Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,121,969

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Điện ảnh, âm nhạc và hội họa

Nguyễn Hữu Liêm - người được Dương Ngọc Dũng tôn vinh là "Hegel của Việt Nam" - mạt sát nền âm nhạc Việt đương thời!?

Tư liệu sưu tầm

  • Thứ năm, 09:32 Ngày 27/05/2021
  • Nhà văn Triệu Xuân: Lướt web, tôi đọc được bài viết về cuốn sách "Phác thảo về một triết học cho lịch sử thế giới", tác giả Nguyễn Hữu Liêm.

    Viết về cuốn sách này, ông Dương Ngọc Dũng {có ghi rõ học hàm Giáo sư} nhấn mạnh: “Có thể nói mà không sợ mang tiếng quá phóng đại rằng Nguyễn Hữu Liêm đang là Hegel của Việt Nam”. https://viettimes.vn/co-the-noi-ma-khong-so-mang-tieng-qua-phong-dai-rang-nguyen-huu-liem-dang-la-hegel-cua-viet-nam-post136643.html/ GS Dương Ngọc Dũng

    Thế nhưng, cái ông được tôn là “Hegel của Việt Nam” ấy lại có bài viết sau đây, cho là “nhạc Việt đã chết rồi”! Nguyễn Hữu Liêm ca ngợi Lệ Thu, vâng, ca sỹ này ca ngợi là xứng đáng; nhưng lại miệt thị, mạt sát ca sỹ khác, mạt sát cả nên âm nhạc Việt đương thời. Vậy có khoa học không? Mời đọc cả bài của Nguyễn Hữu Liêm sau đây:

     

    Từ Lệ Thu đến Hồng Nhung – Ba lần cái chết của nhạc Việt

    Tưởng niệm ca sĩ Lệ Thu 1943-2021

    Chắc là bạn đã từng nghe ca sĩ Hồng Nhung hát. Một giọng ca điêu luyện, rất hay – không ai phủ nhận. Nhưng như cố nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã có lần phê bình rằng Hồng Nhung, hay Thanh Lam, Mỹ Linh, Bằng Kiều là những ca sĩ được đào tạo bài bản, nhưng chính kỹ năng của họ đã giết chết âm nhạc khi trình diễn. Khi mà kỹ thuật điêu luyện và năng lực lên giọng thật cao kéo hơi thật dài đã trở thành trọng điểm thì chúng trở nên khuyết điểm. “Rằng hay thì thật là hay,” – nói theo cụ Nguyễn Du, nhưng khi nghe Hồng Nhung hay Bằng Kiều hát – thì “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.” Khi ca nhạc chỉ là một trình diễn kỹ thuật hát xướng thì cái hay của nó chỉ còn là hương vị khô cằn.

    Hãy so sánh Hồng Nhung, Bằng Kiều với Lệ Thu và Chế Linh. Khi hai ca sĩ miền Nam này hát, họ không mang nặng tính trình diễn – mà họ chỉ hát một cách tự nhiên, chân thành mà yếu tố kỹ năng không là điểm nhấn. Khi Lệ Thu bước ra sân khấu, Chị đi chậm rãi nhẹ nhàng; khi Chế Linh bắt đầu hát, đôi mắt của Anh như trải qua cơn mê hoặc hay đang say rượu. Cái chất nhạc và lời ca đã thôi miên tâm hồn của họ trước khi cất lời. Âm thanh Lệ Thu ướt đẫm cảm xúc thanh ngọt; giọng ca Chế Linh đậm đà như cơm nếp miệt vườn.

    Trong khi đó, giọng ca Hồng Nhung, Bằng Kiều mang âm hưởng của cái gì đó không thật, nghe ra thì nông cạn – và nhất là cái âm sắc giả dối. Kỹ thuật luyến láy của họ nắm đầu dây chuyển động cho lời ca – và câu hát càng lên cao, càng kéo dài thì nó càng giao hoán tình cảm tâm hồn về vị thế phụ thuộc và bị coi nhẹ. Nghe Bằng Kiều hát xong, không có gì còn lại trong tâm tư người nghe; khi Hồng Nhung chấm dứt câu ca kéo dài như bất tận thì khán giả mơ hồ thấy cô ca sĩ này như muốn được vỗ tay vỡ rạp. Khi âm nhạc đã bị ngoại thân hóa – tức là hát nhạc một cách vô hồn, vô cảm – thì âm nhạc đã bị phản bội.

    Ví dụ, bài “Đêm thấy ta là thác đổ” của Trịnh Công Sơn, chẳng hạn. Cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến ở Trường Viết văn Nguyễn Du thưở trước ở Hà Nội, đã từng cho đó là bài ca với lời thơ hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Bạn hãy lên Youtube nghe Lệ Thu hát bài này, sau đó nghe Hồng Nhung hay Mỹ Linh, Thanh Lam cũng bài đó. Xong rồi bạn sẽ hiểu tại sao GS Hiến đã tôn vinh bài ca này của họ Trịnh như thế. Đơn giản thôi, vì ông nghe Lệ Thu hát nó.

    Cũng một lời ca, “Rồi bên vết thương tôi quì,” thì Lệ Thu làm cho một người sành điệu Hà Nội như GS Hiến cảm nhận được cái tính chất bi tráng trong khiêm cung của thân phận làm người Việt Nam. Cũng với chừng lời đó, Hồng Nhung hay Thanh Lam hát thì chỉ làm cho chúng ta quên mất ý nghĩa, cũng như âm hưởng không đụng đến trái tim, từ lời nhạc, mà làm ta chỉ nghĩ đến cung khúc thuần kỹ năng.

    Miền Nam trước 1975 có rất nhiều nhạc sĩ ở tầm cao. Từ Lê Thương đến Trầm Tử Thiêng, từ Cung Tiến đến Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, hay Lam Phương, Trần Thiện Thanh. Nhưng ca sĩ thì chỉ có hai người. Đó là Lệ Thu và Chế Linh. Hai ca sĩ này là hiện thân khá tràn đầy tâm chất miền Nam thuở đó. Lệ Thu là biểu trưng một thể loại nhân cách, tầm mức ưu hạng từ tri thức đến giọng nói, của một tâm hồn miền Bắc trước 1954 di cư vào Nam; trong khi Chế Linh là một niềm rung cảm từ một văn minh đã bị diệt vong của miền Trung mà giọng ca ngọt ngào và chân tình bi đát của anh phản chiếu một âm hưởng bi hùng ở nơi một linh hồn vong quốc.

    Trong khi đó, ở miền Bắc từ 1954, sau cái Thời của nhạc Tiền chiến và Văn Cao, khi mà năng lực quốc gia chỉ để dành cho chiến tranh, ta chỉ còn thấy một sa mạc hoang vu cho tân nhạc và ca sĩ. Có lẽ bài ca xứng đáng nhất cho thuở ấy là “Năm anh em trên chiếc xe tăng.” Cái hay ý nhị của “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” khi đã chuyển qua bài xe tăng này đã trở thành một điều dí dỏm như là một bài đồng ca cho trẻ em hát – mà khi vừa vỗ tay, vừa hát, các em tất cả đều nhoẻn miệng cười to không ngậm lại được.

    Từ trong hoang mạc âm thanh đó, những Bằng Kiều, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh phát sinh. Khi các ca sĩ miền Bắc này cất lời ca cho một bài thật là sến của Tú Nhi chẳng hạn, thì họ chỉ nâng cao kỹ năng của “Năm anh em trên chiến xe tăng” vào một dòng nhạc vốn đã phủ nhận cái kỹ năng đó tự bản chất. Cho dù Hồng Nhung, hay Thanh Lam, Mỹ Linh, có cố gắng bao nhiêu đi nữa thì họ cũng sẽ không khai mở và chuyên chở được dòng mạch ngầm linh cảm của nhạc Trịnh được. Và khi Bằng Kiều muốn hát nhạc Chế Linh, anh ta đã gột bỏ hết cái chất sến rất bình dân, rất thật tình, rất gần gũi của thể loại ca từ và âm hưởng bolero đó.

    Âm nhạc khác với toán học – điều dĩ nhiên. Trong khi số học phát huy tính đơn vị đơn lập, thì âm nhạc mang bản sắc liên đới. Một con số tự nó mang một ý nghĩa quy định, nhưng một nốt nhạc, một lời ca đơn thuần chỉ là số không vô nghĩa. Tính liên đới của âm nhạc không những chỉ mang tính nội hàm, tức là từ nốt này chuyển sang nốt kia, lời này tiếp lời trước, mà bao gồm tính quan hệ tương tác giữa lời ca, nốt nhạc – và quan yếu nhất là giữa ca sĩ với người nghe. Khi ca sĩ hát, như Hồng Nhung hay Bằng Kiều cất tiếng ca điêu luyện của họ, tính tương tác giữa người nghe và ca sĩ bị cắt đứt. Ta không thấy cảm thông, không bị xúc động bởi bài ca họ hát được.

    Ngược lại, khi nghe Lệ Thu hát “Hẹn Hò” của Phạm Duy, Chế Linh hát “Túy Ca” của Châu Kỳ, người nghe bị cuốn vào âm hưởng nơi lời ca – như thấy mình được trôi chảy hay nâng cao bằng cảm xúc cho đến cuối bài. Cũng những lời ca, nốt nhạc ấy, nhưng khi Hồng Nhung hay Bằng Kiều hát thì thấy linh hồn của nhạc đã bỏ rơi âm thanh. Nỗi khát khao được vỗ về và an ủi cho cuộc đời bình nhật đau thương nay khi nghe họ hát đã trở nên một gánh nặng mệt nhoài.

    Nếu từ 1954, người Cộng Sản đã giết chết âm nhạc ở miền Bắc như thế nào, thì sau 1975, các ca sĩ xuất thân từ miền Bắc sau 1954 đã giết nhạc miền Nam như thế ấy. Âm nhạc Việt đã đi qua hai lần chết. Một đằng thì chính trị phủ định tâm hồn cá nhân qua âm hưởng; đằng này thì kỹ năng trình diễn thiếu tâm hồn đã hủy hoại ca từ bằng ý chí xác định ngã thức qua âm thanh. Mỗi lần nghe Hồng Nhung hát nhạc Trịnh hay Bằng Kiều hát nhạc bolero, ta thấy như họ cầm dao sắc ngọt ngào cắt đứt bản nhạc cũ mòn trên tay. Những ai đã từng nghe Chế Linh hát “Thói Đời” xong nghe qua Bằng Kiều hát “Hoài Cảm” hay “Đắp mộ cuộc tình” thì sẽ thấy điều này. Một đằng là cơm gạo đồng quê mới giã cối ăn với rau dền hái sau vườn, đằng kia là chiếc bánh hamburger của tiệm McDonald nơi góc phố đầy âm thanh. Ôi là cái Thời của tiếng ồn thay cho âm hưởng.

    Lần nữa, âm nhạc Việt đã trải qua hai ba lần chết. Một đằng bởi ý chí chiến thắng, một đằng với nghệ thuật hòa bình. Không ngạc nhiên gì mà sau 1975, âm nhạc Việt Nam không còn ai sáng tác gì mới và hay nữa.

    Vâng, kỹ năng hát cũng như là kỹ thuật karaoke tối tân từ công nghệ Nhật bản. Cả hai cùng là dao sắc đâm chết âm nhạc Việt. Với karaoke, ngày nay, xã hội và con người Việt ta lại còn chịu đựng thêm một cái chết âm nhạc nữa. Đó là cái chết rất hồn nhiên và bình dân từ năng ý trình diễn của dân ta. Hằng đêm, khi ta đi vào bất cứ ngõ phố nào, làng quê nào, thì các loa karaoke inh ỏi cũng muốn bắt chước Hồng Nhung, Bằng Kiều để mà giết chết Chế Linh và Lệ Thu. Trong thao thức vì mất cơn ngủ bởi đám ca sĩ miệt vườn eo éo thâu đêm bên hàng dậu, ta mới cảm nhận được cái ý từ câu ca của nhà Trịnh, “Người chết (ba) lần thịt da nát tan.”

    Cho nên khi nghe tin Lệ Thu vừa qua đời ở California, chúng ta phải cùng tiếc nuối. Bởi vì, cái chết của Chị là dấu ngoặc cho một Thời Quán âm nhạc Việt Nam đã đi qua và không bao giờ trở lại. Nhạc Việt đã bị giết chết từ lâu. Kể từ nay sẽ không còn một Lệ Thu, một Chế Linh nào cho chúng ta nghe và đồng cảm nữa.

    NHL

    18/1/2021.

     

    *

    Và đây là bài của Dương Ngọc Dũng tôn vinh Nguyễn Hữu Vinh là "Hegel của Việt Nam"!

    Về cuốn sách "Phác thảo về một triết học cho lịch sử thế giới"

    GS Dương Ngọc Dũng: “Có thể nói mà không sợ mang tiếng quá phóng đại rằng Nguyễn Hữu Liêm đang là Hegel của Việt Nam”

    Thứ năm, ngày 13/08/2020 - 15:07

    VietTimes – "Có thể nói mà không sợ mang tiếng quá phóng đại rằng Nguyễn Hữu Liêm đang là Hegel của Việt Nam. Ông đã thổi một luồng sinh khí mới vào một lãnh vực xưa nay vốn vẫn chỉ dành riêng cho một thiểu số đặc biệt. Ông đi thẳng vào những vấn đề triết học mà ông quan tâm nhất: Hegel, Fukuyama, Wilber, và truyền thống huyền học (esoteric tradition) Tây Phương"- Triết gia Dương Ngọc Dũng.

    Tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm – Tự hào là “Triết gia nhà quê”

    GS. TS Nguyễn Hữu Liêm - ĐH San Jose City: Trí tuệ nhân tạo có thể đem đến một tương lai nguy hiểm cho nhân loại, chưa thể đoán định được

    Cuốn sách triết học của GS Nguyễn Hữu Liêm được GS Dương Ngọc Dũng đánh giá rất cao.

    Kể từ khi Kim Định qua đời thì thị trường triết học của dân tộc Việt đã trở thành hoang mạc. Giới trí thức, nếu có bàn chuyện triết lý, thì cũng chỉ thở dài luyến tiếc Trần Đức Thảo, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Nguyễn Mạnh Côn, Nghiêm Xuân Hồng, Kim Định, Nguyễn văn Trung, Đặng Phùng Quân, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Đăng Thục, Trần Công Tiến, những tác giả lừng lẫy của một thời vang bóng.

    Trần Đức Thảo, một triết gia Marxist được đào tạo bài bản không thua gì Nguyễn Hữu Liêm, đã sớm kết thúc sự nghiệp triết học của mình sau khi từ bên Pháp trở về Hà Nội, và ông cũng chẳng viết lách gì bao nhiêu (những kiệt tác viết bằng tiếng Pháp của ông mãi đến gần đây mới được dịch ra). Khác hẳn Phạm Công Thiện, một tác giả cũng có rất nhiều đầu sách, nhưng họ Phạm không có một công trình tập trung nào vào một chủ đề triết học nào cả. Ông viết lan man về văn học, triết học, và làm thơ.

    Khác hẳn với Nguyễn Văn Trung, một tiến sĩ triết học có tư duy thiên tả được đào tạo bài bản, Nguyễn Hữu Liêm không bàn những chuyện “linh tinh” như “tiếng ca Thanh Thúy” hay “đạo Cao Đài.” Cũng khác với Nguyễn Mạnh Côn, tác giả của học thuyết Tân Trung Dung, chỉ mong muốn phá vỡ lý luận của Marx và Trần Đức Thảo. Nghiêm Xuân Hồng là học giả hơn là triết gia, na ná như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Xuân Việt, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị.

    Đặng Phùng Quân cũng là một triết gia được đào tạo bài bản, nhưng ông bàn về tư tưởng của các triết gia khác (như Derrida) chứ không sáng lập một học thuyết nào cả. Kim Định là độc đáo nhất về nhiều phương diện. Chỉ riêng với phương diện xiển dương Nho Giáo (mà ông gọi là Triết Lý An Vi) không thôi ông cũng xứng đáng được so sánh với Tu Weiming (Đỗ Duy Minh, đại học Harvard) rồi.

    Riêng Trần Văn Đoàn, tôi vẫn chưa thấy ông có một tác phẩm triết học nào riêng cho mình để lưu danh thiên cổ, trong khi so với tất cả những người vừa được liệt kê, ông được đào tạo qui củ nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ nhất, có nhiều bằng cấp nhất (kể cả triết học lẫn thần học) và có nhiều điều kiện nhất trong việc tiếp xúc với các triết gia tên tuổi trên thế giới. Trần Công Tiến nổi tiếng nhất là việc phiên dịch Sein und Zeit của Heidegger. Gần đây còn có Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, tiến sĩ toán học, thâm cứu Phật Giáo và triết học Tây Phương, nhưng vẫn tự hạn chế trong việc trình bày, giải thích, thông diễn, hơn là sáng tác.

    Nguyễn Hữu Liêm, một ngôi sao mới trên bầu trời Triết Việt hiện nay, với một loạt sách triết theo truyền thống Hegel. Ông vừa hoàn thành và xuất bản một tác phẩm mới, PHÁC THẢO VỀ MỘT TRIẾT HỌC CHO LỊCH SỬ THẾ GIỚI (NXB. Hội Nhà Văn 2020, 608 trang), một công trình suy tư nghiêm túc, có tham vọng xây dựng một sự thuyên giải, từ góc độ triết học, lịch sử thế giới, bắt đầu với Phật Thích Ca, và kết thúc, theo ngôn ngữ tác giả, với Thời Quán đương đại, thế kỷ 21.

    "PHÁC THẢO VỀ MỘT TRIẾT HỌC CHO LỊCH SỬ THẾ GIỚI (NXB. Hội Nhà Văn 2020, 608 trang), một công trình suy tư nghiêm túc, có tham vọng xây dựng một sự thuyên giải, từ góc độ triết học, lịch sử thế giới, bắt đầu với Phật Thích Ca, và kết thúc, theo ngôn ngữ tác giả, với Thời Quán đương đại, thế kỷ 21"- GS Dương Ngọc Dũng.

    1-Thời quán đầu tiên, dựa trên mô hình 4 quadrants của Ken Wilber và ngôn ngữ triết học của Hegel, là thời kỳ khởi động của TỰ Ý THỨC về TA. Phật tuyên bố: “THIÊN THƯỢNG ĐỊA HẠ, DUY NGÃ ĐỘC TÔN.” Karl Jaspers gọi thời kỳ này là THỜI TRỤC (Axial Age).

    2-Thời quán thứ hai, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, là sự xuất hiện của năng lực CHÚNG TA, thiết định nền tảng cho văn hóa, luân lý, và tôn giáo. Nhân vật biểu trưng cho Thời quán này là Đức Giê Su Ki Tô. Chân lý trong Thời quán này mang tính liên đới: “Ta với Cha ta là Một.”

    3-Thời quán thứ ba, bắt đầu từ thế kỷ 15, năng lực Tự-Ý-Thức khách thể hóa chính mình thành vũ trụ vật thể. Chân lý trong thời kỳ này lấy chuẩn mực là khoa học thực nghiệm. Nguyễn Hữu Liêm gọi đây là Thời quán của NÓ khi ý thức con người phó thác bản thân nó cho khách thể tính. Vũ trụ vật thể là một hiện thực độc lập với Ý chí và Ý thức cá nhân. Nhân vật biểu trưng cho thời kỳ này là Nicolas Copernicus và kết thúc với Albert Einstein.

    4-Thời quán thứ tư, khởi đầu từ thế kỷ 17, là Thời quán của CHÚNG NÓ, khi chính trị là định mệnh. Con người đi tìm chính mình thông qua các hệ tư tưởng (ý thức hệ= ideology). Trật tự thế giới là hình thái của Ý chí lịch sử. Nhân vật biểu trưng cho giai đoạn này là Thomas Hobbes và Karl Marx.

    Đó đúng là 4 quadrants (mà Nguyễn Hữu Liêm gọi là 4 Thời quán) theo mô hình tư duy của Ken Wilber, nhưng tác giả bổ sung thêm Thời quán đương đại, thế kỷ 21, giai đoạn từ bỏ tôn giáo, nghi ngờ khoa học thực nghiệm, đi tìm năng lực Tự Ý Thức ở một tầm mức tiến hóa cao hơn.

    Chúng ta có thể chắc chắn rằng những độc giả của Nguyễn Hữu Liêm sẽ tập trung sự chú ý và phê phán của họ vào việc phân loại các thời quán này (Hegel gọi là các mô-men) của tác giả. Thí dụ như: “Dựa vào tiêu chí nào, tiêu chí lịch sử hay tiêu chí triết học, để phân loại biên giới giữa các Thời quán?” “Tại sao lại bắt đầu với thế kỷ của Đức Phật mà không phải là xa hơn (hay gần hơn)?”

    Nhưng tạm thời chúng ta khoan xem xét những vấn đề đó mà hãy quay trở lại với chủ luận (thesis) mang đầy tính Hegel của tác giả: “Toàn thể văn minh nhân loại- và từng cá nhân- đồng thời là thực tại vừa là biểu tượng cho Thời quán Ý thức mới này. Đây là lúc mà cái TA, vốn bị tha hóa vào Sử tính suốt 2000 năm qua, bắt đầu đi tìm lại chính TA để khép lại vòng tròn Biện chứng Tự Ý Thức qua hành trình chuyển hóa đầy bi tráng của lịch sử” (17).

    Có thể nói mà không sợ mang tiếng quá phóng đại rằng Nguyễn Hữu Liêm đang là Hegel của Việt Nam. Ông đã thổi một luồng sinh khí mới vào một lãnh vực xưa nay vốn vẫn chỉ dành riêng cho một thiểu số đặc biệt. Ông đi thẳng vào những vấn đề triết học mà ông quan tâm nhất: Hegel, Fukuyama, Wilber, và truyền thống huyền học (esoteric tradition) Tây Phương.

    Nghĩa là, một triết gia từ đầu đến chân, không pha lẫn tạp chất của bất kỳ thứ gì khác. Văn phong của ông cũng thế. Không hoành tráng như Phạm Công Thiện, không bay bổng thi ca như Bùi Giáng, không quá nhiều kinh điển Nho gia như Kim Định, không quá chính trị như Nguyễn Mạnh Côn, nhưng có khí chất sáng tạo một mình một cõi. Đọc ông tôi thấy chất văn học và triết học trở thành một toàn thể độc đáo bất khả phân.

    Tác phẩm này, đúng theo truyền thống triết học lịch sử của Hegel, tóm tắt quan điểm của tác giả như sau: “Mỗi Thời quán Chân Lý, từ Thượng Cổ, đến Trung Cổ, đến Hiện Đại, tự nó phải đốt cháy và tiêu thụ hết năng lượng của giai Thời đó nhằm chuyển tiếp qua Thời quán mới cao hơn […] Mọi sự đều có cái Thời của nó. Cá nhân trên năng lực của cái ta Ngã thức- cũng như là Ngã thức tập thể cộng đồng liên hệ- chỉ là một đứa con của Thời tính và Nó không thể bước qua khỏi biên độ giới hạn mà Thời Ý đã phác họa. Mọi năng thức Trung giải cho mỗi Thời quán đều khẳng định chỉ có ta là con Một của Chúa- và tất cả những đứa con khác đều là con lai, con rơi, ngoại đạo, tà giáo. Sử tính nhân loại ở từng Thời đại đều lập lại khuyết điểm Khiếm diện và Cực đoan của Thời đại trước bằng một thể loại chân lý khác” (343).

    Nhưng, khác với Hegel và vượt qua Hegel, tác giả Nguyễn Hữu Liêm còn cống hiến một phê phán triết học vô cùng sâu sắc đối với cái mà ông gọi là “hiện đại tính: trong cơn say Khoa Học Thực Nghiệm” (chương 33). Những tên tuổi lớn, Richard Dawkins, Jacques Monod, Daniel Dennett, Steven Weinberg, được tác giả phê phán thẳng thừng là “hiện thân của lề lối suy nghĩ thuần duy Sinh Hóa, tức là suy nghĩ từ cõi Thấp mà không thể suy nghĩ ra cái Cao hơn” (335).

    Hoàn toàn đồng ý với Nguyễn Hữu Liêm khi tác giả hạ bút: “Cái Thường nghiệm đôi khi là cái che giấu và lường gạt bản sắc Chân thực Huyền nhiệm” (336). Tư duy nô lệ vào khoa học thực nghiệm, chủ nghĩa “duy khoa học” (scientism), này đã từng được Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Kim Định phê phán trước năm 1975 trong các tác phẩm khác nhau của họ (tất cả đều dựa vào triết học Heidegger), nhưng không rõ ràng và triệt để, có nền tảng triết học hệ thống xuyên suốt, nhất quán như Nguyễn Hữu Liêm.

    Việc “vượt qua và giữ lại” (aufheben) Hegel của tác giả còn được minh chứng rõ ràng hơn trong việc ông đã tái thuyên giải, hầu như toàn bộ, triết học Phật Giáo và thần học Thiên Chúa Giáo, dựa trên tinh thần phê phán của Nietzsche, truyền thống huyền học phương Tây (điều này không lạ vì chính Hegel cũng lấy phần lớn những ý niệm triết học của ông từ truyền thống Kabbala Do Thái), tư tưởng của Richard Tarnas, và triết học Dung Hợp (integral philosophy) của Ken Wilber.

    Những tín đồ Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo cần phải hết sức “bình tĩnh” khi đọc các phê phán của tác giả. Nhưng tại sao lại không nhắc đến Islam nhỉ? Rất có thể tác giả cũng không muốn chia sẻ số phận của Salman Rushdie nên ông đã im lặng hoàn toàn về tôn giáo này.

    GS Nguyễn Hữu Liêm (cầm micro) tại Hội nghị Việt Kiều gốc Quảng Trị ở Đông Hà năm 2018.

    Nhìn vào một tác phẩm đồ sộ (600 trang), lại mang danh là sách triết, lại bàn đến những chủ đề quá cao siêu (thuyết Tính Không của Phật Giáo, thần học kenosis của Thiên Chúa Giáo, cho đến khoa học thực nghiệm, Internet, và chính trị học), người đọc dễ dàng thấy nản chí, nhưng thật ra phần khung sườn và lý luận căn bản của tác giả được trình bày rất rõ ràng ngay từ những trang đầu tiên, kèm theo một mục lục hết sức chi tiết, nên người đọc, với một tâm tư rộng mở, sẵn sàng học hỏi, và một chút kiên nhẫn, sẽ nắm ngay được tư tưởng cốt lõi.

    Vấn đề là với một dung lượng tri thức khổng lồ được trình bày trong sách như vậy chúng ta cần phải nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại nhiều lần, và tốt nhất là thử tranh luận với tác giả trong tinh thần khai phóng và xây dựng. Tôi hoàn toàn tán thành tác giả khi ông viết: “Hãy coi chừng những gì giới trí thức viết. Ngôn từ của họ là bước đi tiên phong, là tiếng kèn xuất quân, là tiếng còi tàu chuyển bánh, hú vang báo hiệu cho một Thời Ý mới mà trước sau hay nhanh chậm cũng sẽ xuất hiện ở chân trời Sử Tính” (486).

    “Giới trí thức” mà tác giả nhắc đến trong văn cảnh này chính là J.S. Mill và K. Marx, nhưng tại sao không phải là chính Nguyễn Hữu Liêm, người không những “hú vang báo hiệu” mà còn ra công chẩn đoán những vấn đề của thời đại, và hơn nữa, chỉ ra một sinh lộ cuối đường hầm tăm tối: “Một trong những bước đầu tiên để giải phóng cái ta ra khỏi võng lưới Sinh thức hiện tại là khả năng Ý Thức đến cái mà Richard Tarnas gọi là "nhà tù ba tầng của sự tha hóa hiện đại” (604). Phác đồ điều trị tuy chưa rõ ràng, cụ thể, nhưng “phác thảo” thì đã có.

    Đặt tác phẩm của Nguyễn Hữu Liêm xuống, những ai vẫn bận lòng về tương lai của Sử Tính Việt không thể không cúi đầu suy niệm: “Ta cố đợi nghìn năm, một nghìn năm nữa khác sẽ qua, đến khi núi lở sông mòn, mới mong tới Hòn Vọng Phu” (Lê Thương). Phải vậy chăng?

    TP.HCM, 6/8/2020

    Tóm tắt Luận đề:

    "PHÁC THẢO MỘT TRIẾT HỌC CHO LỊCH SỬ THẾ GIỚI" (600 trang)

    "Lịch sử có một chủ đích tối hậu nào không? Đâu là quy luật vận hành cho lịch sử? Đây là hai câu hỏi siêu hình cơ bản mà con người ngày nay hình như đã ngưng suy ngẫm về chúng. Khi mà Chúa Trời đã chết, khi mà Cứu cánh luận chỉ là một dự phóng không tưởng, khi mà Siêu hình học đã bị thay bằng Triết học Ngôn ngữ và Phân tích luận, khi mà Chân lý chỉ là những “siêu tự sự,” liệu triết học có còn dũng khí để thử đi tìm lại những nguyên lý cơ bản cho Hữu thế, cho Lịch sử con người?

    Dựa trên những nguyên lý Bản thể luận của Phật giáo, Aristotle, Thiên Chúa giáo, Hegel và Wilber, luận đề nầy thử đưa ra một lý thuyết mới về lịch sử nhân loại kể từ 500 năm trước Công nguyên cho đến thế kỷ 21. Bổ sung vào mô hình “four quadrants” của Ken Wilber, đây là một Phác thảo tổng quan và vĩ mô về Lịch sử Thế giới vốn được khởi đi từ khi con người có Ý thức về Sử tính, ở “thời Trục” 2500 năm trước, theo vòng tròn chuyển động bốn góc của chữ Vạn – Swastica – như sau:

    Bước thứ Nhất, góc trên bên trái, là Thời quán khởi động của Tự-Ý thức về Ta (“I”) – mà đại diện cho năng lực này là Phật Thích Ca bằng tuyên ngôn “Thiên thượng địa hạ, duy Ngã độc tôn”. “Minh tâm, kiến tánh – Hãy tự biết chính Ta” đã là châm ngôn cho Thời quán này. Socrates, Khổng Tử cũng đều rao giảng chân lý rằng “Cái Ta quyết định tất cả.”

    Bước thứ Nhì, góc trên bên phải, khi lịch Công nguyên bắt đầu, năm 1, là sự trỗi dậy của năng lực “Chúng Ta” (“WE”) – vốn đặt nền tảng cho văn hóa, tôn giáo và luân lý. Trong Thời quán nầy, Chân lý là tính liên đới, mà nhân vật biểu trưng là Chúa Jesus: “Ta với Cha Ta là Một.” Châm ngôn của Thời quán “Chúng Ta” là “Văn hóa/Đức tin là Định mệnh.”

    Bước thứ Ba, góc dưới bên phải, đến thế kỷ 15, năng lực Tự-Ý thức tiến bước bằng Ý chí khách thế hóa chính mình vào vũ trụ vật thể nhằm đặt để Chân lý vào góc độ Khoa học thực nghiệm. Đây là Thời quán của “Nó” (“IT”) khi Ý thức con người ký thác chính mình vào khách thể tính, và vũ trụ vật thể là một hiện thực độc lập tách rời ra khỏi Ý chí và Ý thức cá nhân. Đây là lúc mà Ta và Chúng Ta trở nên xa lạ với chính mình. Nhân vật biểu trưng cho khởi đầu Thời quán khoa học thực nghiệm là Nicolaus Copernicus và kết thúc bởi Albert Einstein. Đây là giai Thời mà khẩu hiệu Chân lý được nắm đầu bởi khoa học gia, rằng, “Sinh học/Vật lý là định mệnh.”

    Bước thứ Tư, góc dưới bên trái, ở thế kỷ 17, nhân loại đi tìm chính mình qua Ý thức hệ. Đây là Thời quán của “Chúng Nó” (“THEY”) khi mà khẩu hiệu được nâng cao rằng “Chính trị là Định mệnh.” Chân lý bị tha nhân cướp mất và trật tự thế gian phải được xây dựng bởi Ý chí Lịch sử. Biện minh cho trật tự không còn có từ huyền thoại tôn giáo, từ trên xuống, mà là Ý chí đồng thuận của cá thể, từ dưới lên. Thomas Hobbes khởi đầu, và Karl Marx kết thúc, cho năng lực hệ Ý thức này.

    Bước vào Thời quán đương đại, thế kỷ 21, trở về góc trái trên, Ý thức về Ta từ bỏ huyền thoại Tôn giáo, nghi ngờ Chân lý Khoa học thực nghiệm, chia tay tính cuồng nhiệt của Ý thức hệ, để tìm lại năng lực Tự-Ý thức ở một tầm mức Tiến hóa cao hơn. Toàn thể văn minh nhân loại – và từng cá nhân – đồng thời là thực tại vừa là biểu tượng cho Thời quán Ý thức mới này. Đây là lúc mà cái TA, vốn bị tha hóa vào Sử tính suốt hai ngàn năm qua, bắt đầu đi tìm lại chính TA để khép lại vòng tròn Biện chứng Tự-Ý thức qua hành trình chuyển hóa đầy bi tráng của Lịch sử thế giới."

    https://viettimes.vn/co-the-noi-ma-khong-so-mang-tieng-qua-phong-dai-rang-nguyen-huu-liem-dang-la-hegel-cua-viet-nam-post136643.html

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,121,969

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/