Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,540,110

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tư liệu sáng tác

Nhận diện con người Việt Nam qua ngôn ngữ

Tư liệu sưu tầm

  • Chủ nhật, 17:27 Ngày 18/10/2020
  • Tôn Trung Sơn: "Người An-nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai!"

    Khuyển Dưỡng Nghị (Chính khách Nhật: Inukai Tsuyoshi): “Điểm này, tôi không đồng ý với tiên sinh. Ngày nay họ (người Việt) thua người Pháp, vì họ không có khí giới tối tân. Nhưng cứ xét lịch sử, thì trong số Bách Việt chỉ có họ là không bị Hán hoá. Tôi tin rằng, một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ, thì thế nào sớm muộn họ cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ”. Tôn Văn mắc cỡ, vì biết Khuyển muốn chơi mình: Tôn là người Quảng Đông, có tổ tiên là dân Á-khách (Hakka), một trong số Bách Việt, dân này đã bị Hán hoá. Câu chuyện trên đây được Lê Dư, một trong những du sinh có mặt thời đó, kể lại cho con rể mình là Hoàng Văn Chí và họ Hoàng đã thuật lại.

    Nhà văn Triệu Xuân: Tôn Trung Sơn thốt ra câu ấy, thật đáng khinh! Vậy mà tại sao thời ấy, các cụ ở ta lại tôn sùng gã Tôn này quá xá vậy?!

    *

    I: Văn Hoá “Xuất – Xử“

    Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó.

    Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng.

    Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.

    Nội dung sau đây mới là những nhận định ban đầu. Một luận đề đưa ra để thảo luận và tiếp tục nghiên cứu đào sâu.

    Quan sát lối sống và truyền thông tại một số nước Âu châu, tôi thấy người Âu rất quan tâm tới phái tính. Xem ra họ bị ám ảnh bởi sex, bởi vai trò người nữ.

    Trên Diễn Đàn Giáo Dân số tháng 3 năm 2007 tôi kể chuyện 52 nhà thần học đa số là người Đức và thuộc Giáo Hội Tin Lành, trong đó có 42 phụ nữ (có cả bà Giám Mục chủ tịch hội đồng lãnh đạo tối cao của Tin Lành – tương đương với Hội Đồng Giám Mục bên Công Giáo), toàn là giáo sư, tiến sĩ hoặc học giả, đã cặm cụi làm việc trong năm năm với tổn phí nửa triệu đức mã, để “dịch” lại toàn bộ cuốn Kinh Thánh từ nguyên ngữ Do-thái và Hi-lạp ra một thứ ngôn ngữ hợp thời trang. Ấn phẩm mới này có tựa là “Bibel in gerechter Sprache” (Kinh Thánh với ngôn ngữ công bằng). “Ngôn ngữ công bằng” ở đây có nghĩa là họ xoá đi bằng sạch tất cả những từ, những câu, nghĩa là tất cả những dấu vết được coi có tính cách miệt thị giới nữ và các nhóm xã hội bên lề (chẳng hạn nhóm đồng tính). Đối với họ, Thiên Chúa là vô phái tính, nên chẳng có “Thiên Chúa Cha” nào cả! Công thức rửa tội “Tôi rửa… nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” được họ đổi lại thành “… nhân danh Thiên Chúa là Cha Mẹ mọi người và Con và Sức mạnh thánh linh”. Đức Giê-su là một nhân vật lịch sử, không thể phủ nhận sự có mặt của Người được, họ đành phải chấp nhận Người là Con Thiên Chúa, nhưng tất cả chỗ nào trước đây dịch là “con trai của Thiên Chúa (der Sohn Gottes) nay được sửa thành “Con Thiên Chúa” (das Kind Gottes). “Das Kind” ám chỉ một đứa trẻ chung chung, trung tính. Còn Chúa Thánh Thần, vốn là “der Heilige Geist” (giống đực), nay được họ chuyển sang giống cái thành “Sức mạnh thánh linh” (die heilige Geisteskraft).

    Họ làm trò đùa hay chuyện đứng đắn?

    Đó là chuyện Thiên Chúa, còn chuyện con người thì sao?

    Không riêng phía Tin Lành. Người công giáo, khi đọc thư thánh Phao-lô trong thánh lễ, thay vì mở đầu bằng “Thưa anh em” như trong bản gốc, họ cũng sửa thành “Thưa anh chị em“, để không bị xem là lạc hậu hoặc xúc phạm nữ giới.

    Một vài giáo sư đại học ở Đức gần đây đề nghị dùng một từ khác thay thế chữ Professor (Giáo Sư), vì chữ này nguyên chỉ có ở thể giống đực. Muốn gọi một Bà Giáo Sư, người ta phải thêm chữ Frau (Bà) trước chữ Professor: Frau Professor. Nhưng trước sau Professor vẫn là từ giống đực. Vì thế có bà giáo đề nghị dùng chữ “Professx” (!) để xài chung cho cả hai phái!

    Vì nhạy cảm với phái tính, những trường hợp đồng tính hay lại cái cũng được báo chí ưa đề cập. Conchita Wurst, cậu thanh niên lại cái ở Áo vừa được chấm trúng giải trong cuộc thi hát Eurovision, hiện đang là một hiện tượng. Cậu Wurst có vóc dáng yểu điệu, đi guốc cao, râu ria đen như mực tàu, đang được truyền thông và các diễn đàn truyền hình không ngớt mời xuất hiện.

    Đã quan tâm tới phái nữ, thì không có họ là không được và mọi thứ họ làm đều cũng được hoan nghênh.

    Hiện nay, khi thành lập nội các tại các nước Tây Âu, người ta phải cố đưa vào ít ra là một phần ba khuôn mặt nữ; nếu không, nội các đó bị xem là bệnh hoạn.

    Chính phủ Đức vừa ra luật, bắt đầu từ 2016 các Hội Đồng Quản Trị của các đại công ti có tên trên giàn chứng khoán phải gồm tối thiểu 30% nữ giới. Cho tới nay, các tổ chức này hầu như 100% trong tay nam giới. Từ mười năm nay, Đức có luật hành nghề mại dâm; nay luật này lại vừa được thêm vào mấy khoản bao bì, để gọi là bảo vệ sức khoẻ cho các chị em hành nghề.

    Ở Í-đại-lợi, thời thủ tướng Berlusconi, các cô đào đóng phim khiêu dâm rất được giá. Họ dễ được dân Í bầu vào quốc hội, và lão thủ tướng “già dịch” này thường tìm cách đưa họ vào đảng để lấy phiếu.

    Tại sao có những hiện tượng như thế?

    Trên thế giới hiện nay, không ở đâu chuyện tình dục, chuyện porno, chuyện trai gái, chuyện đồng tính được truyền thông ồn ào đề cập và chuyện bình đẳng phụ nữ được xã hội quan tâm như ở các nước âu châu.

    Phải chăng phong trào đòi bình quyền nữ giới từ hơn 50 năm nay tại Tây Âu đã thành công? Phải chăng vì các dân tộc này có nền dân chủ cao và có truyền thống tôn trọng phụ nữ? Hay vì họ dư thừa cái ăn cái mặc, đâm ra sa đoạ?

    Tất cả có lẽ đúng một phần. Nhưng phần chính không phải như vậy. 

    Cần nói ngay, không phải tất cả các dân tộc âu châu. Mà chỉ các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hoá và ngôn ngữ la-tinh (Đức, Áo, Thuỵ-sĩ, Pháp, Bỉ, Í, Tây-ban-nha; các nước khác không rõ lắm) mà thôi.

    Các sắc dân khác, như Slawe (Nga, Serbe), Xắc-xông (Anh, Ái-nhĩ-lan) không có hoặc ít bị ám ảnh bởi đề tài phái tính.

    Người La-tinh dùng lăng kính Phái Tính để nhận thức và phân loại thực tại. Trước một thực tại, câu hỏi đầu tiên – đã thành vô thức – trong đầu họ: Đối tượng này thuộc giống nào: đực, cái hay trung tính? Tiếng La-tinh không có mạo từ (loại từ) chỉ phái tính như nơi tiếng Đức hoặc tiếng Pháp, tiếng Í... Các danh từ trong ngôn ngữ của họ được xếp vào ba loại: đực, cái và trung tính, với những lối chia khác nhau tuỳ theo mỗi loại.

    Trong tiếng Đức, Pháp hay Í, sự phân biệt phái tính được xác định bởi các mạo từ.

    Người Pháp nhận thức đối tượng ở hai giống: Đực (với mạo từ LE: le mari: người chồng, le chien: con chó đực, le pain: ổ bánh mì - đực!) hay Cái (với mạo từ LA: la femme: người vợ, la vache: bò cái, la baguette: bánh mì ba-ghét - cái!). Người Í với mạo từ IL (đực) và LA (cái).

    Tiếng Đức gần La-tinh hơn, ngoài giống Đực (mạo từ DER) và Cái (DIE), còn thêm một giống nữa: Trung Tính (DAS). Những sự vật, súc vật, thậm chí nhân vật nào không xếp được vào Đực hay Cái thì coi là Trung tính. Các thiếu nữ trước tuổi dậy được coi là trung tính: das Mädchen.

    Tắt lại, vì nhận thức thực tại trước hết và trên hết qua lăng kính Phái Tính, nên các dân tộc âu châu trên đây nhạy bén và quan tâm nhiều tới những gì liên quan đến phái tính như tình dục, luyến ái nam nữ, đồng tính, nịnh đầm, đề cao phụ nữ…

    Nhận thức của người Việt Nam

    Người Việt khác, không nhận thức qua lăng kính Phái Tính. Trái lại, qua lăng kính Loại /Loài hay Phạm Trù (Kategorie) và lăng kính Động-Tĩnh (Beweglichkeit).

    Trước một thực tại, người Việt không hỏi, đây là nam hay nữ, đực hay cái. Mà họ xếp ngay đối tượng đó thuộc Loại nào: loại NGƯỜI (người Mĩ, người Ăn Mày, người Cộng Sản), loại CHIM (chim chích-choè, chim đa-đa) loại CÂY (cây khế, cây chanh), loại HOA (hoa ti-gôn, hoa nhài) v.v.

    Người Âu Châu nhận thức trực tiếp vào sự vật, nắm bắt ngay sự vật, không qua cầu phân Loại. Hỏi: Cái gì đó? - Thưa: Die Narzisse! (Thuỷ-tiên - cái! Người Việt sẽ trả lời: Hoa Thuỷ-tiên); - Der Lotus! (Sen - đực!: Cây Hoa Sen); - Un Americain! (một Mĩ – nam!: Một anh Người Mĩ)…

    Phải chăng vì vậy mà người Âu có đầu óc chính xác, một yếu tố giúp nền khoa học của họ tiến mạnh?

    Còn ảnh hưởng của lối tư duy bắc cầu của ta như thế nào?

    Tôi tin rằng, dù đã trở thành phản xạ vô thức, lối nhận thức trực tiếp của người Âu và gián tiếp của người Việt đều có những tác động cụ thể trên lối suy nghĩ và cách ứng xử của mỗi dân tộc.

    Song song với cầu Phạm trù, người Việt còn nhận thức qua cầu Động-Tĩnh. Trước một thực tại, câu hỏi vô thức của họ: Thực tại này thuộc thế giới Động hay Tĩnh?

    Lối nhận thức này, theo tôi, quan trọng và hệ quả của nó dễ thấy hơn.

    Tất cả các động vật (người, súc vật) được người Việt xếp vào thế giới Động với mạo từ CON. Các sự vật hay đồ vật được xếp vào thế giới Tĩnh: CÁI.

    Những sự vật hay đồ vật nào có thể di động khi sử dụng hay lúc vận hành thì cũng được xếp vào loại CON: Con dao (di động khi chặt, bằm, đâm; dao nằm yên một chỗ có thể gọi Cái dao), Con thuyền (nếu cắm sào đứng yên thì gọi là Cái ghe), Cơn mây - vần vũ trên trời (Con đọc thành Cơn), Con nước – cuồn cuộn trong sông, Con suối – róc rách, Con cu (bộ phận sinh dục nam; hình tượng con chim cu – một động vật múa hót tối ngày, chẳng chịu ngồi yên), Cái bướm (chữ dùng trong nước hiện nay để chỉ bộ phận sinh dục nữ: Nam có Chim, nữ có Bướm. Bướm là một động vật bay nhảy lả lơi, dù vậy, bộ phận sinh dục phái nữ trước sau vẫn được coi thuộc loại tĩnh; Cái bướm).

    CON và CÁI chỉ áp dụng hoàn chỉnh với những từ thuần (gốc) Việt, chứ những từ lai Hán (Hán - Việt) nhiều trường hợp không áp dụng được. Nói chung, những từ nào không đi được với CON và CÁI thường là từ lai Hán. Điều đó cho thấy, lối nhận thức Động-Tĩnh là một cái gì rất việt nam.

    Một điểm nữa cũng cho thấy lối nhận thức CON-CÁI mang bản chất thuần Việt, vì như Bình Nguyên Lộc trong Lột Trần Việt Ngữ cho hay, các dân tộc chung quanh Việt Nam như Mã-lai, Nam-dương, Chàm, Thái, Nhật, Cao-miên đều không có hai khái niệm CON và CÁI.

    Trong quá trình tiếp xúc với văn hoá trung-hoa, người Việt đã dần đưa vào kho ngôn ngữ đang phôi thai của mình những từ gốc Hán, để diễn tả những thứ có thể lúc đó mình chưa có. Chẳng hạn: Bút, Bàn, Sách, Học, Côn, Kiếm, Quần (khác với Váy – từ thuần Việt – là thứ người Việt đã sẵn có) là những khái niệm ta chỉ mới có sau khi tiếp xúc với người Hán. Tỉ lệ từ lai Hán chiếm bao nhiêu phần trong tiếng Việt? Có người bảo có hơn 60%, cũng tương đương với lượng từ lai Hán trong tiếng Nhật. Người ta đếm được trong Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh (in 1931) khoảng 40.000 từ (nay hẳn tăng hơn nhiều) được cấu tạo bởi 5000 âm tiết (từ đơn). Trong bốn chục ngàn từ lai đó có tới 3/4 là những từ ghép: Cá-nhân, Hành-động, Tỉ-trọng v.v…, còn lại 1/4 là những từ có thể đứng độc lập một mình như Bút, Bàn, Kiếm, Côn…

    CÁI có thể áp dụng cho những từ lai Hán đứng độc lập đã được việt hoá như Cái Bàn, Cái Bút, Cái Quần; nhưng không thể nói Cái Thụ (Cái Cây [Việt]), Con Nữ (con Gái [Việt]) (Đọc Ngô Nhân Dụng, Đứng vững ngàn năm, Người Việt 2013, đặc biệt chương Người Việt dùng chữ Hán, tr. 209-220).

    Đồ vật không quý bằng động vật. Tĩnh kém giá trị hơn Động. Nên CÁI kém giá trị hơn CON. Khi CON biến thành CÁI, có nghĩa là bị đồ vật hoá, thì nó mang nghĩa xấu. Ngôn ngữ chửi là một thí dụ.

    Một hoạt cảnh thời còn nhỏ cứ ấn tượng tôi mãi. “Mả cha CÁI thằng … Mi ăn cấy chi mà ngu như con chó!“… Tiếng chửi càng lúc càng đanh, nhưng quyến rũ. Bọn trẻ, chẳng hiểu đâu đuôi ra sao, kéo nhau tụ tập phía bên này đường cái quan, gần nhà phía nạn nhân, theo dõi hoạt cảnh. Bên kia đường, vợ ông thợ mộc đứng trên nhà sàn cao, vén quần chõ miệng sang chửi. Chửi một lúc, bà bỏ vô nhà một lát, rồi lại ra chửi tiếp. Bà nguyền rủa, đào bới hết ba đời bảy kiếp của ông thầy thuốc, đối tượng chửi của bà. “Mả cha CÁI thằng cha mi! Mả cha CÁI con mẹ mi!”… Có lẽ vì quá giận bởi lối chửi bất kham và kéo dài, ông thầy thuốc bỗng bước ra ra sân, hét sang phía bên kia: “Mả chi, mả CÁI con cặc tau đây này!” Thế là, như diều được gió, bà thợ mộc lồng lên. Bà vỗ tay đôm đốp vào bụng dưới, đay nghiến: “À ra mi láo hè. Con cặc mi mô bằng cái lồn tau!” Thô tục. Nhưng đã chửi thì không thể viết tắt, không thể hiểu ngầm được! Đám trẻ con nãy giờ đứng nghe mà chẳng hiểu gì lắm về “mả cha, mả mẹ”, giờ bắt được những hình tượng dễ hiểu, nhìn nhau khúc khích xôn xao.

    “Cái thằng…, Cái con cặc, Cái thằng cha mi, Cái con mẹ mi”. Ở đây, sự vật và nhân vật đã bị đồ vật hoá để dùng cho những mục đích thô tục. Nếu không có từ CÁI, lời chửi thiếu sức nặng, lắm khi thiếu hồn.

    Í nghĩa của CON và CÁI trên đây nhiều người đã biết.

    Hệ quả của tư duy Động - Tĩnh

    Vấn đề tôi muốn bàn ở đây, là lối nhận thức Động-Tĩnh này mang lại hậu quả nào trên tư duy và hành động của người Việt?

    Khi hạn chế thực tại vào trong hai thể Động và Tĩnh, người Việt bó hẹp luôn lối tư duy và khả năng hành động của mình, và như thế họ cũng dễ trở thành cực đoan (phân cực) trong suy nghĩ và hành động. Họ chỉ còn lại hai phương án: hoặc Động hay Tĩnh, hoặc Làm hay Không làm, hoặc Có tôi là Không có nó, hoặc không Quốc Gia thì là Cộng Sản hay ngược lại (những Điếu Cày, Dương Thu Hương, Bùi Tín không thể có được giấy phép cư trú, may ra chỉ được tạm dung trong căn nhà phân cực này). Ngoài hai giải pháp hay hai cực đó, chẳng còn một chọn lựa hay khoảng trống nào khác.

    Sau đây là một thí dụ. Tư duy Động - Tĩnh đã đưa tới quan niệm Xuất - Xử, một quan niệm sống đã và đang làm phá sản cả một giai tầng ưu tú trong xã hội việt nam.

    Điều này được phản ảnh qua quan niệm về “Kẻ Sĩ” của quan chức Nguyễn Công Trứ (1778-1858).

    Mẫu người lí tưởng “Kẻ Sĩ” việt nam vốn là một phiên bản của mẫu lí tưởng “Nho Sĩ” hay “Quân Tử” bên Trung-hoa.

    Đối với người Trung-hoa hay với Khổng-tử, “Nho Sĩ” là hình ảnh của Nho và Sĩ gộp lại. Lí tưởng của nhà Nho là trau dồi bản thân để hoàn thiện mình (về đàng đức hạnh). Lí tưởng của Sĩ là, như một người lính xông pha chiến trường, sẵn sàng dấn thân vào đời để cứu nhân độ thế. Nho Sĩ hay Quân Tử, như vậy, là một người luôn quan tâm tới việc hoàn thiện đức hạnh bản thân và sẵn sàng dấn thân vào xã hội.

    Khi sang Việt Nam, cái bình “Nho Sĩ/ Quân Tử” được đổi tên thành “Kẻ Sĩ” [“Kẻ” có nghĩa là “Người“, từ khái niệm này đẻ ra chữ “Nhân sĩ” mà chúng ta nay vẫn thường dùng để tặng cho các khách khứa vị vọng]. Còn rượu trong đó được các nhà Nho thời nhà Nguyễn dùng lăng kính Động-Tĩnh khúc xạ thành Xuất-Xử. Nghĩa là Kẻ Sĩ giờ đây không còn quan tâm chuyện hoàn thiện và cứu đời nữa, mà rút vào cái lợi bản thân với hai lựa chọn hoàn toàn thụ động: Hoặc ra hoạt động (Xuất) hoặc về ở ẩn chờ thời (Xử).

    Khi chưa gặp thời hay chưa được “trên” ngó tới, Kẻ Sĩ ở nhà đọc sách ngâm thơ, thơ thẩn đuổi gà cho vợ hoặc nằm nắn nót viết đơn thỉnh nguyện:

    Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng thất

    Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn

    Nhưng khi được trên “cơ cấu” cho một chỗ, thì bắt đầu

    Rồng mây khi gặp hội đưa duyên

    Đem quách cả sở tồn làm sở dụng

    Và khi xong việc rồi hay trên không cho quậy nữa thì lại về vườn, an phận thủ thường

    Bấy giờ Sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch

    Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

    Tiêu dao nơi hàn cốc, thanh sơn

    Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đàn

    Đồ thích chí chất đầy trong một túi…

    (Kẻ Sĩ, Nguyễn Công Trứ)

    Không chỉ Kẻ Sĩ Nguyễn Công Trứ quan niệm như vậy.

    Các thế hệ nhà Nho đồng thời ông đều cùng một nhận thức như thế. Không phải họ hiểu sai Khổng Mạnh. Chính tư duy Động-Tĩnh đã đưa họ vào con đường cụt đó.

    Mà không chỉ nhà Nho – giới cựu học – bị ảnh hưởng. Giới tân học (nay thường được gọi là trí thức) – dù là sản phẩm của Tây học hay Cộng học – cũng đang tê liệt trong lối mòn truyền thống Xuất - Xử. Trong nước cũng như ngoài nước. Tất cả chỉ biết cắm sào đợi nước. An phận chờ thời. Chờ vận Thang Văn. Hiếm ai chịu xắn tay áo tìm ra một con đường nào khác ngoài Xuất và Xử, ngoài Động và Tĩnh. Nếu có ai bảo họ vô trách nhiệm, họ sẽ an nhiên trả lời: Tôi không làm chính trị! Trong nước tê liệt một phần là vì sợ bạo lực trấn áp. Ngoài nước tê liệt một phần cũng vì sợ - sợ không được về để thênh thang áo mũ hoặc sợ không có lợi cho mình.

    Nguyễn Thị Từ Huy trong bài Bao giờ các anh thôi sống hèn đã định bệnh cho thái độ đó của “Kẻ Sĩ” ngày nay là HÈN. Bà viết: “Đa số đàn ông việt nam hèn! […] Không phải các anh không thấy (cảnh bất hạnh của đất nước đồng bào). Các anh thấy hết, biết hết, nhưng nhắm mắt làm ngơ, lấy im lặng và nhẫn nhục làm mục đích tồn tại“.

    Nhưng Hèn do đâu ra? Thưa chung quy cũng vì hậu quả của của lối tư duy Xuất-Xử hoặc phân cực. Hoặc Có hoặc Không. Không Đi (được) thì Nằm yên, thế thôi. Hoặc đã là Kẻ Sĩ khôn ngoan thì phải biết thức thời!

    Đối lại, cũng có những người, đặc biệt ở hải ngoại, không chịu được Tĩnh, không thể ngồi yên. Họ bị thôi thúc bởi Động, đâm ra Vọng Động. Phải quyết phải LÀM một cái gì. Thế là một tay ông mở Hội, tay kia ông lập Lực Lượng, hôm nay ra mắt Tổ Chức, mai kia công bố Chính Phủ. Ông “quyết ra tay buồm lái với cuồng phong“. Làm chỉ vì Động, cho thoả chí tang bồng hồ thỉ, chẳng cần biết rồi sẽ ra sao. Có lẽ không dân tộc tị nạn nào có nhiều Hội, nhiều Tổ Chức, nhiều diễn đàn Paltalk như dân Việt.

    Thảng hoặc có những người muốn khai phá một con đường mới, không vọng động mà cũng chẳng muốn tỏ ra thức thời vị kỉ. Họ biết, khi chưa thể Động được và cũng không thể can tâm Tĩnh được, thì họ còn Tiếng Nói: Họ cất tiếng chống lại cái ác, chống lại CÁI ác đảng buôn dân bán nước. Thế nhưng họ lại được tập thể Tĩnh gán ngay cho nhãn: Chống cộng bằng mồm!

    Tại sao lại chê bai như thế? Là vì Kẻ Sĩ xưa và nay chỉ biết có lối mòn Động - Tĩnh, Xuất - Xử mà thôi. Mọi con đường nào khác hay một khoảng trống nào đó giữa hai thái cực đó, đối với họ, đều là thứ không thể có hoặc không hợp với “Kẻ Sĩ“!

    Vậy làm sao để hết Hèn? Ta không thể bỏ đi được lối tư duy Con-Cái, Động-Tĩnh. Nó đã là một phần xương thịt của văn hoá dân tộc. Chỉ còn cách là phải luôn í thức về cái khiếm khuyết đó, để nỗ lực vượt qua. Một khi đã í thức được nó, ta có thể vượt qua, như khoa chữa trị của Tâm Lí Chiều Sâu đã minh chứng.

    II. Văn Hoá “Xin”

    Trong sách Duy Văn Sử Quan (1990, trang 153) Hoàng Văn Chí kể: Hồi Phan Bội Châu mới sang Tàu để tìm cách mở phong trào Đông Du, một nhân sĩ Trung Hoa là Dương Giác Đôn đưa ông tới yết kiến Trang Uẩn Khoan, viên đại thần của triều đình Mãn Thanh. Vị đại thần tiếp đãi rất tử tế và có biếu một món tiền trợ cấp. Khi Phan ra về, Trang Uẩn Khoan bảo Dương Giác Đôn:

    • Người Annam có bản tính nô lệ, dù có vài chí sĩ như ông này (Phan Bội Châu) thì cũng chẳng làm nên trò trống gì.

    Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi)

    Tác giả kể tiếp: Năm 1912, Tôn Văn {Tôn Trung Sơn/ Tôn Dật Tiên} viếng thăm Nhật Bản và được chính khách nhật là Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi) khoản đãi. Sau bữa tiệc, Khuyển bất thần hỏi Tôn: Tôi được biết tôn sinh có dịp qua Hà Nội, xin tôn sinh cho biết tôn í về dân tộc An-nam? Bị hỏi đột ngột, Tôn chỉ kịp nhớ câu nói của Trang Uẩn Khoan trước đây, đáp:

    - Người An-nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai!

    Có lẽ nhiều người Việt sẽ phẫn nộ, khi nghe mấy “[Cái] thằng Tàu” ăn nói như thế!

    Sau khi gặp Tôn, Khuyển Dưỡng Nghị cho gọi một số du sinh người Việt (do Phan Bội Châu đưa sang Nhật) tới và kể rằng, ông đã đáp lại câu nhận định của Tôn như sau:

    - “Điểm này, tôi không đồng ý với tiên sinh. Ngày nay họ (người Việt) thua người Pháp, vì họ không có khí giới tối tân. Nhưng cứ xét lịch sử, thì trong số Bách Việt chỉ có họ là không bị Hán hoá. Tôi tin rằng, một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ, thì thế nào sớm muộn họ cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ”. Tôn Văn mắc cỡ, vì biết Khuyển muốn chơi mình: Tôn là người Quảng Đông, có tổ tiên là dân Á-khách (Hakka), một trong số Bách Việt, dân này đã bị Hán hoá. Câu chuyện trên đây được Lê Dư, một trong những du sinh có mặt thời đó, kể lại cho con rể mình là Hoàng Văn Chí và họ Hoàng đã thuật lại.

    Cho tới nay, chúng ta cứ ăn mày quá khứ về chuyện mình đã giành lại được độc lập sau 1000 năm Bắc thuộc và gần 100 năm Pháp thuộc, để biện minh cho tính cách anh hùng của dân tộc mình.

    Nhưng nếu nhìn lịch sử từ hai trăm năm trở lại thì quả có một sự thật khó có thể chối cãi: Người Việt có đầu óc nô lệ và vọng ngoại. Cứ xem tinh thần nô lệ Đại Hán của vua quan thời nhà Nguyễn. Cứ xem tinh thần tay sai người Mĩ tự nguyện của một số tướng lãnh miền nam Việt Nam trong vụ thanh toán nền Đệ I Cộng Hoà. Cứ xem bản chất nô thuộc Nga Tàu của cộng sản Việt Nam hiện nay. Đành rằng sự nô thuộc thời nhà Nguyễn và tay sai nơi một số tướng lãnh miền Nam chưa đến mức sẵn sàng dâng giang sơn và chủ quyền dân tộc cho ngoại nhân, để mong được bám quyền thu lợi như đảng cộng sản Việt hiện nay.

    Và ai có thể phản bác điều này: Người Việt – cả đời lẫn đạo – hễ đứng trước những người Âu Mĩ da trắng thì rụt rè như gà phải cáo. Nhưng với người da đen da đỏ, nhất là đồng bào da nhợt nhạt mình thì lại khinh thường, chẳng coi ra gì cả. Mình khinh mình, phải chăng vì con người Việt vốn là thứ không đáng tin đáng trọng? Đã là “quốc gia” thì không đội trời chung với “cộng sản”. Đã là “cộng sản” thì phải diệt cho bằng sạch “quốc gia”. Đã là “công giáo” thì là thứ phản dân tộc?

    Nguy hiểm thay cho cái lối tư duy quá khích (Con-Cái / Động-Tĩnh) của người mình. Vậy mà đâu đâu người ta cũng kháo nhau rằng, người Việt dễ thích ứng, dễ hội nhập! Thích ứng thật, hay đó “chỉ là tính khôn vặt, khôn lỏi, giả vờ phục tùng để tồn tại, nhưng bên trong đang tính toán sao cho có lợi nhất cho mình”, như quan điểm của ông Hà Sĩ Phu?

    Hay người Việt khinh nhau vì vốn bản chất vọng ngoại? 

    Mà ai dám bảo, người Việt chúng ta không vọng ngoại? - Mĩ nó đã tính cả rồi! - Đợi xem thằng Pháp nó muốn gì! - Ta thì có thể lầm, nhưng bác Mao bác Xì-ta-lin thì lầm sao được!

    Như vậy, bản chất nộ lệ và vọng ngoại là điều không thể chối cãi, đặc biệt nơi các thành phần học thức trong xã hội việt.

    Vấn đề là chúng từ đâu ra?

    Nguồn gốc của tinh thần nô thuộc

    Chúng ta dễ rơi vào nô thuộc là vì người Việt, tự bản chất, thiếu cá tính mạnh, thiếu óc tự lập. Mà do đâu chúng ta thiếu cá tính mạnh, thiếu đầu óc tự lập?

    Có cha mẹ nào ở hải ngoại đã không một lần thốt ra: Sao trẻ con người bản xứ tự tin đến thế, mà con mình thì lại quá rụt rè, thụ động như thế! Và họ thường đi tới kết luận: giáo dục của mình sai. Các nhà hàn lâm thì lại bắt mạch: tất cả là do ảnh hưởng của Khổng Giáo! Luân lí khổng giáo với những dây thòng lọng “tam cương” (cho đàn ông), “tam tòng” (cho đàn bà), “hiếu đễ” (cho con cái)… đã trói con người Việt trong ách lễ giáo, ngăn cản sự phát triển nhân cách con người.

    Ở đây, ra ngoài đề một chút. Trong cuộc luận bàn “thoát Trung” lâu nay trên mạng, có tác giả đưa ra luận đề: “thoát Trung” về mặt chính trị là nên, nhưng không thể và không nên “thoát Khổng”, vì, dù sao, Khổng Giáo đã tạo cho chúng ta một xã hội ổn cố tốt đẹp trải qua cả ngàn năm! Tôi không đồng í luận điểm này. Nếu không có Khổng Giáo, hẳn chúng ta đã có một trật tự xã hội khác, và trật tự này chưa hẳn kém hơn, hay có khi lại còn tốt hơn xã hội khổng giáo. Nên nhớ, dân tộc ta tháo gỡ được ách Hán thuộc, để thu hồi độc lập vào thế kỉ thứ 10, khi trật tự khổng giáo chưa được thiết lập trên đất nước. Và văn minh Đại Việt đi vào thoái trào, sau khi Khổng Giáo nắm được vị thế độc tôn trong xã hội việt.

    Tắt lại, lối giáo dục gia đình và học đường của mình trước đây và hiện nay bên nhà chắc chắn có ảnh hưởng lên cá tính mỗi người. Nhưng đó cũng chỉ là một yếu tố ảnh hưởng mà thôi.

    Theo tôi, cái gốc của thiếu tự tin và thiếu độc lập có nhiều nguyên do khác quan trọng hơn.

    Nguyên do thứ nhất: Màng lưới xã hội.

    Trong màng lưới này, các ràng buộc thân tộc và làng xã mang tầm quan trọng.

    Hãy nhìn vào hệ thống thân tộc. Con người việt nam sinh ra và lớn lên trong một cấu trúc thân tộc phức tạp và chặt chẽ và bị trói chặt trong màng lưới đó. Cấu trúc này thể hiện qua một hệ thống danh xưng thân tộc vô cùng rắc rối. Có lẽ không dân tộc nào giàu danh xưng thân tộc như dân tộc việt nam. Vòng thân tộc của Âu Mĩ chỉ có Ông-Bà (nội ngoại), Cha-Mẹ, Chú-Cô, Anh-Chị-Em, Dâu-Rể, Cháu (trai gái), Họ-hàng nói chung (Cousin). Trong khi cấu trúc thân tộc của ta thì ôi thôi rắc rối. Nó gồm nhiều hệ thống hợp lại, trong đó có hai hệ thống lớn (Nội và Ngoại) với những phân cấp tinh tế (Nội có Bác, Chú, Cô, O; Ngoại có Cậu, Dì, Mợ, Dượng) mang lực ép khác nhau trên cá nhân (Nội áp lực mạnh hơn Ngoại). Ở hệ thống Con Cái thì có Anh, Chị, Em được phân cấp tuỳ theo tuổi tác và quan hệ (con của Cô Chú, dù lớn tuổi hơn, vẫn phải gọi con của Bác là Anh hoặc Chị…); điểm này không có trong thân tộc âu mĩ, nên ta thường gặp khó khăn trong việc phiên dịch ra Việt ngữ. Brother là Anh hay Em? Sister là Chị hay Em hay Chị-Em họ?

    Lưới thân tộc này không chỉ hạn chế trong vòng thân tộc. Nó bao trùm cả xã hội. Dù không có liên hệ máu mủ hay gia tộc, một người nhỏ tuổi vẫn phải gọi một người dưng lớn tuổi hơn gặp trên đường là Anh hay Chị; nếu người đó lớn tuổi hơn Cha Mẹ mình thì gọi Ông Bà hay Bác Cô, nhỏ tuổi hơn Cha Mẹ thì Chú Thím - Cậu Dì… Lưới này lại còn biến đổi theo mức độ tình cảm, tuỳ lúc tuỳ nơi: kính nể thì Cụ, ít kính nể thì Ông Bà, khinh miệt thì thằng kia con kia.

    Nếu vô tình gọi sai danh xưng thân tộc, cá nhân bị thị phi ngay là vô lễ, thiếu giáo dục.

    Ngoài áp lực thân tộc, cá nhân còn bị khoá chặt bởi hệ thống thứ bậc làng xã. Trong xã hội việt truyền thống, trẻ em dưới bảy tuổi chưa được kể là người, để có được một chỗ trong bàn tiệc chung. Địa vị của một cá nhân trong làng tuỳ thuộc vào nội trú hay ngoại trú, tuổi tác, nghề nghiệp, danh vọng, tiền bạc, từ đó họ được xếp vào chiếu trên hay chiếu dưới.

    Sinh ra và lớn lên trong những vòng vây “đâu vào đó” như thế, thử hỏi làm sao cá nhân có thể phát huy được cá tính và sự độc lập của mình?

    Nguyên do thứ hai: không có cái “Tôi” chủ thể

    Bị trói như con ong mắc lưới nhện, cá nhân không thể có tự do. Nó luôn phải í thức chỗ đứng nhất định của nó trong hệ thống, để có những xử sự cho đúng đắn, cho “chính danh”, cho “phải đạo”: Con ra con, cha ra cha, ông ra ông.

    Vì thế, người Việt không có cái “Tôi” chủ thể (Subjekt) như Je (Pháp), I (Mĩ), Ich (Đức). mà chỉ có “Tôi” bị động (Objekt): me, moi (Pháp), me (Mĩ), mich, mir (Đức). Chữ “Tôi” mà chúng ta vẫn dùng có nghĩa là “Tôi Tớ” trong lối nói “Vua-Tôi”, “Bầy Tôi”. Trước đây, giới tây học thường dùng tiếng tây ba rọi nói chuyện với nhau: “Moa nói cho toa hay. Toa làm được, còn moa thì chịu!”. Đấy, họ cũng tự xưng mình với cái Tôi bị động (moi, toi), chứ đâu dùng chủ thể (je, tu) để tự xưng! Do đó, người Việt chỉ quen tuân lệnh, chứ không có khả năng ra lệnh. Họ chấp nhận mọi thứ như là bổn phận phải làm, như số phận đã định. Vì không có cá tính riêng, họ nhập nhằng trong lối xưng hô. Một linh mục trẻ gặp một linh mục già, xưng “Con”, thưa “Cha”, bẩm “Ngài”. Một linh mục già gặp một ông con cũng xưng “Con”, thưa “Cha”, bẩm “Ngài” với ông con! Thế là sao? Vì khiêm tốn không phải lẽ hay vì thiếu cá tính? Chỉ Công Giáo việt nam mới có thứ văn hoá trái khoáy này mà thôi.

    Cũng vì không có cái Tôi chủ thể, người Việt khác với người Âu Mĩ, không có truyền thống hoặc thói quen viết Tự Truyện (Autobiographie). Cần phân biệt Tự Truyện và Tiểu Sử (Biographie). Biographie là do một người khác viết về một người khác. Kiểu như ông Trần Đĩnh được các lãnh tụ cộng sản thuê viết tiểu sử cho họ (đọc thêm “Đèn Cù” của Trần Đĩnh). Người Việt ít ai dám viết về mình. Gần đây, một số tướng tá tại hải ngoại cũng tập tễnh viết Tự Truyện, nhưng phần nhiều viết để biện minh. Lối Tự Truyện này không đáng cậy.

     

    Nguyên do thứ ba: Văn hoá “Xin”.

    Đây là một nếp văn hoá tối hệ trọng của dân tộc (“XIN” đọc thêm nhà văn Lê Thị Huệ, “Văn Hoá Trì Trệ, Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỉ 21”, trang 107-115).

    Nhan nhãn trên mọi bài viết, mọi bài diễn văn, mọi văn thư, mọi thư từ, mọi lời trao đổi, mọi câu chuyện, nhất nhất đều được mở đầu và kết thúc với “Xin”. Tôi xin kính chào quý vị (thay vì: Kính chào quý vị). Tôi xin cám ơn quý vị (thay vì: Cám ơn quý vị). Tôi xin được nói như sau (thay vì: Tôi muốn nói như sau). Con xin được chào cha (thay vì: Con chào cha). Xin quý vị cho tôi có í kiến như sau (Quý vị hãy để tôi có í kiến như sau).

    Người ta nguỵ biện: tiếng Xin ở đây chỉ muốn nói lên sự khiêm tốn!

    Cưới vợ thì “xin” cưới. Muốn tới trường thì “xin” học. Cần đơn từ thì “xin” đơn. Tìm việc thì “xin” việc. Bệnh phải nghỉ làm thì “xin” nghỉ. Ngửa tay vì đói thì “xin” ăn.

    Bà Huệ kể, chỉ ở miền Bắc hiện nay, hễ ai nhận được từ người khác cái gì thì mở miệng ngay “Cháu xin ạ. Em xin ạ”, thay vì “Cháu cám ơn. Em cám ơn”. Vì văn hoá của ta không có tiếng “cám ơn” nên họ phải dùng từ “xin”? Hay họ bị nhập tâm văn hoá “xin-cho” của cộng sản? Cũng như dân Bắc một thời hễ mở miệng là “Nhờ ơn bác ơn đảng”! Câu thần chú mở đầu mọi câu chuyện của họ.

    Xem thế, toàn bộ cuộc sống, từ văn hoá, xã hội, chính trị, văn chương, pháp luật, từ gia đình ra tập thể, bị vây hãm bởi “Xin”. Thiếu chữ Xin trong câu nói hay trong lời văn, chúng ta tự nhiên ngọng miệng, câu chữ bế tắc.

    Văn hoá “Xin” từ đâu ra? Rõ ràng, Xin và Lạy là hành vi của con người trước thần thánh. Nhưng không biết từ bao giờ, người Việt đã lôi chúng xuống trần thế, để rồi sẵn sàng vái lạy và cầu xin ngay giữa người với người. Phải chăng vì những ông vua trước đây tự nhận mình là thiên tử, thay trời trị dân, biến dân thành “bề tôi”, một lũ nô lệ, phải sấp mình hoặc khấn vái hoàng thượng để được sống? Và rồi sau đó, đảng cộng sản lại thay trời tiếp tục phát huy lối văn hoá đó?

    Cùng một hành vi vái xin thần thánh chuyển sang vái xin người, các dân tộc á châu khác, như Nhật hay Thái, đã biến chúng thành một phong tục giao tế thuần tuý: vái chào khách. Còn dân Việt thì một mặt vẫn giữ tính cách thần thánh của nó, mặt khác lại thần thánh hoá con người (đám lãnh đạo, đám quyền thế, đám có tiền) để vái lạy và xin xỏ. Không những thế, chúng ta còn biến văn hoá “Xin” thành một cá tính dân tộc, toả trùm lên toàn bộ cuộc sống và lối nghĩ.

    Gần đây, người dân ra sức mạt sát và quyết liệt chống đối thứ văn hoá “Xin-Cho” do cộng sản áp đặt. Xét cho kĩ và nghĩ cho sâu, hành vi đó thiếu khả tín, là vì chúng ta chống cho có lệ. Đúng hơn, chúng ta vừa chửi vừa chấp tay, vừa chống vừa dâng thỉnh nguyện. Là vì văn hoá “Xin” đã thành hơi thở, đã đi vào tiềm thức, như kiểu tư duy Con - Cái của người mình hay lối tư duy Đực - Cái của một số dân tộc âu châu.

    Tắt lại, người Việt sinh ra trong một màng lưới tương quan thân tộc chặt chẽ, lớn lên trong tư thế luôn phải tìm cách thích ứng với môi trường đó (để được tiếng “chính danh”), suy tư và hành động luôn trong tư thế cầu xin kẻ dưới đối với người trên, tư thế của người đối với thần thánh. Xin đã đi vào vô thức. Nó chẳng đòi hỏi động tác bắt buộc đi kèm nữa, như quỳ hay cúi đầu khom lưng. Mà bất cứ ở tư thế nào cũng Xin được. Như giám mục Châu Ngọc Tri cách đây mấy năm mách nước: người ta có thể đứng Xin!

    Như vậy thì làm sao người Việt có cá tính mạnh được. Làm sao chúng ta không “nô lệ căn tính” được. Làm sao chúng ta có óc sáng tạo được. Người Việt có thể nổi tiếng về chăm chỉ, về học giỏi. Nhưng khó mà chờ đợi được sáng kiến, tự lập nơi họ. Đó là chưa nói tới việc người mình tự bản chất thiếu óc khoa học. Điểm này tôi sẽ bàn trong một bài tới.

    Hi vọng những áp lực ràng buộc vô hình trên đây sẽ không đè nặng trên con cháu chúng ta tại hải ngoại, để chúng có cơ hội trở thành những thế hệ người Việt đua chen được với các dân tộc tiên tiến trên thế giới.

    Vậy phải làm sao?

    Phải làm gì để thoát ra khỏi những màng lưới cản ngăn sự triển nở nhân cách và kìm giữ chúng ta trong nô lệ?

    văn hoá Xin đã thấm vào tiềm thức, nên cần phải có một nỗ lực chung của mọi giới toàn xã hội, mới mong có thể giã từ được nó.

    Nhưng ta có thể bắt đầu ngay, từ mỗi cá nhân. Bắt đầu với việc đơn giản nhất mà cũng khó khăn nhất: Cùng nhau nói Không với văn hoá Xin. Cố gắng í thức và loại trừ thứ rác rưởi này ra khỏi lời nói hay câu văn của mình, bất cứ lúc nào có thể.

    Thay vì mở miệng hay đặt bút: “Tôi xin kính chào quý vị. Tôi xin cám ơn quý vị”, thì “Tôi kính chào quý vị. Tôi cám ơn quý vị”.

    Thay vì “Xin cho tôi có í kiến”, thì “Tôi có í kiến”.

    Thay vì “Xin quý vị rộng lượng xét đơn của tôi” thì “Yêu cầu quý vị rộng lượng xét cho tôi”.

    Thay vì “Con xin vái cha”, thì “Con muốn vái cha”. Xin thì cha còn ngần ngại, chứ muốn thì chắc chắn cha sẽ sẵn sàng cho!

    Augsburg, 15.03.2015

    Phạm Hồng Lam

    caidinh.com/trangluu1/vanhoaxahoi/vanhoa/nhandienconnguoivietnam

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,540,110

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/