Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,678,556

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Mùa biển động

Nguyễn Mộng Giác

  • Thứ hai, 16:04 Ngày 12/04/2021
  • Mùa biển động

    Tiếng máy bay trực thăng võ trang bay hơi xa, mọi người hoàn hồn, bắt đầu tìm một chỗ an toàn để núp. Cái divan mặt đá được chọn! Nhưng thấp quá, muốn chui vào phải nằm ngửa trên nền nhà, xê dịch từng chút mới được. Bà Bỗng và Diễm nhỏ người, núp dưới cái divan thuận lợi hơn. Hai người đàn ông thì khiêng chiếc bàn học đặt sát vào góc tường, lấy những tấm nệm của bộ xa lông chất lên trên làm thành cái hầm nổi. Bà Bỗng, với kiến thúc quân sự tối thiểu, cũng biết là mình được an toàn hơn chồng và con trai, nên từ dưới gầm divan cứ cố nói vọng ra:

    - Nhớ nấp cho kỹ nghe Ngọc! "Nó" lại sắp bay quần trở lại đấy. Nhớ...

    Tiếng nổ lớn rung chuyển cả ngôi nhà cắt đứt những lời dặn dò. Bụi, bồ hóng lưu cửu từ bao đời rơi xuống. Tiếng ho sặc sụa chen lẫn những tiếng khóc. Bên ngoài, nhiều loạt súng phòng không và súng AK bắn lên. Dường như chen lẫn vào những tiếng nổ lớn nhỏ có cả những lời kêu cứu chới với, lạc lõng.

    Đợt Oanh tạc đầu tạm ngưng, thì độ 15 phút sau, tiếp thêm một đợt oanh tạc khác. Vì vậy, mãi nửa giờ sau khi trên không không còn tiếng máy bay, mọi người mới dám bò ra khỏi chỗ núp. Sự tò mò đẩy hé những tấm cửa vốn đóng kín. Rồi nhà này bắt chước nhà kia, người ta lấy bạo bước ra khỏi khung cửa. Cảnh đổ nát trước mắt, những căn nhà cháy đang ngùn ngụt lửa khói khiến cho nỗi lo sợ thêm tăng. Đám bộ đội đóng trong khu hỏa xa mải lo chấn chỉnh lại các ổ chiến đấu và phòng không. Rồi không ai bảo ai, không thể biết ai trước ai sau, ai khởi xướng và ai bắt chước, dân cả khu hỏa xa ùn ùn kéo nhau bỏ đi. Một số chạy lên phía Nam giao. Một số khác, có gia đình ông Bỗng, chạy về phía trường Luật. Vì Sao chạy về phía này hay phía nọ, không ai hiểu? Họ không hề nghĩ nơi đến là chỗ an toàn. Họ chỉ biết chắc một điều: là chỗ cũ không còn an toàn nữa.

    Cả gia đình dắt díu nhau chạy qua chiếc cầu xi măng bắc qua con sông đào, ông Bỗng chạy trước lâu lâu dừng lại quát tháo vợ con vì họ chạy chậm quá. Không chậm sao được, người nào cũng ôm xách đủ thứ "của cải tài sản". Ông Bỗng la lớn:

    - Trời ơi là trời! Chết tới nơi rồi mà còn tiếc của. Không chạy mau trực thăng trở lại thì chết cả lũ!

    Bà Bỗng không nói gì, chỉ khóc thút thít. Diễm cũng khóc. Ngọc vác lên vai cái thùng giấy nặng không biết bên trong gồm những gì, mạ bảo vác thì vác. Thế thôi!

    Họ chạy đến trường Luật thì khựng lại. Phía trước mặt, bên kia đường là một dãy những công ốc đầy nhóc bộ đội, du kích, cán bộ, người nào cũng lăm lăm súng ống. Phía sau nhiều gia đình chạy lánh nạn đổ tới. Tiến thoái lưỡng nan. Cuối cùng, cũng không hiểu do ai khởi xướng, mọi người ùa vào trường Luật ở ngay góc đường. Toán bộ đội canh gác ở cái công viên hình tam giác nhỏ nhất thế giới bên trái trường Luật tờ mờ nhìn những người tản cư, để mặc họ làm gì thì làm.

    Ông Bỗng chạy khắp các nơi trong khuôn viên trường để tìm một chỗ trú ẩn an toàn nhất. Vì cầu toàn, ông không tìm được chỗ nào vừa ý, cho tới lúc người nào đó tìm ra chỗ lý tưởng: tầng hầm bên dưới trường Luật.

    Tòa nhà này được xây cất từ thời Pháp thuộc, và cóp y lối kiến trúc nhà cửa ở Âu châu, nên bên dưới nền tầng trệt, có một tầng hầm nữa dùng để làm nhà kho chứa rượu, thực phẩm, đồ cũ, dụng cụ làm vườn. Căn hầm ẩm thấp nên ban điều hành trường Luật chỉ vất vào đấy những bàn ghế vật dụng phế thải, không ai chăm nom ngó ngàng tới. Lá khô, giấy cũ, rác rưới từ trên mặt đất bị gió lùa qua các cửa tò vò thông hơi bay vào hầm, trải một lớp héo úa lên mặt nền.

    Ông Bỗng đưa gia đình vào tầng hầm sau nhiều người, nhưng ông là người đầu tiên thấy được "chỗ lý tưởng". Trong khi những người khác tụm năm tụm ba ngồi với nhau than thở, kể lể, hoặc ngồi riêng một chỗ im lặng thất thần, thì ông nhận ra ngay được một điều quan trọng: căn hầm thiếu không khí, thiếu ánh sáng. Phải chiếm cho được chỗ ở ngay cửa tò vò thông hơi. Ông xô bà Bỗng và Diễm đến chỗ "đắc địa", bắt Ngọc đặt cái thùng giấy xuống ngay để "xí chỗ", và tự tay nhặt hết rác rưới cho sạch một diện tích khoảng ba thước chiều ngang ba thước chiều dài để mặc nhiên vạch "vùng đã có chủ". Những điều ông Bỗng làm lôi những người khác trở về thực tế. Họ tỉnh mộng hơi chậm. Trong những người chậm chân, cũng có người chậm ít, người chậm nhiều, người buông xuôi để mặc tới đâu hay đó. Cảnh tranh sống gây một vài va chạm, cãi vã, đôi co, nhưng trật tự tương đối cũng phải tới. Các gia đình dùng đồ đạc của mình cắm mốc đánh dấu "đất sở hữu", bắt đầu dọn dẹp vệ sinh. Một cô bé vô tâm bật diêm đốt mớ rác ngay trong hầm, làm khói tràn ngập. Nhiều tiếng la hét, chửi rủa. Và người ta bắt đầu ý thức được rằng không khí không còn là món quà miễn phí của Trời như trước nữa.

    Kỳ diệu thay, khả năng thích ứng với hoàn cảnh một cách tự nhiên và mau chóng của những người mẹ! Bà Bỗng để mặc cho chồng biểu lộ tính tháo vát và uy quyền, chịu khó chờ cho tới lúc ông không còn gì để huênh hoang nữa, mới kín đáo gỡ nắp cái thùng giấy lên, trỏ vào trong hỏi nhỏ ông Bỗng:

    - Liệu chừng này gạo có đủ không, mình?

    Ông Bỗng giật mình, nhìn vợ đăm đăm, tuy không nói ra, nhưng thán phục vợ hơn tất cả mọi sự. Nghĩ lại, ông thấy mình hết sức "đoảng". Lúc quyết định tản cư, ông chỉ nghĩ tới cái radio Hitachi ba băng. Ngọc nhắc nhở ông là trong tình cảnh hỗn loạn này, nằm trong vùng địch kiểm soát, mang cái radio tốt ra đường đã là một nỗi nguy hiểm. Lén nghe radio lại còn nguy hiểm hơn. Ông thấy con có lý, đành phải chạy tay không. Diễm vơ đại những của cải riêng gói vào cái mền mà chạy. Cho tới lúc này, nàng vẫn không hiểu mình đã đem theo thứ gì. Ông Bỗng cũng không hỏi, thầm cảm ơn con gái đã khôn ngoan đem theo cái mền cần thiết. Thời tiết vẫn giá rét như những ngày áp Tết, căn hầm ẩm mốc thiếu ánh sáng lại càng giá rét hơn. Cho tới lúc bà Bỗng khoe với ông những thực phẩm mang theo, gồm mấy đòn bánh tét, bánh chưng, kẹo mứt, hai đòn chả lụa, xâu nem còn lại, nửa bao gạo nhỏ, chai nước mắm... và vài thứ gói lặt vặt khác... ông mới thấy sự nhạy bén thực tiễn đáng nể của bà.

    Ông ấm ức vì kém thớ, không muốn cho vợ lên chân! Ông tìm một điều sơ sót nào đó để chê nhẹ trước khi khen ngợi vợ. Nhưng Ông tìm không ra. Ông Bỗng lí nhí:

    - Mình... mình thật là...

    rồi tắt tị. Bà Bỗng cười thú vị, nụ cười thật sự thoải mái của cả đời làm vợ làm mẹ.

    Nụ cười hiếm hoi ấy tắt ngay, khi ông Bỗng hỏi:

    - Lấy gì để nấu cơm đây?

    Bà Bỗng tái mặt! Phải! Bà quên mất chuyện phải có son chảo để nấu ăn. Mặt ông Bỗng đanh lại. Ngọc thấy mẹ hớt hải như sắp nhận tai họa, vội bảo cha:

    - Mình còn nhiều bánh chưng bánh tét. Chắc chỉ núp ở đây vài ngày, rồi tình hình ngã ngũ, cũng về thôi!

    Ông Bỗng nghe con nói cũng có lý, nhưng vẫn lắc đầu tỏ ra ngao ngán, bảo vợ:

    - Bà... bà thật là...

    Bà Bỗng hiểu, cúi mặt xuống đầu gối thút thít khóc. Diễm lo cho phần mình, cố tìm thế ngồi để che cái mền nàng mang theo. Nàng không nhớ đã mang theo những gì trong cảnh vội vã hấp tấp. Nàng chỉ sợ cha có thêm cớ để gắt ầm lên. Chỉ cần quan sát lối nhìn của những người cùng trốn với gia đình trong căn hầm trường Luật, Diễm cũng đủ thấy ông Bỗng không được thiện cảm của mọi người.

    Khoảng 5 giờ chiều, có hai thanh niên mặc áo sơ mi trắng cụt tay bỏ ngoài quần bộ đội, mang dép râu bước vào hầm trường Luật. Một người cầm khẩu AK47, tóc húi cua, còn trẻ, người kia cũng trẻ tuổi nhưng nước da nâu sậm và vẻ mặt cau có, giọng nói chói tai, khiến anh ta có vẻ già dặn hơn. Anh này chỉ đeo khẩu K54 to tướng ngang hông. Họ bước vào hầm đột ngột. Mọi người im lặng, nín thở, hồi hộp chờ đợi. Tiếng một chiếc xe hơi rú ga vụt qua trên đường Lê Lợi nghe rõ mồn một. Người đeo súng lục ra lệnh cho các "chủ hộ" lần lượt đứng dậy khai "hộ" mình có bao nhiêu người, từ đâu tản cư tới đây. Không ai quen với hai tiếng "chủ hộ" nên anh ta nói xong khá lâu mà vẫn chưa có ai lên tiếng. Giọng anh ta bắt đầu líu ríu vì giận:

    - Không ai có tai cả à? Ông này, gia đình mấy người?

    Người đàn ông bị chỉ mặt bật đứng dậy. Giọng đáp hơi run:

    - Thưa... thưa ông, gia đình tôi ba người.

    Nhờ đã hiểu chữ "chủ hộ", nên không đợi giục, và để cho xong việc, các chủ gia đình khác tự động đứng dậy khai rõ nhân số. Tất cả có 8 gia đình, cộng lại gần 40 người. Người mang súng lục có lẽ thỏa mãn tự ái vì được nể sợ, nên đổi giọng thân mật hơn trước:

    - Ðáng lẽ bà con cô bác không nên đến đây, cứ ở nhà vì chúng không dám cho máy bay lên thẳng bắn phá nữa đâu. Các đồng chí phòng không đã sẵn sàng. B52, Con Ma, Thần Sấm còn chẳng sợ nữa là máy bay lên thẳng. Nhưng đã lỡ tới đây thì cứ ở tạm, mai mốt nên trở về nhà. Có ai mang vũ khí vào đây không?

    Im lặng. Anh ta lại cáu kỉnh hỏi:

    - Ai lỡ giấu vũ khí, đem nộp ngay để được cách mạng khoan hồng. Lại im lặng. Ông Bỗng thấy căng thẳng quá, nói lớn:

    - Gia đình tôi không mang theo vũ khí. Chắc bà con ở đây cũng vậy. Chúng tôi chỉ chạy đi tránh đạn mà thôi!

    Người mang súng lục đăm đăm nhìn ông Bỗng một lúc, rồi hỏi Ngọc:

    - Anh này, có phải lính ngụy không?

    Bà Bỗng cướp lời Ngọc, đáp trước:

    - Không phải đâu. Con tôi học ở Sài gòn.

    Người mang súng lục có vẻ không tin, do dự một lúc, rồi nhìn quanh khắp hầm. Hầu hết những người tránh nạn đều là đàn bà, con nít. Hắn có vẻ yên tâm, trở lại giọng hòa nhã:

    - Thôi được, chúng tôi tin bà con cô bác. Có điều gì khả nghi, bà con cô bác phải báo cáo cho chúng tôi biết. Chúng tôi đóng ở ngay tầng trên, tại căn phòng sát đường. Nấu nướng gì, phải đem lên trên, và không được xông khói nhiều làm địch chú ý. Phải cử người canh gác cửa ra vào, ai muốn đi đâu phải xin phép. Bác này, có chuyện gì cần thì lên gặp chúng tôi.

    Người bộ đội trỏ ông Bỗng. Ông Bỗng nhổm dậy định từ chối, nhưng hai người bộ đội đã quay lưng. Ông Bỗng bất đắc dĩ phải đứng dậy, lúng túng nhìn quanh khắp hầm. Cùng lúc đó, ông cảm thấy người mình nóng ran vì hãnh diện. Ông đã trở nên người quan trọng. Và ông đã đóng rất giỏi vai trò quan trọng này suốt thời gian ẩn nấp dưới hầm trường Luật.

    Đêm về! Sương phủ dày bên ngoài, không khí trong căn hầm lạnh buốt trở nên ngột ngạt, đến nỗi đầu óc người nào cũng căng thẳng, quay cuồng. Không ai chợp mắt được. Ngọn đèn dầu hỏa duy nhất một gia đình chạy loạn ngẫu nhiên đem theo được đặt ở một góc hầm khuất gió. Ánh sáng mờ ảo ma trơi không lọt qua được lớp sương mỏng chập chờn từ bên ngoài mặt đất tràn xuống. Mọi người ngồi bó gối chịu đựng cái lạnh và nỗi lo âu thấp thỏm. Những đứa bé khóc thét lên từng hồi, cha mẹ chúng nổi xung chẳng những không dỗ dành còn phát thêm vào mông con. Tiếng khóc the thé làm nổi gai ốc, và từ đó, nhiều tiếng cãi qua cãi lại. Lũ trẻ ngưng khóc tò mò lắng nghe người lớn cãi vã nhau, rồi chuyển qua thút thít, lè nhè đòi về nhà. Diễm nhìn cảnh tượng trước mắt, ngao ngán tự hỏi không hiểu cảnh trí ở tầng đầu địa ngục có khác chút nào với cảnh này không. "chỗ đắc địa" bị gió từng cơn buốt da thổi vào, trở thành "tử địa". Khổ nỗi ông Bỗng phân định ranh giới rành mạch quá, căn hầm lại chật, nên khó lòng dời đi chỗ khuất gió. May nhờ tấm mền Diễm mang theo, cả nhà ngồi sát nhau, tấm mền len nhà binh cũ phủ lên cả bốn người.

    Diễm hú vía, khỏi bị cha cằn nhằn vì đã giấu kịp những thứ nàng gói giữa tấm mền. Nàng đỏ mặt xấu hổ, khi thấy trong cơn bối rối, nàng chỉ mang theo những thứ vô bổ: hộp bánh biscuit bằng thiếc đựng kim chỉ thêu, mấy thỏi son môi, cái lược, và mấy cuộn quấn tóc bằng ni lông; ba số báo xuân, một tuyển tập truyện ngắn của nhà xuất bản Nguyễn đình Vượng, phong bì mầu nâu đựng một số thư từ và giấy tờ lặt vặt Diễm vẫn giấu dưới gối. Diễm băn khoăn thầm hỏi tại sao nàng nhớ đến phong bì này. Diễm và mẹ cùng ở chung buồng, ngủ chung một giường, nàng lại bận đi học, đi thực tập ở bệnh viện hộ sinh, ít khi có nhà nên trong căn buồng hẹp ấy, không thứ gì qua mắt được bà Bỗng. Một số thư từ Diễm nhận của bạn có đề cập tới nhiều chuyện riêng Diễm không muốn mẹ biết. Cho nên khi vào nội trú, nàng đem theo, Tết về nhà, nàng giấu dưới gối để mẹ khỏi thấy. Vậy mà Diễm vẫn nhớ ra, và đem theo đến đây? Ðiều này không có chút gì hợp lý. Diễm hòan toàn không nhớ gì cả, hết sức ngỡ ngàng khi thấy cái phong bì lớn dày cộm giữa tấm mền len.

    Nàng chỉ tạm giải thích: lúc vơ cái mền đem đi, nàng đã làm lật hai cái gối lên, nhờ thế cái bì thư mới lộ ra. Nhưng lối giải thích ấy cũng không vững. Bà Bỗng quen nằm chiếu, và không chịu đựng được những chiếc mền len thật, vì những đầu lông cừu châm vào người làm cho bà cảm thấy gai gai, xót xót trên mặt da. Tấm mền đó vẫn bị xếp dưới chân chứ không đặt dưới hai cái gối. Thế là thế nào? Diễm đỏ mặt xấu hổ, thú nhận rằng trong lúc vội vàng gần kề bên nỗi nguy hiểm, nàng vẫn sợ mất những mẩu kỷ vật liên quan tới Ngữ: những lá thư Buôn mê thuột, những số báo xuân có đăng bài của Ngữ, tuyển tập có chọn in truyện "Khu vườn bên kia" của chàng. Ngữ ở đâu? Có thoát khỏi lằn tên mũi đạn không? Nhớ lại vẻ mặt hằn học hung dữ của tên bộ đội lúc chiều khi tra hỏi Ngọc, Diễm đau quặn cả lòng. Nếu anh ấy có mệnh hệ nào? Nếu... nếu... Bao nhiêu giả thiết bi đát nhất làm cho Diễm không cầm được nước mắt. Nàng giả vờ ho khi bị bà Bỗng hỏi:

    - Cái gì vậy Diễm?

    - Con bị cảm. Chắc sắp đau rồi!

    Diễm trả lời, và cố hít mũi lớn hơn để chứng minh điều vừa nói. Nhờ vậy, nàng được thút thít thoải mái hơn. Bà Bỗng luồn tay dưới tấm mền an ủi con:

    - Rán chịu cực đi con. Trời thương dân Huế mình, thế nào cũng tai qua nạn khỏi.

    Ngọc ngồi ở phía đối diện chặc lưỡi, tiếc rẻ:

    - Anh quên không mang hộp thuốc theo.

    Ông Bỗng nói nhỏ:

    - Đừng khai bác sĩ bác siếc gì cả, họ bắt đi cứu thương, thêm phiền! Ba biết họ lắm. Chẳng ưa gì người học cao đâu!

    Lần đầu tiên Diễm nghe cha nói một điều có vẻ trìu mến có suy nghĩ. Nàng nhìn cha, thầm ganh tị với anh.

    Mùa Biển Động - Chuơng 65

    Nguyễn Mộng Giác Lượt xem: 2595

    Có điều bất công là suốt mấy ngày loạn lạc, cả nhà không ai nhớ tới Ngô. Chiều Ba mươi cúng tất niên, 12 giờ khuya đốt pháo cúng giao thừa, sáng mồng Một cúng đầu năm, Ngọc thay Ngô giữ vai trưởng nam ra lạy trước bàn thờ tổ tiên. Không biết đã học và luyện tập từ lúc nào, Ngọc lạy thành thạo quá. Cách đứng thật thẳng trước bàn thờ với đôi mắt nhìn thành kính, cách chắp tay chậm rãi xá bốn lần rồi chậm rãi chống hai bàn tay lên đầu gối phải lấy thế để quì đầu gối trái xuống mặt chiếu, trước khi quì nốt chân kia và sụp xuống lạy, cách thổi nhẹ ngọn lửa trên đầu nắm hương rồi cung kính cắm vào lư, cách khoanh tay đứng bên cạnh bàn thờ, cách nghiêng nhẹ bình trà châm thêm nước cúng vào tách sứ Nhật bản... mọi động tác đều thuần thục tự nhiên, khác hẳn những động tác vụng về bất đắc dĩ của Ngô trong trường hợp tương tự.

    Ông bà Bỗng bằng lòng ra mặt, phải khen:

    - Anh Ngô mà được như con thì không đến nỗi!

    Ngọc sung sướng, đỏ mặt cảm ơn. Đó là dịp duy nhất Ngô được nhắc nhở. Diễm thích Ngô hơn Ngọc. Vì sao? Chính nàng cũng không hiểu. Nàng cảm thấy gần gũi, quen thuộc với những cẩu thả luộm thuộm trong sự sống hằng ngày của Ngô. Quen thuộc cả với những đam mê viển vông của anh. Nàng không mơ lấy được một ông chồng bất thường như vậy (Nàng do dự không dám quả quyết Ngữ giống Ngô), nhưng có một ông anh như Ngô, tốt lắm! Một ông anh phải hạ mình nhờ em gái dọn dẹp giùm căn phòng vẽ hôi hám bừa bãi, một ông anh phải đỏ mặt lí nhí vay tiền của em để lẩn tránh hẹn rày hẹn mai khi đến kỳ trả nợ! Ngọc là cái khuôn cứng không còn gì để chê, nên cũng không còn gì để bàn luận nữa. Cuộc sống trở nên phẳng lì, lặng ngắt, hiu quạnh như một tu viện, trầm buồn như tiếng cầu kinh. Diễm cảm thấy ngột ngạt khó chịu trước mặt Ngọc, nên không hề dám nói đùa hoặc bỡn cợt với anh. Nàng nghĩ ba mạ có lý do riêng để nể trọng Ngọc hơn Ngô, lý do dễ hiểu. Nhưng nàng vẫn âm thầm ấm ức cho Ngô.

    Ngô chỉ được ông Bỗng nhắc tới lúc mọi người ở trong tình trạng tuyệt vọng. Thật vậy, mấy hôm đầu chen chúc sống trong tầng hầm lạnh lẽo và tối tăm, dù không nói ra, ai cũng hy vọng tất cả chỉ là tạm bợ. Không thể nào nghĩ rằng Cộng sản chiếm được Huế lâu dài. Một thung lũng heo hút như Khe sanh vẫn đứng vững được sau bao nhiêu đợt tấn công của quân đội Bắc Việt. Điều đó ai từng đọc báo, nghe radio trước Tết đều biết. Huống chi Huế, một thành phố không có giá trị mấy về chiến lược quân sự. Cộng sản có thể bất thần xâm nhập để chiếm vài khu của Huế, nhưng liều chết giữ Huế lâu dài là dại dột. Lập luận ấy hợp lý, dễ hiểu, rõ ràng phân minh như hai với hai là bốn. Tai nạn ụp đến bất ngờ, nhưng không thể kéo dài quá một tuần. Hãy nín thở qua sông! Hãy nhẫn nhục để sống còn. Nhờ vậy, người ta lầm lì chịu đựng những thiếu thốn, những xích mích, những va chạm. Không có gia đình nào nhớ mang theo nồi niêu soong chảo, và không ai lo lắng việc này. Bánh chưng bánh tét sắm Tết đem theo còn đủ ăn được vài ngày, có thể nói là dư ăn cho đến ngày Cộng sản phải rút lui. Người lo xa lo thủ, không chia sớt cho ai. Nhưng số này ít. Ða số sẵn sàng chia sẻ phần thức ăn dự trữ của mình cho "chiếu" lân cận. Bà Bỗng, Diễm đem bánh tét đi mời một gia đình đông con chạy giặc với hai bàn tay không.

    Rồi thời gian qua mà bên ngoài không có gì sắp thay đổi. Ba ngày, bốn ngày, rồi năm ngày. Qua lỗ thông hơi có song sắt chắn, những tiếng động bên ngoài vẫn như trước. Nghĩa là bộ đội vẫn đi lại tự do trên đường Lê Lợi, hai người bộ đội mặc thường phục vẫn đều đặn xuống kiểm soát đám người tản cư mỗi buổi. Chẳng những thế, người trẻ tuổi hơn còn nấn ná ở lại trò chuyện với vài người, loan những tin tức đáng nản. Không ai vội tin những tin tức khoa trương ấy, nhưng bắt đầu ngờ vực chính niềm tin, niềm hy vọng của mình. Nếu Cộng sản không chiếm Sài gòn thì tại sao tại đây, ngay bên cạnh căn cứ Mỹ ở Phú bài, chỉ cách căn cứ quân sự khổng lồ Ðà nẵng không đầy 15 phút bay phản lực, thế mà quân đội VNCH lẫn quân đồng minh vẫn để mặc cho cộng quân ngang nhiên đi lại. Họ đã mặc cả ngầm từ trước Tết chăng?

    Không biết từ lúc nào, từng người dần dần đổi cách ăn nói. Người đầu tiên là ông Bỗng. Ông ở vào một vị thế khó xử. Ông đã được (hoặc bị) chỉ định làm đại diện cho 38 người tản cư tạm trú tại căn hầm trường Luật. "Quan trên" trông xuống ông, "đồng hương đồng cảnh" soi mói theo dõi ông, đồng thời cũng trông chờ nơi ông. Từ chỗ bất đắc dĩ nhận một nhiệm vụ hàm hồ, ông trở thành một nhân vật quan trọng, và thầm chiêm ngưỡng vai vế mới của mình.

    Ông được quyền "cứu xét" để cho người về nhà mang thêm lương thực, nồi niêu, quần áo, chăn mền. Muốn đi lại, phải có phép của Cách mạng. Một mảnh giấy nhàu viết nguệch ngoạc vài dòng cua bò, thế thôi. Giấy thông hành tạm này có giá trị vì những bộ đội và du kích canh giữ cầu Nam giao đều dưới quyền ông Thắng, người bộ đội mặc thường phục mang K54. Nét chữ của ông, với lối viết thay những chữ C bằng chữ K (như kách mệnh) bắt chước Bác Hồ, với những chữ G có bụng lớn kỳ dị chẳng giống ai còn hiệu quả hơn cả một dấu mộc đỏ. Ông Bỗng được phép "phó thự" vào những tấm giấy thông hành ấy, đổi lại, ông bị Thắng đe:

    - Bác phải bảo đảm những người bác giới thiệu cho về là những phần tử tốt. Hiện Cách mạng chưa có thì giờ xem lại lý lịch nhân dân, chắc chắn còn nhiều phần tử phản động len lỏi vào đây. Cách mạng chưa tìm ra để giáo dục. Có việc gì xảy ra, bác phải chịu trách nhiệm trước nhân dân.

    "Chịu trách nhiệm trước nhân dân !" Nhân dân là ai vậy? Chắc chắn không phải là những bạn hàng xóm láng giềng đang chen chúc nhau trong cái hầm chật và tối cùng với vợ con ông. Họ không đáng để ông chịu trách nhiệm với! Cũng không phải là những người ông từng quen biết từ nhỏ cho đến tuổi sắp về hưu: những ông trưởng ga lẩm cẩm hay hách dịch, những cô bán vé vừa đọc tiểu thuyết diễm tình vừa lơ đãng làm việc chiếu lệ, những người bẻ ghi chỉ thực sự giúp ích cho đời trong mỗi cái việc kéo cây cần sắt để đoàn tàu chạy về một đường rầy khác (việc này dễ ợt, một đứa con nít mạnh tay một chút cũng làm được), những ông phó ga thổi tu huýt phất cờ cho tàu chạy rồi dành thời giờ còn lại của cả đời để uống nước trà hút thuốc, những chef-train tương tự như ông hoặc kém hơn ông, những hành khách vô danh, những chị buôn hàng chuyến ngoan ngoãn giả vờ và nhanh nhẩu điêu ngoa... Ông, một người như ông mà lại chịu trách nhiệm trước những hạng người trên sao? Không bao giờ! Nhân dân là hằng hà sa số những người cao quí, tốt đẹp, của muôn vạn năm trước và muôn vạn năm sau. Đó là Lịch sử, đó là Tương lai, đó là Nhân loại, đó là Cuộc đời. Ông chỉ có thể chịu trách nhiệm trước Lịch sử, Tương lai, Nhân loại, Cuộc đời, chứ không chịu trách nhiệm trước thằng cha căng chú kiết nào hết!

    Ông Bỗng cảm thấy mình quan trọng quá. Ông nghiêm nét mặt, ăn nói thật đĩnh đạc, ông đổi cả cách nằm, ngồi. Ông không muốn bị "nhân dân" khinh thường. Chính vào lúc bậm môi oằn vai gánh trách nhiệm trọng đại đó, ông Bỗng chợt nhớ tới Ngô. Ông đem chuyện Ngô ra nói với Thắng. Ông đã đủ kinh nghiệm để đưa câu chuyện đi theo cái hướng mình muốn, làm như vô tình ngẫu nhiên. Ông bối rối mãi mới thú thật với Thắng:

    - Tôi thật có lỗi với "nhân dân". Anh thông cảm, tôi mới dám thú thật là gia đình tôi còn có thêm một đứa con trai nữa.

    Thắng cau mày hỏi gắt:

    - Hắn đi lính cho Mỹ ngụy à? Hắn trốn ở đâu?

    - Không phải thế! Con tôi mà lại chịu làm "lính đánh thuê"! Nó bị Mỹ ngụy bỏ tù!

    Thắng thôi cau mày, nhưng giọng nói vẫn lạnh lẽo:

    - Vì tội gì?

    - Vì chống chính phủ Sài gòn. Nó bị giam ở lao Thừa phủ. Không biết Cách mạng đã "giải phóng" lao Thừa phủ chưa?

    Thắng hớn hở khoe:

    - Sao lại chưa! Ngay hôm đầu tiên Cách mạng đã chiếm nhà ngục ấy rồi. Chính đơn vị tôi lo việc đó. Con bác tên gì nhỉ?

    - Nó tên Ngô!

    - Ngô! Ngô! Nhiều người bị tù quá, tôi không nhớ. Nhưng chắc chắn là anh ấy đang cầm súng chiến đấu cho Cách mạng. Để tôi ghi tên rồi hỏi thăm tin anh Ngô cho bác. Bác thấy không, tôi chọn người "đại diện nhân dân" đâu có lầm lẫn! Bác cũng thuộc gia đình Cách mạng thành thị. Tốt lắm! Này, bác giúp cho Cách mạng công tác này nữa...

    Sau khi kiểm chứng được rằng Ngô hiện công tác tại vùng Gia hội, ông Bỗng chính thức đứng về phía "nhân dân", trở thành một phần tử tiến bộ có môn bài. Và cũng từ đó, ông trở thành tay quản giáo nghiêm khắc của đám nhân dân nheo nhóc chui rúc trong tầng hầm trường Luật, trong đó có Diễm.

    Diễm được cha "cử" về thăm nhà cùng với một bà cụ ở ngay đầu dốc Từ đàm. Ngọc dặn mang qua cho anh hộp đồ nghề y khoa và một số thuốc gia dụng còn lại nhà. Bà Bỗng kê hẳn một danh mục những thứ cần thiết, dài đến hơn trang giấy vở học trò, không thiếu thứ gì trong danh mục ấy, từ hộp tăm cho tới miếng giẻ lau chén bát.

    Một vài gia đình cũng ở khu cư xá hỏa xa nhờ Diễm qua nhà họ mang giúp một ít gạo và mắm muối. Số người nhờ vả quá nhiều, vì đây là lần đầu có người được về khu hỏa xa.

    Ông Bỗng muốn biểu diễn nguyên tác "pháp bất vị thân", nên cho những gia đình thuộc các khu vực khác về thăm nhà trước.

    Diễm sợ me lục lạo những đồ đạt riêng của mình, nên giấu vào nón chiếc phong bì đựng thư từ của Ngữ mang theo.

    Nàng quặn thắt cả lòng khi vừa bước ra đường. Những loạt súng nổ, những đợt oanh tạc, nói chung là âm thanh của chiến tranh lọt được qua lổ thông hơi dù sao chỉ là những tiếng động lặp lại, tiếng này khác tiếng kia ở âm độ, chưa nói hết được một phần nhỏ những gì đã xảy ra.

    Diễm không thể tưởng tượng cảnh vật phố xá đã thay đổi khủng khiếp như vậy. Bầu trời vẫn xám xịt màu chì, những nhánh cây bị đạn gục xuống, nằm ngổn ngang trên lối đi. Bên này cầu, một căn nhà mái ngói bị pháo kích sụp hẳn chái trước, vôi vữa, gạch ngói văng ra đến tận lòng đường. Phố xá không có một bóng người lai vãng, trừ hai người bộ đội cầm súng đứng gác ở bên kia cây cầu xi măng. Xác một chiếc xe Jeep bị bắn cháy ở khúc quanh rẽ xuống An cựu, sức nóng làm chảy một khoảng đường nhựa. Khung kính vỡ rạn trên xác xe cũng ám khói, một dấu đạn nằm ngay chỗ tay lái. Khung cảnh đổ nát trên bờ tương phản với mặt sóng xanh lặng lờ thanh bình của con sông đào. Tự nhiên Diễm thấy lòng nao nao. Mắt nàng cay. Nàng không cầm được nước mắt, thút thít khóc. Bà cụ đi cùng với Diễm hỏi:

    - Cháu làm sao vậy?

    Diễm giấu mặt vào nón, chối:

    - Không có gì, bà ạ! Cháu bị bụi bay vào mắt.

    Bà cụ dặn Diễm trước khi đi thẳng lên dốc Từ đàm:

    - Nhà bà ở chỗ kia, chỗ có mấy đống gạch đó. Cháu ghé kêu bà nhé!

    Diễm đáp: "Dạ", rồi rẽ về phía tay phải.

    Nàng bật khóc lớn khi thấy cảnh hoang tàn đổ nát trước mắt. Mấy hôm tản cư qua trường Luật, cả khu hỏa xa bị oanh tạc và pháo kích thêm nhiều lần nữa. Con đường lên Kim long rẽ qua cầu Bạch hổ là sinh lộ huyết mạch nối liền lực lượng Cộng sản phía tả ngạn với hữu ngạn, cho nên chốt ga trở thành điểm chiến lược quan trọng cả hai bên Cộng sản và quan đồng minh đều muốn chiếm giữ. Sau khi giải tỏa được khu MACV, quân đội Mỹ giải tỏa được các vùng chung quanh, chiếm lại khu Bưu điện, khu Đại học, trường Jeanne d'Arc, Ty Cảnh sát... biến cả khuôn viên trường Ðại học Sư phạm thành trung tâm tạm cư của người tị nạn quanh vùng. Cộng sản không thể liên lạc qua lại trên cầu Trường tiền nên phải cố giữ cho được con đường huyết mạch qua cầu Bạch hổ. Cuộc giao tranh đẫm máu giữa Thủy quân Lục chiến Mỹ và quân Cộng sản dọc theo các công ốc bên này sông gay go và chậm chạp, vì cả hai bên đều quyết tâm chiếm giữ cho được các mục tiêu. Khu bệnh viện vẫn còn đang bị cộng sản kiểm soát, mặc dù Thủy quân Lục chiến Mỹ đã chọc thủng được một vài tuyến tử thủ của địch. Trong khi đó, khu hỏa xa bị oanh kích dữ dội.

    Diễm đứng trước cổng nhà mà không nhận ra ngôi nhà thân yêu của mình được nữa. Cảnh vật trở nên trống trải, trơ trụi hơn. Nàng có thể nhìn được cả những toa xe cũ đậu ở tận phía trong xa, trước đây bị cây cối che lấp. Ngôi nhà của Diễm bị sụp hẳn phần phía trước, mái ngói bị sức nổ cuốn mất chỉ còn trơ vài cây kèo gãy còn dính vào bức tường gạch. Cửa lớn cửa sổ bị ngã sập xuống, nằm vắt lên thành rào. Mùi sắt nung khét lẹt pha lẫn với mùi vôi nồng làm cho Diễm hắt hơi khi nàng khom người chui vào bên trong. Phòng khách hoàn toàn đổ nát, bộ xa lông mới bị mảnh ngói và kèo cột gãy rơi xuống đè lên trên. Chái phía sau nhà, gồm nhà bếp, và căn buồng nhỏ của Diễm vẫn còn nguyên, tuy mấy cánh cửa sổ lá sách cũng bị hơi nổ thổi văng.

    Đồ đạc trong nhà dường như đã bị kẻ lạ mặt vào sục sạo lấy đi, nên các thức ăn được chẳng còn gì. Diễm nhớ lời mẹ dặn tìm hai cái xô đựng nước ở dưới bếp cũng không thấy đâu! Nếu giở bản danh mục của bà Bỗng, chắc chắn Diễm chỉ nhặt nhạnh được đôi ba thứ không cần thiết như hộp tăm, miếng giẻ lau, lọ tương ớt, cái dao. May mắn nàng còn tìm ra được cây đèn bão dưới một đống ngổn ngang những miếng ván gãy xơ và ngói vỡ.

    Trong buồng của Diễm, cái giường chỉ còn tấm liếp tre. Tấm chiếu trắng, hai cái gối, cái mền xám đã bị lấy mất. Ðồ đạc lặt vặt bị xáo tung. Nàng chán nản ngồi thừ lên giường không biết phải làm gì. Nước mắt chảy lặng lẽ trên đôi má bám bụi. Diễm không màng đưa ống tay lên gạt nước mắt, tủi thân khóc lớn. Nàng thấy cuộc đời tăm tối, khắc nghiệt, vô lý, khó hiểu. Cuộc đời không đáng sống! Nếu có đủ can đảm, nàng muốn được chết giữa cảnh hoang tàn này, giữa đống vôi vữa gạch ngói ngổn ngang mà mỗi một mảnh ngói, mỗi một hạt vôi mỗi một thớ gỗ đều đã từng chứng kiến theo dõi nàng từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành, đều đã từng nghe nàng cười khi vui và thổn thức lúc đau khổ. Những bức tường đổ kia từng nghe những thì thào mơ ước của nàng, những cánh cửa sổ đó từng che chở ấp ủ giúp nàng những giấc mộng. Tất cả tan hết rồi! Mất hết rồi!

    Diễm cảm thấy trơ trọi, bất lực. Nàng nằm sấp xuống giường. Bụi vôi trên tấm liếp tre xông vào mũi, nàng cố dằn để khỏi hắt hơi, nằm úp mặt xuống tấm liếp để hít cho trọn mùi vị còn lại của căn buồng yêu dấu. Nàng vừa khóc vừa thì thào:

    - Hết rồi. Thôi hết cả rồi! Không còn gì nữa!

    Diễm nằm chết lịm như thế không biết bao lâu. Dần dần lòng nàng vơi bớt nỗi thống khổ. Diễm ngồi dậy, và chợt nhớ đã bỏ quên cái nón và phong bì thư ở đâu đó. Nàng nôn nao chạy ra phía căn phòng khách đã sập. Cái nón nằm đó, giữa đám ngói vụn. Nàng chơi vơi nghĩ tới Ngữ.

    - Anh ở đâu hở Ngữ? Anh còn sống hay đã chết rồi? Ngữ ơi! Hãy đến cứu em! Cứu em!

    Diễm nức nở khóc, giữa ngôi nhà hoang tàn, lâu lâu ngừng lại lắng nghe những loạt súng điểm nhịp cho cuộc chiến chưa biết về đâu!

    Mùa Biển Động - Chuơng 66

    Nguyễn Mộng Giác Lượt xem: 2647

    Hôm mồng Ba, sau khi Trung tá Garner hướng dẫn đại đội TQLC Mỹ Alpha 1/1 giải tỏa được khu MACV, nhiều người Việt ở vùng quanh đó đã trốn được khỏi sự kiểm soát của Cộng sản đến lánh nạn tại đây. Trong số đó, có bốn dì phước ở khu Jeanne d'Arc.

    Viên trung tá Mỹ dùng thứ tiếng Pháp còn rơi rớt lại trong trí nhớ của ông từ thời học trung học để hỏi các dì phước tình hình địch ở bên trong khu Jeanne d'Arc. Số ngữ vựng Pháp Văn của ông quá ít ỏi, ông lại đọc theo giọng Mỹ nên cuộc đối thoại giống như giữa hai người điếc. Nhưng cuối cùng ông cũng biết đại khái: bên trong khu Jeanne d'Arc, khoảng 100 bộ đội Bắc Việt đã chiếm ngụ và bố trí súng ống ở các lớp học và một số phòng thuộc khu nội trú. Ông nhờ các dì phước vẽ bản đồ các phòng ốc bên trong. Dì phước giỏi tiếng Pháp nhất giảng giải một hồi dài cho ông nghe. Ông chẳng hiểu gì cả. Thôi, có được tấm họa đồ cũng quí rồi. Điều quan trọng nhất ông đã biết: là quân số địch khá đông.

    Trong khi đó, Ðại đội Alpha chỉ còn không đầy hai trung đội rưỡi, và những người chỉ huy giỏi hoặc đã chết, hoặc bị thương, chỉ còn lại Trung úy Smith và Thượng sĩ Stanley. Những công ốc chung quanh khu MACV vẫn còn do quân Bắc Việt kiểm soát. Từ các mái nhà cao, địch vẫn nhắm bắn sẻ vào khu MACV, biến khu này thành một thứ bia bắn sẻ ngon lành. Tình trạng ấy không thể kéo dài.

    Mấy hôm sau, Trung tá Garner có cho một vài tiểu đội hoặc cả trung đội dùng M-72 và súng cối bắn thủng tường để tảo thanh các căn nhà sát cạnh khu MACV. Những chuyến tảo thanh ấy đều thành công. Có điều khó nghĩ là quân số dưới tay ông ít quá. Họ chiếm được một căn nhà, hoặc hai, ba căn nhà, cho tới tối phải rút về. Sáng hôm sau, địch lại bắn sẻ từ căn nhà cũ. Tình trạng nhì nhằng này không thể kéo dài được. Nạn bắn sẻ y như cuộc chiến trong rừng rậm sẽ giết lần giết mòn cả quân số ít ỏi lẫn tinh thần chiến đấu của các đại đội của ông. Ông biết rõ tâm trạng những Thủy quân Lục chiến dưới quyền. Họ kiêu hãnh xuất thân từ một binh chủng chọn lọc nhất của quân đội Mỹ. Nhưng sức mạnh thân thể của họ, khả năng chiến đấu của họ, sự can đảm và tháo vát nhanh nhẹn trong chiến đấu của họ chẳng khác nào một lưỡi gươm bén chém vụt vào khoảng không, khi ném họ vào rừng sâu để truy tìm những du kích như một trò cút bắt kéo dài. Những anh lính chuyên nghiệp không tìm ra được kẻ thù để thi thố, hoặc có tìm ra cũng chỉ là một chú du kích oắt con hỉ mũi chưa sạch, một chị đàn bà ăn mặc rách rưới giấu lưu đạn trong rổ rau, một ông lão run rẩy bị bắt quả tang đang chôn mìn...

    Phải chờ tới lúc này những người lính thiện chiến ấy mới được đánh một trận đúng sách vở: kẻ thù hiện rõ ràng, chiến tuyến phân minh. Những bài học từng thực tập đến nhuần nhuyễn ở quân trường được dịp thi thố. Trung tá Garner suy từ mình để hiểu rằng tuy quân số đại đội Alpha l/1 và đại đội Fox 2/5 ít, nhưng mỗi người lính dưới quyền ông hiện nay đều là những quân nhân gan dạ nhất, giỏi dan nhất.

    Ông yên tâm thảo kế hoạch giải tỏa cả khu Jeanne d'Arc, Kho bạc và Bưu điện, bắt đầu từ mồng Năm Tết.

    Cuộc hành quân lùng diệt từng nhà theo đúng chiến thuật đánh trong thành phố được trung tá Gamer giao cho đại đội Fox 2/5 của Đại úy Bronx. Trung tá không phác họa nhiều mục tiêu, chỉ muốn thử lại một tính toán về chiến thuật, muốn những Thủy quân Lục chiến quen thuộc hơn nữa với lối đánh đục tường đột kích. Kết quả khá bất ngờ, và bẽ bàng. Ðại đội Fox 2/5 chiếm lại được Bệnh viện Huế sau một cuộc chạm súng gay go. Một số lính Bắc Việt bị giết ngay trong bệnh viện. Ðại úy Bronx đến nơi đúng vào lúc viên trung sĩ trung đội phó đang hăm hăm chỉa khẩu M 16 vào lưng hai người Việt đang bị buộc phải giơ tay úp mặt vào tường. Viên trung sĩ thấy vị chỉ huy của mình tới, mừng quá kêu ầm lên:

    - Hai thằng bắn lén đây đại úy! Quân khốn nạn! Cái thằng già chó đẻ này dám leo lẻo xưng là thị trưởng thành phố Huế!

    Người bị gọi là "thằng già chó đẻ" không hề nói dối. Viên tỉnh trưởng kiêm thị trưởng Huế Thừa thiên bị mắc kẹt trong vùng Cộng sản chiếm, phải trốn trên máng xối suốt một tuần lễ, nhịn đói nhịn khát, nhịn cả thở mạnh để sống còn. Người kia là trung úy Tôn thất Mân, bạn mạt chược tâm đắc của ông!

    Đại đội TQLC Alpha 1/1 được lệnh tấn công khu Jeanne d 'Arc vào hôm mồng Sáu Tết. Trung tá Garner đưa cho trung úy Smith và thượng sĩ Stanley hai tấm họa đồ chi tiết toàn khu nội trú và, các lớp học tu viện và nhà thờ Jeanne d'Arc, căn dặn:

    - Hãy cẩn thận! chúa che chở cho các anh!

    Trung úy Smith xếp tấm họa đồ đút vào túi áo trận, mỉm cười tự cho phép nói đùa một câu với thượng cấp:

    - Chúa cũng che chở cho chúng nó nữa! Chúng nó núp dưới bóng chúa suốt năm ngày rồi.

    Thượng sĩ Stenley thấy Trung tá Garner làm mặt nghiêm, không dám cười. Trung tá nghiêm nghị nói với Smith:

    - Nhưng rồi cuối cùng Chúa ở về phía chúng ta. Vì chúng ta tin ở Chúa.

    Trung úy Smith biết Trung tá là một tín hữu Công giáo nhiệt thành, nên không muốn đùa cợt quá xa vào một vấn đề nhạy cảm. Anh theo đạo Tin lành, nhưng không tin tưởng mấy vào Đấng Quan Phòng. Thay vào đó, anh mơ hồ tin rằng có một thứ Trật tự Tự nhiên nào đó xếp đặt tất cả mọi thứ, theo một tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc vượt lên trên tiêu chuẩn thông thường của con người phàm tục. Cố gắng giải thích nó chỉ vô ích, nên tốt hơn hết là sống hết mình và chờ đợi thản nhiên mọi sự xảy ra. Lập luận quá đơn giản này, đối với Trung úy Smith, lại có kết quả kỳ diệu. Anh lạc quan, yêu đời, không bị sa vào những băn khoăn siêu hình, không bị cuốn hút vào những từ ngữ cao vời mông lung. Nhờ thế, anh không bị lôi vào những cuộc biểu tình, những buổi "ngồi lì"; những đêm ca hát, hò hét phản chiến của bạn bè. Anh chẳng có lập luận nào để chỉ trích những người bạn đại học của anh. Anh cho rằng họ cũng là một phần của cái Trật tự Tự nhiên. Phần anh, bằng trực giác, anh nghĩ mình cứ theo đúng thứ trật tự xã hội. Anh nghĩ có một "Cuộc Phân công" qui mô nào đó xếp đặt sẵn mọi vai trò. Cho nên sau khi Trung tá Garner đứng đây ngầm bảo anh có thể ra khỏi phòng và bắt đầu hành quân, anh đứng nghiêm đưa tay chào thượng cấp, rồi quay đi. Anh nháy mắt với Thượng sĩ Stanley, nói nhỏ với người bạn mới quen gốc Georgia:

    - Chúa bị chúng nó bất ngờ đến núp dưới chân, chẳng lẽ đá văng chúng nó đi. Nhưng chịu đựng năm ngày, lâu quá rồi. Bây giờ Chúa đang chờ chúng ta tới.

    Stanley thích chí cười hô hố, hàm răng trắng nhởn nổi rõ trên nước da đen cháy. Stanley gật gù, đôi vai nhún nhẩy như đang uốn éo theo nhịp nhạc, đáp lại:

    - Nhưng gay go đây! Chúng nó nấp trong Nhà Chúa, lại đông quá!

    Họ vừa dẫn trung đội của mình ra khỏi khu MACV thì đã bị ngay những loạt bắn sẻ từ các ngôi nhà đã tảo thanh hôm trước. Một người thuộc trung đội của Smith bị thương ở cánh tay phải. Bộ giáp cứu mạng một anh Thủy quân Lục chiến da đen khác. Chỉ còn một cách dùng M 72 và M 79 bắn thủng tường để tiến về phía khu Jeanne d'Arc, cách khu MACV không đầy 100 thước. Họ tiến quân chậm, vất vả "quét dọn" kỹ những căn nhà đã chiếm được để yên tâm khỏi bị bắn lén từ sau lưng. Trung tá Garner cứ mười lăm phút một dùng điện đài thăm dò mức tiến quân tới đâu. Ông hơi sốt ruột, hỏi Trung úy Smith:

    - Có cần pháo yểm trợ không?

    Trung úy Smith đáp:

    - Khi nào bố trí xong trước mục tiêu sẽ xin pháo!

    Ðoạn đường chim bay không đầy 100 thước phải đi mất hơn ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng, Trung úy Smith cũng dẫn được trung đội tới giáp bờ thành khu Jeanne d'Arc. Anh dùng máy liên lạc xin bắt đầu pháo vào Jeanne d'Arc để tấn công. Loạt rocket đầu tiên rơi vào đất địch mở đầu một loạt những B40, cối, AK từ bên trong bắn ra. Không ai bị thương tích gì. Nhưng một quả cối yểm trợ từ MACV rơi nhằm đội hình của trung đội Smith. Ngay sau đó lại một quả cối khác rơi lạc. Hai Thủy quân Lục chiến bị thương vừa rên la vừa chửi thề ầm ĩ. Trung úy Smith cho Trung tá Garner biết để MACV điều chỉnh lại tọa độ. Phía bên kia đường, Ðại đội Fox 2/5 của Ðại úy Bronx cũng đang tiến tới bao vây Ty Ngân khố và Bưu điện. Súng nổ dòn dã phía đó một chặp thật rát, rồi im. Những loạt cối yểm trợ bây giờ rơi đúng vào khu Jeanne d'Arc, làm tắt bớt những họng súng AK hướng về phía trung đội của Smith. Viên trung úy vừa định phát tay ra lệnh cho đội tiền xung vượt qua con đường nhựa thì tự nhiên mắt anh cay cay, rồi nước mắt ràn rụa. Một mùi hăng hắc khó chịu tràn ngập không khí. Cái gì thế này? Anh hỏi bên Đại đội Fox 2/5, mới biết bên đó vừa dùng lựu đạn cay để buộc những lính Bắc Việt cố thủ trong Kho bạc kiên cố phải ra đầu hàng. Đại úy Bronx quên mất là gió đã thổi hết hơi cay về phía trung đội của Trung úy Smith.

    Trung úy Smith dụi cặp mắt đỏ ngầu, khi Hạ sĩ Gonzales, người cầm đầu toán tiên xung bò lại gần, và nói đùa:

    - Chúa muốn chúng ta hãy từ từ.

    Anh hạ sĩ gốc Mễ cũng nhíu nhíu đôi mắt cho bớt cay, cười dòn đối lại:

    - Không! Chúa bắt chúng ta khóc đưa ma chúng nó đấy. Vì lòng Chúa nhân từ. Xin được như nguyện!

    Trung úy Smith hỏi, lần này nghiêm trang:

    - Ðã sẵn sàng chưa?

    - Rồi.

    - Tụi này bắn che cho. Sẵn sàng nhé!

    Smith phất tay ra hiệu. Hàng loạt M 16 bắn xối xả về phía thánh đường để cho toán tiền xung của Gonzales băng qua đường. Súng AK bên trong vẫn vãi đạn như mưa. Cả toán bốn người qua được mục tiêu không hề hấn gì. Họ núp ngay ở chân bức thành bên phải cổng ra vào thánh đường khu Jeanne d'Arc. Hạ sĩ Gonzales quay về phía Trung úy Smith cầm cú tay đưa lên ra dấu chiến thắng. Rồi cả bốn vừa bắn vừa xông vào cổng thánh đường. Họ chạy gần tới giữa sân thì một tiếng nổ lớn ở ngay chỗ toán tiền xung vừa tới. Smith ngơ ngác chưa hiểu, thì anh Hạ sĩ Truyền tin bên cạnh la lớn:

    - Chúng nó núp trên nóc thánh đường quăng lưu đạn xuống.

    Trung úy Smith bậm môi cố dằn đau đớn và tức giận. Anh liên lạc với Trung tá Garner. Bên kia đầu dây, giọng viên trung tá đầy băn khoăn:

    - Có chắc từ trên nóc thánh đường không?

    - Chắc chứ! Chúng kiểm soát được cả mặt trước.

    Giọng viên trung tá cương quyết hơn:

    - Ðược rồi. Tôi sẽ gửi xe tăng tới giải quyết.

    Chiếc M-48 gầm rú tiến tới đối diện thánh đường khoảng 20 phút sau. Pháo tháp từ từ quay nửa vòng, họng khẩu đại liên 90 ly từ từ nghếch lên ngay hướng mái cao của thánh đường.

    Những loạt đạn 90 ly quạt bay mái ngói cao, để trơ những thân kèo gỗ. Thêm vài loạt 90 ly nữa, chóp thánh đường đổ sụm như một thứ đồ mã. Mặt tiền bên phải xây bằng gạch cũng quị xuống, khói và bụi vôi tỏa mù che lấp những khung cửa thấp vòng cong gothic. Những ngọn dừa cao hai bên thánh đường cũng bị vạ lầy, từng tàu dừa khuỵu xuống rơi trên mắt đất.

    Tiếng AK tự vệ bên trong khu Jeanne d'Arc yếu hẳn!

    Trung đội của Smith đồng loạt xông vào cổng thánh đường. Từ lúc đó không còn ai chỉ huy ai được nữa. Cũng không còn ai tự chỉ huy được mình. Mọi người như người say ở giữa một cơn bão cuốn, chỉ biết bắn vào bất cứ thứ gì di động trước mắt. Nhất là vật di động mặc y phục mầu sậm và có dáng thấp bé. Chỗ an toàn sắp đặt chân tới phải là chỗ đã được chất nổ khai quang.

    Tiếng súng giao tranh nổ dòn dã trở lại khi trung đội Thủy quân Lục chiến của Trung úy Smith kiểm soát được một dãy lớp học, và núp sau những cánh cửa lớp để bắn trả những lính Bắc Việt còn núp ở dãy bên kia sân trường. Trung đội của Stanley bọc hậu chiếm khu nội trú. Tiếng AK thưa thớt dần. Không khí khu Jeanne d'Arc đột nhiên êm ả một cách kỳ dị ma quái.

    Người ta bắt đầu khiêng những người bị chết và bị thương ra phía thánh đường. Chiếc mái trống hoác để mặc cho ánh sáng buổi chiều mù chiếu lên bức tường granito trang trí giống như những viên gạch xếp ngang xếp dọc. Cây thánh giá vẫn còn nguyên giữa những lỗ lớn do đạn đại liên 90 ly phá thủng.

    Trong số những người may mắn chỉ bị thương sau cuộc giao tranh đẫm máu và cuồng nộ, có Quỳnh Như. Nàng bị đạn ở bắp vế. May mắn viên đạn chỉ xuyên qua thịt chứ không chạm đến xương.

    Chỉ mười lăm phút sau khi Ðại đội Alpha 1/1 chiếm lại được khu Jeanne d'Arc, tiếp theo chiến thắng của Ðại đội Fox 2/5 ở khu Bưu điện và Ngân khố, đám phóng viên ngoại quốc đã nhanh chân bu tới chụp ảnh, quay phim, phỏng vấn. Hai phóng viên Pháp bám lấy hai linh mục ngoại quốc may mắn sống sót, một linh mục người Pháp, một người Bỉ. Họ xin hai vị linh mục đến đứng ngay dưới cây thánh giá để chụp hình. Các phóng viên Mỹ bận lo phỏng vấn các Thủy quân Lục chiến bị thương nằm trên băng ca, thấy các đồng nghiệp người Pháp lanh tay, cũng bỏ phỏng vấn đến bấm máy ảnh lia lịa. Chưa hết! Họ còn yêu cầu các dì phước và vị linh mục tuyên úy người Việt đứng chụp hình chung ngay trước thánh đường đổ nát.

    Quỳnh Như nằm trên một chiếc băng ca nhà binh xếp ở góc trái tòa giảng, cố cắn răng để chịu đựng vết thương. Lúc mới bị đạn, nàng chưa cảm thấy gì. Chỉ có cảm giác nong nóng hơi buốt ở bắp vế. Ít phút sau, nàng bắt đầu chóng mặt, và cơn đau như đã thấm nên lên đến tột độ, đến nỗi nước mắt sống cứ trào ra, hai thái dương căng thẳng, đầu óc như sắp nổ tung. Rồi cơn đau lại hạ, trở lại cảm giác tê dại lâng lâng như uống nhằm loại rượu cực mạnh. Mắt nàng bị hoa, nhìn mọi vật di động quanh mình như những bóng ma trơi.

    Một người lính Thủy quân Lục chiến đã cắt ống quần lụa của Quỳnh Như và buột băng cầm máu. Nguyên một ống chân trái trắng xanh để trần trên băng ca, Quỳnh Như quên cả ngượng nghịu vì phải phơi bày một phần thân thể trước ống kính các phóng viên báo chí và truyền hình.

    Tai nàng chỉ nghe những tiếng lao xao như tiếng ồn vang lại từ một chợ phiên. Hình như người ta đang cãi nhau về điều gì đó, tiếng Pháp chen lẫn với tiếng Anh. Mắt nàng lại lòa đi vì một tia flash của máy chụp hình. Rồi một giọng Mỹ hơi quen làm nàng giật mình mở mắt. Ai đó cúi xuống nhìn nàng, giọng hốt hoảng:

    - Chúa ơi! Quỳnh Như đây mà! Phải Quỳnh Như không?

    Quỳnh Như hồi hộp lo âu, tiếng gọi "Quỳnh Như" lơ lớ của một người ngoại quốc đột nhiên khiến nàng tủi thân, thấy mình gặp nạn vào giữa lúc nhìn quanh không có cha mẹ, anh chị, bạn bè nào thân thuộc để chăm sóc, lo lắng. Nàng bật khóc. Người ngoại quốc càng hốt hoảng hơn, la lớn:

    - Bob, lại đây! Quỳnh Như bị thương rồi!

    Bấy giờ Quỳnh Như mới nhận ra Dale. Người bạn phóng viên của Dale cũng chạy lại. Bob ngồi xuống bên Quỳnh Như, bối rối xin lỗi:

    - Thật bậy! Tôi chụp hình cô mà không nhận ra. Cô bị thương ở đâu? Dale, cậu chạy ra gặp Trung úy hỏi việc tải thương thế nào. Phải chở gấp Quỳnh Như về Phú bài, hay tốt hơn hết là vào Ðà nẵng. Thôi, cậu ngồi đây. Để tôi đi lo việc này cho!

    Bob vội vã chạy ra phía trước thánh đường. Dale cầm tay Quỳnh Như lo lắng hỏi:

    - Quỳnh Như có đau lắm không?

    Nàng thút thít khóc vì tủi thân và vì cảm động, không trả lời được. Quỳnh Như chỉ gật đầu. Dale nhìn ra phía ngoài nôn nao chờ Bob trở lại. Anh run run hỏi cô học trò:

    - Sao hôm sáng mồng Một Quỳnh Như bảo sẽ về nhà bạn ăn Tết?

    Quỳnh Như vẫn còn nghẹn nước mắt, chỉ biết lắc đầu. Dale lại hỏi:

    - Vết thương có nặng lắm không?

    Quỳnh Như chợt nhớ, muốn rút cái chân bị thương lên để che lại, nhưng không cựa quậy được. Nàng cảm thấy yếu đuối đến nỗi không nhấc tay lên nổi. Vẻ bạc nhược càng khiến cho Dale lo sợ. Anh ta nhìn ra phía ngoài, ray rứt nói:

    - Chẳng biết tại sao Bob nó lâu trở lại vậy?

    Bob trở lại ngay sau đó với tin vui: xe tải thương đã đến, và ngay lúc đó sẽ chở những người bị thương ra bãi đáp trực thăng trong khuôn viên trường Ðại học Sư phạm.

    Dale cầm tay Quỳnh Như bảo:

    - Tôi sẽ đi với Quỳnh Như. Cô yên tâm. Bob phải ở lại đây lấy tin. Nhưng tôi sẽ đi với cô vào Đà nẵng.

    Quỳnh Như cảm động, cảm thấy lòng dịu lại. Nàng đưa lưỡi liếm đôi môi khô, cố nuốt nước bọt để dễ nói hơn. Miệng đắng chát, Quỳnh Như cố nói với Dale:

    - Anh có nước không?

    Dale sốt sắng đáp:

    - Có chứ. Để tôi... Nhưng không được. Mất máu nhiều uống nước không tốt đâu. Đây rồi. Người ta bắt đầu chở thương binh đi. Quỳnh Như rán nhé! Có tôi đi theo, hãy yên tâm!

    Trung tá Garner huy động tất cả mọi loại xe hiện có ở MACV để chở số người bị thương và số người chết khỏi khu Jeanne d'Arc, ưu tiên một là những người bị thương để kịp trực thăng vận về bệnh viện dã chiến Lai khê, tiếp đến mới chở xác Thủy quân Lục chiến về phi trường Phú bài, sau chót mới tới những người dân bị nạn và các lính Bắc Việt bỏ xác tại Jeanne d'Arc.

    Những việc liên quan đến quân đội Mỹ dĩ nhiên có bộ phận lo cho ông. Nhưng việc cứu cấp những thường dân Việt Nam, việc tổ chức đời sống và tiếp tế lương thực cho đồng bào tị nạn tạm cư tại trường Ðại học Sư phạm, nhất là việc "giải quyết" các xác chết vô thừa nhận cả thường dân lẫn lính Bắc Việt, đối với ông quá bế tắc. Ông có thể liên lạc với Phú bài, Ðà nẵng để xin phương tiện. Nhưng không tìm ra những người để giao công việc cứu trợ phức tạp. Khi Ðại đội Fox 2/5 giải thoát được viên Thị trường Huế và người bạn của ông, Trung tá Garner mừng rỡ, vì đã tìm ra người có thẩm quyền nhất của chính quyền VNCH để giao trả trách nhiệm dân sự này.

    Ông thất vọng. Viên Thị trưởng dường như chưa qua được cơn hãi hùng suốt năm ngày nằm nín thở trên máng xối. Đã thế ông ta lo lắng thấy rõ, vì chưa biết vợ con lưu lạc phương nào, còn sống hay đã chết. Trung tá Garner cố nén sự khinh nhờn, đối đáp với viên Thị trưởng bằng những lời lẽ lịch sự, ân cần. Ông hứa:

    - Vâng, khu vưc bà nhà và các cháu bị kẹt sắp được giải tỏa. Chúng tôi sẽ cố gắng. Khi nào có tin vui, chúng tôi sẽ tin cho ông biết ngay. Về việc tổ chức lại khu tạm cư ở trường Sư phạm, Trung tá nghĩ sao?

    Viên Thị trưởng chán nản đáp:

    - Tôi chẳng biết nghĩ sao cả! Tôi không có cái gì trong tay hết! Không phương tiện, không người!

    Trung tá Garner cau mày nói:

    - Chúng tôi cũng không có người. Hiện Trung úy Clark phải bỏ trung đội để lo việc này.

    Viên Thị trường không nói gì, nét mặt dàu dàu. Trung tá Garner nổi lòng độc ác, muốn nhân dịp hỏi về tin đồn viên Thị trường bị đột kích khuya mồng Một đúng lúc ngài đang mải mê chơi mạt chược. Nhưng ông dằn lại được. Viên Thị trưởng suy nghĩ một lúc, rồi nói:

    - Tôi sẽ cố hết sức. Tôi sẽ nhờ một người bạn phụ tôi việc này. Ông bạn cũng được các ông giải thoát một lượt với tôi.

    Trung tá Garner buột miệng nói, không dằn được nữa.

    - À, ông bạn mạt chược của Trung tá chứ gì?

    Thấy việc chuyển thương binh lên những chiếc xe GMC cao nghêu khó khăn chậm chạp, Bob chạy đi lấy chiếc Jeep trắng thuê từ hôm trước Tết. Dale bế xốc Quỳnh Như lên ngồi ở ghế trước với mình, rồi bảo Bob chạy thục mạng ra bãi trực thăng. Bob không biết hướng, định chạy về phía ngược lại. Dale la lên:

    - Quay lại ngay, khu đó Cộng sản còn đầy nhóc. Mày muốn lãnh đạn phỏng?

    Họ đem được Quỳnh Như tới sân trực thăng sớm sủa, hy vọng được chở đi vào chuyến thứ nhì. Dale xoa tay bảo bạn:

    - Thôi được rồi! Mày chạy trở lại săn tin săn ảnh đi. Vụ này mày may mắn mà không làm cho xôm trò, chủ báo đuổi mày như chơi!

    Bob cười, nheo mắt tinh nghịch với Dale, rồi bảo Quỳnh Như:

    - Chúc cô chóng bình phục. À quên, cho tôi chụp thêm tấm ảnh. Dale đứng sát vào một chút. Nhìn xuống, nhìn xuống Quỳnh Như đi nào. Thế thế! Thằng này không biết điều chút nào! Mày phải làm ra vẻ lo lắng một chút chứ sao hớn hở quá thế! Ðược rồi! Xong. Tao chạy đi lo việc nhé!

    Dale ở lại một mình bên Quỳnh Như, tự nhiên lúng túng. Anh càng lúng túng hơn khi mấy đứa trẻ tạm cư trong trường Đại học Sư phạm bắt đầu tò mò, tụ tập đến nhìn cảnh lạ mắt. Người lính Mỹ canh bãi đáp trực thăng đuổi, chúng vẫn không đi. Phải chờ tới lúc có tiếng trực thăng vang dội trên trời, và nhiều loạt súng do Cộng sản bắn từ phía phố Trần Hưng Ðạo qua bên này, lũ trẻ mới chịu chạy vào trường Sư phạm.

    Chiếc trực thăng tải thương đầu tiên hạ xuống bãi đáp. Cánh quạt xốc bụi lên, cuốn quay thành một trận bão mù. Từ chỗ tấm "tăng" thấp, người ta bắt đầu khiêng băng ca những Thủy quân Lục chiến bị thương ra chỗ trực thăng. Dale khom người lấy cánh tay áo che mặt chạy ra bãi xin viên phi công cho Quỳnh Như đi chuyến này. Thất bại! Những Thủy quân Lục chiến này bị thương nặng, ở trong tình trạng khẩn cấp phải chở ngay về Phú bài. Dale xin cho Quỳnh Như đi được chuyến thứ hai. Mừng quá! Nhưng viên phi công nhất định không cho Dale đi theo. Quỳnh Như theo dõi cuộc nài nĩ dài dòng, cuối cùng phải bật cười khi nghe Dale la lớn:

    - Cô ta là vị hôn thê của tôi, không cho tôi đi theo săn sóc sao được!

    Dale thành công! Chuyến trực thăng tải thương đáp xuống bay lên giữa một bầu trời u ám lấm chấm những tia đạn thù. Khi đã bay khỏi vùng hiểm nguy, Dale mới dám cúi xuống nhìn thẳng vào mắt Quỳnh Như. Quỳnh Như hỏi nhỏ giữa tiếng trực thăng gầm rú và tiếng gió thổi:

    - Anh nói dối, nhưng nói dối dễ thương lắm!

    Không chắc gì Dale nghe thấy. Nhưng có lẽ Dale hiểu Quỳnh Như muốn nói gì, và từ đó đến lúc chiếc trực thăng đáp xuống bệnh viện Lai khê, anh không dám nhìn thẳng vào mắt Quỳnh Như nữa.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Mùa biển động. Tiểu thuyết 5 tập của Nguyễn Mộng Giác. NXB Văn Nghệ, Hoa Kỳ, xuất bản từ 1982-1989). Tập 1: Những đợt sóng ngầm (1984), 2. Bão nổi (1985), 3. Mùa biển động (1986), 4. Bèo giạt (1988), 5. Tha hương (1989). Bộ truyện này tái bản nhiều lần.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập49,678,557

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/