảnh vắng vẻ, tôi tiến bước qua vòng rào thứ nhất. Chợt, có tiếng gọi ở phía sau: “Kìa! Lính hỏi”. Ngẩng đầu lên, quay nhìn quanh quất: quả nhiên từ trên một bờ thành ở xa tít trong kia, một người nghĩa quân vừa đứng lên sừng sững, hỏi vọng lại: “Có việc gì?” - “Ông xã trưởng có trong đó không?” - “Không” - “Cô C., thông tin, có không?” - “Không!” Chúng tôi quay trở ra. Đi được một quãng, lấy làm tiếc đã không có dịp lọt vào thăm cái nơi thâm nghiêm tức là văn phòng xã nọ. Quay đầu lại xem, thì người nghĩa quân đã biến mất vào trong lô cốt ở một góc thành.

    Tiếc là phải: năm năm trước, tại cái trụ sở xã này đã xảy ra một biến cố. Hồi ấy, năm 1966, vào lúc tình thế hỗn loạn nhất, lực lượng địch từ đất Campuchia tràn qua, mà lực lượng ta thì không dám rời khỏi tỉnh lỵ. Từ lâu, xã đã nghe sự đe dọa đè nặng trên đầu.

    Một buổi chiều, tình báo đem về tin dữ: cán bộ xã cho vợ con bỏ nhà, tản mác đi lánh ở các gia đình thường dân. Còn 45 dân vệ và năm cán bộ, kể cả xã trưởng, cùng tử thủ trong trụ sở với những khẩu M1 cũ kỹ và 700 quả lựu đạn.

    Từ hai giờ rưỡi cho đến sáu giờ sáng, hai tiểu đoàn 504 và 262 của cộng quân tấn công với AK, với súng cối, với B40…

    Bảy giờ sáng, biệt động quân từ Mộc Hóa kéo đến thì địch đã rút. Chung quanh các vòng rào không còn cái xác nào, địch đã có thì giờ khiêng đi hết. Chỉ còn lại máu, óc, ruột gan, bầy nhầy, và rất nhiều. Trong trận ấy, địch mất chừng 170 quân. Và từ đó xã Th. T hết bị quấy rối, uy hiếp.

    Người nghe không khỏi bày tỏ cảm tưởng ngạc nhiên:

    - Các ông gan và giỏi quá.

    Ông xã trưởng nhũn nhặn:

    - Chúng tôi nhờ có mấy vòng rào và nhiều lựu đạn.

    - Dù sao, không phải xã nào cũng có những dân vệ như thế.

    - Chúng tôi là cựu quân nhân.

    Hỏi ra thì tất cả dân xã Th. T. là một đơn vị của lữ đoàn phòng vệ phủ tổng thống được cho giải ngũ đưa về đây khai phá đất đai làm ăn từ 1958.

    Khi những người lính nọ và gia đình họ đến đây thì bốn bề cỏ cao ngang ngực. Họ chặt cây làm nhà, phát cỏ làm ruộng. Phát cỏ, phơi khô, vun đống và đốt. Và khói tỏa lên lặng lờ ở chân trời biên thùy…

    - Một đơn vị… một tiểu đoàn: thế thì xã này đâu có đông dân?

    Ông xã trưởng:

    - Vâng. Cho đến nay, toàn xã chưa đến tám trăm đầu người, kể cả nam phụ lão ấu. Một số đã bỏ xã đi làm ăn xa.

    Tám trăm nhân khẩu trấn giữ một ranh giới nguy hiểm trong thời chiến: quả là ít ỏi, bơ vơ.

    Những ngày gần đây, báo chí vừa loan tin thân phụ của đức tổng giám mục địa phận Nairobi ở xứ Kénya vừa qua đời, thọ 95 tuổi, để lại 50 bà vợ, 215 người con, 1.260 người cháu. Tất cả gia đình ấy hơn nghìn rưởi người: gấp đôi dân số xã Th. T. của chúng ta. Chuyện ngộ nghĩnh chứ.

    Cũng mùa xuân ấy, chiều 23 tháng 2 dương lịch, có tin loan rằng trung tướng Trí vừa tử nạn phi cơ ở Tây Ninh, trên lằn ranh giới Việt - Miên.

    Cùng lúc ấy, lại có tin nữa loan rằng ngày 21 tháng 2, tiểu đoàn biệt động quân của ông bị bao vây tại căn cứ L. Z. Rangers, và đại tá Hiệp khóc ròng ở bên này biên giới Việt - Lào.

    Ôi, những miền ranh giới của đất nước!

    9-1971

    Từng khối bên nhau

    Chợ Lớn là một hiện tượng đặc biệt của miền Nam. Ngoài Trung ngoài Bắc, ở những phần đất của ta tiếp cận với Trung Hoa, không có nơi nào mà sự hiện diện của người Tàu đạt đến mức quan trọng ấy: chia nửa thủ đô ta.

    Sự hiện diện ấy không phải chỉ dàn ra ở bề mặt, ở chỗ thị tứ mà thôi. Người Tàu ở Nam Việt Nam tỏa sâu về các tỉnh, về quê: “dưới sông cá chốt, trên bờ Triều châu”. Đông đảo và khắp cùng, đâu đâu cũng có họ.

    Ấy là cái rộng rãi trong không gian. Nói về cái dài lâu trong thời gian thì người Tàu đã có mặt gần một lượt với chúng ta từ buổi đầu, đã dự phần khai phá miền Nam này. Mạc Cửu, Dương Ngạn Địch v.v…, họ chia nhau với chúa Nguyễn cái công mở nước cho ta.

    Sự có mặt người Tàu trong quá khứ đưa tới một kết quả: ảnh hưởng văn hóa của họ rất sâu đậm. Nhưng điều làm cho chúng ta lo lắng nhất là chuyện trước mắt, trong hiện tại: quyền lực kinh tế của họ thật lớn lao.

    Người Tàu là cả một vấn đề của miền Nam, và chỉ của miền Nam thôi. Ở Trung Bắc không có chuyện trầm trọng đó.

    ***

    Ở miền Nam, người Miên cũng là một vấn đề nữa.

    Cà Mau, Sóc Trăng, Sa Đéc, Ba Thắc, Cần Giờ, Cái Tắc, Trà Cú, Nha Mân, Trà Luộc v.v… một số địa danh từ tỉnh thôn ấp, từ sông lớn đến rạch con, từ chỗ thị trấn đến hòn cù lao v.v… vốn do người Việt lưu lại. Vết tích ấy có thể không quan hệ, vì không phải là đặc điểm của miền Nam: những Lào Kay, Móng Cáy, Pleiku, Kontum v.v… ngoài Bắc ngoài Trung, cha ông chúng ta cũng không đặt ra mà chỉ phiên âm ra thôi.

    Ngót trăm rưởi ngôi chùa Miên ở một tỉnh Vĩnh Bình có thể cũng không quan hệ nữa chăng? Chùa Miên ở đây không coi như tháp Chàm ngoài Trung được sao?

    - Cái rắc rối là không thể coi như vậy được. Ngoài kia, tháp là cổ tích; trong này, chùa vẫn sống động. Chùa qui tụ tín đồ đông đảo, giữ vai trò của nó trong sinh hoạt xã hội hiện tại. Ngót một triệu người Miên chia nửa dân số ở một vài tỉnh Hậu Giang, chiếm tuyệt đại đa số ở một số quận, cái tập thể ấy vẫn giữ nếp sống riêng của họ, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn tự ngôn ngữ của họ.

    Món cà-ri, tô bún nước lèo, cái khăn quấn đầu, chiếc cà-ràng trên bếp v.v… đã được người Việt chấp nhận. Ảnh hưởng văn hóa Miên đã len lỏi vào nếp sống chúng ta ở miền Nam từ lâu, nhưng sự hiện diện của người Miên lâu lâu vẫn làm ngỡ ngàng chúng ta bằng những biến cố như các vụ “thổ dậy” trong thời kháng chiến, vụ đòi “quyền thiểu số” mới đây… Bởi vì họ vẫn hiện diện riêng biệt.

    ***

    So với mười bảy triệu dân miền Nam thì họ là thiểu số thật. Người Miên: thiểu số; người Hoa: cũng thiểu số nữa.

    Tuy vậy các đám thiểu số này không giống trường hợp người Mán, người Mường… ở Bắc, hay người Ra-đê, người Ba-na… ở Trung. Các sắc dân Mán, Mường, Ra-đê, Ba-na… chỉ có “nơi này làm quê hương”, cũng như chúng ta vậy. Còn người Miên người Hoa thì có khác.

    Người Miên, tổ tiên của họ đã có một thời dựng nên kỳ quan Đế Thiên Đế Thích; người Tàu, ai cũng biết quá khứ của họ còn huy hoàng gấp mấy. Trong lịch sử, cả hai, họ dựa lưng vào những nền văn minh rực rỡ. Và trong hiện tại, họ dựa lưng vào những quốc gia độc lập. Người Miên sống bên cạnh chúng ta nhưng đã chắc đâu không xúc động về những tin Sihanouk bị lật đổ, những tin chiến sự quanh Nam Vang? Người Tàu thì dù sống ở đâu chắc chắn cũng cứ xúc động hoặc về các thành công về vũ khí nguyên tử của Trung Cộng, hoặc về sự rắc rối bang giao giữa Hoa Kỳ với Đài Loan.

    Nói người Miên, người Tàu, là cách nói quen miệng theo ngôn ngữ thông dụng hàng ngày. Kẻ phát ngôn có ý thức, đúng phép tắc, thì phải nói là người Việt gốc Miên và người Việt gốc Hoa. Cái ý thức nọ muốn hòa đồng các khối người kia làm một vào dân tộc ta.

    Trên pháp lý đã có sự hòa đồng ấy. Nhưng trên thực tế, những tập thể cùng “gốc” vẫn có nếp sống riêng, tâm tư riêng, quyền lợi riêng, nguyện vọng riêng… Như vậy không phải là lỗi ở chúng ta: Có quốc gia nào trên thế giới mà hòa đồng trọn vẹn, mà “tiêu hóa” nổi những tập thể người Tàu chẳng hạn? Hoặc đông đảo như ở Mã Lai, hoặc bị hạn chế như tại Hoa Kỳ, Anh v.v…, người Tàu ở đâu cũng tồn tại như một xã hội riêng biệt.

    Cũng như thế, họ sẽ tồn tại và phát triển ở xứ ta.

    ***

    Nói đến nếp sống riêng, tâm tư riêng… miền Nam không phải chỉ có những khối chủng tộc. Còn có những khối tôn giáo nữa. Nếp sống riêng ở đây là nếp sống tinh thần.

    - Thì ở ngoài Bắc ngoài Trung cũng có Phật giáo, Công giáo vậy.

    - Nhưng một là trong Nam có nhiều tôn giáo hơn: ngoài các khối Phật giáo, Công giáo, còn có những khối Hòa Hảo, Cao Đài, mỗi khối qui tụ vài triệu tín đồ; hai là - theo cách nói của một học giả miền Nam, ông Hồ Hữu Tường - “quần chúng trong Nam là một khối quần chúng đượm nồng ảnh hưởng tôn giáo” (Tạp chí Liên minh, số 3): trong Nam tôn giáo có địa vị cực quan trọng trong đời sống của quần chúng.

    - Như vậy đâu có nghĩa là phải có mâu thuẫn giữa các khối ấy?

    - Đâu có cái nghĩa bất lợi ấy? Chỉ có điều tất nhiên là những kẻ cùng thiết tha với một niềm tin tưởng chung thì muốn gần nhau hơn và không dễ chan hòa vào một cộng đồng khác tin tưởng.

    Ấy là trường hợp những dị biệt thuần túy tôn giáo. Còn khi mà hoàn cảnh đất nước khiến cho sinh hoạt tôn giáo có ý hướng chính trị hóa, thì sự thể có khác. Và đó là hoàn cảnh nước ta. Chẳng hạn trong ngôn ngữ của chính giới, tiếng Bùi Chu Phát Diệm không hẳn chỉ định một giáo khu, mà từ lâu vẫn gợi ý về một lực lượng, một cứ điểm chống Cộng trên đất Bắc. Ở trong Nam, mỗi lần xảy ra một biến cố chính trị trọng đại, mỗi khối tôn giáo thường lên tiếng xác định thái độ của mình.

    - Những thái độ lắm khi giống nhau. Mỗi khối tôn giáo không nhất thiết có một thái độ chính trị khác nhau.

    - Không nhất thiết. Bất quá sinh hoạt chính trị hóa tô đậm thêm biệt sắc của các khối tôn giáo. Thế thôi. Vả lại, ở phần này không cần phải nhấn mạnh quá nhiều vào vai trò chính trị. Tự nó, lý do chính trị đã tạo ra một khối riêng biệt bên cạnh chúng ta: tức cái “Mặt trận Giải phóng miền Nam” đó, tứcc cái “bên” thứ hai ở miền Nam được đề cập đến trong Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 đó. Chao ôi, sự tồn tại của một khối chính trị vũ trang như thế trong lòng một quốc gia…

    Như vậy, miền Nam chúng ta, miền đất mới mẻ nhất của xứ sở, chưa kịp tiến đến một thế ổn định, lại chứa đựng trong lòng thật nhiều khối: khác nhau về chủng tộc, về tôn giáo, về chính trị. Nó sẽ tiêu hóa các khối đó như thế nào? Bởi vì quốc gia nào mà chẳng hướng đến lý tưởng thuần nhất?

    ***

    Thời kỳ chúng ta có những hiện tượng trái ngược cùng xảy ra một lượt.

    Nhờ phương tiện lưu thông nhanh chóng, thế giới thu hẹp lại, xứ xứ gần nhau, biên giới quốc gia tưởng chừng mờ nhạt dần: sau thị trường chung Âu châu, người ta nghĩ đến một siêu quốc gia Âu châu… Nhưng đồng thời với xu hướng liên hợp, cũng lại xuất hiện xu hướng phân hóa trong lòng các quốc gia. Hồi giáo và Ấn giáo đã chia hai nước Ấn Độ, rồi lý doc hủng tộc lại chia đôi Đông Hồi với Tây Hồi. Ở Gia Nã Đại, khối tiếng Anh và khối tiếng Pháp đòi phân ly. Ở Hoa Kỳ, khối da đen da trắng. Ở Anh quốc, tôn giáo ly khai tại Ái Nhĩ Lan. Ở Bỉ, ở Nam Tư, ở Tây Ban Nha v.v… đâu đâu cũng có những manh nha đòi tự trị của từng khối người.

    Tại Pháp, những khối dân Breton, Alsacien, Basque v.v… cũng muốn tách biệt. Người Basque chẳng hạn đòi thành lập một quốc gia riêng, có quốc ca (Gorodi), có Quốc ngữ (Gora Euzkadi Askatuta: Tổ quốc Basque muôn năm!) Đề tựa cuốn Le procès de Burgos của Gisèle Halini nói về vụ “tổ quốc Basque” này, Jean-Paul Sartre co rằng đó không phải là chuyện ngẫu nhiên mà là kết quả của một tình trạng mới. Trước kia, tại nhiều nơi, sự thống nhất quốc gia đã được thực hiện với ít nhiều cưỡng bách, đẹ dọa: nếu các nhóm dân không cấp tốc kết tập làm một, nước sẽ yếu, sẽ bị lâm bang xâm chiếm. Bây giờ, vũ khí nguyên tử và sự liên hệ quốc tế chặt chẽ không cho phép nước này chiếm nước nọ dễ dàng. Hết bị đe dọa, các khối ly tán.

    Riêng về điều ấy, chúng ta không lo. Gì chứ đe dọa thì miền Nam chưa hết. Tuy nhiên, sự kết tập vẫn bất ổn thế nào…

    - Chính vì đã quen thích nghi với một tình thế như vậy mà lần này ta có thể chịu đựng nổi cuộc thử thách mới chăng?

    2-1973

    Phần bốn

    Mẹ bồng con

    Cách Đà Lạt chừng mười cây số có một trường tiểu học năm lớp. Bốn người trong số năm giáo viên thuộc nữ phái; và trong bố cô giáo, ba cô là người Thượng.

    Không biết chừng bao lâu nữa thì phụ nữ Thượng có người làm xã trưởng, quận trưởng v.v… Dầu sao cuộc tranh đấu cho nữ quyền, nếu có, tại xã hội người Thượng đã diễn ra êm thắm hơn ở xã hội người Kinh chúng ta mấy mươi năm trước: không có diễn thuyết ồn ào, không tốn giấy mực biện luận…

    Nhưng điều làm cho tôi chú ý hôm ấy không phải là chuyện nữ quyền cao xa, mà là một chú bé chín tháng đang khóc oe oe trên lưng một cô giáo. Chú bé thật dễ thương, được mẹ địu trong tấm vải trắng sạch sẽ. Chú bé cũng ngoan: mẹ vuốt ve dỗ dành một tí là nín ngay, là lại yên lặng ngồi trong địu, bằng lòng giải trí một mình với ngón tay cái ngậm trong miệng…

    Một cô giáo ngày hai buổi đều đều cõng con len lỏi giữa hai dãy bàn học trò hay đứng trước bảng đen giảng bài, đó là một hình ảnh lạ mắt đối với chúng ta từ miền xuôi đến. Lạ mắt, và ngộ nghĩnh.

    Nhưng một vị thanh tra quen nề nếp sinh hoạt giảng dạy ở các trường Sài Gòn, Gia Định, Long Xuyên, Cần Thơ v.v… chẳng hạn, nếu một vị thanh tra như thế được đổi lên đây, một hôm đến trường hợp chú bé vật vã khóc thét lên và làm xấu trên lưng cô giáo giữa bài chính tả thi lục cá nguyệt, hay giữa bài vệ sinh đang giảng ngon trớn v.v… không biết vị thanh tra phản ứng ra sao.

    Thiết tưởng một vẻ khó chịu trên nét mặt của ông sẽ đặt cô giáo trước một tình trạng rất khó xử. Vì đó không phải là sự bất bình đối với một cá nhân, mà là sự phản đối trước nếp sống của một xã hội: Trong xã hội hầu hết các sắc dân thiểu số ở thượng du, người ta vẫn địu con đi ra suối lấy nước, đi xuống khe bắt cá, đi vào rừng làm rẫy v.v…, người ta vẫn địu con theo bên mình trong khi đi làm mọi công việc khắp nơi; tại sao cô giáo lại không địu con vào lớp dạy học?

    ***

    Chúng ta vừa nói đến một hình ảnh lạ mắt trong lớp học. Thật ra, riêng về cách bồng con, người đàn bà Việt Nam là cả một sự lạ mắt giữa các giống dân ở miền bán đảo nầy. Không sao? Gần như bao nhiêu sắc dân sống chung quanh ta: Rhadé, Bahnar, Sédang, Thái v.v… đều mang con sau lưng. Người Trung Hoa - bậc thầy từ lâu đời của nhiều dân tộc Á Đông - cũng mang con sau lưng. Thế mà riêng người Việt chúng ta cứ ngang bướng làm theo ý mình, từ nghìn xưa đến giờ không thay đổi: bồng con ngang hông. (Nghe nói người Mường, người anh em của chúng ta, trừ một vài nhóm địa phương, cũng bồng con theo kiểu người Kinh).

    Sống giữa các dân tộc khác, chúng ta từng mượn của họ chữ viết, mượn nhiều tiếng nói, học cách canh tác của họ, cách ăn mặc của họ v.v… nhưng về cách bồng con thì chúng ta phớt đều: ai làm kiểu nào mặc họ, ta giữ kiểu ta. Chẳng những thế, thỉnh thoảng ta còn trao cho người Tàu một dáng điệu của ta:

    “Duyên em dầu nối chỉ hồng,

    May ra khi đã tay bồng tay mang”.

    Ấy là hình ảnh một cô Thúy Vân nào đó đồng hương với cụ Nguyễn Du, chứ con gái ông viên ngoại bên Tàu đâu có bận bịu gì đến tay nọ tay kia, dù phải mang con cái?

    Chỗ sở trường của lối địu con người Tàu và người Thượng du, là nó để hai tay được hoàn toàn rảnh rang. Như thế, mọt người có thể giữ đứa bé bên mình rất lâu không bị mỏi tay, và có thể vừa mang con vừa làm việc.

    Lối của chúng ta thì trái lại. Tục ngữ chúng ta có câu: “Bồng con khỏi xay lúa, xay lúa khỏi bồng con”. Bồng con là một công việc, không thể kiêm nhiệm.

    Như vậy, người đàn bà Việt Nam hoặc không quyến luyến con cái, hoặc không đảm đang bằng những người đàn bà thuộc các dân tộc chung quanh chăng?

    ***

    Không một ai trong chúng ta chịu ngừng lại ở một cảm tưởng như thế. Và một hôm đến chơi một ấp Thượng ở Kiến Đức (tỉnh Quảng Đức), gần quốc lộ 14, vào khoảng mười giờ trưa, tôi có dịp nhận ra rằng không nừng lại, đó không phải là một thái độ chủ quan, hoàn toàn dựa vào tình cảm.

    Ấp Bu-ksơ vào giữa ấy vắng vẻ lạ thường: vài con gà thơ thẩn trên mái nhà, gió thổi làm tốc xòe lòng đuôi; nhiều đàn gà khác kiếm ăn trong nhà, dạo chơi trên những tấm sạp vốn là chỗ nghỉ ngơi cho người vào ban đêm; trong nhà thì bếp lạnh tro tàn; ngoài sân hoang vắng trống trải, còn trở mấy bãi phân voi… Thật ra bên cạnh đó cũng có vài đứa bé chơi đùa, và trong một vài ngôi nhà cũng có một cô gái ngồi duỗi chân dệt vải. Nhưng quả là ở dưới trung du, dù vào ngày mùa ai nấy phải đổ ra đồng làm lụng, cũng ít khi gặp một cảnh xóm làng vắng vẻ như thế.

    Không phải hôm ấy tôi rơi vào một trường hợp đặc biệt. Nhiều anh em cán bộ chính quyền ở địa phương thường than rằng đi công tác tại các ấp Thượng là cả một sự vất vả. Phải dậy sớm, đi nhanh, đến ấp thật sớm; nếu không thì chẳng tiếp xúc được với dân làng, vì họ kéo nhau đi rẫy hết, bỏ ấp vắng tanh. (Vâng, chiều họ lại về; nhưng bấy giờ còn đủ thì giờ đâu mà hội họp nữa? Trừ khi điều kiện an ninh cho phép ta ở lại ngủ đêm với họ).

    Quang cảnh ở một ấp Thượng náo nhiệt nhất là vào khoảng bốn năm giờ chiều. Người và voi từ rẫy về. Kẻ hái được mớ rau, mớ bầu bí, mớ bắp v.v… thì soạn hoa quả từ trong gùi ra, gia đình tíu tít. Người săn bắn được con cheo, con nai v.v… thì tính chuyện bán buôn. Rồi bếp được nổi lửa thổi cơm, khói xanh tỏa lên, gà vịt rộn ràng, trẻ con chí chóe v.v… Sau đó ánh nắng tắt, sương mù buông xuống, khói núi mờ mịt, màn đêm kéo đến, sinh hoạt lịm đi nhanh chóng.

    Trong một nếp sống hàng ngày như thế, mẹ không địu con bên mình sao được? Đi rẫy không phải một giờ một buổi, mà là đi suốt ngày, cho nên không thể bỏ con lại nhà. Vả lại gần như cả nhà cùng đi rẫy, bỏ con lại thì ai trông nom?

    ***

    Bảo rằng lề lối làm ăn sinh sống giải thích tất cả cách thức ẵm bồng con cái thì là liều lĩnh quá. Tuy nhiên, cứ xem cái kiểu nách con ngang hông với một tay luôn luôn kẹp vào sườn nó, ta không thể nào tưởng tượng người đàn bà Việt Nam dưới Kinh từng trải qua nếp sinh hoạt của người đàn bà Thượng. Người đàn bà Kinh không thể mang con theo trong lúc làm việc. Tổ chức gia đình, lề lối sinh sống không bắt buộc họ phải làm như thế; nếu bị bắt buộc, họ đã nghĩ ra cách mang con kiểu khác.

    Hiện thời giống người Tasaday bên Phi Luật Tân mỗi ngày chỉ phải rời hang động có ba giờ đồng hồ là đã tìm kiếm đủ thức ăn. Tổ tiên chúng ta xưa kia cũng may mắn gặp cảnh an nhàn như thế chăng? Nhàn hơn cả tổ tiên các ông Lão Tử, Trang Tử, Bạch Thư Hương, Tô Đông Pha, Đào Uyên Minh v.v…? Dám lắm chứ, sao không? Chúng ta không có nhiều sách triết lý, nhiều thơ phú ca tụng chữ nhàn bằng họ, nhưng chúng ta có lối nách con: Hùng hồn bằng mấy chứ lại.

    Ngay từ cổ thời (từ thời chưa tách biệt với người Mường), chúng ta đã miễn công tác cho người chăm sóc trẻ con. Người ấy là bà mẹ, cũng có thể là ông nội, bà nội, là ông bác, bà cô già v.v… Chúng ta sắp xếp lối sống trong gia đình cách nào mà luôn luôn có hạng được nghỉ ngơi, ở nhà trông coi vườn tược con cái, trong lúc hạng trai tráng khỏe mạnh ra đồng làm việc. Chúng ta không huy động toàn bộ gia đình vào công việc kiếm ăn bên ngoài, đến nỗi xóm làng vắng vẻ, nhà cửa trống trơ…

    ***

    Cô giáo Thượng địu con vào lớp, là vì cơ cấu xã hội, là vì tổ chức gia đình bắt cô phải thế. Bỏ con lại nhà, cô bỏ nó cho ai? Cô buộc ai ngưng công việc ngoài rẫy? Cô làm xáo trộn nề nếp sinh hoạt của tập thể đến thế sao? Cô muốn làm “cách mạng” sao chớ?

    Cô đi dạy? Cô có địa vị? - Đồng ý. Chuyện nam nữ bình quyền, chuyện phụ nữ chức nghiệp v.v… coi vậy mà không quan trọng. Miễn cô cứ tiếp tục địu con trên lưng.

    11-1972

    Nguồn: Đất nước quê hương. Tùy bút của Võ Phiến. Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn, 1973. Bản điện tử của www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập45,851,540

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/