Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,359,600

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Nam Đế Vạn Xuân

Phùng Văn Khai

  • Thứ hai, 10:01 Ngày 16/08/2021
  • HỒI THỨ MƯỜI BỐN

    Đất Cửu Đức, lão tướng Phạm Tu đại phá quân Lâm Ấp

    Thành Long Biên, quân sư Tinh Thiều

     bàn kế đánh Đại Lương

    Tin lão tướng Phạm Tu đại thắng quân Ái Châu giết chết Thứ sử Nguyễn Hán ngay chân đèo Cổ Họng mau chóng bay về thành Long Biên. Đội thủy binh của Nguyễn Hân mới đi được nửa đường chuẩn bị vào cửa Đại Ác biết được tin cha mình cùng bảy ngàn binh tướng đại bại trong thung lũng dưới chân đèo Cổ Họng thất kinh không dám tiến vội vã quay đầu tháo chạy về Ái Châu. Ngay trong buổi chiều, sau trận ác chiến, lão tướng Phạm Tu sai hai tướng Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục cùng hai trăm chiến thuyền lập tức truy sát đạo thủy quân Nguyễn Hân. Nguyên vùng cửa biển Đại Ác từ trước đó, Triệu Quang Phục cùng người chú là Triệu Quang Thành đã nhiều lần giong thuyền tập trận nên rất thông thuộc luồng lạch. Giữa trưa hôm sau, khi hai trăm chiến thuyền của Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục khép chặt vòng vây cũng là lúc Nguyễn Hân lệnh mở đường máu chạy thẳng ra biển. Đoàn chiến thuyền của hai tướng Lý - Triệu theo sát phía sau dùng máy bắn đá đánh đắm vô số chiến thuyền quân Ái Châu. Mãi khi chúng chỉ còn vài chục chiếc rách nát chạy toán loạn trên mặt biển hai tướng Lý - Triệu mới cho thu quân trở về chỉ để lại một đội chiến thuyền năm mươi chiếc trấn giữ nơi cửa biển Đại Ác. Chưa đầy hai ngày hai đêm huyết chiến kinh thiên động địa, lão tướng Phạm Tu cùng các tướng Lý Thiên Bảo, Trịnh Đô, Triệu Quang Phục đã phá tan hai đạo quân thủy bộ của Thứ sử Nguyễn Hán, thu vô số thuyền bè, trâu bò, ngựa chiến, giáp trụ, gây kinh động toàn bộ Ái Châu. Từ bấy giờ, binh tướng Ái Châu hễ nghe nhắc đến lão tướng Phạm Tu thảy đều kinh sợ.

    *

    Đây nói tiếp chuyện Phùng Thanh Hòa vâng mệnh chủ công Lý Bí đem năm ngàn quân bản bộ cùng voi chiến, kỵ binh tới thành Gia Ninh chặn giặc.

    Ngày còn ở trang Hồng Vinh, Phùng Thanh Hòa được các vị trang chủ họ Phùng mời nhiều thầy giỏi về rèn cặp nên sớm tinh thông hai đường văn võ. Vị tướng trẻ họ Phùng nổi tiếng tài võ vật và thuật bắn cung bách phát bách trúng. Sau mấy trận giao phong với bọn Lưu Long, Ngụy Lãng nơi thành Cổ Loa, Long Biên, Phùng tướng quân học thêm được nhiều phép đánh với kỵ binh từ lão tướng Phạm Tu. Nhận trọng trách tới thành Gia Ninh đặt mai phục chống giữ với cánh quân năm ngàn kỵ binh chiến giáp của Thứ sử La Châu, họ Phùng không dám khinh suất.

    Khi binh tướng tiến sát tới thành Gia Ninh, Phùng Thanh Hòa bàn với phó tướng Triệu Tam, người được chủ công Lý Bí cho đem tám thớt voi cùng hơn nghìn bộ tốt theo Phùng tướng quân cự địch. Phùng Thanh Hòa bảo với Triệu tướng quân:

    - Ta cùng với tướng quân vâng lệnh chủ công tới thành Gia Ninh chặn giặc. Thành Gia Ninh ngày trước, tướng Cao Lỗ đã bày đặt phục binh chống nhau với binh tướng Triệu Đà ròng rã cả tháng trời khiến Triệu Đà không tiến được xuống Cổ Loa. Nay tướng quân vốn là người bản địa vùng thượng du tất thông thạo địa hình nơi đây. Ngài có cao kiến gì hãy chỉ rõ cho ta cùng định kế.

    Tướng Triệu Tam vốn là tộc trưởng họ Triệu vùng thượng du Hắc Lâm tuổi tác đã cao, từ những ngày đầu đem theo nhiều voi ngựa xuống giúp chủ công Lý Bí. Trong trận đánh Đầm Bạch Long, Triệu Tam đưa voi ra sát bờ sông tạo thanh thế lớn trong quân. Lại cũng họ Triệu đã thuần dưỡng voi quen với sông nước đưa lên bè lớn xuôi về Bạch Hạc tới thành Cổ Loa phá giặc. Vốn nhiều năm cùng các phường săn thông thạo vùng thượng du, lại thấy Phùng Thanh Hòa nhất mực khiêm tốn hỏi đến mưu kế của mình, trong bụng ưng lắm bèn nói:

    - Ta tuy lớn tuổi hơn ngài nhưng chủ công đã giao cho ta làm phó giúp ngài chặn giặc mọi việc ngài cứ theo quân lệnh mà quyết ta sẽ phục tùng. Mấy bận chứng kiến ngài cầm binh giáp chiến với Lương tặc, thấy được khí phách của Phùng gia, ta đây khâm phục lắm. Thành Gia Ninh dẫu nhỏ nhưng là nơi dễ thủ khó công. Phía trước hai cổng thành phía Tây và Đông Bắc đều dẫn ra khu rừng rậm ken dày tre nứa, lại có hào nước được đào từ thời tướng quân Cao Lỗ đắp thành có thể dùng để đặt mai phục. Mặt Nam và Tây Nam đều có đường dẫn xuống ngã ba Hạc Trì, ta đồ rằng sớm muộn gì chủ công cũng điều binh thuyền lên tiếp ứng tướng quân không phải lo đến nữa. Ta phải tránh giao tranh lớn với binh tướng La Châu mà chỉ kìm giữ chúng đợi quân kia hết lương tất loạn, khi đó sẽ dùng kế hỏa công đốt giết chúng. Dân chúng trong thành Gia Ninh từ ngày chủ công cho sửa sang lại thành trì, dựng miếu thờ Cao Lỗ luôn một lòng một dạ hướng về đại nghĩa đã sớm tích trữ binh lương để tướng quân tiện dùng chống giặc. Ngày mai vào thành, sau buổi dâng hương trước bài vị Cao Lỗ, tướng quân hãy cho mời các vị lão trượng, chủ các phường săn trong vùng tới cùng nghị sự đặt kế mai phục mới vẹn toàn được.

    Phùng Thanh Hòa lắng nghe mọi lời lẽ của viên phó tướng họ Triệu, trong lòng rất xúc động bèn nói:

    - Ta hôm trước xin với chủ công cho đi đánh bọn Ninh Cự cũng chỉ là nhất thời hăng hái chứ việc thành bại chưa biết ra sao. Nay chẳng những chủ công nhìn xa trông rộng cử binh tướng thạo địa thế theo cùng, lại sớm dự trữ sẵn lương thảo, cố kết các bậc lão trượng, các chủ phường săn, cho Triệu tướng quân đem voi ngựa đi giúp càng khiến ta thêm mở rộng tầm mắt. Nay mai lâm trận, có điều gì hơn thiệt mong ngài hãy chỉ bảo cho ta.

    Khi binh tướng Phùng Thanh Hòa và Triệu Tam tới thành Gia Ninh đã thấy ở đó các vị lão trượng cùng các chủ phường săn đợi sẵn từ trước. Từ trước đó, quân sư Tinh Thiều đã cho người đưa tin tới nói rõ việc Thứ sử La Châu đang dẫn năm ngàn kỵ binh theo đường thượng đạo xuống chiếm thành Gia Ninh. Phùng tướng quân vào trong thành lập tức cho họp các tùy tướng cùng bàn bạc với các lão trượng, chủ phường săn. Bàn bạc xong xuôi chia binh theo kế của Triệu Tam vào rừng chọn nơi hiểm yếu đào nhiều hố lớn, cưa sẵn cây cối, bịt chặt các ngả đường. Phùng tướng quân lại cho đắp nhiều ụ đất lớn trên đặt máy phóng tên giữ thế liên hoàn rất cẩn mật. Do thông thạo đường rừng, các phường săn không kể đêm ngày cùng binh tướng Phùng Thanh Hòa, Triệu Tam cài cắm sắp đặt thiên la địa võng. Mọi ngóc ngách đường mòn hiểm hóc, đám thợ săn đều thông tỏ khiến công việc khá thuận lợi. Khi công việc căn bản hoàn tất cũng là lúc có tin báo về, nơi thung lũng dưới chân đèo Cổ Họng, lão tướng Phạm Tu vừa đại thắng tiêu diệt bức hàng toàn bộ đại quân của Thứ sử Nguyễn Hán. Đạo thủy binh Ái Châu hơn trăm chiến thuyền cũng đã bị Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục truy sát tan tác nơi cửa biển. Binh tướng đang đặt kế mai phục nơi thành Gia Ninh trước tin thắng trận của lão tướng Phạm Tu vô cùng phấn chấn. Ngay buổi tối hôm đó, Phùng tướng quân lại nhận thêm tin mừng, hơn trăm chiến thuyền của chủ công sai đến thanh viện đã ngược dòng Lô giang tới ngã ba Bạch Hạc chở đến vô số cung nỏ, lương thảo đang được các phường săn vận chuyển vào thành.

    Đúng lúc thanh thế binh tướng trong thành Gia Ninh lên cao cũng là lúc thám sát báo về Thứ sử La Châu Ninh Cự dẫn năm ngàn kỵ binh theo đường thượng đạo đã áp sát cánh rừng phía Tây và Đông Bắc. Ninh Thứ sử đương thời nổi tiếng cơ mưu quyền biến đã có lần được Lương Vũ Đế sai đem binh mã chống nhau với bọn Thổ Dục Hồn nơi biên giới phía Tây của Lương triều. Họ Ninh hành binh rất thận trọng, từng nhiều lần thoát khỏi trùng vây của Thổ Dục Hồn còn có biệt tài bày trận kỵ binh. Theo mệnh lệnh của hoàng đế Đại Lương, Ninh Cự điểm năm ngàn thiết kỵ tiến xuống Giao Châu cùng với binh tướng Việt Châu, An Châu, Ái Châu hợp vây thành Long Biên bắt giặc cỏ Lý Bí cùng dư đảng về Kiến Khang chịu tội. Vừa hành binh, Thứ sử Ninh Cự vừa tự kiểm điểm lại việc Lương Vũ Đế bất thần cử đến bốn đạo quân chắc hẳn trong đó có sự bất thường. Đã mười mấy hai mươi năm, ở Giao Châu, Vũ Lâm hầu Tiêu Tư cai quản bọn man di đã thành nền nếp sao bỗng nhiên giặc cỏ lại nổi loạn? Đây ắt hẳn có nguyên cớ sâu xa? Tên cầm đầu Lý Bí vốn là Giám quân trong quân đội Vũ Lâm hầu. Như thế tức là y đã quá hiểu phép đánh giữ của Hầu gia. Chả thế mà chưa đến nửa năm giương cờ phản, họ Lý kia đã đả bại trước sau mấy viên đại tướng Mã Phương, Ngụy Lãng, Thạch Đạt khiến chấn động toàn cõi Giao Châu còn vang sang cả La Châu, Việt Châu, An Châu, chứng tỏ giặc cỏ không phải tầm thường. Nay Lương Vũ Đế động binh theo cách quần hồ hợp vây mãnh hổ trên vùng đất căn bản của chúng không phải là cao kiến. Các vị chủ tướng từ bốn hướng xa xôi ngàn dặm nào có gặp mặt được mà bàn soạn việc tiến thủ nên cứ mạnh ai nấy đánh sẽ càng muôn phần khó hơn. Phép dụng binh không chỉ cần kín nhẹm thần tốc mà còn phải thống nhất từ trên xuống dưới mới mong thủ thắng. Vậy binh tướng La Châu xuống Giao Châu chuyến này phải cẩn thận lắm mới được. Trong tâm thế ấy, Thứ sử La Châu Ninh Cự bề ngoài vâng mệnh Lương triều thẳng tiến xuống Giao Châu kỳ thực bên trong vẫn còn nhiều mối hồ nghi không rõ. Trong binh tình ấy, Thứ sử La Châu Ninh Cự lầm lũi tiến quân.

    Biết được đại quân của Ninh Cự đã áp sát bìa rừng phía Tây và Đông Bắc, Phùng Thanh Hòa bàn với các tướng mờ sáng hôm sau cho đốt nhiều lửa khói dụ địch. Đối với tên giặc già Ninh Cự vốn thông hiểu phép dùng binh, chính việc hư hư thực thực càng khiến họ Ninh hồ nghi không dám tiến. Sự dùng dằng cũng là dây dưa thời gian để tin báo Thứ sử Nguyễn Hán bại trận bay tới quân doanh Ninh Cự khiến họ Ninh tiến thoái lưỡng nan.

    Thứ sử Ninh Cự càng tiến sâu vào trong rừng núi đất Giao Châu càng thấy trong lòng nhiều nghi hoặc. Đất đai rừng núi Giao Châu rộng mênh mông, những núi đồi, sông suối nối nhau miên man không dứt. Có những ngôi nhà, làng mạc cheo leo trên vách núi tưởng sức người khó có thể trèo lên được. Những triền sông dốc đứng, từng khối đá chặn giữa dòng khiến nước lao ầm ầm tung bọt trắng xóa chẳng thuyền bè nào có thể vượt qua. Kỵ binh đi đường núi nhỏ là điều tối kỵ của binh pháp. Xưa kia, không hiểu binh tướng Triệu Đà đi theo đường nào xuống vây thành Gia Ninh chứ nay quân của Ninh Cự vừa đi vừa phải bẩy đá mở đường, chặt gỗ bắc cầu, phát cây mở lối. Ở những chỗ đèo dốc hiểm trở, Thứ sử Ninh Cự đều cho cắm lại một chốt hơn chục tên quân nhằm liên lạc với đại đội binh mã chuyên chở lương thảo phía sau. Cứ cách thức này, nếu không đánh nhanh thắng nhanh ắt sẽ không đủ lương thực xuống tới thành Long Biên được.

    Còn đang dùng dằng chưa quyết nơi cửa rừng  phía Tây thành Gia Ninh cũng là lúc viên Thứ sử La Châu nhận được tin báo đại quân thủy bộ của Ái Châu đã bị thảm bại dưới chân ải lũy núi Cổ Họng. Bản thân Nguyễn Hán cùng các tùy tướng đã chết trong đám loạn quân.

    Ninh Cự thất kinh cho họp các tướng bàn kế tiến thủ. Có lẽ nào đã dẫn binh xuống đến đây lại trở về tay trắng? Liều chết đánh bừa liệu có chiếm nổi thành Gia Ninh? Chiếm được thành các đạo quân của Trần Hầu, Lý Trí có nhất loạt cùng tiến xuống hợp vây Long Biên phá giặc cỏ hay không là những câu hỏi dường như không có câu trả lời. Vốn còn nhiều hồ nghi trong bụng, lại thấy nếu rút ngay các tướng sẽ không phục càng khó ăn nói với Lương Vũ Đế, Thứ sử Ninh Cự quay ra bảo với các tướng:

    - Ta vâng mệnh Vũ Đế dẫn trọng binh xuống bình định Giao Châu, nay phía trước là thành Gia Ninh cần phải chiếm lấy. Song đây là đất của giặc cỏ không thể khinh suất. Vừa rồi, Thứ sử Nguyễn Hán cậy vào kỵ binh chiến giáp đã mắc mai phục của địch đến nỗi mạng vong. Ta ngày mai hãy chia binh ra làm hai đội mỗi đội một nghìn kỵ mã giao cho hai tướng tiên phong vượt qua khu rừng tre nứa phía trước đánh thẳng vào cổng Tây thành Gia Ninh. Ba ngàn người ngựa còn lại hãy cùng ta chốt chặn ở đây không được manh động. Nếu giặc cỏ đặt phục binh, quân ta còn có thể đầu đuôi ứng cứu được cho nhau.

    Các tướng tiên phong đều cho rằng Thứ sử lâu ngày không lâm chiến nên quá sức thận trọng. Một ngôi thành cỏn con phía trước, năm ngàn kỵ binh chiến giáp nhất tề thẳng tiến chưa đầy nửa ngày sẽ san phẳng chúng việc gì đến nỗi khiếp sợ mà chia ra thủ thế nhưng chỉ biết vâng dạ về doanh trại điểm binh mã sớm mai đánh thành.

    Mờ sáng hôm sau nơi bìa rừng phía Tây thành Gia Ninh.

    Luôn từ mấy hôm trước, khi biết đại quân của Ninh Cự đóng trại liên hoàn trù trừ không dám vượt qua cánh rừng tre gai áp sát cổng thành phía Tây, Phùng Thanh Hòa cùng với Trịnh Tam lệnh cho các phường săn cứ nửa khắc lại đốt củi lửa chiêng trống hò reo khiến binh tướng La Châu không biết hư thực ra sao. Đám phường săn vốn thông thạo vùng rừng núi bám rất sát động tĩnh các trại binh mã của Ninh Cự liên tiếp báo về. Khi thấy đại binh của La Châu chia ra làm hai đạo mỗi đạo nghìn tên đang lăm le khiên giáp giục ngựa tiến về phía Tây cổng thành đã mau chóng bẩm báo với Phùng tướng quân.

    Nơi trướng hổ trong thành Gia Ninh, bên chiếc sa bàn đắp đất hiện rõ binh lực hai bên, Phùng Thanh Hòa triệu tập gấp các tùy tướng phân phó công việc:

    - Các tướng hãy nghe lệnh! Tên giặc già Ninh Cự đã không nhịn được, sớm nay ắt chia binh đến cướp thành Gia Ninh. Theo thám sát báo về họ Ninh kia chỉ để hai ngàn quân chia làm hai đường tới cướp thành còn ba ngàn chiến giáp vẫn ở lại giữ vững trại đề phòng quân ta. Như thế đủ thấy Ninh Cự không chỉ tiến binh thận trọng mà trong lòng y vẫn còn muốn nghe ngóng các đạo binh khác. Ngặt nỗi, đường tiến xuống Long Biên chỉ có một, Ninh Cự không thể mọc cánh bay qua được thành Gia Ninh nên buộc phải công thành. Ta hãy đợi quân kia lọt hết vào địa hình mai phục hãy xông ra giết chúng. Các tướng hãy nhớ lời dặn của chủ công, ta chỉ đuổi giặc về phương Bắc chứ không ham chém giết gây thù chuốc oán làm gì. Giặc kia tháo thân khỏi trùng vây quân ta không cần truy sát mà chỉ dùng chiêng trống đuổi chúng về phương Bắc.

    Chúng tướng dạ ran chia nhau ai vào việc nấy.

    Tờ mờ sáng, khi những vạt sương sớm còn lảng vảng trên các tán cây rừng, từ quân doanh La Châu, hai luồng binh mã như hai gọng kìm đen thẫm tuôn về phía trước. Các tướng tiên phong của Ninh Cự người ngậm tăm, ngựa cởi nhạc theo đường mòn nhỏ tiến thẳng về phía Tây thành Gia Ninh. Tới trước bìa rừng ken dày tre nứa, bọn người ngựa nhìn trước ngó sau rồi bất chấp quất ngựa xông thẳng tới. Không thấy có gì cản trở, toán kỵ mã đua nhau ào ạt xông lên đạp đổ cây cối rào rào. Khi phía trước hai cánh quân đã mờ mờ hiện ra tháp canh của cổng thành phía Tây cũng là lúc tiếng tù và, tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng trống thúc lên ầm ầm. Từ trên các ụ đất cao được đắp sẵn, từng loạt pháo tay nhằm thẳng đầu người ngựa binh tướng La Châu phóng tới. Những tiếng nổ ầm ầm. Lửa cháy ngút trời. Trong biển lửa cháy rừng rực, những mũi tên dài nửa trượng đầu bịt sắt nhọn phóng vun vút xuyên thủng khiên giáp, người ngựa khiến binh tướng La Châu hoảng loạn kêu khóc như ri. Như từ trên trời rơi xuống, những quả chông bằng gỗ lớn từ trên ngọn cây cao giáng thẳng xuống đám kỵ mã. Dưới chân đất sụp xuống từng mảng, những hố lớn ngoác miệng kéo sập từng đàn kỵ mã. Sau loạt mưa tên, những tiếng hét rợn người cũng là lúc các dũng sĩ Giao Châu tay cầm mã tấu sáng loáng lăn xả vào chân ngựa phạt lia lịa khiến bầy ngựa chiến kinh hoàng nhảy dựng lên. Còn chưa hết thất kinh, bỗng nơi cổng thành phía Tây, hai đội voi chiến giương cặp ngà sáng quắc rùng rùng xông thẳng vào binh tướng La Châu đang quằn quại trong biển lửa. Biết đã mắc kế mai phục, song đám người ngựa La Châu chỉ biết chạy quanh trong khu rừng cháy hứng trọn tên đạn, gươm giáo, bàn chông, hố đá. Phía bên ngoài bìa rừng, ba ngàn chiến giáp của Ninh Cự toan xông vào cứu viện nhưng thấy lửa cháy ngày một lớn, lại thấy hai đạo binh mã theo sau đội voi chiến xồng xộc xông ra khiến họ Ninh không dám liều mạng tiến lên chỉ khua chiêng thu quân. Khi hai ngàn kỵ binh bị vây trong biển lửa thoát được ra ngoài chưa tới non một nửa cũng là lúc toàn bộ cánh rừng mọi tiếng động đột nhiên lắng xuống. Chỉ còn tiếng lửa cháy lép bép, tiếng người ngựa bị thương sa xuống hố kêu rên. Thứ sử Ninh Cự hốt hoảng kiểm điểm binh mã lập tức hạ lệnh lui quân bỏ mặc bọn bị thương van xin kêu khóc ở phía sau vô số kể.

    Khi tin Thứ sử La Châu Ninh Cự bị đặt phục binh nơi cửa Tây ngoài thành Gia Ninh đã đột ngột lui binh, đạo quân Ái Châu của Thứ sử Nguyễn Hán đại bại dưới chân đèo Cổ Họng, hai cánh quân của Thứ sử An Châu Lý Trí và Thứ sử Việt Châu Trần Hầu không kèn không trống đều tự tiện rút về. Dọc đường, chúng bị đám dân binh bản xứ vốn từ trước căm giận tướng Ngụy Lãng cướp phá hãm hiếp đã đặt vô số bẫy chông ở những nơi hiểm yếu khiến bọn Trần Hầu, Lý Trí thương vong không ít. Tin thất trận bay về Hợp Phố, Vũ Lâm hầu Tiêu Tư chỉ biết thở vắn than dài.

    *

    Đây nói tiếp chuyện lão tướng Phạm Tu cùng binh tướng truy sát đám tàn quân của Thứ sử Nguyễn Hán.

    Sau khi đặt phục binh bắn giết, bắt sống, bức hàng vô số kể binh tướng Ái Châu nơi chân đèo Cổ Họng khiến Thứ sử Nguyễn Hán phải chết trong đám loạn quân, một mặt lão tướng Phạm Tu sai các tướng Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục dùng chiến thuyền khẩn trương đánh tan đội thủy quân Ái Châu của Nguyễn Hân một mặt cử tướng tiên phong Trịnh Đô mau chóng dùng kỵ binh vượt qua đèo Cổ Họng thẳng tiến vào thủ phủ Ái Châu. Thứ sử Ái Châu Nguyễn Hán trước đã dốc toàn bộ binh lực chia hai đường thủy bộ tiến xuống Long Biên với dã tâm hợp binh cùng Trần Hầu, Ninh Cự, Lý Trí làm cỏ thành Long Biên. Trong số bốn đạo quân được Lương Vũ Đế mệnh lệnh đánh Giao Châu, quân của Nguyễn Hán thủy bộ vừa đông vừa mạnh lại cùng thung thổ phương Nam, họ Nguyễn chắc mẩm phen này sẽ được Lương triều giao kiêm quản thêm vùng đất rộng lớn đã không biết kiêng sợ gì nữa. Nay họ Nguyễn đại bại nơi chân đèo Cổ Họng, thủ phủ Ái Châu chỉ là tòa thành rỗng, binh lực không còn, đến trâu bò dê ngựa, lương thảo khí giới Nguyễn Hán cũng cho đem sạch theo quân, nên khi Trịnh Đô dẫn hơn ngàn kỵ mã đánh vào thủ phủ Ái Châu như vào chốn không người. Chỉ chưa đầy một buổi đã làm chủ thành Ái Châu.

    Ngày hôm sau, lão tướng Phạm Tu vào thành Ái Châu.

    Phạm Tu một mặt cho người đi úy lạo các huyện quanh vùng một mặt cho người ra báo tin với chủ công đã làm chủ Ái Châu. Chủ công Lý Bí mừng lắm bàn với quân sư Tinh Thiều phải sớm củng cố các vùng Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, nơi ngày trước Lý Bí từng trị nhậm tham chính việc binh lương. Cả một vùng đất rộng lớn phương Nam từ ngày Vũ Lâm hầu lơi lỏng kiểm soát, các Thứ sử, huyện lệnh, quan lại mạnh ai nấy trấn giữ xưng hùng không còn theo phép tắc gì nữa. Nay nhân lúc lão tướng Phạm Tu đánh bại bọn Nguyễn Hán, chiếm được Ái Châu, đại quân phải thừa thắng tiến thẳng về phía Nam vỗ về dân chúng, khiến bọn Thứ sử, huyện lệnh sớm thần phục về một mối mới mong đủ binh lực kình chống với Lương triều. Bàn bạc đâu đấy, quân sư Tinh Thiều dùng thuyền nhẹ cùng mấy viên tùy tướng đi thẳng vào Ái Châu cũng là lúc tin báo về bọn Ninh Cự, Lý Trí, Trần Hầu phía Bắc đã bãi binh về nước chúng.

    Sau hai ngày thuyền nhẹ nước xuôi, quân sư Tinh Thiều đi tới đâu đều được đón tiếp chu đáo. Nguyên lão tướng Phạm Tu đã cho lập nhiều trạm thủy bộ dọc tuyến đường thiên lý từ Long Biên vào tận Ái Châu. Khi ngựa khi thuyền, không chỉ sớm thông mọi tin tức mà việc vận chuyển quân lương cũng đã dần vào quy củ. Ngày trước, khi còn làm Giám quân châu Cửu Đức, Lý Bí rất được lòng các tướng và bọn huyện lệnh ở đây nên việc thần phục binh tướng về với cờ nghĩa diễn ra rất nhanh gọn. Ngay bản hịch do quân sư soạn sau trận chiến Đầm Bạch Long cũng đã vang tới tận châu Cửu Đức.

    Vừa tới thủ phủ Ái Châu, quân sư Tinh Thiều lập tức được lão tướng Phạm Tu đón vào trong trướng hổ thương nghị. Vị lão tướng sau mấy trận đại thắng càng trở nên cân quắc, tinh anh. Chòm râu đã bạc gần hết nhưng phong thái lão tướng vẫn hiên ngang lắm. Ngài vuốt chòm râu bạc thong thả nói với quân sư:

    - Lão phu không ngờ uy vọng của chủ công với các vùng biên trấn nơi đây thật vô cùng lớn. Việc chủ công đuổi bọn Vũ Lâm hầu về phương Bắc dân chúng khắp vùng Ái Châu, Lợi Châu, Minh Châu, Đức Châu đều phấn chấn, một lòng theo về. Ngay bài hịch tiên sinh thay chủ công soạn ngày trước cũng đã vang tận thôn cùng xóm vắng ở đây rồi. Người phương Nam chúng ta vốn cùng dòng máu nên hễ động đến việc đánh giặc Bắc đều nhất nhất theo về. Như Ái Châu đây, ngày trước, các bậc anh hùng Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Đạt còn noi gương Hai Bà Trưng tận Mê Linh đánh đuổi giặc Ngô khiến phương Bắc kinh sợ. Hễ nhắc đến đánh giặc phương Bắc, người phương Nam đều nhất hô bá ứng. Cho thấy lời hịch đứng lên giành quyền tự chủ đã ăn sâu vào tim óc của dân chúng phía Nam.

    Quân sư Tinh Thiều mừng rỡ nói:

    - Lão tướng quân liên tiếp lập nhiều công lớn, lại hiểu sâu sắc dân chúng đến nhường ấy quả là phúc phận của người phương Nam trong buổi giành tự chủ cho nước mình. Vùng Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu mênh mông ngàn dặm cũng là đất đai của tổ tiên người phương Nam chúng ta. Ở phía Long Biên, nhờ uy võ của các tướng, sự cố kết của muôn dân, bọn giặc Lương đã đại bại trở về nước chúng. Nay quốc thổ đã được mở rộng, muôn dân đều đã theo về một mối, việc chủ công lên ngôi quân trưởng nối nền quốc thống chắc đã không còn xa nữa. Những người như lão tướng quân đây sẽ là trụ cột của triều đình.

    Lão tướng Phạm Tu xúc động nói:

    - Lão phu không ngờ gần cuối đời lại được gặp minh chủ, được cầm binh đánh giặc lập công. Từ mấy mươi năm trước, ta đã đoán biết chủ công là bậc thần chủ của một nước, nay quả đạo trời cũng trùng với ý nguyện của lão phu. Lão phu nguyện dốc sức mình gây dựng giềng mối của các châu quận phương Nam để chủ công có cơ đồ vững trãi, binh mã lương tiền dồi dào tiện việc kiến thiết đất nước sau này.

    Đang khi quân sư và lão tướng Phạm Tu bàn bạc bỗng bên ngoài tướng tiên phong Trịnh Đô mình mang giáp phục khẩn trương tiến tới bẩm báo:

    - Bẩm nhạc phụ cùng quân sư! Tin khẩn từ Cửu Đức báo về, đích thân vua nước Lâm Ấp là Rút Xa Man dẫn hai vạn tinh binh đang trên đường xâm phạm vào đất ta. Chắc chắn chúng đã được tin Thứ sử Nguyễn Hán đem toàn bộ binh lực tiến ra Long Biên bèn thừa cơ đánh úp các vùng Cửu Đức, Hoài Hoan. Vua Lâm Ấp còn kích động nước Di Lạo cử đại binh theo đường thượng đạo đánh tập hậu vào Ái Châu. Vua Di Lạo là Phạ Xum còn đang chần chừ chưa quyết. Đại binh của Rút Xa Man bao gồm tượng binh, kỵ binh, có cả thủy binh tiến theo đường biển thanh thế rất lớn. Xin nhạc phụ và quân sư hãy mau tính kế cự địch.

    Quân sư Tinh Thiều và lão tướng Phạm Tu thoáng sững người. Không thể ngờ được vua Lâm Ấp lại có dã tâm xâm lược đúng vào lúc này. Ngày trước, khi còn làm Giám quân Cửu Đức, Lý Bí đã nhiều lần đem quân đánh bọn giặc cỏ do vua nước Lâm Ấp xúi giục xâm lấn nơi biên giới nhưng khi đó nội tình Lâm Ấp còn lục đục bất hòa nên chưa nghĩ tới việc đem đại quân đi xâm lấn. Nay thấy thời cơ Vũ Lâm hầu đã bị đuổi về phương Bắc, Lý Bí cùng các tướng ở cả Long Biên nên Rút Xa Man bất thần cử đại binh xâm lược quả là dã tâm không nhỏ.

    Lão tướng Phạm Tu bước tới chiếc sa bàn bằng đất đắp nổi biểu thị hình thái núi sông địa đồ vùng Cửu Đức, Hoài Hoan nói với quân sư:

    - Vua Lâm Ấp thừa cơ Giao Châu có biến đem đại quân định cướp các vùng Cửu Đức, Hoài Hoan, thuận đường gió nước có thể tính chuyện đánh xuống Ái Châu tất chúng muốn tốc chiến tốc thắng. Quân ta vừa đại thắng liên tiếp hai trận thủy bộ bắt được tù binh chiến giáp trâu ngựa vô số binh lực dồi dào nhưng không được chủ quan khinh suất. Xưa nay, Lâm Ấp với Giao Châu thường lấy dãy Hoành Sơn làm cương vực, song các đời vua trước vẫn cho rằng các vùng Cửu Đức, Hoài Hoan là đất cũ của chúng nên thường xúi giục dân chúng quấy phá gây bất ổn triền miên. Nay Lâm Ấp vô cớ động binh đao cũng là dịp tốt để binh tướng ta dạy cho chúng một bài học, mai này đỡ phải nhọc sức xuất binh qua dãy Hoành Sơn. Lão phu sẽ thân chinh dẫn đại quân ứng chiến với vua Lâm Ấp. Còn việc đối phó với người Di Lạo xin quân sư hãy chủ trì cho.

    Quân sư Tinh Thiều nghiêm nghị nói:

    - Lão tướng quân vừa mới huyết chiến với bọn Nguyễn Hán, giáp phục còn chưa kịp cởi, Lâm Ấp lại động binh khiến quân ta phải lên biên cương chặn giặc. Việc bang giao với các nước phía Nam sớm muộn gì cũng phải tiến hành quy củ, nhưng nay chúng đem binh hùng tướng mạnh đến ta chưa cần nói lý lẽ làm gì. Việc bày binh bố trận đánh tan quân Lâm Ấp xin giao phó cho tướng quân cả. Còn đối với vua Phạ Xum của Di Lạo, ta sẽ cử đặc sứ tới nói rõ thiệt hơn với họ. Việc ta đại thắng giặc Lương chắc cũng đã chấn động nước họ, người Di Lạo lại vốn hiền lành không ưa họa chiến tranh sẽ không mắc mưu vua Lâm Ấp đâu. Xin lão tướng quân hãy vững tâm dẫn đại binh tiến ra Cửu Đức đại phá quân Lâm Ấp.

    Nghe quân sư nói rõ lợi hại, lão tướng Phạm Tu tươi nhuần nét mặt bảo với Trịnh Đô:

    - Quân sư đã nhìn rõ tận tim óc của giặc. Người có đại tài xưa nay thường ở nơi màn trướng quyết định thắng bại chốn sa trường. Mấy phen quân ta đại thắng cũng phần nhiều nhờ vào kỳ mưu của quân sư. Nay Trịnh Đô kíp dẫn năm nghìn quân tiên phong với hai nghìn kỵ binh ngay hôm nay tới núi rừng Cửu Đức bày trận mai phục. Giặc kia cậy nhiều voi ngựa, ngươi hãy cho đào nhiều hố lớn, cắm thật dày cọc tre vạt nhọn voi sẽ sợ hãi không dám tiến. Lại cho đắp những ụ đất cao hai bên đường đặt máy phóng tên. Hai ngày nữa, ta sẽ dẫn đại binh tới quyết chiến với quân Lâm Ấp. Về phía mặt biển, ta sẽ cho điều động các tướng Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục mau chóng dẫn chiến thuyền chặn thủy quân của Rút Xa Man. Còn việc đối phó với Di Lạo, chắc quân sư đã có tính toán sẵn rồi.

    Trịnh Đô vâng mệnh điểm binh tướng lập tức lên đường.

    Quân sư Tinh Thiều lấy danh nghĩa chủ công Lý Bí viết một phong thư nói rõ lợi hại sai đặc sứ đem tới kinh thành Di Lạo. Từ trước đó, khi còn làm Giám quân vùng Cửu Đức, Lý Bí rất có uy vọng với các vị tù trưởng người Di Lạo nên khi thư đến, vua Di Lạo là Phạ Xum tiếp đoàn đặc sứ rất trọng thị, còn gửi thư cho chủ công Lý Bí hứa không bao giờ xâm phạm đất đai các vùng nơi biên giới đồng thời cự tuyệt sứ giả của Rút Xa Man. Tạm yên với người Di Lạo, quân sư Tinh Thiều cùng các tướng ở Ái Châu sửa soạn thêm binh mã, thuyền bè, lương thảo để tiếp ứng cho đại quân của Phạm Tu. Vừa lúc đó có tin chủ công Lý Bí đã cho hai tướng Điền Công, Điền Thái mang theo hai ngàn kỵ binh từ Long Biên vào tiếp ứng. Vốn từ trước, Điền Công và Điền Thái từng làm tùy tướng khi Lý Bí làm Giám quân ở Cửu Đức, rất thông thạo địa thế nơi đây. Các vị tù trưởng, tộc trưởng người bản địa đều chịu ơn sâu của Giám quân nên việc bày trận phá quân Lâm Ấp càng thêm thuận tiện.

    Sau hơn nửa tháng giáp chiến, phần vì quân của lão tướng Phạm Tu đã qua nhiều trận đại thắng dũng mãnh thiện chiến, ai cũng ra sức lập công; phần các tướng đều tuân thủ chiến pháp mai phục, lại thông thạo địa hình, được các tộc trưởng, chủ phường săn chỉ cho nơi hiểm địa nên quân Lâm Ấp dẫu đông mà không thể tiến được còn bị sa vào hố chông, kè đá, đốt giết vô số kể. Trong một trận đại chiến nơi rừng rậm Cửu Đức, tướng tiên phong Trịnh Đô suýt nữa bắt được vua Rút Xa Man. Các tướng người Lâm Ấp phải liều chết lăn xuống hố chông cõng vua chạy trong làn mưa tên. Bản thân Rút Xa Man bị trúng trên mười mũi tên may không vào chỗ hiểm còn giữ được tính mạng sợ hãi nửa đêm đem hơn vạn tàn binh vượt dãy Hoành Sơn trốn về Lâm Ấp bỏ lại vô số voi ngựa chiến giáp. Quân Lâm Ấp số bị thương số đầu hàng nên đến năm sáu nghìn người được lão tướng Phạm Tu cho ăn uống tử tế, lại cho thuốc men trị thương, đợi hồi sức đều cho được trở về Lâm Ấp. Nhiều viên đô tướng người Lâm Ấp phần vì cảm phục ân nghĩa của Phạm lão tướng quân, phần vì sợ trở về sẽ bị trị tội xin ở lại phục vụ quân doanh Phạm tướng đều trọng dụng cả. Đạo thủy quân Lâm Ấp nghe tin vua Rút Xa Man bị trọng thương đã đem tàn quân trở về chưa kịp giao chiến với thủy quân Giao Châu đã vội vã rút về. Lý Thiên Bảo và Triệu Quang Phục để lại năm mươi chiến thuyền nơi cửa biển Đức Châu còn cho rút toàn bộ đại quân về Ái Châu.

    Tin lão tướng Phạm Tu đại phá quân Lâm Ấp bay về thành Long Biên khiến mọi người đều mừng rỡ. Nhân dịp Tết Nguyên đán, chủ công Lý Bí cho dân chúng toàn cõi Giao Châu mở hội ăn mừng. Những phong tục cổ truyền được các vị bô lão trong hương xã, các tù trưởng, tộc trưởng vùng biên trấn cho gây dựng lại rất quy củ. Các hội vật, hội cờ, thi đánh đu, đua bơi thuyền, hội chọi trâu, đua ngựa, kéo co, phóng lao, bắn tên… được tổ chức khắp các nơi. Chủ công Lý Bí cho ban thưởng mỗi làng năm con dê béo, bảy vò rượu tăm, các cụ bô lão từ bảy mươi tuổi trở lên đều được thưởng một tấm lụa đỏ, ba cân thịt, một thúng thóc khiến dân chúng trong vùng vô cùng phấn chấn đâu đâu cũng nhắc tới ơn đức của Lý Bí. Cũng trong dịp lễ hội, chủ công Lý Bí cho dùng loa lớn đi khắp các làng xã tuyên bố miễn giảm thuế một năm cho các hộ dân, kể cả đội thương thuyền, lục nghệ nơi chợ búa đều nhất loạt miễn giảm. Những là đình đền trước đây bị quân Lương phá bỏ, hoặc do chiến tranh mà tan vỡ đều được giao cho các huyện lệnh phải sớm tôn tạo để dân chúng có nơi dâng hương lễ phật, tưởng nhớ ân đức của tổ tiên. Vốn xuất thân thiền môn, lại từng là đệ tử của Từ sư phụ, một trong lục đại hộ pháp của thiền phái Luy Lâu, chủ công Lý Bí cử các vị tướng quân, đô tướng mỗi vùng đất đều về quê của mình tới dâng hương với các vị bô lão nơi bản xứ. Đích thân chủ công Lý Bí tới cổ trấn Luy Lâu cùng hai mươi bảy vị bô lão lập đàn tràng trong cổ tự đọc kinh giải oan cho bảy mươi ba vị hương trưởng ngày trước bị Vũ Lâm hầu giết chết nơi bến đò. Đàn tràng lập ra, dân chúng khắp vùng kéo đến rất đông. Ai cũng cảm động khi thấy chủ công Lý Bí tự xuống tóc, mặc áo cà sa cùng với các vị cao tăng đi quanh đàn tràng đọc kinh siêu độ cho những người bị chết oan ngày trước.

    Sau mười ngày khắp vùng Giao Châu nô nức vui xuân mở hội, dân chúng đều vui mừng, từ tận nơi thôn cùng xóm vắng đến các phố xá trong ngoài thành Long Biên già trẻ trai gái đều ca ngợi ơn đức của chủ công Lý Bí. Trong đại điện thành Long Biên treo đèn kết hoa rực rỡ, các vị tướng quân đã có mặt đông đủ, quân sư Tinh Thiều cùng năm vị chủ bạ bên phủ đệ đứng sắp hàng nghiêm chỉnh. Chủ công Lý Bí đầu quấn khăn nhiễu xanh, mình mặc bộ áo thụng bằng gấm màu tía thêu rồng, chân đi giày da báo khảm ngọc ngồi trên chiếc ghế lớn chính giữa nhìn lướt một lượt thấy mọi người sắc mặt đều tươi nhuận ngài đứng lên vui mừng nói:

    - Đầu xuân năm mới, ta xin có lời chúc mừng tới các vị lão tướng, quân sư cùng các vị tướng quân. Ba quân thủy bộ Giao Châu ta trước đã đuổi được Vũ Lâm hầu về phương Bắc, sau đánh tan Nguyễn Hán ở Ái Châu, đuổi bọn Ninh Cự, Trần Hầu, Lý Trí phải lui binh, tiếp đó đại thắng quân Lâm Ấp, chỉ một bức thư đã khiến người Di Lạo phục tùng, chúng dân bốn phía đều nô nức theo về, những ngày thái bình tự chủ ước ao của người Giao Châu mấy trăm năm nay đã thành hiện thực quả thực đáng mừng. Trong tiết đầu xuân, ta không muốn bàn đến chuyện binh đao, nhưng tin từ Hợp Phố đưa về ta không dám giấu các tướng. Lương Vũ Đế nghe lời xúc xiểm đang dồn binh lực của Thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, Thứ sử Tôn Châu là Lư Tử Hùng thống suất năm vạn quân thủy bộ chuẩn bị tiến đánh Giao Châu. Các Thứ sử thua trận ngày trước, Lương Vũ Đế đều không tin dùng. Binh lực của chúng hiện đang dồn về Hợp Phố đợi đích thân Lương Vũ Đế tới ủy lạo trước lúc xuất chinh. Ta cho rằng không quá ba tháng nữa, giặc Lương lại tiến xuống Long Biên. Nay các tướng cùng quân sư hãy cùng nghị sự xem quân ta phải tiến thủ thế nào.

    Chủ công Lý Bí vừa dứt lời, các tướng đều xôn xao bàn tán. Mấy vị quan chủ bạ cùng một số tướng đang định tâu trình việc suy tôn Lý Bí lên ngôi quân trưởng để cố kết quân dân trong toàn cõi Giao Châu nay bỗng có tin giặc Lương lại sắp đánh xuống nên chần chừ chưa dám nói. Thấy mọi người bàn tán đã kỹ, trong số các võ tướng, lão tướng Triệu Túc khi ấy đã bảy mươi ba tuổi râu tóc bạc phơ nhưng vẫn còn rất cân quắc tiến ra khảng khái nói:

    - Thưa chủ công cùng quân sư, các vị chư tướng! Theo thiển ý của lão phu, hiện nay lòng người trong toàn cõi Giao Châu đều muốn suy tôn chủ công lên ngôi quân trưởng để vững gốc nước. Giặc Lương kia chẳng bao giờ chịu nhục sớm muộn đều sẽ cất quân xuống đàn áp dân ta. Nước có gốc mới vững bền. Ngôi quân trưởng phải có người tài đức hiền sáng đảm đương. Chủ công ta, xét về tài văn võ, đức độ, uy vọng đều xứng ở ngôi cao. Lão phu đã sớm bàn với Phạm lão tướng quân hôm nay quyết ý suy tôn ngài lên giữ ngôi nước. Việc bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng ở Hợp Phố ta nào sợ gì chúng. Binh tướng ta thủy bộ dồi dào, các tướng đều anh dũng tất sẽ đánh giặc Lương đại bại. Mấy lời tâm huyết của lão phu mong chủ công sớm định liệu cho.

    Quân sư Tinh Thiều cùng các tướng ai nấy đều có suy nghĩ giống với ý của Triệu lão tướng nên đều mừng rỡ. Lão tướng Phạm Tu nghiêm nghị bước ra nói:

    - Lời nói của Triệu lão tướng cũng là tâm ý của lão phu. Việc suy tôn chủ công lên ngôi quân trưởng còn là ý nguyện của hương thân phụ lão khắp trong toàn cõi. Ngay các vùng Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu, từ quan lại tới chúng dân đều hướng về ân đức của chủ công. Ngày trước, ta được Từ sư phụ vùng Cổ Pháp, Đỗ sư phụ vùng Long Đỗ, Phùng sư phụ vùng Chu Diên nói cho biết sau này chủ công sẽ giương cao cờ nghĩa đánh đuổi quân Lương giành tự chủ cho người Giao Châu. Nay quả nhiên đúng là như thế đúng là ý trời. Còn như việc đánh bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng, theo kế của lão phu lần này ta sẽ sang hẳn đất chúng, phá tan sào huyệt quân lương của chúng, đánh phủ đầu bọn Lương tặc để chúng phải kinh sợ không dám sang quấy rối Giao Châu nữa mới là thượng sách.

    Các tướng trẻ thấy hai vị lão tướng đều nói thay cho tâm can của mình đều rất xúc động đồng thanh hô lớn:

    - Xin chủ công hãy lên ngôi quân trưởng!

    - Xin chủ công hãy lên ngôi quân trưởng!

    Chủ công Lý Bí thấy mọi người đều có ý suy tôn trong lòng rất xúc động đứng dậy trang nghiêm nói:

    - Tấm lòng của hai vị lão tướng, quân sư cùng các vị tướng quân ta đây lẽ nào không biết. Dân chúng Giao Châu mến mộ ta cũng đều là công sức của các tướng, sự chính nghĩa của toàn quân mà có được chứ tài đức của ta đâu xứng được như vậy. Nay Phạm lão tướng quân có ý dùng kế tiên phát chế nhân, vào đất giặc đánh giặc quả là kỳ mưu xưa nay người Giao Châu ta chưa khi nào dùng tới. Việc này mời quân sư cùng các tướng bàn kỹ thêm. Còn việc giữ ngôi cao hãy nên thư thả. Thứ nhất, thành Long Biên tuy vững nhưng còn có nhiều chỗ bất tiện, dùng để thủ thì được chứ mở mang giao thương, kết nối thủy bộ đều có khó khăn. Ta xem đất Tống Bình nơi cửa sông Tô Lịch sát Đầm Sương Mù bốn bề thoáng đãng, ba mặt đều có sông lớn bao bọc, lại tiếp giáp với các vùng Long Đỗ, Chu Diên có thể đóng vạn quân thủy bộ tiến lui, giao thương vận chuyển đều thuận tiện mới là chỗ đặt kinh đô của một nước. Không biết ý quân sư và các tướng thế nào?

    Quân sư Tinh Thiều cùng hai vị lão tướng và các tướng nhìn nhau bàn tán xôn xao. Thì ra việc chủ công còn chần chừ chưa vội lên giữ ngôi cao có nguyên cớ sâu xa là ngài muốn rời chuyển về vùng Tống Bình dựng thành trì ở đó. Luôn mấy tháng ròng, sau khi đuổi Vũ Lâm hầu về phương Bắc, chủ công đã dùng thuyền nhẹ tự mình đi khảo sát kỹ lưỡng đất Tống Bình, ngài còn cho chèo thuyền vào trong Đầm Sương Mù thị sát các đảo lớn nhỏ. Hôm dừng chân trước ngôi miếu cổ thờ thần sông Cái trên chiếc đảo nhỏ sát bờ Đầm Sương Mù ngài vào dâng hương rồi phân vân ngẫm nghĩ mãi các tướng không hiểu ý gì. Thấy các tướng bàn soạn mãi chưa ai lên tiếng, quân sư Tinh Thiều tiến ra nói:

    - Thưa chủ công, thưa các vị lão tướng, các vị tướng quân. Xét kỹ mọi việc ở Giao Châu ta hiện nay những trăn trở của chủ công, nguyện vọng của các tướng đều đúng cả. Bình tâm mà luận, việc đánh giặc Lương và suy tôn chủ công lên giữ ngôi nước đều phải mau chóng tiến hành. Lão tướng Phạm Tu hiến kế tiên phát chế nhân quả là cao diệu. Nay ta xuất kỳ bất ý đem quân đánh Hợp Phố phải dùng cả thủy binh và kỵ binh. Thủy binh phải kín nhẹm thần tốc theo đường biển tập kích quân doanh nơi Hợp Phố của bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng còn đạo kỵ binh chỉ đóng vai trò là kỳ binh thu hút sự chú ý của binh tướng An Châu, Việt Châu khiến chúng phải án binh bất động không dám cứu viện mà thôi. Còn việc chọn đất xây dựng thành lũy ý chủ công đã quyết rời về Tống Bình cũng là nhân lúc người Giao Châu ta làm chủ đất mình tự chọn lấy nơi dựng kinh thành mới đúng ý trời. Bởi vậy, việc tìm đặt quốc hiệu, xây dựng quốc đô, chế định luật lệ triều chính, sắp đặt hai quan văn võ chính là việc xây dựng nền tảng đắp bồi gốc nước ngàn năm bền vững cần phải tính toán cho thật kỹ. Xin chủ công cùng các vị tướng quân, các vị văn thần hãy vì nước mà nói ra tâm ý của mình.

    Lời quân sư chưa dứt ai nấy đều xôn xao bàn tán. Mới hơn nửa năm trời theo về cờ nghĩa, quả không ít người còn bối rối trước chiến thắng vang dội của nghĩa quân. Từ vị trí là người bị sai khiến, làm tôi tớ, trâu ngựa cho binh tướng phương Bắc, đất đai tổ tiên bị chúng biến thành quận huyện, nay phút chốc đứng lên làm chủ, ai nấy đều bâng khuâng bỡ ngỡ chưa biết hành xử ra sao. May có quân sư Tinh Thiều từng chu du khắp đất Trung Nguyên, luyện mài thi thư binh pháp, lại thông hiểu lễ nghi triều chính đúng là trời sai xuống giúp người Giao Châu buổi đầu tự chủ. Nghe từng lời nói của quân sư dường như bên trong đã có sự sắp đặt kỹ lưỡng rồi. Để mọi người bàn tán một lúc, chủ công Lý Bí mới tươi cười nói:

    - Việc chuẩn bị hai quân thủy bộ tiến đánh phủ đầu bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng ta quyết kế của Phạm lão tướng quân và quân sư. Còn việc đặt quốc hiệu, xây quốc đô, chế định triều nghi, sắp xếp văn võ ta xin có vài ý. Người Giao Châu ta xưa nay trọng lễ nghĩa, luôn lấy việc ăn ở thuận hòa, khoan hậu êm ấm làm trọng nên không cần thiết phải dựng cung điện lớn, đắp thành to làm gì cho nhọc sức dân. Bởi vậy chỉ cần dựng gian đại điện ở nơi thuận tiện thủy bộ là được. Hôm trước, ta đã xem xét kỹ khoảng đất ở cửa sông Tô Lịch tiếp giáp với Đầm Sương Mù, nơi có dãy núi đất cao ráo có thể dựng được ngôi đại điện. Cách đó vài trăm thước, ở đảo nhỏ sát mép đầm, nơi có ngôi miếu cổ thờ thần sống Cái có thể dựng mấy gian thờ phật thêm thuận tiện để chúng tướng dâng hương trước mỗi dịp họp bàn. Nay đang mùa xuân tươi tốt, người cùng vạn vật đều nảy nở hân hoan, ta định đặt tên nước là Vạn Xuân, ngôi điện mới là Vạn Thọ, ngôi chùa là Khai Quốc. Chẳng hay quân sư và các tướng thấy thế nào?

    Lời chủ công Lý Bí vừa dứt, mọi người trong đại điện ai nấy đều cảm thấy sững sờ, như không tin vào tai mình vừa nghe những lời sâu sắc đến tận cùng mà cũng vô cùng giản dị. Ai nấy đều tưởng như thánh thần linh khí núi sông đang nhập vào thân thể trí óc chủ công.

    Chúng tướng sau phút sững sờ không ai bảo ai đột ngột quỳ xuống thì thầm rồi đồng loạt hô lên:

    - Vạn Xuân! Vạn Xuân! Vạn Xuân!

    Tiếng hô to dần rồi vang rền như sấm. Ngay chính Lý Bí ngài cũng phút chốc quên mất mình đang chủ trì giữa đại điện bất giác quỳ xuống giơ hai tay hô to cùng chúng tướng:

    - Vạn Xuân! Vạn Xuân! Vạn Xuân!

    HỒI THỨ MƯỜI LĂM

    Ba quân khải hoàn, chúng tướng suy tôn Đế hiệu

    Vạn Xuân - Khai Quốc, muôn dân ân hưởng thái bình

    S

    au buổi họp bàn nơi đại điện thành Long Biên, không chỉ các văn thần võ tướng phấn chấn tinh thần mà tin tức khi truyền đến khắp ba quân tướng sĩ, dân chúng trong toàn cõi đều vô cùng mừng rỡ. Hai chữ Vạn Xuân được viết khắp lên chuôi gươm, cán giáo, thân tên, yên ngựa, bành voi, đến tường thành, góc phố, vách nhà… ngay như cày bừa, thúng mủng, thuyền bè, bến chợ thảy đều được viết, khắc, chạm hai chữ VẠN XUÂN. Từ cụ già tám chín mươi lưng còng lụ khụ đến đám trẻ mới biết bò bi bô tập nói đều đánh vần hai chữ Vạn Xuân. Trong quân, các chủng kỵ binh, thủy binh, tượng binh đều đặt hai chữ Vạn Xuân lên trước: Vạn Xuân bộ tốt. Vạn Xuân kỵ mã. Vạn Xuân tượng giáp. Vạn Xuân thủy kỳ… Hàng vạn binh lính các chủng quân còn đua nhau thích hai chữ Vạn Xuân lên cánh tay mình. Hai tiếng Vạn Xuân ngay cả trong mơ mọi người đều nhắc đến, khi thì thầm khi hét vang lên. Ngay chủ công Lý Bí cũng không thể ngờ được sự thiêng liêng của quốc hiệu Vạn Xuân lại trở thành ngọn lửa cháy rừng rực, khơi nguồn sức mạnh khắp trong toàn cõi Giao Châu đến như thế.

    Theo mệnh lệnh của chủ công Lý Bí, quân sư Tinh Thiều cùng lão tướng Phạm Tu chủ trì việc trù hoạch binh lương thủy bộ tiến đánh bản doanh Hợp Phố. Đội thủy quân của các tướng Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Thành, Triệu Quang Phục được điều động từ Ái Châu, Chu Diên, Bạch Hạc về quân doanh Long Biên. Đội tượng binh, kỵ binh của Phùng Thanh Hòa, Trịnh Đô cũng gấp rút được điều động về Cổ Loa. Các quân doanh đều thống nhất cắm cờ ngũ sắc chính giữa đề hai chữ Vạn Xuân cực lớn. Thủy quân Vạn Xuân sau đại thắng Ái Châu, Cửu Đức đã lên tới trên bốn trăm chiến thuyền dày dặn kinh nghiệm chiến đấu nơi cửa sông, cửa biển. Khi giáp chiến với tướng thủy quân Ái Châu Nguyễn Hân trên biển, thủy quân của Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục đã tỏ ra vượt trội, đánh đắm chiến thuyền của Nguyễn Hân vô số. Cứ nhìn vào binh lực thủy quân Vạn Xuân mới thấy lão tướng Phạm Tu, quân sư Tinh Thiều quả có con mắt tinh đời khi hiến kế tiến đánh phủ đầu bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng ở Hợp Phố.

    Trong trướng hổ quân doanh Long Biên, trong lúc chờ đợi các tướng tới họp bàn, lão tướng Phạm Tu bảo với quân sư Tinh Thiều:

    - Chủ công ta quả là người nhà trời chứ không phải người thường mới nghĩ được tên quốc hiệu Vạn Xuân. Chỉ một chữ thôi mà sức quân sức nước đã lên cao nhiều lắm.

    Quân sư cung kính đáp lại vị lão tướng:

    - Chủ công vốn xuất thân thiền môn, kinh sách ngài ấy đã đọc đến ngàn quyển, lại nhiều năm đảm nhận việc binh lương khắp các vùng, trên thấu lòng trời, dưới hiểu chúng dân mới có được trí tuệ ấy. Hơn nữa, cũng may được các văn thần võ tướng hết lòng giúp rập mới có sự vững vàng mà tính kế bền lâu. Nay ngài ấy giao mọi việc xây dựng điện Vạn Thọ, chùa Khai Quốc cho Triệu lão tướng quân là có ý để ta cùng lão tướng dồn hết sức cho công cuộc đánh quân doanh Hợp Phố. Đây cũng là lần đầu hành binh vào đất giặc phải tính toán cẩn thận lắm mới được.

    Lão tướng Phạm Tu vuốt râu nghiêm nghị nói:

    - Lão phu bây giờ đã hiểu cao ý của chủ công. Giềng mối nền tự chủ phải được bắt đầu từ tên nước, tên kinh thành, tên quốc tự tất thảy đều phải do người Giao Châu chúng ta xác lập. Phép dùng binh muốn thắng giặc cũng từ đó mà ra. Phải tự mình có phương lược mới mẻ mới có được kỳ mưu phá giặc. Có nằm mơ Lương Vũ Đế cũng không thể nghĩ được binh tướng Vạn Xuân ta lại sang thẳng đất Lương đại phá chúng, nói gì đến bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng. Binh cốt bất ngờ. Thủy quân ta đã quen chiến trận phen này tất thắng. Lão phu chỉ ngại sau này Lương Vũ Đế không cam tâm chịu nhục lại động binh mà thôi.

    Thấy vị lão tướng dẫu đã chắc thắng vẫn còn vân vi lo về mai hậu, quân sư Tinh Thiều xúc động nói:

    - Biết nhìn nhận sâu xa như lão huynh thật là hiếm có. Nhưng giặc Lương nào để ta yên. Ta không sớm đánh phủ đầu chúng, ắt chúng cũng tiến xuống đất ta. Đằng nào cũng phải giao tranh, chi bằng hãy dạy cho bọn người phương Bắc một bài học để chúng biết được Vạn Xuân ta có chủ. Không biết trận này Phạm lão tướng định dụng binh ra sao?

    Lão tướng Phạm Tu sau buổi đại thắng nơi chân đèo Cổ Họng, phá tan quân thủy bộ của Nguyễn Hán, tiếp đó đại thắng hai vạn quân Lâm Ấp tiếng tăm lừng lẫy lắm. Các phép đánh thủy, đánh bộ, mai phục, hỏa công của ngài, chúng tướng đều tâm phục. Nhiều vị tướng trẻ còn đến xin ghi chép lại để tiện việc dùng binh sau này đều được Phạm lão tướng chỉ bảo tận tình.

    Thấy quân sư quả đã nhìn thấu gan ruột mình, lão tướng Phạm Tu trang nghiêm đáp:

    - Quân ta đánh trận này sẽ chỉ có thủy quân giáp chiến. Vừa đi vừa về độ một tháng là cùng. Quân không cần nhiều cốt phải tinh nhuệ. Tướng phải dũng mãnh can đảm. Ta đã xem mấy trận trước, thấy hai tướng trẻ Triệu Quang Phục và Phùng Thanh Hòa không chỉ thiện chiến dũng mãnh mà còn rất có mưu lược nên trận này sẽ cử hai tướng làm tiên phong. Chỉ cần lựa chọn ba trăm chiến thuyền theo đường biển bất ngờ đột kích vào quân doanh Hợp Phố đốt hết lương thảo, khí giới, thuyền bè của bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng rồi lập tức rút về. Đạo kỳ binh đường bộ sẽ giao cho Trịnh Đô, Triệu Tam dẫn năm nghìn thiết kỵ thẳng tới vùng biên giới tiếp giáp Việt Châu, An Châu gây thanh thế khiến quân kia không dám ứng cứu Hợp Phố. Đề phòng bất trắc, sau khi hai tướng Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa tiến binh, ta cử thêm Triệu Quang Thành đem hơn trăm chiến thuyền tiếp ứng. Nếu bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng có tỉnh ngộ ra, đem chiến thuyền liều chết đuổi theo thấy quân ta có viện binh ắt chúng không dám manh động, thủy quân ta sẽ an toàn rút về. Không biết quân sư có chỉ cao kiến gì không?

    Quân sư Tinh Thiều xúc động nói:

    - Lão tướng quân quả là đã tính toán hết sức chu đáo. Dùng chính binh bất ngờ đột kích nơi giặc không phòng bị. Dùng kỳ binh dụng kế nghi binh sau trước nhịp nhàng. Đang mùa gió nước thuận lợi, ắt bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng sẽ đại bại mà thôi.

    Khi các tướng Triệu Quang Thành, Lý Thiên Bảo, Phùng Thanh Hòa, Triệu Quang Phục, Trịnh Đô, Triệu Tam tới trướng hổ thương nghị mọi người đứng quanh tấm sa bàn đất đắp nổi cùng đưa ra những ý kiến của mình theo phương lược tiến quân của lão tướng Phạm Tu.

    *

    Đây nói chuyện lão tướng Triệu Túc cùng chủ công Lý Bí dùng thuyền nhẹ vượt qua Đầm Sương Mù tới cửa sông Tô Lịch nhằm xem xét địa thế thủy bộ chọn khoảnh đất để dựng điện Vạn Thọ. Đầm Sương Mù buổi đầu xuân sương bay bảng lảng, chỉ vài chục thước đã mờ mịt khó nhìn nhưng đến khi mặt trời lên non con sào toàn cảnh sông nước mênh mông đã hiện ra trước mắt. Chủ công Lý Bí cho đem theo mấy tên quân vốn là dân chài lưới ở các làng Bình Sa, Già La, Nha Lâm nơi các đảo nhỏ trên Đầm Sương Mù. Mấy vị lão trượng quen thung thổ ở Tống Bình cũng được mời đi cùng. Nguyên lão tướng Triệu Túc mấy chục năm gây dựng quân doanh, thủy trại ở bến Đầm Dạ Trạch nên rất thông thạo việc khảo sát hình sông thế núi, dò tìm mạch đất nông sâu. Đến giữa buổi sáng, đứng trên khoảng đất rộng nhô cao hình mai rùa giáp dãy núi đất cây cối um tùm ngay sát Đầm Sương Mù, Triệu lão tướng nhìn bao quát một lượt rồi trang nghiêm hỏi chủ công Lý Bí:

    - Bẩm chủ công! Có phải ngài đã chọn khoảnh đất này để dựng điện Vạn Thọ chăng?

    Chủ công Lý Bí tươi cười đáp lời lão tướng:

    - Phạm lão tướng quả thấu hiểu ý ta. Không biết ngài thấy mảnh đất này có được chăng?

    Vị lão tướng ung dung đáp:

    - Bẩm chủ công! Hôm trước trên đại điện, chỉ hai chữ Vạn Xuân khiến lòng người toàn cõi đều rung động hướng về. Thì ra chủ công đã có ý dựng điện Vạn Thọ từ lâu rồi. Khoảnh đất này có dáng thần quy vọng nguyệt, phía trước hướng ra Đầm Sương Mù, phía sau có dãy núi đất cao dày làm chỗ dựa, hai bên có sông Cái, sông Tô Lịch chảy xuôi quả là quý địa. Đây lại là trung tâm của quận Tống Bình, các đường thủy bộ đều thuận lợi quả là trời đã dành mảnh đất này cho chủ công. Lão phu nay mai sẽ bàn kỹ với quân sư cho sớm dựng ngôi điện để chủ công tiện bàn việc nước.

    Chủ công Lý Bí xúc động nhìn vị lão tướng đã hơn bảy mươi tuổi vẫn hết lòng vì nước nói:

    - Ngôi nước xưa nay đâu chỉ vững bền vì có thành cao hào vững, mà chính là ở trong lòng người đó thôi. Nay lão tướng quân tuổi ngoại bảy mươi vẫn một lòng vì nước quả là phúc lớn. Lão tướng hãy bàn với quân sư, điện chẳng cần nguy nga tráng lệ, chỉ cốt tiện lợi vững vàng. Sức nước, sức quân Vạn Xuân còn phải để dành cho nhiều việc lớn khác.

    Vừa nói, chủ công Lý Bí vừa dắt tay lão tướng cùng các vị lão trượng tiến thêm một đoạn tới trước cù lao nhỏ sát mép Đầm Sương Mù đã thấy mấy tên quân chuẩn bị sẵn hương hoa cùng đồ cúng lễ nơi miếu thờ thần sông Cái. Sau hồi hương thơm lan tỏa, trong vệt khói mỏng sương hồ thơ thới, lão tướng Triệu Túc nhìn khắp ba mặt hồ hai tay chắp cung kính hỏi chủ công:

    - Chắc khoảnh đất này chủ công sẽ cho dựng chùa Khai Quốc chăng? Lão phu thấy cù lao nhỏ này cây cỏ tốt tươi, khí vận trong trẻo thanh tịnh, phía trước là hồ sen bát ngát, phía sau tiếp giáp mấy thôn trang rất thuận tiện việc kinh kệ sớm hôm, thật đúng là quý địa để dựng quốc tự. Vạn Xuân ta quả thật không ít quý địa trong toàn cõi đâu.

    Chủ công Lý Bí tươi nhuần nét mặt thong thả nói:

    - Ta ba tuổi mất cha, mười tuổi mất mẹ, mồ côi từ nhỏ, may được Từ sư phụ dạy dỗ nên người. Nếu chẳng gặp buổi nước mất nhà tan, điều ưa thích nhất là được tu tập nơi cửa chùa thanh tịnh. Nay nhờ sức các tướng đã giành lại được nước, việc đầu tiên cũng là việc lâu dài sau này vừa phải có nền quốc thống vừa phải có pháp độ phật môn để muôn dân hướng về điều thiện. Chùa Khai Quốc sau này sẽ là quốc tự của Vạn Xuân. Quốc tự không nhất thiết phải bề thế mà điều cốt yếu phải tìm được cao tăng trụ trì. Mong Triệu lão tướng cùng quân sư hãy gắng giúp ta.

    Lắng nghe từng lời chủ công Lý Bí nói nơi cổ miếu, lại hôm trước tận mắt nhìn thấy đức ngài lập đàn xuống tóc cầu siêu cho bảy mươi ba vị hương chủ bị Vũ Lâm hầu sát hại nơi cổ trấn Luy Lâu, Triệu lão tướng vô cùng xúc động cố nén giọt lệ già rưng rưng nói:

    - Chủ công tâm thiện như nước hồ thu, Vạn Xuân ta không chỉ nối lại được quốc thống từ thuở Hùng Vương mà còn khơi nền đạo pháp để giáo hóa dân chúng thật là cổ kim chưa từng thấy. Lão phu hôm trước thấy Phùng sư phụ tuy vẫn dùng rượu thịt mà đắc đạo đã rất nể trọng nay thấy chủ công tuy ở ngôi cao mà vẫn toàn tâm hướng Phật thật vô cùng khâm phục. Lão phu đã thấu triệt suy nghĩ của chủ công sẽ quyết cùng quân sư đi tìm bậc cao tăng về dựng chùa Khai Quốc.

    Các vị lão trượng vùng đất Tống Bình nghe lời đối đáp giữa chủ công Lý Bí với lão tướng Triệu Túc ai nấy đều phấn chấn trong lòng. Đúng là từ thượng cổ, chưa có vị thần chủ nào không chỉ xuất chúng hai đường văn võ, lại tinh thông phật pháp, thấu hiểu chúng sinh đến thế. Các vị lão trượng còn góp thêm lời bàn, chỉ rõ các con đường thủy bộ liên thông với Đầm Sương Mù, cửa sông Tô Lịch, bến đò sông Cái tới các vùng Long Đỗ, Xương Quốc, Nghĩa Hoài, Tuy Ninh, Chu Diên khiến chủ công Lý Bí và lão tướng họ Triệu càng thêm muôn phần cảm kích.

    *

    Đây nói tiếp chuyện hai tướng Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa dẫn ba trăm chiến thuyền theo đường biển tiến đánh Hợp Phố.

    Nguyên từ trước đó, những ngày theo sư phụ Phùng Hiến tới Đầm Dạ Trạch, Phùng Thanh Hòa và Triệu Quang Phục đã cùng nhau luyện thủy quân nhiều lần ở cửa biển Đại Ác. Tuy mới vừa tròn hai mươi tuổi nhưng hai tướng Triệu - Phùng sau nhiều trận ác chiến với bọn Lưu Long, Ngụy Lãng, Ninh Cự, Nguyễn Hán đều vang danh là dũng tướng ở trong quân. Xưa nay Giao Châu anh hùng xuất thiếu niên. Ngày trước, không ít các lạc tướng, lạc hầu của nhiều đời vua Hùng Vương đều ở độ tuổi đôi mươi. Đến thời Hai Bà Trưng xưng vương đánh quân Hán, các nữ tướng dưới quyền nhiều người còn chưa tròn hai mươi tuổi đã khiến đám giặc phương Bắc phải kinh sợ. Khi được giao trọng trách dẫn đạo thủy binh vào đất giặc, Tả tướng tiên phong Triệu Quang Phục bàn với Hữu tướng tiên phong Phùng Thanh Hòa:

    - Phùng tướng quân! Ta cùng với ngài được chủ công giao đem trọng binh vào đất giặc đại phá chúng, tạo lập quân uy của Vạn Xuân. Theo lời dặn của quân sư phải tốc chiến tốc thắng. Đang mùa thuận gió nước, không quá mười ngày thủy quân ta sẽ tiến vào Hợp Phố. Theo thám sát báo về, các trại quân doanh của Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng đều đóng ở hai bên bờ sông Hợp Phố. Chiến thuyền bọn chúng trưng tập từ Giang Nam chuyển về cũng đang được sửa sang ở đó. Các xưởng đóng thuyền mới cũng đều bố trí dọc hai bên sông. Đội thuyền thám sát năm mươi dũng sĩ tâm phúc giả làm lái buôn ta đã cho đem nhiều vàng lụa, sản vật đi trước kết nối thăm dò kỹ lưỡng, tiện vẽ địa đồ chỉ rõ mọi bố phòng quân doanh kho xưởng của chúng. Mọi thứ củi lửa, đồ dẫn hỏa quân ta đều trữ sẵn. Trận này nội trong một đêm ta phải đốt sạch quân doanh chiến thuyền của Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng. Phùng tướng quân có cao kiến gì không?

    Hữu tướng tiên phong Phùng Thanh Hòa đặt đôi tay vạm vỡ nặng như hai thỏi sắt lên vai Tả tướng họ Triệu trầm giọng nói:

    - Ta cũng như Triệu huynh chỉ nóng lòng giết giặc báo quốc, quyết đánh Lương tặc manh giáp không còn để rửa nhục chúng bao năm làm dơ bẩn tông miếu xã tắc Giao Châu ta. Phùng gia từ ngày theo về cờ nghĩa của chủ công đã muốn sớm một ngày đánh để Lương triều kinh sợ khi nhắc đến người phương Nam. Nay trời đã ban cho cơ hội tốt, ta cùng tướng quân quyết đốt giết bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng khiến lão tặc Lương Vũ Đế phải chừa đi cái thói lấy thịt đè người. Trận chiến này là ao ước cả đời của ta vậy.

    Tả tướng tiên phong Triệu Quang Phục ôm chặt tấm thân vạm vỡ của Hữu tướng họ Phùng xúc động nói:

    - Phùng tướng quân! Được cùng đánh trận với tướng quân quả là vinh hạnh của Triệu gia. Sau này ta và ngài quyết cùng sống chết khuông phò chủ công gây dựng đại nghiệp Vạn Xuân mới được.

    Trong quân doanh thủy trại, hai vị mãnh tướng sau lúc ôm chặt nhau từ từ rời ra ai về soái thuyền người ấy. Ngay trong đêm hôm đó, hai vị tướng tiên phong mệnh lệnh cho ba trăm chiến thuyền lặng lẽ giong buồm theo đường biển thẳng tới Hợp Phố.

    *

    Năm ngày sau, nơi cửa biển Hợp Phố.

    Đang thuận mùa gió nước, chỉ sau năm ngày đêm, ba trăm chiến thuyền của Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa đã tới được cửa biển Hợp Phố vào lúc sẩm chiều. Đã có sắp đặt từ trước, đội thuyền thám sát chia nhau rải dọc từ bến thuyền Hợp Phố ra tận ngoài cửa biển đã mau chóng bẩm báo với hai tướng Triệu - Phùng. Đã hàng chục năm, các thương thuyền qua lại giữa Hợp Phố và Long Biên phần nhiều của thương nhân phương Bắc nhưng cũng có không ít các chủ thuyền người đất Giao Châu. Từ khi Vũ Lâm hầu thua binh phải chạy về Hợp Phố thường dựa vào đám thương nhân để nghe ngóng tin tức cũng là tính ngày thúc giục Lương Vũ Đế khởi binh tiến chiếm Giao Châu. Các thương nhân Giao Châu qua lại với người phương Bắc cũng biết không ít tin tức. Nhiều thương nhân khi thấy Giao Châu tự chủ đã rất vui mừng nên khi được các thám sát của hai tướng Triệu - Phùng giả lái buôn lân la hỏi mọi việc đều giúp dập tận tình. Ngay cả chuyện nhờ mua diêm sinh, củi khô, thuyền nhẹ các thương nhân đều sẵn lòng thực hiện.

    Sau khi nghe các thám sát bẩm báo tường tận, lại trình lên tấm bản đồ đã vẽ đầy đủ quân doanh của Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng, từ kho lương thảo, xưởng đóng thuyền, nơi chứa vũ khí, thuốc nổ, bến bãi vận chuyển binh lương, trại quân thủy bộ nhất nhất đều được đánh dấu kỹ. Hai tướng Triệu - Phùng cho triệu tập ba mươi vị đô tướng đồng thời cũng là chỉ huy của ba trăm chiến thuyền tới cùng vạch kế hoạch tiến quân. Hai tướng Triệu - Phùng còn cho kiểm tra kỹ khí cụ, từ đồ dẫn hỏa, máy bắn đá, thuốc nổ, câu liêm móc sắt, chão lớn giáo dài, nỏ cứng tên độc trước sau cẩn thận. Hai tướng còn cho phát mấy trăm lá cờ hiệu để tiện nhận nhau trong đêm tối. Các dũng sĩ thám sát nhận kỹ ám hiệu mau chóng về các thuyền nhỏ chuẩn bị đêm tối sẽ hành sự. Vùng cửa biển Hợp Phố sóng yên biển lặng. Mặt trời chui xuống lòng biển lạnh lùng thăm thẳm như không hề hay biết một trận sấm chớp giông bão đang sắp sửa nổi lên.

    Bến thuyền Hợp Phố buổi tối.

    Kể từ khi mệnh lệnh của Lương Vũ Đế ban xuống cho bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng tập trung binh lương về Hợp Phố chuẩn bị tiến đánh Giao Châu, các bến thuyền, phố chợ nơi đây vô cùng nhộn nhịp. Doanh trại quân lính đóng đến đâu, bọn thương nhân bám theo đến đó nhằm cung ứng đủ loại từ lương thực, vải vóc, đồ đồng sắt, gỗ muối, rượu thịt để kiếm lợi. Những nhà hàng ăn uống mở sát ngay mặt nước chỉ vài bước chân đám thủy binh đã tới để ăn nhậu nhiều khi thâu đêm suốt sáng. Các thương nhân từ Giang Nam, Giang Bắc đem gỗ đá, khí cụ xuống bán cho các xưởng đóng thuyền rất đông đúc. Có đoàn thương thuyền lên tới sáu bảy chục chiếc choán cả một khoảng sông. Ánh đèn nến, tiếng nhạc nhẽo liên miên không dứt. Dường như tất cả trên bến dưới thuyền khu quân doanh Hợp Phố chìm trong men rượu ánh nến, chập chờn bóng ca nương kỹ nữ mà hoàn toàn không hay biết có đoàn thuyền ba trăm chiếc đang lừng lững tiến vào chia thành từng đội áp sát khắp nơi. Ngay cả những tên lính canh rải rác dọc hai bên bờ sông thoáng chút ngạc nhiên cũng chỉ đoán bừa chắc là thương thuyền lớn từ Giang Nam, Giang Bắc đem gỗ đá xuống cho các chủ tướng Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng nên chúng cũng để mặc mà không báo về quân doanh.

    Nửa đêm nơi bến thuyền Hợp Phố.

    Ánh đèn nến, tiếng đàn hát đã dần dần chìm trong màn đêm thâm thẫm, ánh trăng đầu tháng cũng đã tắt từ lâu, bầu trời như sụp xuống mặt sông khói sóng lan tỏa tứ bề. Sau một ngày tấp nập, suốt buổi tối no say rượu thịt, đám binh tướng, thợ thuyền, thương nhân, ca kỹ, dân chúng khắp bến thuyền Hợp Phố đã hoàn toàn chìm trong giấc ngủ.

    Bỗng một loạt pháo lệnh lớn nổ ầm ầm kéo dài cả khúc sông từ đầu bến tới cuối bến dài trên hai dặm. Bầu trời bỗng chốc sáng rực. Năm mươi khinh thuyền nhẹ rải rác dưới lòng sông đột ngột cháy bùng soi sáng rõ từng tấc nước. Trên bờ, vài chục đống lửa cùng lúc đột ngột bốc cao soi sáng mọi ngóc ngách quân doanh, kho tàng, xưởng gỗ, trạm canh, chốt lính. Khi đám quân canh còn chưa hiểu chuyện gì bỗng ùng…ùng…ùng… một trận mưa đạn đá từ các chiến thuyền lớn dưới lòng sông nhất tề giáng thẳng vào các mục tiêu đang trơ trọi dưới ảnh lửa sáng rực. Ngay sau loạt đạn đá kinh thiên động địa, những mũi tên mang lửa dài nửa trượng phóng vun vút từ dưới thuyền cắm phầm phập vào các vách gỗ kho bãi, nhà xưởng, thuyền bè khiến lửa ngày càng bốc cao. Bỗng một loạt tiếng nổ như sấm sét nhoáng lên nơi kho thuốc súng sát xưởng đóng thuyền vừa mấy hôm trước đoàn thương thuyền Giang Nam bốc dỡ hàng ngàn cây gỗ lớn xuống bãi sông. Sau tiếng nổ kinh thiên động địa, hàng trăm cây gỗ lớn bắn tung tóe khắp nơi, nhiều thân gỗ tới hai người ôm rít gió vù vù quăng quật xô đổ nhà cửa, cây cối răng rắc. Cả một biển lửa bốc sáng trời. Đám binh lính Hợp Phố bấy giờ mới choàng tỉnh không kịp tìm khiên giáp, có kẻ không kịp mặc áo quần cứ thế chạy tóa về bốn phía. Đám lính bị lửa táp đột ngột nóng quá không chịu được liều chết phóng bừa xuống lòng sông. Tiếng kêu khóc nổi lên khắp nơi. Tiếng ngựa hí lồng lộn. Khi đám lửa bén vào trại ngựa cũng là lúc mấy trăm ngựa chiến vốn rất nhát lửa bứt cương vừa hí rống chạy bừa tứ phía càng thêm náo loạn. Các quân doanh, trại lính, kho xưởng bến Hợp Phố chìm trong biển lửa. Không một chút phòng bị, các tướng Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng khi choàng dậy hiểu rõ cơ sự đã không thể nào tập hợp chỉ huy được các binh tướng nữa đành cùng đám tùy tướng mau chóng rút ra khỏi biển lửa bỏ mặc các kho tàng, bãi xưởng, người ngựa bị thương quằn quại đang hứng chịu từng trận mưa đạn đá cung tên ào ạt giáng xuống.

    Gần như không gặp phải một chút kháng cự nào, ba trăm chiến thuyền Vạn Xuân tha hồ làm mưa làm gió bắn phá tan hoang, đốt cháy toàn bộ bến thuyền Hợp Phố. Cả một khu kho xưởng, bến bãi, thuyền bè, quân doanh liên hoàn thủy bộ dày đặc chưa đầy hai khắc đã trở thành một đám đổ nát đen thui nham nhở. Một viên ngói lành nơi bến bãi cũng không còn. Khi đám chiến thuyền Van Xuân đã rút êm ra ngoài cửa biển Hợp Phố khói lửa trong bến bãi vẫn còn chưa tắt.

    Theo mệnh lệnh của hai tướng Triệu - Phùng, toàn bộ ba trăm chiến thuyền ngay trong mờ sáng căng buồm ra biển trở về Giao Châu bỏ mặc phía sau trận bão lửa kinh hoàng dễ đến mấy trăm năm chưa từng xảy ra nơi quân doanh trọng trấn đất Hợp Phố.

    *

    Tin thủy quân Giao Châu dám đem vài trăm chiến thuyền xuống thẳng quân doanh Hợp Phố đốt giết một trận kinh thiên động địa khiến toàn bộ kho tàng, quân lương, chiến giáp, nhà xưởng, thuyền bè, nơi các tướng Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng đang dồn đúc binh lương chuẩn bị xuống Giao Châu khiến Lương Vũ Đế nổi trận lôi đình. Trong buổi thiết triều ngay sau đó, chưa kịp để các quan văn võ tấu báo, Lương Vũ Đế thuận tay ném thẳng mớ tấu triết về phía trước gầm lên:

    - Các ngươi chỉ biết gây mối nhục cho trẫm! Mau truyền chỉ bắt Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng về kinh đô xử trảm làm gương cho ba quân tướng sĩ. Tiêu Tư thua binh mất đất tước bỏ Vũ Lâm hầu giáng xuống làm thứ dân, từ nay không được mang dòng Tiêu thị, cho đầy đi Nhai Châu, đến chết không được về kinh đô nữa.

    Hai hàng quan văn võ run lên cầm cập không ai dám nói nửa lời.

    Lương Vũ Đế lại càng cáu giận nói:

    - Các ngươi từ văn thần đến võ tướng theo trẫm Nam chinh Bắc chiến đã hàng trăm trận tung hoành khắp Trung Nguyên, Lương triều binh mã lương tiền chất cao như núi mà nay đến bọn giặc cỏ Giao Châu mấy trận đều bại binh trước chúng còn mặt mũi nào gặp trẫm nữa. Trẫm không cần biết các ngươi sử dụng cách gì, hãy mau chóng đem binh xuống san phẳng Giao Châu cho trẫm.

    Đợi cho Lương Vũ Đế có phần nguôi giận, lão thần Từ Miễn khi ấy đã ngót tám mươi tuổi chậm chạp bước ra tâu:

    - Bẩm hoàng thượng! Xin ngài bớt giận để giữ gìn long thể. Đại Lương ta, đúng là sau buổi đại thắng bọn Bắc Ngụy, Thổ Dục Hồn, binh tướng nay có phần trễ nải. Nơi Giao Châu xa xôi, đám man di mọi rợ dựa vào đầm lầy rừng rậm làm loạn khiến Vũ Lâm hầu phải tạm lui binh. Đến như bọn Trần Hầu, Ninh Cự, Lý Trí vâng mệnh hoàng thượng xuống giúp, song bọn chúng cứ trốn mãi trong lau sậy không chịu ra hàng, quân ta lại không quen thủy thổ phải tạm rút về. Nay theo ý lão thần, hãy đợi đến mùa đông khô ráo ta sẽ cử đại tướng xuống thu phục giặc cỏ. Bọn chúng sợ thiên uy sẽ lại thần phục mà thôi. Còn như bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng không canh phòng cẩn mật đến nỗi bị cháy mất cả binh lương chúng đã sợ tội mà tự vẫn ở Hợp Phố rồi, xin hoàng thượng khai ân.

    Lương Vũ Đế trong lòng biết lão thừa tướng đang tìm cách gỡ tội cho bọn bại tướng song trước mắt Giao Châu xa xôi ngàn dặm chưa thể lập tức điểm binh tướng lên đường, lại có tin Bắc Ngụy đang rục rịch tiến quân tới biên cương bèn dịu giọng nói:

    - Ta nay nể lời thừa tướng xin giảm tội cho bọn người thua trận nhưng các hình phạt tuyệt đối không được giảm. Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng đã biết tội tự vẫn mọi bổng lộc, gia sản của chúng đều phải sung vào quân đội. Các Thứ sử Trần Hầu, Ninh Cự, Lý Trí đều giáng xuống một cấp, lại phải chuẩn bị đầy đủ lương thảo để mùa đông tới trẫm sẽ chọn tướng giỏi đi chế phục Giao Châu.

    Hai quan văn võ thấy hoàng thượng cho sớm bãi triều không hỏi han các việc khác ai nấy thở phào trong bụng đều quỳ lạy rồi dần rút khỏi ngôi đại điện. Lão thần Từ Miễn toan lui ra ngoài bỗng viên quan hầu cận hoàng thượng tiến tới mời họ Từ tới thư phòng. Từ Miễn chậm chạp bước đi.

    Khi chỉ còn thừa tướng trong thư phòng, Lương Vũ Đế mới ôn tồn hỏi:

    - Từ thừa thướng! Năm xưa ngài cùng Chu Xả tiến cử Tiêu Tư xuống trị nhậm Giao Châu. Thấm thoắt đã hai mươi năm, theo lý phải ngày càng mở mang yên ổn, sao đến nỗi phải thua binh mất tướng trước giặc cỏ thế được. Trẫm thật không thể hiểu nổi? Mong thừa tướng hãy nói rõ cho trẫm.

    Lão thần Từ Miễn ngày trước cùng với Chu Xả tiến cử Vũ Lâm hầu Tiêu Tư xuống thay Lý Tắc luôn mười mấy năm Giao Châu yên ổn, đồ cống nạp nộp về Lương triều đầy đủ đã nhiều lần được Lương Vũ Đế khen trước quần thần. Nay lão thần Chu Xả đã ra đi chỉ còn lại họ Từ cũng đang xin cáo lão hồi hương nay gặp chuyện Vũ Lâm hầu binh bại hoàng thượng có ý trách phạt không biết nói gì mãi mới thở dài nói:

    - Lão thần đã già hồ đồ lẫn cẫn rồi. Nhưng nay hoàng thượng hỏi đến cũng xin được nói thẳng. Từ thời thượng cổ hơn nghìn năm trước, khi Hoàng đế dựng muôn nước, đã thấy vùng đất Giao Chỉ ở xa ngoài cõi Bách Việt không thể thống thuộc được bèn chia giới hạn ở góc Tây Nam. Sau bọn chúng tự xưng vương, tụ tập các bộ lạc mà truyền ngôi cho nhau có đến mười mấy đời. Sau này, các thời Tam Hoàng, Ngũ Đế, tiếp đến Hán, Ngô, Tấn, Tề cho tới Lương triều ta dẫu đưa nhiều quan lại xuống cai trị giáo hóa chúng song bọn man di vẫn chứng nào tật nấy không chịu phép tắc chỉ ưa làm loạn khiến các triều đại phương Bắc phải đánh dẹp liên miên hao tổn binh lương không ít. Nay lão phu cho rằng ta trước mắt không cai trị được chi bằng tạm thời hãy vứt bỏ là hơn. Đợi đến sau này Trung Nguyên quy về một mối, bọn Bắc Ngụy, Thổ Dục Hồn, Nhu Nhiên tới hàng phục hoàng thượng hãy sai người đem chiếu thư tới vỗ về chúng tất xin nhận làm quận huyện như xưa mà thôi bất tất phải liên tiếp động binh làm gì nữa.

    Lương Vũ Đế nhìn kỹ vị lão thần thấy quả y đã già lão đến mức lú lẫn thật nhưng cũng không nỡ quở mắng chỉ thong thả nói:

    - Từ thừa tướng đã già lẫn thật rồi! Đất Giao Châu mênh mông ngàn dặm các triều đại trước đều không tiếc công sức thu về, ngay Lương triều máu xương binh tướng ở đó cũng không phải ít sao bây giờ nói vứt bỏ là vứt bỏ được. Bắc Ngụy vẫn phải đánh mà Giao Châu lại càng phải chiếm về. Ta tiếc rằng không có được người giỏi như Sĩ Vương ngày trước xuống giáo hóa man di quy thuận Lương triều. Nay ta cho khanh được về quê an dưỡng tuổi già. Việc triều chính, việc Giao Châu ta sẽ tìm người khu xử.

    Thừa tướng Từ Miễn nghe dứt lời Lương Vũ Đế thấy rõ việc cử binh xuống Giao Châu không ai có thể ngăn được nữa nhưng cũng chỉ biết đào sâu chôn chặt trong lòng. Dẫu thế, việc xin cáo lão hồi hương cũng đã được ân chuẩn bèn quỳ xuống tạ ơn:

    - Lão thần muôn phần cảm tạ hoàng thượng đã cho được về quê an hưởng tuổi già. Hơn bốn mươi năm phục vụ hoàng thượng lão thần có điều gì không phải xin người hãy lượng thứ cho.

    Lương Vũ Đế lặng im không nói thêm lời nào nữa chỉ khẽ phẩy tay bên ngoài đã thấy quan thái giám cho người bê vào mấy mâm vàng lụa cung kính đặt trước lão thừa tướng. Vị lão thần họ Từ trong lòng vô cùng xúc động còn đang định lựa lời cảm tạ bần thần mất một lát khi đã nghĩ xong hướng sang bên toan nói bỗng phát hiện Lương Vũ Đế đã rời khỏi thư phòng từ lúc nào rồi.

    *

    Tin các tướng Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa đại thắng nơi bến thuyền Hợp Phố phá tan binh lương thủy bộ vô số, đốt cháy sạch thuyền bè xưởng gỗ của đám Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng khiến chúng sợ hãi không dám về Kiến Khang chịu tội đã phải tự vẫn bay nhanh về thành Long Biên. Chủ công Lý Bí cùng các vị lão tướng vô cùng mừng rỡ. Lại tiếp thêm tin các tướng Trịnh Đô, Triệu Tam đem năm nghìn kỵ binh chiến giáp tới biên giới vùng giáp ranh Việt Châu, An Châu gây thanh thế khiến bọn Trần Hầu, Lý Trí vội vã rời dân chúng vào sâu phía trong mà sợ hãi không dám nghênh chiến. Khi có tin hai tướng Triệu-Phùng đốt cháy toàn bộ quân doanh Hợp Phố hai tướng Trịnh Đô, Triệu Tam mới thong thả rút quân về. Khi đoàn chiến thuyền mới cập bến Long Biên, đích thân chủ công Lý Bí cùng quân sư, hai vị lão tướng ra tận bờ sông đón đợi. Hai soái thuyền cập bến, chiếc cầu gỗ vừa sắp chạm mặt đất, hai vị tướng quân Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa nhanh nhẹn cùng đám tùy tướng tiến về phía chủ công nhất loạt quỳ xuống nói:

    - Bẩm báo chủ công! Toàn bộ quân doanh lương thảo khí cụ chiến thuyền binh giáp ở Hợp Phố đã bị quân ta một trận hỏa công thiêu trụi cả rồi.

    Chủ công Lý Bí tiến đến đỡ các tướng dậy nói:

    - Các tướng quả là tuổi trẻ anh dũng, dụng binh như thần. Thủy quân Vạn Xuân tiến vào đất giặc chỉ một trận lập đại công cổ kim chưa từng có. Ta cùng với quân sư, nhị vị lão tướng xin chúc mừng.

    Liền khi ấy, quân sư Tinh Thiều cùng hai lão tướng Triệu Túc, Phạm Tu đều bước tới ôm chặt những người chiến thắng trở về vui mừng nói:

    - Quả thật kỳ tài!

    - Đúng là kỳ công thiên cổ!

    Quân doanh Long Biên mở tiệc ăn mừng. Khi ấy đang lúc mùa vụ vừa mới gặt xong. Năm nay toàn cõi Giao Châu được mùa lớn, lại không phải nộp thuế khóa như trước nên dân chúng vui mừng lắm. Trong khắp các hương xã thôn xóm  vùng Long Biên, Tống Bình, các huyện Câu Lâu, Long Uyên, Vọng Hải, Luy Lâu, Vũ Ninh, Xương Quốc, Nghĩa Hoài, Tuy Ninh, Vũ Bình, Bình Đại, Phạm Tín, Gia Hưng, Ngô Định, Phong Sơn, Hải Bình, Tân Hóa dân chúng nô nức đem thóc gạo, dê ngỗng đến khao quân. Đạo kỵ binh của Trịnh Đô, Triệu Tam kéo về đến thành Cổ Loa được muôn dân ra tận hai bên đường chào đón quấn quýt. Trong quân doanh Long Biên, chủ công Lý Bí cùng quân sư, các vị tướng đều bận đồ nhẹ giống như đám binh tướng bình thường. Khi mọi người đã ai vào bàn nấy ăn uống vui vẻ một lúc, hai tướng Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa thay nhau kể lại tỉ mỉ toàn bộ cuộc hành binh đốt phá quân doanh Hợp Phố. Lão tướng Phạm Tu phá lên cười lớn bưng bát rượu tiến tới trước hai tướng Triệu - Phùng:

    - Ta xin phép chủ công chúc mừng hai tướng tả hữu tiên phong! Các vị quả không hổ danh hai chữ Vạn Xuân, đánh chúng tan tành mà lũ giặc chỉ biết giơ lưng chịu trận, đến nỗi Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng phải tự vẫn không dám về Kiến Khang chịu tội. Binh thuyền vượt biển đánh vào sào huyệt chúng như vào chỗ không người quả là trời giúp Vạn Xuân ta.

    Hai tướng Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa cùng uống cạn bát rượu lớn vô cùng sảng khoái.

    Phùng Thanh Hòa tiến về phía chủ công Lý Bí thi lễ nói:

    - Bẩm báo chủ công! Trên đường về quân doanh, mạt tướng và Triệu tướng quân đã biết được việc dựng diện Vạn Thọ và chùa Khai Quốc đang gấp rút tiến hành. Xin chủ công hãy cho chúng tướng sớm được cùng lo liệu, hỗ trợ các lão tướng vận chuyển gỗ đá, san lấp hào rãnh để công việc thêm thuận lợi.

    Chủ công Lý Bí thấy các tướng trẻ không chỉ chinh chiến lập công mà đều dốc lòng kiến quốc mừng lắm nói:

    - Các vị tướng quân cùng binh sĩ còn chưa kịp rời chiến thuyền lại đã muốn được cùng dân chúng, thợ thuyền kiến thiết quốc gia quả đáng khen lắm. Nay mùa vụ đã vãn, gỗ đá cần vận chuyển cũng nhiều, các tướng lại thành thạo sông nước, không ít người tinh tường lục nghệ nay tới giúp việc dựng điện, dựng chùa còn gì bằng. Ta lệnh cho Triệu tướng quân, Phùng tướng quân sớm mai mỗi người đem theo năm mươi khinh thuyền nhẹ tới cửa sông Tô Lịch chờ lão tướng Triệu Túc sai khiến điều hành công việc.

    Các tướng vui vẻ nhận lệnh. Trong suốt buổi tối hôm đó, ba quân thủy bộ được chủ công Lý Bí khao thưởng ăn uống no say.

    *

    Trong sáu tháng liền, cung điện Vạn Thọ cùng với chùa Khai Quốc được xây dựng khang trang trên nền đất cao ráo đã được chủ công Lý Bí chọn từ trước. Vâng mệnh chủ công, lão tướng Triệu Túc cùng bảy cánh thợ các vùng Chu Diên, Long Đỗ, Nghĩa Hoài, Câu Lậu, Luy Lâu, Long Uyên, Cổ Loa đã không kể ngày đêm xẻ gỗ đẽo đá dựng ngôi điện lớn chính giữa khoảng đất mai rùa dưới chân dãy núi đất hướng về phía Đầm Sương Mù. Các đội binh tướng theo lệnh Triệu lão tướng quân khơi sông đắp đường, cắm trại thủy bộ liên hoàn châu tuần về phía điện Vạn Thọ rất quy củ. Thủy binh được các tướng Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa kén chọn hai trăm chiến thuyền chia ra làm sáu đội cắm cờ hiệu Vạn Xuân xếp thành đội ngũ ngay trong Đầm Sương Mù ngày nào cũng chia nhau thao luyện chuẩn bị chào mừng ngày khai quốc. Khu rừng Trích Sài thuộc hương Già La Động ngay sát phía tây Đầm Sương Mù hai ngàn kỵ binh được tướng Trịnh Đô kén chọn đưa từ thành Cổ Loa về đóng quân doanh ngày nào cũng luyện tập rất hăng. Sát chân dãy núi đất tiếp giáp điện Vạn Thọ, trong rừng lim cổ thụ, hai mươi tám thớt voi được đưa từ Long Biên, Cổ Loa, Hắc Lâm xuống đóng thành ba trại huấn luyện ngày đêm. Triệu lão tướng còn cho hai chiếc khinh thuyền hàng ngày vượt Đầm Sương Mù ra sông Cái tìm chọn thân chuối non cắt lên thuyền chuyển về giao cho các quản tượng.

    Khi công việc chuẩn bị xong xuôi cũng là lúc Tết Nguyên đán vừa tới. Hôm trước, khi thương nghị với các quan văn võ, chủ công Lý Bí đã quyết ý ngày mồng Tám tháng Giêng năm mới sẽ triều hội khai quốc trong chính điện Vạn Thọ. Quân dân cả nước đều mừng. Các chùa trong toàn cõi ngày nào tiếng chuông tiếng khánh cũng binh bong không ngớt. Hai mươi bảy vị sư trụ trì trong toàn cõi đã được thỉnh về cổ tự Luy Lâu để bàn bạc thống nhất giềng mối đạo pháp ngày lập nước. Ba mươi sáu vị bô lão cùng ba sáu huyện lệnh các huyện Long Uyên, Câu Lậu, Vọng Hải, Luy Lâu, Tây Vu, Vũ Ninh, Chu Diên, Khúc Dương, An Định, Xương Quốc, Nghĩa Hoài, Tuy Ninh, Vũ Hưng, Căn Ninh, Vũ Định, Phong Khê, Bình Đại, Nam Di, Phạm Tín, Gia Hưng, Ngô Định, Phong Sơn, Lâm Tây, Tây Đạo, Tân Đạo, Tân Hóa, An Bình, Hải Bình, Ngọc Sơn, Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Thường Lạc, Cao An, Phù Lạc, Tùng Nguyên, Quân An, Cát Lung, Cửu Đức, Hoài Hoan, Nam Lăng, Phố Dung, Tây An, Phù Ninh, Khúc Tư, Đô Hào, Tống Thái, Tống Xương, Hy Bình… dẫn đầu các đội hương thân phụ lão theo mọi ngả đường lục tục tiến xuống điện Vạn Thọ dự ngày khai quốc.

    Chủ công Lý Bí cùng các vị lão tướng Triệu Túc, Phạm Tu, quân sư Tinh Thiều đích thân tới thăm hỏi rất ân cần. Từ trước đó, vâng mệnh chủ công Lý Bí, lão tướng Triệu Túc đã cho dựng những dãy nhà gỗ lớn xung quanh điện Vạn Thọ để đón tiếp các vị lão trượng từ xa tới. Đội khinh thuyền ba mươi sáu chiếc luôn túc trực sẵn sàng chở các đoàn từ khắp nơi tới dự ngày khai quốc đi thăm thú, dâng hương các nơi miếu thờ trong ngoài Đầm Sương Mù. Nhiều đoàn khách nơi xa thấy còn thời gian đã xin với chủ công tới cổ tự Luy Lâu dâng hương đều được ngài ân chuẩn. Trong ngoài thành Long Biên, nhất là nơi cửa sông Tô Lịch quận Tống Bình, không khí vô cùng nhộn nhịp. Năm nay toàn cõi được liền hai mùa vụ, thóc gạo trâu bò dê lợn vô số kể lại không phải nộp thuế khóa như ngày trước, dân chúng trong toàn cõi nô nức mở hội ngay từ trước Tết. Vùng đất nào cũng đều có sản vật được các tráng đinh đem theo cùng các vị bô lão, huyện lệnh dâng lên chủ công Lý Bí cùng văn võ, binh tướng của ngài.

    Đúng ngày mồng tám tháng Giêng năm 544, mùa xuân, hoa lá cỏ cây trong toàn cõi dường như đều bung nở. Khắp từ nơi thôn cùng xóm vắng đến các vùng trọng trấn, đô hội thảy đều treo đèn kết hoa rực rỡ. Tiếng chiêng trống đã vang rền từ mấy hôm trước khắp các làng xã, hương thôn. Từ mờ sáng, chủ công Lý Bí cùng quân sư Tinh Thiều, lão tướng Triệu Túc, Phạm Tu dẫn đầu hai mươi bảy vị sư trụ trì, ba mươi sáu vị lão trượng tới dâng hương chùa Khai Quốc. Trong tiếng chiêng, trống âm vang nơi Khai Quốc tự, chủ công Lý Bí cùng các vị sư trụ trì, lão trượng thành kính dâng hương, kính cẩn khấu đầu trước Phật tổ mong được độ trì quốc thái dân an, phật pháp hiển đạt, dân chúng hiền lương, bách nghệ mở mang trong toàn cõi.

    Khói hương trầm vấn vít. Những câu kinh xen lẫn tiếng chuông thong thả buông trên mặt sóng nước Đầm Sương Mù. Những khuôn mặt nghiêm trang, tươi tắn rạng ngời ngày khai quốc. Dân chúng khắp nơi theo hai đường thủy bộ kéo đến ngày một đông. Khi chủ công Lý Bí cùng các vị sư trụ trì, các lão trượng tiến vào sảnh chính điện Vạn Thọ cũng là lúc biển người đang hò reo như sấm khắp trong ngoài cung Vạn Thọ.

    Mùa xuân năm Giáp Tý (544), mồng tám tháng Giêng, chủ công Lý Bí lên giữ ngôi nước, xưng là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đặt niên hiệu Thiên Đức, sắp đặt hai ban văn võ, lấy lão tướng Triệu Túc làm chức Thái phó, quân sư Tinh Thiều đứng đầu Ban văn, lão tướng Phạm Tu đứng đầu Ban võ, phong Lý Thiên Bảo làm Trung lang tướng, Triệu Quang Thành làm Đô đốc thủy quân, Triệu Quang Phục làm Tả tướng quân, Phùng Thanh Hòa làm Hữu tướng quân, các tướng Trịnh Đô, Triệu Tam, Điền Công, Điền Thái… tám người đều được phong làm phó tướng. Nam Việt Đế cho ân thưởng khắp toàn quân. Binh sĩ mỗi người đều được nghỉ năm ngày, ban ba cân thịt, ba đấu rượu. Các vị từ đô tướng trở lên đều được thăng một cấp, ban thưởng mười mẫu đất. Tại các châu quận, huyện xã đều tùy theo số nhân khẩu, ruộng đất mà ban thưởng. Binh lính dân chúng khắp trong cả nước vô cùng phấn chấn.

    Hết.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Nam Đế Vạn Xuân. Tiểu thuyết lịch sử của Phùng Văn Khai. NXB Văn học, 2020.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,359,600

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/