Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập41,576,324

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những quy luật của bản chất con người

Robert Greene

  • Thứ ba, 11:32 Ngày 08/09/2020
  • Robert Greene & tác phẩm

     

    CHƯƠNG 18

    SUY TƯ VỀ LẼ THƯỜNG TÌNH CỦA CÁI CHẾT

    Quy luật của việc phủ nhận cái chết

    Hầu hết chúng ta đều tránh suy nghĩ về cái chết trong lúc đang trải  qua cuộc sống của mình. Thay vì vậy, sự tất yếu của cái chết nên liên tục xuất hiện trong tâm trí của chúng ta. Việc hiểu được sự ngắn ngủi của cuộc sống sẽ giúp cho chúng ta có một ý thức về mục đích và sự cấp bách trong việc hiện thực hóa các mục tiêu của mình. Việc tự rèn luyện để đối đầu và chấp nhận thực tế này giúp chúng ta dễ dàng kiểm soát những thất bại, chia ly và khủng hoảng không thể tránh khỏi trong cuộc sống. Nó cho chúng ta cảm giác về sự tương quan, về những gì thật sự quan trọng trong sự tồn tại ngắn ngủi này của chúng ta. Hầu hết mọi người liên tục tìm cách tách rời mình khỏi những người khác và cảm thấy tự tôn. Thay vì thế, chúng ta phải nhìn thấy cái chết ở tất cả mọi người, cách thức nó san bằng và kết nối tất cả chúng ta. Với ý thức sâu sắc về cái chết của mình, chúng ta tăng cường kinh nghiệm về mọi khía cạnh của cuộc sống.

    Viên đạn trong cạnh sườn

                Khi còn là một đứa trẻ đang lớn ở Savannah, Georgia, Mary Flannery O’ Connor (1925 -1964) đã cảm thấy một mối liên hệ lạ lùng và mạnh mẽ với cha cô, Edward. Một số nguyên do trong đó bắt nguồn một cách tự nhiên từ sự giống nhau đáng ngạc nhiên về thể chất của họ - cùng một đôi mắt to, sắc sảo, cùng những biểu cảm trên gương mặt. Nhưng quan trọng hơn với Mary, toàn bộ cách suy nghĩ và cảm nhận của họ dường như hoàn toàn đồng bộ. Cô có thể cảm nhận được điều này khi cha cô tham gia vào các trò chơi do cô nghĩ ra – ông đã trượt rất tự nhiên vào tinh thần của tất cả những trò chơi này, và trí tưởng tượng của ông di chuyển theo cùng hướng với trí tưởng tượng của cô. Họ có những cách truyền đạt thông tin mà không cần phải nói lời nào.

                Mary, một đứa con duy nhất, không cảm thấy theo cách đó đối với mẹ của mình, Regina, người xuất thân từ tầng lớp xã hội vượt trội so với chồng và có khát vọng trở thành một nhân vật trong xã hội địa phương. Người mẹ muốn nhào nặn cô con gái khá mọt sách và ẩn dật của mình thành một phụ nữ miền Nam ưu việt, nhưng Mary, bướng bỉnh và ngoan cố, không hề nhượng bộ. Mary thấy mẹ và những người thân của mình hơi hình thức và nông cạn. Khi lên mười tuổi, cô đã vẽ một loạt tranh biếm họa về họ, mà cô gọi là “My Relitives” (Một cách chơi chữ, bóp méo của từ relatives). Với tính tình tinh nghịch, cô đã để cho mẹ và những người thân của mình xem những bức hình này, và đương nhiên là họ bị sốc – không chỉ do cách họ được minh họa chân dung mà còn do trí thông minh sắc sảo của đứa trẻ mười tuổi này.

                Tuy nhiên, người cha lại nhận thấy những bức tranh biếm họa này khá thú vị. Ông thu thập chúng vào một cuốn sách nhỏ mà ông thích khoe với những vị khách đến thăm nhà. Ông thấy trước một tương lai tuyệt vời đối với con gái của mình, với tư cách một nhà văn. Từ rất sớm, Mary đã biết rằng cô không giống những đứa trẻ khác, thậm chí hơi lập dị, và cô tắm mình trong niềm tự hào mà cha cô đã thể hiện đối với những phẩm chất khác thường của cô.

    Cô hiểu cha mình đến mức cảm thấy sợ hãi khi vào mùa hè năm 1937 cô cảm nhận được sự thay đổi trong năng lượng và tinh thần của ông. Thoạt đầu nó rất tinh tế - những nốt  mẩn đỏ trên mặt ông, một sự mệt mỏi đột ngột xuất hiện vào buổi chiều. Sau đó, ông bắt đầu ngủ trưa ngày càng dài và thường xuyên bị cảm cúm, toàn thân đau nhức. Thỉnh thoảng Mary  lại lén nghe bố mẹ trò chuyện sau cánh cửa phòng đóng kín, và những gì cô có thể lượm lặt được là đã có gì chuyện đó rất không ổn xảy ra.

                Công việc kinh doanh bất động sản mà cha cô đã bắt đầu vài năm trước đó không được tốt lắm và ông phải từ bỏ nó. Vài tháng sau, ông tìm được một công việc của chính phủ ở Atlanta, với mức lương không cao lắm. Để xoay xở với khoản tiền eo hẹp, Mary và mẹ cô đã chuyển đến một ngôi nhà rộng rãi thuộc sở hữu của những người bà con ở thị trấn Millsgeville, ở trung tâm Georgia, cách Atlanta không quá xa.

                Đến năm 1940, người cha quá yếu nên không thể tiếp tục công việc của mình. Ông trở về nhà, và trong vài tháng tiếp theo Mary nhìn thấy người cha yêu dấu của mình ngày càng yếu đi, ngày càng đau đớn, cho đến khi ông qua đời vào ngày 1 tháng 2 năm 1941, ở tuổi bốn mươi lăm. Chính trong những tháng sau đó, Mary mới biết rằng căn bệnh của cha cô được gọi là bệnh lao da ban đỏ, một căn bệnh khiến cơ thể tạo ra các kháng thể tấn công và làm suy yếu các mô khỏe mạnh của chính nó. (Ngày nay, nó được gọi là lao da ban đỏ hệ thống, và nó là phiên bản nghiêm trọng nhất của chứng bệnh này.)

                Sau cái chết của ông, Mary cảm thấy choáng váng đến độ không thể nói với bất kỳ ai về sự mất mát này, nhưng cô tâm sự trong một cuốn sổ riêng về ảnh hưởng cái chết của ông đối với cô: “Thực tế về cái chết đã ập lên chúng ta và một ý thức về quyền năng của Chúa đã phá vỡ sự tự mãn của chúng ta, giống như một viên đạn ở cạnh sườn. Một cảm giác kịch tính, bi thảm, về sự vô hạn, đã giáng xuống chúng ta, khiến cõi lòng chúng ta tràn ngập nỗi đau buồn, nhưng thậm chí trên nỗi đau buồn, là sự diệu kỳ.”

                Cô cảm thấy như thể một phần của cô đã chết cùng với cha cô, vì họ đã rất gắn bó với nhau. Nhưng ngoài vết thương bất ngờ và dữ dội mà nó gây ra cho cô, cô đã tự hỏi về ý nghĩa của toàn bộ những điều này trong kế hoạch vũ trụ lớn hơn của mọi thứ. Sùng kính sâu sắc trong đức tin Công giáo của mình, cô tưởng tượng rằng mọi thứ xảy ra đều có lý do và là một phần trong kế hoạch bí ẩn của Thượng đế. Một điều gì đó rất quan trọng, vì cái chết quá sớm của cha cô không thể là vô nghĩa.

                Trong những tháng sau đó, một thay đổi đã đến với Mary. Cô trở nên nghiêm túc khác thường và tận tụy với việc học ở trường, điều mà trước đây cô khá thờ ơ. Cô bắt đầu viết những câu chuyện dài hơn và nhiều tham vọng hơn. Cô theo học ở một trường đại học dành cho phụ nữ và gây ấn tượng với các giáo sư của mình bằng kỹ năng viết và chiều sâu suy nghĩ. Cô xác định rằng cha cô đã đoán đúng về định mệnh của cô – trở thành một nhà văn.

                Ngày càng tự tin vào năng lực sáng tạo của mình, cô quyết định rằng thành công của mình phụ thuộc vào việc rời khỏi Georgia. Việc sống với mẹ ở Millsgeville khiến cô cảm thấy ngột ngạt. Cô nộp đơn thi vào Đại học Iowa và được nhận học bổng toàn phần cho niên khóa bắt đầu vào năm 1945. Mẹ cô nài nĩ cô xem xét lại, nghĩ rằng đứa con duy nhất của mình quá mong manh để sống một mình, nhưng Mary đã quyết tâm. Đăng ký tham gia Hội thảo Nhà văn nổi tiếng tại trường đại học, cô quyết định đơn giản hóa tên của mình thành Flannery O’ Connor, báo hiệu cho thân phận mới của cô.

                Làm việc với quyết tâm và kỷ luật quyết liệt, Flannery bắt đầu thu hút được sự chú ý đối với những truyện ngắn của cô và các nhân vật từ miền Nam mà cô miêu tả và dường như biết rất rõ, làm nổi bật những phẩm chất đen tối và lố bịch ngay bên dưới bề mặt của sự quý phái của miền nam. Nhiều đại diện văn học và nhà xuất bản đã gọi điện cho cô, và các tạp chí uy tín nhất đã chấp nhận những câu chuyện của cô.

                Sau Iowa, Flannery chuyển đến Bờ Đông, định cư tại một ngôi nhà nông thôn ở Connecticut thuộc sở hữu của các bạn cô, Sally và Robert Fitzgerald, họ đã cho cô thuê một căn phòng. Ở đó, không bị mất tập trung, cô bắt đầu hăng say viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình. Tương lai dường như đầy hứa hẹn, và tất cả diễn ra theo đúng kế hoạch mà cô đã đặt ra cho chính mình sau cái chết của người cha.

                Vào Giáng sinh năm 1949, cô trở lại thăm Millsgeville, và  mắc bệnh nặng khi đang ở đó. Các bác sĩ chẩn đoán cô mắc chứng thận di động. Bệnh này cần được phẫu thuật và một khoảng thời gian hồi phục tại nhà. Tất cả những gì cô muốn là quay trở lại Connecticut, sống cùng các bạn, và hoàn thành cuốn tiểu thuyết đang ngày càng trở nên đầy tham vọng.

                Cuối cùng, đến tháng 3, cô đã có thể trở lại, nhưng trong suốt vài tháng tiếp theo, cô gánh chịu những cơn đau kỳ lạ trên hai cánh tay. Cô đã đến khám các bác sĩ ở New York, và họ chẩn đoán cô bị viêm khớp dạng thấp. Tháng 12 năm đó, cô lại trở về Georgia một lần nữa vào dịp Giáng sinh và trên chuyến tàu về nhà, cô ngã bệnh rất nghiêm trọng. Khi cô xuống tàu và được chú của cô ra đón, cô hầu như không thể đi được. Cô cảm thấy mình đột nhiên già nua và yếu ớt.

                Bị đau ở các khớp và bị sốt cao, cô phải nhập viện ngay lập tức. Cô được cho biết đó là một trường hợp viêm khớp dạng thấp nghiêm trọng, và sẽ mất nhiều tháng để điều trị; cô sẽ phải ở lại Millsgeville trong một thời gian không xác định. Cô không mấy tin tưởng các bác sĩ và không chắc chắn về chẩn đoán của họ, nhưng cô quá yếu để tranh luận. Những cơn sốt khiến cô cảm thấy như thể mình sắp chết.

                Để điều trị cho cô, các bác sĩ đã cho cô uống một liều lượng lớn cortisone, loại thuốc mới thần kỳ, giúp giảm đáng kể cơn đau và viêm ở khớp. Nó cũng mang đến cho cô những luồng năng lượng mãnh liệt khiến tâm trí của cô bối rối và khiến nó chạy đua với đủ thứ suy nghĩ kỳ lạ. Như một tác dụng phụ, nó cũng làm cho cô bị sưng mặt và rụng tóc. Và một phần của liệu pháp là cô phải được truyền máu thường xuyên. Cuộc sống của cô đột nhiên chuyển sang một thời kỳ đen tối.

                Với cô, dường như có một sự trùng hợp khá kỳ lạ, khi cơn sốt ở mức cao nhất, cô có cảm giác mình bị mù và tê liệt. Chỉ vài tháng trước, khi chưa bị bệnh, cô đã quyết định làm cho nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết của mình bị mù. Có phải cô đã thấy trước số phận của chính mình, hay căn bệnh đã có sẵn ở đó, khiến cô có những suy nghĩ như vậy?

                Cảm thấy cái chết đang đến gần và viết với tốc độ nhanh khi ở trong bệnh viện, cô đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết mà bây giờ cô gọi là Wise Blood, lấy cảm hứng từ tất cả những lần truyền máu mà cô đã trải qua. Cuốn tiểu thuyết liên quan đến một chàng trai trẻ, Hazel Motes, quyết tâm truyền bá phúc âm của thuyết vô thần cho một thời đại khoa học mới. Anh nghĩ rằng anh có “dòng máu minh triết”, không cần tới bất kỳ sự hướng dẫn tinh thần nào. Cuốn tiểu thuyết ghi lại quá trình anh trở thành kẻ giết người và điên loạn và được xuất bản năm 1952.

                Sau nhiều tháng nhập viện và hoàn toàn bình phục tại nhà, Flannery trở về Connecticut để thăm Fitzgeralds, hy vọng rằng trong tương lai gần, cô có thể có thể tiếp tục cuộc sống cũ tại quê nhà của họ. Một ngày nọ, khi cô và Sally đang lái xe ở miền quê, Flannery đề cập đến bệnh viêm khớp dạng thấp của cô, và cuối cùng Sally quyết định nói cho cô biết sự thật mà người mẹ bảo vệ quá mức của cô, thông đồng với các bác sĩ, đã che giấu cô. “Flannery, bạn không bị viêm khớp, bạn bị lao da.” Flannery bắt đầu run rẩy. Sau vài phút im lặng, cô trả lời, “Chà, đó không phải là một tin tốt đẹp. Nhưng tôi không thể cảm ơn bạn đủ vì đã nói cho tôi biết… Tôi đã nghĩ rằng tôi bị lao da, và tôi đã nghĩ rằng tôi đang phát điên. Tôi thà mắc bệnh còn hơn bị điên.”

                Dù có phản ứng bình tĩnh, tin tức này vẫn làm cô choáng váng. Đây giống như một viên đạn thứ hai ở trong cạnh sườn cô, cảm giác ban đầu trở lại với lực tác động gấp đôi. Bây giờ cô đã biết chắc chắn rằng mình đã thừa hưởng căn bệnh này từ cha mình. Đột nhiên cô phải đối mặt với thực tế rằng có lẽ cô không còn sống được bao lâu nữa, khi xét tới việc cha cô đã xuống dốc nhanh ra sao. Bây giờ rõ ràng rằng cô sẽ không có kế hoạch hay hy vọng để sống ở nơi nào khác ngoài Millsgeville. Cô cắt ngắn chuyến đi đến Connecticut và trở về nhà, cảm thấy chán nản và bối rối.

                Mẹ cô hiện là quản lý của trang trại gia đình, gọi là Andalusia, ở ngay mé ngoài Millsgeville. Flannery sẽ phải dành phần còn lại của cuộc đời mình trong trang trại này với mẹ cô, người sẽ chăm sóc cô. Dường như các bác sĩ nghĩ rằng cô có thể sống một cuộc đời bình thường nhờ loại thuốc thần kỳ mới này, nhưng Flannery không chia sẻ sự tự tin của họ, khi trực tiếp trải nghiệm nhiều tác dụng phụ bất lợi và tự hỏi cơ thể cô có thể chịu đựng được bao lâu.

                Cô yêu mẹ, nhưng họ rất khác nhau. Bà mẹ là kiểu người thích nói chuyện, bị ám ảnh bởi địa vị và vẻ bề ngoài. Trong những tuần đầu tiên trở lại nhà mình, Flannery cảm thấy hoảng loạn. Cô đã luôn luôn bướng bỉnh, giống như cha mình. Cô thích sống theo cách riêng của mình, và mẹ cô có thể khá gay gắt và hay quấy nhiễu. Nhưng ngoài điều đó ra, Flannery đã liên kết những khả năng sáng tạo với việc sống cuộc sống của chính mình ở bên ngoài Georgia, gặp gỡ thế giới rộng lớn, giữa những bạn bè đồng trang lứa mà cô có thể nói về những vấn đề nghiêm túc. Cô cảm thấy đầu óc mình mở rộng với những chân trời rộng lớn hơn.

                Cô có cảm giác rằng Andalusia giống như một nhà tù, và lo rằng tâm trí của mình sẽ bị bó hẹp trong môi trường này. Nhưng khi suy ngẫm về cái chết đang nhìn chằm chằm vào mặt mình, cô đã suy nghĩ sâu hơn về quá trình của cuộc đời mình. Với cô, điều rõ ràng quan trọng nhất không phải là bạn bè hoặc nơi cô đang sống hay thậm chí chính sức khỏe của cô, mà là tác phẩm của cô, thể hiện mọi ý tưởng và ấn tượng mà cô đã tích lũy được trong cuộc đời ngắn ngủi của mình. Cô có rất nhiều truyện ngắn phải viết, và một hoặc hai cuốn tiểu thuyết khác.

                Theo một cách thức lạ lùng nào đó, có lẽ việc buộc phải trở về nhà này là một phước lành được ngụy trang, một phần của một kế hoạch nào đó khác dành cho cô. Trong phòng của cô ở Andalusia, xa thế giới, cô sẽ không có gặp phải bất kỳ sự phiền nhiễu nào. Cô sẽ nói rõ với mẹ rằng hai hoặc nhiều giờ viết vào buổi sáng là thiêng liêng với cô và cô sẽ không tha thứ cho bất kỳ sự can thiệp nào. Bây giờ cô có thể tập trung tất cả năng lượng vào công việc của mình, thậm chí đi sâu hơn vào các nhân vật của mình và đưa họ vào cuộc sống. Trở lại trung tâm của Georgia, lắng nghe những người khách viếng thăm và những nhân công trong trang trại, cô sẽ có thể nghe thấy giọng nói của các nhân vật của mình, những khuôn mẫu nói năng của họ vang vọng trong đầu cô. Thậm chí cô cảm thấy càng được kết nối sâu sắc hơn với vùng đất này, với miền Nam, vốn ám ảnh cô.

                Trong lúc đi lại trong trang trại suốt những tháng đầu tiên trở về nhà, cô bắt đầu cảm thấy sự hiện diện của cha mình trong những bức ảnh, trong những đồ vật mà ông yêu quý, trong những cuốn sổ tay của ông mà cô phát hiện ra. Sự hiện diện của ông ám ảnh cô. Ông đã muốn trở thành một nhà văn; cô biết điều đó. Có lẽ ông muốn cô thành công ở sự nghiệp mà ông đã thất bại. Bây giờ căn bệnh hiểm nghèo họ chia sẻ càng gắn kết họ chặt chẽ hơn nữa; cô sẽ cảm thấy cùng một nỗi đau mà ông từng gánh chịu. Nhưng cô sẽ viết, viết mãi, vô cảm trước nỗi đau, theo cách nào đó nhận ra tiềm năng mà cha cô đã nhìn thấy ở cô khi còn nhỏ.

                Khi suy nghĩ theo cách này, cô nhận ra mình không có thời gian để lãng phí. Cô sẽ sống thêm bao nhiêu năm nữa với năng lượng và đầu óc minh mẫn để viết? Việc tập trung vào công việc cũng sẽ giúp cô thoát khỏi mọi lo lắng về căn bệnh này. Khi đang viết, cô hoàn toàn có thể quên đi bản thân và sống trong các nhân vật của mình. Đó là một trải nghiệm giống như trải nghiệm tôn giáo về việc đánh mất bản ngã. Như những lời cô đã viết cho một người bạn để báo tin về căn bệnh của mình, “Tôi có thể nheo mắt nhìn tất cả những điều này như một lời chúc phúc.”

                Cũng phải kể ra những phúc lành khác: Biết sớm về căn bệnh của mình, cô có thời gian để làm quen với ý tưởng về cái chết trẻ, và nó sẽ giảm bớt sức nặng của cú đòn này; cô sẽ tận hưởng từng phút, từng trải nghiệm và tận dụng tối đa những cuộc gặp gỡ hạn chế của mình với người ngoài. Cô không thể mong đợi nhiều từ cuộc sống, vì vậy mọi thứ cô có được đều có một ý nghĩa nào đó. Không cần phải phàn nàn hay cảm thấy tự thương hại bản thân – mọi người đều phải chết vào một lúc nào đó. Bây giờ cô thấy dễ dàng hơn khi không quá coi trọng những mối quan tâm nhỏ nhặt mà dường như khiến cho những người khác phải bận lòng rất nhiều. Thậm chí cô có thể nhìn vào chính mình và cười nhạo những kỳ vọng của mình với tư cách một nhà văn, và tự chế giễu trông mình thật là lố bịch với một cái đầu hói, lảo đảo đi quanh với một cây gậy.

                Khi quay lại công việc viết lách với một cảm giác tận tâm mới mẻ, Flannery cảm thấy một sự thay đổi khác từ bên trong: một ý thức ngày càng tăng về cuộc sống và nền văn hóa ở Mỹ trong thập niên 1950, và sự ghê tởm đối với nó. Cô cảm thấy mọi người ngày càng trở nên nông cạn, bị ám ảnh bởi những thứ vật chất và bị quấy rầy bởi sự nhàm chán, giống như trẻ con. Họ đã trở nên vô cảm, vô hồn, mất kết nối với quá khứ và tôn giáo, quanh đi quẩn lại mà không có một ý thức cao hơn nào về mục đích. Và ở cốt lõi của những vấn đề này là sự thiếu khả năng của họ trong việc đối mặt với cái chết của chính mình và tính chất nghiêm trọng của nó.

                Cô đã thể hiện những điều này trong một câu chuyện lấy cảm hứng từ chính căn bệnh của mình, gọi là “The Enduring Chill”. Nhân vật chính là một chàng trai trẻ quay trở về Georgia, bị bệnh hiểm nghèo. Khi anh rời khỏi toa tàu, và mẹ anh tới đó để đón anh, bà “đã thốt lên một tiếng kêu khẽ; trông bà có vẻ kinh hãi. Anh hài lòng vì bà lập tức nhìn thấy cái chết trên mặt của mình. Mẹ anh, ở tuổi sáu mươi, sẽ được giới thiệu với thực tế và anh cho rằng nếu trải nghiệm này không giết chết bà, nó sẽ hỗ trợ cho bà trong quá trình trưởng thành.”

                Như cô nhìn thấy, mọi người đang mất dần nhân tính và có mọi loại khả năng tàn ác. Có vẻ như họ không mấy quan tâm tới nhau và cảm thấy khá vượt trội so với bất kỳ loại người ngoài nào. Giá như họ có thể nhìn thấy những gì cô đã nhìn thấy – thời gian của chúng ta ngắn ngủi như thế nào, mọi người phải đau khổ và chết ra sao – nó sẽ thay đổi cách sống của họ; nó sẽ giúp họ trưởng thành hơn; nó sẽ làm tan chảy toàn bộ sự lạnh lùng của họ. Những gì độc giả của cô cần là “viên đạn nằm trong cạnh sườn” của chính họ để loại bỏ sự tự mãn của họ. Cô sẽ thực hiện điều này bằng cách miêu tả theo một cách thức thô thiển nhất có thể sự ích kỷ và tàn bạo tiềm ẩn bên dưới bề mặt của các nhân vật của cô, những kẻ mà trông bề ngoài có vẻ rất dễ chịu và nhạt nhẽo.

                Một vấn đề mà Flannery phải đối mặt trong cuộc sống mới là sự cô đơn kinh khủng. Cô cần có sự bầu bạn của mọi người để an ủi phần nào, và cô phụ thuộc vào những loại nhân vật mà cô gặp để cung cấp chất liệu vô tận cho công việc của cô. Khi sự nổi tiếng của cô tăng lên cùng với việc xuất bản cuốn Wise Blood và các tập truyện ngắn, cô có thể hy vọng vào những chuyến thăm thỉnh thoảng từ các nhà văn và những người hâm mộ khác, và cô sống vì những khoảnh khắc như vậy, dồn hết năng lượng vào việc quan sát những vị khách của mình và việc thăm dò những chiều sâu của họ.

                Để lấp đầy những khoảng trống giữa những cuộc gặp gỡ xã hội này, cô bắt đầu một quan hệ thư từ kéo dài với số lượng bạn bè và người hâm mộ ngày càng tăng, hồi âm cho hầu hết những ai viết thư cho cô. Nhiều người trong số họ rất không ổn. Có một chàng trai ở Trung Tây cảm thấy muốn tự tử và đang trên bờ vực điên loạn. Có một cô gái trẻ tài giỏi đến từ Georgia, Betty Hester, cảm thấy xấu hổ vì là một người đồng tính nữ và tâm sự với Flannery, hai người giờ đây thường xuyên viết thư qua lại cho nhau. Flannery không bao giờ phán xét bất kỳ một ai trong số họ, cảm thấy bản thân mình khá kỳ quặc và nằm bên ngoài dòng chủ đạo. Đối với số nhân vật và những kẻ không thích nghi với ngoại cảnh ngày càng tăng này, cô cung cấp lời khuyên và lòng trắc ẩn, luôn luôn khuyến khích họ cống hiến năng lượng của mình cho một cái gì đó bên ngoài bản thân.

                Những lá thư là phương tiện hoàn hảo cho Flannery, vì nó cho phép cô giữ một khoảng cách vật lý với mọi người; cô sợ quá nhiều sự thân mật, vì điều đó có nghĩa là sẽ gắn bó với những người mà cô sẽ sớm phải nói lời từ biệt. Bằng cách này, cô dần dần xây dựng thế giới xã hội hoàn hảo cho những mục đích của mình.

                Một ngày mùa xuân năm 1953, cô nhận được một chuyến viếng thăm từ một người đàn ông hai mươi sáu tuổi, đẹp trai, đến từ Đan Mạch, tên là Erik Langkjaier. Anh là một nhân viên bán sách giáo khoa lưu động cho một nhà xuất bản lớn, địa phận hoạt động của anh bao gồm hầu hết miền Nam. Anh đã gặp một giáo sư tại một trường đại học địa phương, người đã đề nghị giới thiệu anh với nhân vật văn học lớn của Georgia, Flannery O’Connor. Từ lúc anh bước vào nhà cô, Flannery cảm thấy giữa họ có một mối liên hệ thần bí nào đó. Cô thấy Erik rất vui tính và đọc nhiều sách. Thật sự rất hiếm khi gặp một người từng trải như thế ở vùng Georgia này. Cuộc sống của anh với tư cách một người bán hàng lưu động đã mê hoặc cô; cô thấy thật hài hước khi anh mang theo một quyển “Kinh thánh”, một thứ mà những kẻ làm ăn buôn bán gọi là cuốn sách có thể tách rời từng trang của các tài liệu quảng cáo.

                Một yếu tố nào đó trong cuộc sống không gốc rễ của anh rất phù hợp với cô. Giống như Flannery, cha của Erik đã qua đời khi anh còn nhỏ. Cô đã kể cho anh nghe về cha của mình và chứng bệnh lao da mà cô thừa hưởng. Cô thấy Erik hấp dẫn và đột nhiên tự ti về ngoại hình của mình, cô liên tục pha trò về bản thân. Cô tặng anh một bản in cuốn Wise Blood, với lời đề tặng, “Tặng Erik, kẻ cũng có dòng máu minh triết.”

                Anh bắt đầu sắp xếp các chuyến đi của mình để có thể thường xuyên đi qua Millsgeville và tiếp tục các cuộc thảo luận sôi nổi của họ. Flannery mong chờ từng chuyến viếng thăm và cảm thấy rất trống rỗng khi anh từ giã. Vào tháng 5 năm 1954, trong một lần đến thăm, anh nói với cô rằng anh sẽ nghỉ phép sáu tháng để trở về Đan Mạch và anh đề nghị họ nên thực hiện một chuyến xe tạm biệt qua huyện, hoạt động yêu thích của họ. Trời đã chạng vạng, và giữa chốn đồng không mông quạnh, anh dừng xe bên vệ đường và cúi xuống hôn cô, điều mà cô vui vẻ chấp nhận. Nó ngắn ngủi, nhưng rất đáng nhớ đối với cô.

                Cô thường xuyên viết thư cho anh và rõ ràng rất nhớ anh, kín đáo nhắc lại những chuyến đi xe của họ và cho thấy chúng có ý nghĩa như thế nào đối với cô. Vào tháng 1 năm 1955, cô bắt đầu một câu chuyện dường như tuôn ra từ cô trong vài ngày. (Bình thường, cô là một nhà văn cẩn thận, viết những câu chuyện với nhiều bản nháp.) Cô gọi nó là “Những người dân quê tốt bụng” (Good Country People). Một trong những nhân vật là một cô gái trẻ hoài nghi với một cái chân gỗ. Một người bán Thánh kinh lưu động đã tán tỉnh nàng. Nàng đột ngột buông rơi sự cảnh giác và cho phép anh ta quyến rũ nàng, chơi trò chơi của riêng nàng với anh. Khi họ chuẩn bị làm tình trong một kho chứa cỏ khô, anh ta cầu xin nàng tháo cái chân gỗ ra, như một dấu hiệu cho sự tin tưởng của nàng. Điều này dường như quá thân mật và vi phạm tất cả các nguyên tắc phòng thủ của nàng, nhưng nàng vẫn xiêu lòng. Sau đó anh ta bỏ chạy cùng với cái chân gỗ, không bao giờ quay lại.

                Trong thâm tâm, cô nhận ra rằng theo cách nào đó Erik đã kéo dài thời gian ở lại Châu Âu. Câu chuyện là cách cô đối phó với điều này, châm biếm hai người bọn họ với tư cách anh chàng bán sách và cô con gái què quặt hoài nghi đã buông xuôi sự cảnh giác. Erik đã lấy đi cái chân gỗ của cô. Đến tháng 4, cô cảm thấy rất lo lắng về sự vắng mặt của anh và viết cho anh, “Tôi cảm thấy giá như  có anh ở đây, chúng ta có thể nói về một triệu điều mà không dừng lại.” Một ngày sau khi gửi lá thư này, cô nhận được một lá thư từ anh, thông báo rằng anh đã đính hôn với một phụ nữ Đan Mạch, và anh nói với cô về kế hoạch trở về Hoa Kỳ của họ, nơi anh sẽ đảm nhận công việc cũ của mình.

                Cô đã linh cảm rằng một sự kiện như vậy sẽ xảy ra, nhưng dù sao tin này vẫn là một cú sốc. Cô trả lời với sự lịch sự tối đa, chúc mừng anh và họ viết thư cho nhau thêm vài năm nữa, nhưng cô không thể dễ dàng vượt qua sự mất mát này. Cô đã cố gắng tự bảo vệ bản thân khỏi mọi cảm giác chia tay và chia ly sâu sắc vì chúng quá sức chịu đựng của cô. Chúng giống như những lời nhắc nhở nho nhỏ về cái chết sẽ đưa cô đi bất cứ lúc nào, trong khi những người khác sẽ tiếp tục sống và yêu thương. Và bây giờ chính những cảm giác chia ly này đã tràn ngập cõi lòng cô.

                Giờ đây cô đã biết trải nghiệm về một tình yêu không được đáp lại là thế nào, nhưng đối với cô thì khác – cô  biết rằng đây là cơ hội cuối cùng cho mình, rằng cô sẽ phải sống một cuộc đời đơn độc, và điều này khiến cho tất cả mọi thứ trở nên cay đắng gấp đôi. Cô đã tự rèn luyện để nhìn thẳng vào cái chết, vậy tại sao cô phải chùn lại khi đối mặt với hình thức đau khổ mới nhất này? Cô hiểu những gì cô phải làm, đưa trải nghiệm đau đớn này vào những truyện ngắn và vào cuốn tiểu thuyết thứ hai của cô, sử dụng nó như là phương tiện để làm giàu kiến thức về con người và tính chất dễ bị tổn thương của họ.

                Trong vài năm tiếp theo, các loại thuốc bắt đầu gây tổn hại, vì chất cortisone làm mềm xương hông và xương hàm của cô và thường làm cho hai cánh tay của cô trở nên quá yếu, không thể đánh máy được. Ít lâu sau cô phải chống nạng để đi lại. Ánh sáng mặt trời đã trở thành kẻ thù của cô, vì nó có thể kích hoạt lại những nốt mẩn lao da, và vì vậy, khi đi bộ, cô phải che kín từng tấc cơ thể, ngay cả trong cái nóng ngột ngạt của mùa hè. Các bác sĩ đã thử ngưng cho cô uống thuốc có chất cortisone để cơ thể của cô bớt căng thẳng, và điều này làm giảm năng lượng của cô và khiến cho việc viết lách trở nên khó khăn hơn nhiều.

                Dưới tất cả những điều kiện khó khăn trong vài năm qua, cô đã xuất bản hai cuốn tiểu thuyết và nhiều tập truyện ngắn; cô được coi là một trong những nhà văn lớn của Mỹ vào thời bấy giờ, dù vẫn còn rất trẻ. Nhưng đột nhiên cô bắt đầu cảm thấy kiệt sức và nói năng rất khó. Cô đã viết cho một người bạn vào mùa xuân năm 1962, “Tôi đã viết suốt mười sáu năm và tôi có cảm giác đã cạn kiệt tiềm năng ban đầu của mình và bây giờ đang cần tới một ân sủng nào đó để đào sâu hơn nhận thức.”

                Một ngày trước lễ Giáng sinh năm 1963, cô đột nhiên ngất đi và được đưa đến bệnh viện. Các bác sĩ chẩn đoán cô bị thiếu máu và bắt đầu một loạt truyền máu để hồi sinh cô. Lúc này cô quá yếu, thậm chí không thể ngồi với cái máy đánh chữ của mình. Sau đó vài tháng họ phát hiện ra một khối u lành tính cần phải loại bỏ. Nỗi sợ duy nhất của họ là theo cách nào đó tổn thương của cuộc phẫu thuật sẽ kích hoạt lại bệnh lao da và những cơn sốt nặng mà cô đã trải qua mười năm trước.

                Trong những bức thư gửi cho bạn bè, cô đã giảm nhẹ tất cả những điều này. Thật kỳ lạ, lúc này, khi cảm thấy yếu đuối nhất, cô lại tìm thấy nguồn cảm hứng để viết nhiều câu chuyện hơn và chuẩn bị xuất bản một tuyển tập truyện ngắn mới vào mùa thu. Trong bệnh viện, cô đã nghiên cứu kỹ các y tá của mình và tìm được chất liệu cho một số nhân vật mới. Khi các bác sĩ cấm cô làm việc, cô đã dựng lên những câu chuyện trong đầu và ghi nhớ chúng. Cô giấu những cuốn sổ dưới gối. Cô phải tiếp tục viết.

                Cuộc phẫu thuật đã thành công, nhưng đến giữa tháng 3, rõ ràng bệnh lao da của cô đã quay trở lại. Cô đã so sánh nó với một con sói (lupus trong tiếng Latin có nghĩa là chó sói) đang hoành hành trong cô, xé nát mọi thứ. Thời gian nằm viện của cô bị kéo dài, và bất chấp tất cả, cô đã xoay sở đây đó để có được hai giờ mỗi ngày, che giấu công việc của mình với các y tá và bác sĩ. Cô đang vội vã phác thảo những câu chuyện cuối cùng này trước khi tất cả đều kết thúc.

                Cuối cùng, vào ngày 21 tháng 6, cô được phép trở về nhà, và trong thâm tâm, cô cảm nhận được sự kết thúc đang đến, ký ức về cha cô vào những ngày cuối cùng thật sống động trong cô. Dù có đau đớn hay không, cô cũng phải làm việc, để kết thúc những câu chuyện và sửa đổi mà cô đã bắt đầu. Nếu cô chỉ có thể xoay xở một giờ mỗi ngày, thì cứ là như vậy. Cô phải vắt kiệt từng chút ý thức còn lại với mình và tận dụng nó. Cô đã nhận ra định mệnh của mình là một nhà văn và đã sống một cuộc đời vô cùng phong phú. Giờ đây cô không có gì để phàn nàn hay hối tiếc, ngoại trừ những câu chuyện còn dang dở.

                Vào ngày 31 tháng 7, khi đang ngắm cơn mưa mùa hè bên cửa sổ, cô đột nhiên bất tỉnh và được đưa vào bệnh viện. Cô qua đời vào lúc đầu giờ sáng ngày 3 tháng 8, ở tuổi ba mươi chín. Theo nguyện vọng cuối cùng, Flannery đã được chôn cất bên cạnh cha cô.

                Diễn dịch: Trong những năm sau khi mắc bệnh lao da, Flannery O'Connor nhận thấy một hiện tượng kỳ dị: Trong các tương tác với bạn bè, khách thăm viếng và những bạn qua thư, cô thường thấy mình đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn mọi người cách sống, nơi để đặt năng lượng của họ vào, cách để giữ bình tĩnh giữa những khó khăn và có một ý thức về mục đích. Trong suốt thời gian đó, cô là người sắp chết và đang đối phó với những hạn chế nghiêm trọng về thể chất.

                Cô cảm thấy rằng trên thế giới ngày càng  có nhiều người lầm đường lạc lối. Họ không thể tận tụy hết lòng với công việc hoặc các mối quan hệ của mình. Họ luôn học đòi hết thứ này đến thứ khác, tìm kiếm những thú vui và trò tiêu khiển mới nhưng cảm thấy khá trống rỗng trong tâm hồn. Họ dễ gục ngã khi đối mặt với nghịch cảnh hay sự cô đơn, và họ quay sang cô như một người cứng rắn, kẻ có thể nói cho họ biết sự thật về bản thân và chỉ cho họ một hướng đi.

                Như cô nhìn thấy, sự khác biệt giữa cô và những người khác rất đơn giản: Cô đã trải qua hết năm này sang năm khác nhìn thẳng vào cái chết mà không hề nao núng. Cô không chiều theo những hy vọng mơ hồ về tương lai, đặt niềm tin vào y học, hoặc nhấn chìm nỗi buồn trong rượu hoặc sự nghiện ngập. Cô chấp nhận bản án tử hình sớm đối với mình, sử dụng nó cho mục đích của chính mình.

                Đối với Flannery, sự gần gũi với cái chết của cô là một lời kêu gọi để tự đứng lên hành động, để cảm nhận một sự khẩn cấp, làm sâu sắc thêm niềm tin tôn giáo và khơi dậy cảm giác ngạc nhiên trước mọi bí ẩn và tính chất không chắc chắn của cuộc sống. Cô đã sử dụng sự gần gũi của cái chết để dạy cho mình những gì thực sự quan trọng và để giúp cô tránh xa những cuộc cãi vã nhỏ nhặt và những mối quan tâm đang quấy rầy những người khác. Cô đã sử dụng nó để neo mình trong hiện tại, để có thể trân trọng từng khoảnh khắc và từng cuộc gặp gỡ.

                Biết rằng căn bệnh của mình có một mục đích, cô cảm thấy không cần tự thương hại cho mình. Và bằng cách thẳng thắn đối mặt với nó, cô có thể củng cố tinh thần, kiểm soát cơn đau đang tàn phá cơ thể và tiếp tục viết. Vào thời điểm cô nhận được một viên đạn khác, cuộc chia ly với Erik, cô có thể lấy lại thăng bằng sau vài tháng, mà không trở nên cay đắng hay xa lánh cuộc đời.

                Điều này có nghĩa là cô hoàn toàn chấp nhận thực tại tối thượng được đại diện bởi cái chết. Ngược lại, rất nhiều người khác, bao gồm cả những người cô biết, không nhận thức được thực tế này, né tránh ý nghĩ về cái chết của họ và các khía cạnh khó chịu khác của cuộc sống. Việc tập trung sâu sắc vào cái chết của cô có một lợi thế quan trọng khác – nó giúp cho sự cảm thông và ý thức về kết nối giữa cô với mọi người trở nên sâu sắc hơn. Cô có một mối quan hệ đặc biệt với cái chết nói chung: Nó không chỉ đại diện cho một số phận dành riêng cho cô mà  còn gắn bó mật thiết với cha cô. Những nỗi đau khổ và cái chết của họ đan xen vào nhau. Cô xem sự cận kề với cái chết của chính mình như một lời kêu gọi đưa điều này đi xa hơn nữa, để thấy rằng tất cả chúng ta được kết nối thông qua cái chết chung của chúng ta, và nó khiến cho chúng ta trở nên bình đẳng. Đó là số phận mà tất cả chúng ta đều chia sẻ và sẽ kéo chúng ta lại gần nhau hơn vì lý do đó. Nó giúp chúng ta rủ bỏ bất kỳ cảm giác vượt trội hoặc cách biệt nào.

                Sự đồng cảm và cảm giác đồng nhất với những người khác ngày càng tăng của Flannery,  với bằng chứng là cô muốn giao tiếp với tất cả mọi người, khiến cô cuối cùng rủ bỏ được một trong những hạn chế lớn nhất của mình: những cảm giác phân biệt chủng tộc đối với những người Mỹ gốc Phi mà cô đã tiếp thu từ mẹ và nhiều người khác ở miền Nam. Cô nhìn thấy rõ ràng điều này ở bản thân và đấu tranh chống lại nó, đặc biệt là trong công việc của cô. Đến đầu thập niên 1960, cô hoàn toàn ủng hộ phong trào dân quyền do Martin Luther King Jr. lãnh đạo. Và trong những truyện ngắn sau đó, cô bắt đầu thể hiện một viễn tượng rằng một ngày nào đó mọi chủng tộc ở Mỹ sẽ hội tụ với nhau với tư cách những người bình đẳng, vượt qua vết bẩn đen tối này trong quá khứ của đất nước chúng ta.

                Trong hơn mười ba năm, Flannery O’ Connor nhìn chằm chằm vào nòng súng chĩa vào cô, không chịu rời mắt sang hướng khác. Tất nhiên là đức tin tôn giáo của cô đã giúp cô duy trì tinh thần, nhưng như chính Flannery biết, rất nhiều người có đạo cũng đầy ảo tưởng và luôn tránh né khi nói đến cái chết của chính họ, và cũng có khả năng tự mãn và nhỏ mọn như bất kỳ ai khác. Việc sử dụng căn bệnh hiểm nghèo như một phương tiện để sống một cuộc sống mãnh liệt và trọn vẹn nhất có thể có là chọn lựa riêng biệt của cô.

                Thấu hiểu: Chúng ta có xu hướng đọc những câu chuyện như câu chuyện của Flannery O’Connor với một khoảng cách nào đó. Chúng ta không thể không có một cảm giác nhẹ nhõm rằng chúng ta ở một vị trí thoải mái hơn nhiều. Nhưng chúng ta đã phạm một sai lầm nghiêm trọng khi làm như vậy. Số phận của cô cũng là số phận của chúng ta – tất cả chúng ta đều đang trong quá trình sắp chết, tất cả đều phải đối mặt với những điều không chắc chắn như nhau. Trên thực tế, bằng cách làm cho cái chết của mình hiện diện sờ sờ ngay trước mắt, cô có một lợi thế so với chúng ta – cô buộc phải đối đầu với cái chết và tận dụng nhận thức của mình về nó.

                Trái lại, chúng ta có thể nhảy múa xung quanh ý nghĩ này, hình dung ra những khung cảnh vô tận của thời gian ở phía trước chúng ta và lao vào cuộc sống. Thế rồi, khi thực tế ập đến với chúng ta, khi chúng ta nhận được viên đạn trong cạnh sườn của chính mình dưới dạng một cuộc khủng hoảng bất ngờ trong sự nghiệp, hoặc một cuộc chia tay đau đớn, hoặc cái chết của một người thân thiết, hoặc thậm chí một căn bệnh đe dọa cuộc sống của chính chúng ta, thông thường chúng ta không chuẩn bị để đối phó với nó.

                Việc tránh suy nghĩ về cái chết đã tạo nên khuôn mẫu của chúng ta nhằm xử lý các thực tế và nghịch cảnh khó chịu khác. Chúng ta dễ dàng trở nên cuồng loạn và mất thăng bằng, đổ lỗi cho người khác về số phận của mình, cảm thấy tức giận và hối tiếc cho chính mình, hoặc chúng ta chọn tìm cách xao lãng và những cách thức nhanh chóng để làm giảm nỗi đau. Điều này trở thành một thói quen mà chúng ta không thể rủ bỏ, và chúng ta có xu hướng cảm thấy một sự lo lắng và trống rỗng chung chung xuất phát từ tất cả những tránh né này.

                Trước khi điều này trở thành một khuôn mẫu suốt đời, chúng ta phải rủ bỏ trạng thái mơ màng này một cách thật sự và lâu dài. Chúng ta phải nhìn vào cái chết của chính mình, không chút nao núng, và không tự lừa dối bản thân bằng một suy tư trừu tượng, hời hợt về cái chết. Chúng ta phải hết sức tập trung vào tính chất không chắc chắn mà cái chết đại diện – nó có thể đến ngay ngày mai, hệt như những nghịch cảnh hay sự phân ly khác. Chúng ta phải thôi không trì hoãn nhận thức của mình nữa. Chúng ta cần chấm dứt cảm giác vượt trội và đặc biệt, thấy rằng cái chết là một số phận được chia sẻ bởi tất cả chúng ta, và là một cái gì đó sẽ ràng buộc chúng ta theo một cách thức đồng cảm sâu sắc. Tất cả chúng ta đều là một phần của tình huynh đệ và tình chị em với cái chết.

                Khi thực hiện điều này, chúng ta tạo nên một con đường khác cho cuộc sống của mình. Khi biến cái chết thành một sự hiện diện quen thuộc, chúng ta hiểu cuộc sống ngắn ngủi như thế nào và điều gì thật sự quan trọng với chúng ta. Chúng ta cảm thấy một cảm giác cấp bách và tận tâm nhiều hơn đối với công việc và các mối quan hệ của mình. Khi đối mặt với khủng hoảng, chia ly hoặc bệnh tật, chúng ta không cảm thấy quá kinh hoàng và choáng váng. Chúng ta cảm thấy không cần phải tránh né. Chúng ta có thể chấp nhận rằng cuộc sống liên quan đến nỗi đau và việc gánh chịu khổ đau, và chúng ta sử dụng những khoảnh khắc như vậy để củng cố bản thân và học hỏi. Và như với Flannery, nhận thức về cái chết sẽ xóa sạch những ảo tưởng ngớ ngẩn và tăng cường mọi khía cạnh của trải nghiệm của chúng ta.

    Khi tôi nhìn lại quá khứ và nghĩ về tất cả thời gian tôi phung phí trong sự sai lầm và nhàn rỗi, thiếu kiến thức cần thiết để sống, khi tôi nghĩ về việc tôi thường xuyên phạm tội với trái tim và tâm hồn tôi ra sao, trái tim tôi chảy máu. Cuộc sống là một món quà, cuộc sống là niềm hạnh phúc, mỗi phút có thể là một hạnh phúc vĩnh cửu! Giá như tuổi trẻ biết điều này! Lúc bấy giờ cuộc sống của tôi sẽ thay đổi; lúc bấy giờ tôi sẽ được tái sinh. Người huynh đệ thân yêu ơi, tôi thề sẽ không đánh mất niềm hy vọng. Tôi sẽ giữ cho tâm hồn tôi tinh khiết và trái tim tôi mở rộng. Tôi sẽ được tái sinh vì sự tốt lành hơn. - Fyodor Dostoyevsky

    Những giải pháp đối với bản chất con người

                Nếu chúng ta có thể lùi lại và bằng cách nào đó kiểm tra những ý nghĩ hàng ngày của mình, chúng ta sẽ nhận ra chúng có xu hướng xoay quanh những nỗi lo lắng, tưởng tượng và phẫn nộ giống như một đường tròn liên tục ra sao. Ngay cả khi đi dạo hoặc nói chuyện với ai đó, chúng ta vẫn thường kết nối với độc thoại nội tâm này, chỉ lắng nghe nửa phần và chỉ chú ý đến những gì chúng ta nhìn thấy hoặc nghe thấy.

                Tuy nhiên, đôi khi một số sự kiện nhất định có thể kích hoạt một cách thức suy tư và cảm nhận khác. Cứ cho là chúng ta đang trong một hành trình đến một vùng đất xa lạ chưa từng đến trước đó, nằm bên ngoài khu vực thoải mái thông thường của chúng ta. Đột nhiên các giác quan của chúng ta chộp lấy sự sống, và mọi thứ chúng ta nhìn thấy và nghe thấy có vẻ sôi động hơn một chút. Để tránh những rắc rối hoặc tình huống nguy hiểm ở nơi xa lạ này, chúng ta phải tập trung chú ý.

                Tương tự, nếu chúng ta chuẩn bị lên đường và phải nói lời tạm biệt với những người chúng ta yêu thương, những người mà chúng ta có thể không gặp trong một thời gian, chúng ta có thể đột nhiên nhìn thấy họ trong một ánh sáng khác. Thông thường chúng ta xem những người này là lẽ đương nhiên, nhưng lúc này chúng ta thật sự nhìn vào những biểu cảm cụ thể trên khuôn mặt của họ và lắng nghe những gì họ nói. Cảm giác của một cuộc chia ly sắp diễn ra khiến cho chúng ta cảm xúc và chú ý nhiều hơn.

                Một phiên bản khốc liệt hơn của điều này sẽ xảy ra nếu một người thân yêu – cha mẹ, một người bạn đời hoặc một anh chị em ruột – chết đi. Cá nhân này đã đóng một vai trò lớn lao trong cuộc sống của chúng ta; chúng ta đã biến người đó thành một phần của chúng ta, và theo cách nào đó chúng ta đã mất đi một phần của chính mình. Khi chúng ta vật lộn với điều này, cái bóng của cái chết của chúng ta ngay lập tức ập lên chúng ta. Chúng ta nhận thức được sự vĩnh viễn của mất mát này và cảm thấy hối tiếc rằng chúng ta đã không đánh giá cao họ hơn. Thậm chí chúng ta có thể cảm thấy tức giận khi nghĩ rằng cuộc sống chỉ đơn giản tiếp tục đối với những kẻ khác, rằng họ không biết gì về thực tế của cái chết vốn đã bất ngờ tấn công chúng ta.

                Trong suốt nhiều ngày hoặc có lẽ nhiều tuần sau mất mát này, chúng ta có xu hướng trải nghiệm cuộc sống khác đi. Những cảm xúc của chúng ta chân thực hơn và nhạy bén hơn. Những tác nhân kích thích cụ thể sẽ mang lại những liên kết với người đã chết. Cường độ cảm xúc này sẽ giảm dần, nhưng mỗi lần chúng ta nhớ về người mà chúng ta đã mất, một phần nhỏ của cường độ đó sẽ quay trở lại.

                Nếu chúng ta xem cái chết như việc băng qua một ngưỡng cửa khiến chúng ta sợ hãi nói chung, những trải nghiệm đã liệt kê bên trên là những mối đe dọa về cái chết của chính chúng ta với liều lượng nhỏ hơn. Việc phân ly với những người mà chúng ta biết, du hành trong một vùng đất xa lạ, rõ ràng bước vào một giai đoạn mới của cuộc sống, tất cả đều liên quan đến những thay đổi khiến chúng ta nhìn lại quá khứ như thể một phần của chúng ta đã chết. Trong những khoảnh khắc như vậy, và trong những hình thức đau buồn mãnh liệt hơn từ những cái chết thật sự, chúng ta nhận thấy các giác quan của chúng ta hoạt động mạnh mẽ hơn và những cảm xúc của chúng ta trở nên sâu sắc hơn. Những ý tưởng về một trật tự khác đến với chúng ta. Chúng ta chú ý nhiều hơn. Chúng ta có thể nói rằng trải nghiệm cuộc sống của chúng ta quá khác biệt về chất và quá căng thẳng, như thể chúng ta tạm thời trở thành một người khác. Tất nhiên, sự thay đổi này trong suy nghĩ, cảm giác và các giác quan của chúng ta sẽ mạnh mẽ nhất nếu chính chúng ta sống sót sau một tình huống thập tử nhất sinh. Dường như không còn thứ gì giống như trước sau một trải nghiệm như vậy.

                Chúng ta hãy gọi đây là tác động nghịch lý của cái chết – những khoảnh khắc và những cuộc gặp gỡ này có một kết quả nghịch lý khiến chúng ta cảm thấy thức tỉnh và đang sống nhiều hơn. Chúng ta có thể giải thích tác động nghịch lý theo cách sau.

                Đối với con người chúng ta, cái chết không chỉ là nỗi sợ hãi mà còn là sự khó xử. Chúng ta là động vật duy nhất thật sự có ý thức về cái chết sắp xảy ra của mình. Nói chung, với tư cách một loài, chúng ta có sức mạnh là nhờ ở khả năng suy nghĩ và phản ánh của chúng ta. Nhưng trong trường hợp cụ thể này, suy nghĩ của chúng ta không mang lại gì cho chúng ta ngoài sự khốn khổ. Tất cả những gì chúng ta có thể nhìn thấy là nỗi đau thể xác khi hấp hối, sự phân ly với những người thân yêu và sự không chắc chắn khi một khoảnh khắc như vậy có thể đến. Chúng ta làm những gì có thể để tránh ý nghĩ này, để đánh lạc hướng bản thân khỏi thực tại, nhưng nhận thức về cái chết nằm ở phía sau tâm trí của chúng ta và không bao giờ có thể bị rủ bỏ hoàn toàn.

                Cảm thấy sự thôi thúc vô thức để bằng cách nào đó làm dịu đi đòn tấn công này vào nhận thức của chúng ta, những tổ tiên đầu tiên của chúng ta đã tạo ra một thế giới của các linh hồn, các thần linh và một khái niệm về kiếp sau. Niềm tin vào kiếp sau giúp giảm bớt nỗi sợ hãi đối với cái chết và thậm chí mang đến cho nó một số khía cạnh hấp dẫn. Nó không thể loại bỏ nỗi lo bị tách khỏi những người thân yêu hoặc giảm bớt nỗi đau thể xác có liên quan, nhưng nó mang lại một sự bù đắp tâm lý sâu sắc cho những mối lo mà dường như chúng ta không thể rủ bỏ. Tác động này được củng cố bởi tất cả các nghi thức phức tạp và mang tới sự hài lòng bao quanh con đường đi tới cái chết.

                Trong thế giới ngày nay, năng lực lý luận và kiến thức về khoa học ngày càng tăng của chúng ta chỉ làm cho sự lúng túng của chúng ta trở nên tồi tệ hơn. Nhiều người trong chúng ta không còn có thể tin vào khái niệm về kiếp sau với bất kỳ sức thuyết phục nào, nhưng chúng ta không có sự bù đắp, chỉ có thực tế khắc nghiệt đối đầu với chúng ta. Chúng ta có thể cố gắng thể hiện một vẻ mặt dũng cảm trước vấn đề này, vờ rằng chúng ta có thể chấp nhận thực tế này với tư cách những kẻ trưởng thành, nhưng chúng ta không thể dễ dàng xóa đi nỗi sợ hãi thuộc về bản chất này. Trong quá trình vài trăm năm  của sự thay đổi trong nhận thức này, chúng ta không thể đột nhiên biến đổi một trong những phần sâu thẳm nhất của bản chất, nỗi sợ chết của chúng ta. Và vì vậy, những gì chúng ta làm, thay vì tạo ra các hệ thống niềm tin, chẳng hạn như kiếp sau, là dựa vào sự phủ nhận, đè nén ý thức về cái chết càng nhiều càng tốt. Chúng ta thực hiện điều này theo nhiều cách thức.

                Trong quá khứ, cái chết hiện diện gần gũi, hàng ngày ở các thành phố và thị trấn, một điều khó thoát ra. Ở một độ tuổi nhất định, hầu hết mọi người đều tận mắt nhìn thấy cái chết của người khác. Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới, chúng ta đã làm cho cái chết hầu như trở nên vô hình, một sự kiện chỉ xảy ra trong bệnh viện. (Chúng ta cũng thực hiện một điều tương tự với những động vật mà chúng ta ăn.) Chúng ta có thể đi qua phần lớn cuộc đời mà không bao giờ tận mắt chứng kiến những gì xảy ra. Điều này mang lại một khía cạnh khá phi thực tế đối với  một phần của cuộc sống, vốn vô cùng sâu sắc. Sự phi thực tế này được nâng cao trong những hình thức giải trí, trong đó cái chết trở nên hời hợt giả tạo quá mức, với hàng chục người chết vì bạo lực mà không có bất kỳ cảm xúc nào ngoại trừ sự phấn khích trước hình ảnh trên màn hình. Điều này cho thấy nhu cầu sâu thẳm của việc đè nén ý thức và giảm trừ sự nhạy cảm của chúng ta đối với nỗi sợ hãi này.

                Hơn nữa, gần đây chúng ta đã đến với tuổi trẻ đáng kính, tạo ra một sự sùng bái ảo xung quanh nó. Một cách vô thức, những vật thể xưa cũ, những bộ phim từ quá khứ nhắc nhở chúng ta về sự ngắn ngủi của cuộc đời và số phận đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta tìm cách tránh né chúng, tự bao quanh mình với những gì mới mẻ, tươi trẻ và đúng xu hướng. Thậm chí một số người đã ấp ủ ý tưởng rằng thông qua công nghệ, theo cách nào đó chúng ta có thể vượt qua chính cái chết, yếu tố tối thượng trong sự phủ nhận của con người. Nói chung, công nghệ mang đến cho chúng ta cảm giác rằng chúng ta có những khả năng thần thánh đến độ chúng ta có thể kéo dài cuộc sống và làm ngơ thực tại này trong một thời gian khá dài. Nói theo nghĩa này, chúng ta không mạnh mẽ hơn những tổ tiên nguyên thủy nhất của chúng ta. Chúng ta chỉ đơn giản tìm ra những cách thức mới để tự đánh lừa chính mình.

                Như một hệ quả tất yếu của tất cả những điều này, chúng ta nhận thấy hầu như không có bất kỳ một ai muốn thảo luận về chủ đề này như một thực tế cá nhân mà tất cả chúng ta phải đối mặt, và cách thức để chúng ta có thể kiểm soát nó một cách lành mạnh hơn. Chủ đề này đơn giản là điều cấm kỵ. Và theo một quy luật của bản chất con người, khi chúng ta đi quá xa trong sự phủ nhận của mình, tác động nghịch lý sẽ tóm lấy chúng ta theo hướng tiêu cực, khiến cuộc sống của chúng ta trở nên gò bó và thiếu sức sống nhiều hơn.

                Chúng ta đã có ý thức về cái chết của mình từ rất sớm, ngay trong thời thơ ấu, và ý thức này mang tới cho chúng ta một sự âu lo mà chúng ta không thể nhớ nhưng lại rất thật và có tính chất bản năng. Chúng ta không thể làm ngơ hay phủ nhận nỗi lo âu này. Nó hiện diện trong chúng ta, với tư cách những kẻ trưởng thành, dưới một hình thức ngấm ngầm nhưng mãnh liệt. Khi chọn cách đè nén ý nghĩ về cái chết, nỗi lo của chúng ta chỉ trở nên mạnh mẽ hơn vì chúng ta không dám đối đầu với nguồn gốc của nó. Một sự cố hoặc sự không chắc chắn nhỏ nhất về tương lai sẽ có xu hướng khuấy động nỗi lo này, thậm chí làm cho nó trở thành mãn tính. Để chống lại điều này, chúng ta sẽ có xu hướng thu hẹp phạm vi suy nghĩ và hoạt động của mình; nếu chúng ta không rời khỏi khu vực thoải mái trong những gì chúng ta nghĩ và làm, chúng ta có thể khiến cho cuộc sống trở nên dễ đoán hơn và cảm thấy ít bị tổn thương hơn trước nỗi lo âu. Một số chứng nghiện đối với thực phẩm, chất kích thích, hoặc hình thức giải trí nhất định sẽ có tác dụng xoa dịu tương tự.

                Nếu đi đủ xa theo hướng này, chúng ta ngày càng trở nên quan tâm tới chính mình và ít phụ thuộc vào mọi người, những kẻ thường khuấy động những nỗi lo âu của chúng ta bằng hành vi không thể đoán trước của họ. Chúng ta có thể mô tả sự tương phản giữa sự sống và cái chết theo cách sau:

                Cái chết là sự tĩnh lặng tuyệt đối, không có sự chuyển động hay thay đổi nào ngoại trừ sự phân rã. Trong cái chết, chúng ta bị tách khỏi những người khác và hoàn toàn cô độc. Trái lại, sự sống là sự chuyển động, sự kết nối với các sinh vật đang sống khác và sự đa dạng của các hình thức sống. Bằng cách phủ nhận và đè nén suy nghĩ về cái chết, chúng ta nuôi dưỡng những lo lắng của mình và trở nên giống như chết hơn từ bên trong – tách biệt với những người khác, suy nghĩ theo thói quen và sự lặp đi lặp lại, với rất ít sự chuyển động và thay đổi nói chung. Trái lại, sự quen thuộc và gần gũi với cái chết, khả năng đối mặt với suy nghĩ về nó có tác động nghịch lý khiến chúng ta cảm thấy đang sống nhiều hơn, như câu chuyện về Flannery O’Connor đã minh họa rõ ràng.

                Bằng cách kết nối với thực tế của cái chết, chúng ta kết nối sâu sắc hơn với thực tại và sự viên mãn của cuộc sống. Bằng cách tách cái chết ra khỏi cuộc sống và đè nén nhận thức của chúng ta về nó, chúng ta làm điều ngược lại. Điều chúng ta cần có trong thế giới hiện đại là một cách thức để tạo ra cho chính mình một tác động nghịch lý tích cực. Sau đây là một nỗ lực để giúp chúng ta thực hiện điều này, bằng cách xây dựng một triết lý thiết thực để chuyển đổi ý thức về cái chết của chúng ta thành một cái gì đó hữu ích và nâng cao cuộc sống.

    Một triết lý về sự sống thông qua cái chết

                Vấn đề đối với con người chúng ta là chúng ta nhận thức được cái chết của mình, nhưng chúng ta sợ đưa nhận thức này đi xa hơn. Giống như chúng ta đang ở trên bờ của một đại dương rộng lớn và tự ngăn mình khám phá nó, thậm chí quay lưng lại với nó. Mục đích của ý thức của chúng ta là luôn luôn đẩy lùi nó ra càng xa càng tốt. Đó là nguồn sức mạnh của chúng ta với tư cách một loài, điều mà chúng ta được kêu gọi thực hiện. Triết lý mà chúng ta đang áp dụng phụ thuộc vào khả năng đi theo hướng ngược lại với hướng mà chúng ta thường cảm thấy đối với cái chết – nhìn nó kỹ hơn và sâu hơn, rời khỏi bờ biển và khám phá một cách khác để tiếp cận với sự sống và cái chết, đưa nó đi càng xa càng tốt.

                Sau đây là năm chiến lược chính, với các bài tập phù hợp, để giúp chúng ta đạt được điều này. Tốt nhất là thực hành cả năm chiến lược, để triết lý này có thể thẩm thấu vào ý thức hàng ngày của chúng ta và thay đổi trải nghiệm của chúng ta từ bên trong.

                Biến nhận thức này thành bản năng. Vì sợ hãi, chúng ta chuyển cái chết thành một sự trừu tượng, một ý nghĩ chúng ta có thể ấp ủ hoặc đè nén vào lúc này lúc khác. Nhưng sự sống không phải là một ý nghĩ; đó là một thực tại bằng xương bằng thịt, một cái gì đó chúng ta cảm thấy từ bên trong. Không có thứ gọi là sự sống mà không có cái chết. Cái chết của chúng ta cũng là một thực tế bằng xương bằng thịt giống như sự sống. Từ thời điểm chúng ta được sinh ra, nó là một sự hiện diện bên trong cơ thể chúng ta, khi các tế bào của chúng ta chết đi và chúng ta già đi. Chúng ta cần trải nghiệm nó theo cách này. Chúng ta không nên xem điều này là một cái gì đó bệnh hoạn hoặc đáng sợ. Việc di chuyển qua bức tường chướng ngại này của chúng ta, trong đó cái chết là một khái niệm trừu tượng, có tác dụng giải phóng vô cùng to lớn, kết nối chúng ta nhiều hơn với thế giới xung quanh và nâng cao các giác quan của chúng ta.

                Vào tháng 12 năm 1849, nhà văn Fyodor Dostoyevsky hai mươi bảy tuổi, bị cầm tù vì tham gia vào một âm mưu được cho là chống lại Sa Hoàng của nước Nga, nhận ra ông và các bạn tù bất ngờ được chuyển đến một quảng trường ở St. Petersburg, và được thông báo rằng họ sắp bị xử tử vì tội ác của họ. Bản án tử hình này hoàn toàn bất ngờ. Dostoyevsky chỉ có vài phút để chuẩn bị  tinh thần trước khi đối mặt với đội thi hành án. Trong vài phút đó, những cảm xúc mà ông chưa bao giờ cảm thấy trước đó ùa về. Ông nhận thấy những tia sáng chiếu vào vòm của một nhà thờ và thấy rằng toàn bộ sự sống cũng thoáng qua như những tia sáng đó. Mọi thứ dường như sống động hơn với ông. Ông nhận thấy những biểu cảm trên gương mặt của các bạn tù, và có thể nhìn thấy nỗi kinh hoàng đằng sau vẻ ngoài gan liều của họ. Như thể những suy nghĩ và cảm xúc của họ đã trở nên rõ rệt.

                Vào giây phút cuối cùng, một đại diện do Sa Hoàng phái đến phi ngựa vào quảng trường, thông báo rằng hình phạt của họ đã được chuyển thành nhiều năm lao động khổ sai ở Siberia. Hoàn toàn choáng váng với tình huống tâm lý thập tử nhất sinh này, Dostoyevsky cảm thấy như được tái sinh. Và trải nghiệm này vẫn còn nguyên vẹn trong ông suốt phần đời còn lại, mang tới những chiều sâu mới mẻ cho sự cảm thông và tăng cường khả năng quan sát của ông. Đây cũng là kinh nghiệm của những người khác, vốn từng tiếp xúc với cái chết một cách sâu sắc và cá nhân.

                Có thể giải thích nguyên do của tác động này như sau: Thông thường chúng ta trải qua cuộc sống trong một trạng thái rất thiếu tập trung, giống như một giấc mơ, với ánh mắt hướng vào bên trong. Phần lớn hoạt động tinh thần của chúng ta xoay quanh những tưởng tượng và những oán giận hoàn toàn mang tính chất nội tâm và không mấy liên quan với thực tế. Sự gần kề của cái chết bất ngờ thu hút sự chú ý của chúng ta khi toàn bộ cơ thể của chúng ta phản ứng với mối đe dọa này.

                Chúng ta cảm thấy dòng chảy hối hả của adrenaline, máu được bơm mạnh lên não và qua hệ thống thần kinh. Điều này tập trung tâm trí đến một mức độ cao hơn nhiều và chúng ta nhận thấy các chi tiết mới, nhìn thấy gương mặt của mọi người trong một ánh sáng mới và cảm nhận được sự vô thường trong mọi thứ xung quanh chúng ta, khiến cho những phản ứng cảm xúc của chúng ta thêm sâu sắc. Tác động này có thể kéo dài trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ.

                Chúng ta không thể tái tạo trải nghiệm đó nếu không mạo hiểm cuộc sống của mình, nhưng chúng ta có thể đạt được một tác động nào đó thông qua các liều lượng nhỏ hơn. Chúng ta phải bắt đầu bằng cách suy ngẫm về cái chết của mình và tìm cách chuyển đổi nó thành một cái gì đó thực tế và vật chất hơn. Đối với các chiến binh samurai Nhật Bản, trung tâm của các dây thần kinh nhạy cảm nhất và mối liên hệ giữa chúng ta với cuộc sống nằm ở ruột, nội tạng; nó cũng là trung tâm của mối liên hệ giữa chúng ta với cái chết, và họ đã cố đào sâu suy ngẫm về cảm giác này, để tạo ra nhận thức về cái chết thể xác. Nhưng ngoài ruột, chúng ta cũng có thể cảm thấy thứ gì đó tương tự trong xương khi chúng ta mệt mỏi. Thông thường, chúng ta có thể cảm nhận  được tình trạng của nó trong những khoảnh khắc trước khi chúng ta rơi vào giấc ngủ - trong một vài giây, chúng ta cảm thấy mình chuyển từ một dạng ý thức này sang một dạng khác, và cú trượt đó có một cảm giác giống như cái chết. Không có gì phải sợ trong việc này; trên thực tế, khi di chuyển theo hướng này, chúng ta có những tiến bộ to lớn trong việc giảm thiểu sự lo lắng thường xuyên của chúng ta.

                Chúng ta cũng có thể sử dụng trí tưởng tượng trong việc này, bằng cách hình dung ngày mà cái chết của chúng ta đến, nơi chúng ta có thể chết, và nó có thể đến bằng cách nào. Chúng ta phải làm cho điều này càng trở nên sống động càng tốt. Nó có thể là ngày mai. Chúng ta cũng có thể cố gắng nhìn vào thế giới như thể chúng ta đang nhìn thấy mọi thứ lần cuối cùng – những người xung quanh chúng ta, những cảnh vật và âm thanh hàng ngày, tiếng ồn ào của xe cộ lưu thông, tiếng chim kêu hót, cảnh vật bên ngoài cửa sổ. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng những điều này vẫn đang diễn ra mà không có chúng ta, rồi đột nhiên cảm thấy mình được đưa trở lại cuộc sống – lúc này những chi tiết đó sẽ xuất hiện trong một ánh sáng mới, không còn là lẽ đương nhiên hay một nhận thức nửa vời. Hãy để cho sự vô thường của mọi hình thức sự sống chìm vào tâm trí. Sự ổn định và vững chắc của những thứ chúng ta thấy chỉ là những ảo ảnh.

                Chúng ta không được e sợ những nỗi buồn xuất hiện từ nhận thức này. Sự gó bó của những cảm xúc của chúng ta, vốn thường xoay quanh những nhu cầu và mối quan tâm của chúng ta, giờ mở rộng ra với thế giới và tính chất sâu thẳm của bản thân sự sống, và chúng ta nên hoan nghênh điều này. Như nhà văn Nhật Bản thế kỷ thứ mười bốn Kenko đã nhận xét, “Nếu con người không bao giờ tan biến như những giọt sương ở đền Adashino, không bao giờ tan biến như làn khói trên nghĩa trang Toribeyama, mà nấn ná mãi mãi trên thế giới, mọi thứ sẽ đánh mất khả năng làm cho chúng ta xúc động! Điều quý giá nhất trong cuộc sống là tính chất không chắc chắn của nó.”

                Thức tỉnh trước sự ngắn ngủi của cuộc sống. Khi chúng ta vô thức tách rời bản thân khỏi nhận thức về cái chết, chúng ta tạo ra một mối quan hệ đặc biệt với thời gian – một mối quan hệ khá lỏng lẻo và xa cách. Chúng ta tưởng tượng rằng chúng ta luôn có nhiều thời gian hơn so với thực tế. Tâm trí của chúng ta trôi dạt đến tương lai, nơi tất cả những hy vọng và mong muốn của chúng ta sẽ được thực hiện. Nếu chúng ta có một kế hoạch hoặc một mục tiêu, chúng ta thấy khó có thể tận tâm với nó với nhiều năng lượng. Chúng ta tự nhủ chúng ta sẽ đạt được nó vào ngày mai. Có lẽ trong hiện tại chúng ta bị cám dỗ để thực hiện một mục tiêu hoặc kế hoạch khác – dường như tất cả đều rất mời gọi và khác biệt, thế nên làm sao chúng ta có thể hoàn toàn tận tâm với điều này hay điều khác? Chúng ta trải nghiệm một nỗi lo lắng chung chung khi cảm thấy cần phải hoàn thành các thứ, nhưng chúng ta luôn trì hoãn và phân tán những nguồn lực của mình.

                Khi đó, nếu một dự án cụ thể buộc chúng ta phải đáp ứng cho một hạn chót, mối quan hệ mơ màng đối với thời gian đó vỡ tan, và vì một lý do bí ẩn nào đó, chúng ta tìm thấy sự tập trung để hoàn thành trong vài ngày một công việc lẽ ra phải mất vài tuần hoặc vài tháng. Sự thay đổi áp đặt cho chúng ta bởi hạn chót có một thành phần vật lý: adrenaline đang được bơm vào máu, làm cho chúng ta tràn đầy năng lượng và tập trung tối đa tâm trí, khiến nó trở nên sáng tạo hơn. Nó tiếp thêm sinh lực để cảm nhận toàn bộ sự tận tâm của tâm trí và cơ thể cho một mục đích duy nhất, một điều mà chúng ta hiếm khi trải nghiệm trên thế giới ngày nay, trong trạng thái thiếu tập trung của chúng ta.

                Chúng ta phải nghĩ về cái chết của mình như một loại hạn chót liên tục, mang lại hiệu quả tương tự như mô tả bên trên cho tất cả các hành động của chúng ta trong cuộc sống. Chúng ta phải ngừng lừa dối chính mình: chúng ta có thể chết ngay ngày mai, và ngay cả khi chúng ta sống thêm tám mươi năm nữa, đó chỉ là một giọt nước trong đại dương thời gian, và nó luôn trôi qua nhanh hơn chúng ta tưởng tượng. Chúng ta phải thức tỉnh trước thực tại này và biến nó thành một suy tư liên tục.

                Suy tư này có thể khiến cho một số người suy nghĩ, “Tại sao phải bận tâm cố gắng bất cứ điều gì? Cố gắng cho nhiều cũng có ích lợi gì đâu khi rốt cuộc chúng ta cũng chết? Tốt hơn là sống vì những thú vui của thời điểm này.” Tuy nhiên, đây không phải là một đánh giá thực tế mà chỉ là một hình thức tránh né khác. Cống hiến bản thân cho những thú vui và trò tiêu khiển là tránh né việc suy nghĩ về cái giá phải trả của chúng và tưởng tượng rằng chúng ta có thể đánh lừa cái chết bằng cách nhấn chìm suy nghĩ đó. Để cống hiến bản thân cho những thú vui, chúng ta phải luôn tìm kiếm những trò tiêu khiển mới để tránh sự nhàm chán, và điều này gây kiệt sức.

                Chúng ta cũng phải xem trọng những nhu cầu và mong muốn của mình hơn bất cứ điều gì khác. Theo thời gian, điều này ngày càng trở nên nhạt nhẽo, và bản ngã của chúng ta trở nên đặc biệt khó chịu nếu chúng ta không thể đi theo con đường của mình. Năm tháng trôi qua, chúng ta ngày càng trở nên cay đắng và bực bội, bị ám ảnh bởi cảm giác chúng ta chẳng làm được gì và lãng phí tiềm năng của mình. Như William Hazlitt nhận xét, “Ác cảm của chúng ta đối với cái chết tăng tương ứng với ý thức của chúng ta về việc đã sống một cuộc đời vô giá trị.”

                Hãy để cho nhận thức về sự ngắn ngủi của cuộc sống làm rõ các hành động hàng ngày của chúng ta. Chúng ta có những mục tiêu cần đạt được, các dự án cần hoàn thành, các mối quan hệ cần cải thiện. Đây có thể là dự án cuối cùng của chúng ta, trận chiến cuối cùng của chúng ta trên trái đất, khi xét tới tính chất không chắc chắn của cuộc sống, và chúng ta phải hoàn toàn tận tâm với những gì chúng ta làm. Với nhận thức liên tục này, chúng ta có thể nhìn thấy điều gì là thật sự quan trọng, những cuộc cãi vã nhỏ nhặt và những theo đuổi vụn vặt là những thứ gây mất tập trung và gây bực bội ra sao. Chúng ta muốn có cảm giác hoàn thành vốn đến từ việc thực hiện xong xuôi các thứ. Chúng ta muốn đánh mất cái tôi trong cảm giác về dòng chảy, trong đó tâm trí của chúng ta đồng nhất với điều mà chúng ta đang thực hiện. Trái lại, khi chúng ta quay lưng lại với công việc của mình, những thú vui và trò tiêu khiển mà chúng ta theo đuổi càng có nhiều ý nghĩa và sức lôi cuốn hơn, dù biết tính chất phù du của chúng.

                Nhìn thấy cái chết ở tất cả mọi người. Năm 1665, một đợt bệnh dịch khủng khiếp đã lan ra khắp London, giết chết gần 100.000 cư dân. Nhà văn Daniel Defoe chỉ mới năm tuổi vào thời điểm đó, nhưng ông đã chứng kiến tận mắt trận dịch này, và nó đã để lại trong ông một ấn tượng lâu dài. Vài mươi năm sau, ông quyết định tái tạo lại các sự kiện ở Luân Đôn vào năm đó, qua con mắt của một người kể chuyện lớn tuổi hơn, sử dụng ký ức của chính ông, nhiều công trình nghiên cứu, và nhật ký của chú ông, và đã hoàn thành tác phẩm Một nhật ký về năm có trận dịch [A Journal of the Plague Year].

                Khi bệnh dịch hoành hành, người kể chuyện của cuốn sách nhận thấy một hiện tượng khác thường: Mọi người có xu hướng cảm thấy những mức độ đồng cảm lớn hơn nhiều đối với đồng bào London của họ; những khác biệt bình thường giữa họ, đặc biệt là về các vấn đề tôn giáo, đã tan biến. Ông ta viết: “Ở đây chúng ta có thể quan sát thấy…  rằng một cái nhìn gần vào Cái chết sẽ sớm hòa giải những kẻ sống rất có nguyên tắc, giữa người này với người kia, rằng chính do hoàn cảnh dễ dàng của chúng ta trong cuộc sống và việc chúng ta đẩy những điều này ra xa hơn mà những vi phạm của chúng ta bị dấy lên, sự hằn thù vẫn tiếp tục… Một năm dịch hạch khác sẽ hòa giải tất cả những sự khác biệt này, một cuộc trò chuyện gần gũi với Thần chết hoặc với những căn bệnh đe dọa dẫn đến Cái chết sẽ loại bỏ sự thù hận khỏi ngôi đền của chúng ta, loại bỏ những oán thù giữa chúng ta và giúp cho chúng ta nhìn thấy bằng đôi mắt khác.”

                Có rất nhiều ví dụ về điều dường như trái ngược hẳn với điều trên – những con người tàn sát hàng ngàn đồng loại, thường là trong chiến tranh, và cảnh tượng những cái chết hàng loạt như vậy không hề kích thích được một cảm giác đồng cảm nhỏ nhất nào. Nhưng trong những trường hợp này, những kẻ giết người hàng loạt cảm thấy tách biệt với những người mà họ đang giết, những người mà họ đã đi đến chỗ xem như thấp kém dưới mức con người và nằm bên dưới quyền lực của họ. Với bệnh dịch, không một ai được chừa ra, bất kể sự giàu có hay dịa vị của họ trong cuộc sống. Mọi người đều có nguy cơ như nhau. Khi cảm thấy bản thân dễ bị tổn thương và nhìn thấy tính chất dễ bị tổn thương của mọi người khác, ý thức thông thường về sự khác biệt và đặc quyền của mọi người tan chảy, và một sự đồng cảm chung chung không phổ biến xuất hiện. Đây có thể là một trạng thái tự nhiên của tâm trí, nếu như chúng ta có thể hình dung ra sự dễ bị tổn thương và cái chết của những người khác không hề tách rời khỏi sự dễ bị tổn thương và cái chết của chính chúng ta.

                Với triết lý của mình, chúng ta muốn tạo ra tác động thanh tẩy mà bệnh dịch gây ra đối với những xu hướng có tính chất bộ lạc và sự quan tâm tới bản thân thông thường của chúng ta. Chúng ta muốn bắt đầu điều này ở quy mô nhỏ hơn, bằng cách nhìn vào những người xung quanh, tại nhà và nơi làm việc của chúng ta, nhìn thấy và tưởng tượng ra cái chết của họ và lưu ý điều này có thể đột nhiên thay đổi nhận thức của chúng ta về họ ra sao. Như Schopenhauer đã viết, “Nỗi đau sâu sắc cảm nhận được từ cái chết của mỗi con người thân thuộc nảy sinh từ cảm giác rằng trong mỗi cá nhân một thứ gì đó không thể diễn tả được, đặc biệt đối với anh ta hoặc cô ta, và do đó, nó đã hoàn toàn mất đi.” Chúng ta muốn nhìn thấy sự độc đáo của con người đó trong hiện tại, thể hiện những phẩm chất mà chúng ta từng xem là lẽ đương nhiên. Chúng ta muốn trải nghiệm sự dễ bị tổn thương của họ đối với nỗi đau và cái chết, không chỉ sự dễ bị tổn thương của chính chúng ta.

                Chúng ta có thể đưa suy tư này đi xa hơn nữa. Chúng ta hãy nhìn vào những người đi bộ trong bất kỳ thành phố bận rộn nào và nhận ra rằng trong chín mươi năm nữa, có khả năng không ai trong số họ sẽ còn sống, kể cả chúng ta. Hãy nghĩ về hàng triệu và hàng tỷ người đã đến và đi, bị chôn vùi và bị lãng quên từ lâu, cả giàu và nghèo đều như nhau. Những suy nghĩ như vậy khiến chúng ta khó có thể duy trì ý thức về tầm quan trọng lớn lao của chúng ta, cảm giác rằng chúng ta đặc biệt và nỗi đau mà chúng ta có thể gánh chịu không giống như nỗi đau của những người khác.

                Càng có khả năng tạo ra mối liên hệ theo bản năng này với mọi người thông qua cái chết chung, chúng ta càng có khả năng xử lý tốt bản chất con người trong tất cả các biến thể của nó với sự khoan dung và vị tha. Điều này không có nghĩa là chúng ta mất cảnh giác với những người nguy hiểm và cố chấp. Trên thực tế, việc nhìn thấy cái chết và tình trạng dễ bị tổn thương ở ngay cả cá nhân xấu tính nhất có thể giúp chúng ta hạ thấp thái độ tự tôn của họ và đối phó với họ từ một không gian chiến lược và trung lập hơn, không bị xúc phạm bởi sự xấu tính của họ.

                Nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng nỗi ám ảnh về cái chết là thứ thúc đẩy chúng ta bước tới gần những đồng loại của mình và khiến cho chúng ta khao khát yêu thương. Cái chết và tình yêu gắn bó chặt chẽ với nhau. Sự phân ly và tan rã cuối cùng được đại diện bởi cái chết thúc đẩy chúng ta đoàn kết và hòa nhập với những người khác. Ý thức khác thường của chúng ta về cái chết đã tạo ra hình thức tình yêu đặc biệt của chúng ta. Và thông qua việc nâng cao nhận thức về cái chết, chúng ta sẽ chỉ củng cố thêm xung lực này, và thoát khỏi những sự phân chia và ngăn cách vốn làm cho nhân loại khổ đau.

                Ôm ghì lấy mọi nỗi đau và nghịch cảnh. Do bản chất của nó, cuộc sống liên quan đến nỗi đau và sự gánh chịu đau khổ. Và hình thức tối thượng của điều này chính là cái chết. Trước thực tế này, con người chúng ta có một lựa chọn đơn giản: Chúng ta có thể cố gắng tránh những khoảnh khắc đau đớn và giảm thiểu ảnh hưởng của chúng bằng cách đánh lạc hướng bản thân, bằng cách sử dụng ma túy hoặc tham gia vào hành vi gây nghiện. Chúng ta cũng có thể hạn chế những gì chúng ta làm – nếu chúng ta không cố gắng quá nhiều trong công việc, nếu chúng ta hạ thấp những tham vọng của mình, chúng ta sẽ không tự phơi mình ra trước sự thất bại và chế giễu. Nếu chúng ta sớm cắt đứt các mối quan hệ, chúng ta có thể tránh khỏi bất kỳ khoảnh khắc đau đớn, đắng cay nào trong sự phân ly.

                Nguồn gốc của phương pháp này là nỗi sợ cái chết, vốn thiết lập mối quan hệ cơ bản giữa chúng ta với nỗi đau và nghịch cảnh, và tránh trở thành khuôn mẫu của chúng ta. Khi những điều tồi tệ xảy ra, phản ứng tự nhiên của chúng ta là phàn nàn về những gì cuộc sống mang lại cho chúng ta, hoặc những gì người khác không làm cho chúng ta, và rút lui xa hơn hơn khỏi những tình huống thử thách. Khi đó tác động nghịch lý tiêu cực của cái chết chiếm ưu thế.

                Sự lựa chọn khác có sẵn cho chúng ta là tự buộc mình thực hiện điều mà Friedrich Nietzsche gọi là amor fati (“tình yêu định mệnh”): “Công thức của tôi cho sự vĩ đại ở một con người là armo fati: rằng một người không muốn gì khác hơn là chính bản thân định mệnh, không phải trong tương lai, không phải trong quá khứ, không phải trong cõi vĩnh hằng. Không chỉ đơn thuần chịu đựng những gì nhất thiết phải xảy ra… mà còn yêu nó.”

                Điều này có ý nghĩa như sau: Có rất nhiều thứ trong cuộc sống mà chúng ta không thể kiểm soát, với cái chết là ví dụ tối thượng của điều này. Chúng ta sẽ trải nghiệm bệnh tật và nỗi đau thể xác. Chúng ta sẽ trải qua những cuộc chia ly với mọi người. Chúng ta sẽ phải đối mặt với những thất bại do những sai lầm của chính mình và sự xấu xa khó chịu của đồng loại. Và công việc của chúng ta là chấp nhận những khoảnh khắc này, và thậm chí ôm ghì lấy chúng, không phải vì nỗi đau mà vì cơ hội để học hỏi và củng cố bản thân. Khi làm như vậy, chúng ta khẳng định chính bản thân cuộc sống, chấp nhận tất cả các khả năng của nó. Và cốt lõi của điều này là sự chấp nhận hoàn toàn của chúng ta đối với cái chết.

                Chúng ta thực hành điều này bằng cách liên tục xem các sự kiện như là định mệnh – mọi thứ xảy ra vì một lý do, và chúng ta phải thu lượm được những bài học. Khi ngã bệnh, chúng ta xem những khoảnh khắc đó như là cơ hội hoàn hảo để rút lui khỏi thế giới và tránh xa những phiền nhiễu của nó, để sống chậm lại, đánh giá lại những gì chúng ta đang làm và đánh giá cao những thời kỳ khỏe mạnh thường xuyên hơn. Việc có thể làm quen với một mức độ đau đớn về thể xác, mà không cần lập tức tìm kiếm thứ gì đó để làm xoa dịu nó, là một kỹ năng sống quan trọng.

                Khi mọi người chống lại ý muốn của chúng ta hoặc quay sang chống lại chúng ta, hãy cố gắng đánh giá những gì chúng ta đã làm sai, để tìm ra cách sử dụng điều này như một bài học về bản chất con người và dạy cho bản thân cách đối phó với những người ma mãnh và cau có. Khi chấp nhận rủi ro và thất bại, chúng ta hoan nghênh cơ hội để học hỏi kinh nghiệm này. Khi các mối quan hệ thất bại, chúng ta cố gắng nhìn thấy những gì đã sai trong động năng, những gì còn thiếu đối với chúng ta và những gì chúng ta mong muốn từ mối quan hệ tiếp theo. Chúng ta đừng tự chui vào vỏ kén để tránh bị đau nhiều hơn nữa bằng cách tránh những trải nghiệm như vậy.

                Trong tất cả các trường hợp này, tất nhiên chúng ta sẽ trải qua nỗi đau về thể xác và tinh thần, và chúng ta không được tự lừa dối mình rằng triết lý này sẽ ngay lập tức biến tiêu cực thành tích cực. Chúng ta biết rằng đó là một quá trình và chúng ta phải đón nhận những cú đánh, nhưng khi thời gian trôi qua, tâm trí của chúng ta sẽ đi vào hoạt động, chuyển đổi điều này thành một kinh nghiệm học hỏi. Với sự thực hành, việc chuyển đổi này sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn.

                Tình yêu định mệnh này có khả năng thay đổi mọi thứ chúng ta trải qua và làm nhẹ gánh nặng chúng ta mang theo. Tại sao lại phàn nàn về điều này hay điều nọ, khi trên thực tế chúng ta thấy những sự kiện như vậy xảy ra là vì một lý do và rốt cuộc sẽ soi sáng chúng ta? Tại sao phải cảm thấy ghen tị với những gì người khác có, khi chúng ta sở hữu một thứ gì đó lớn hơn rất nhiều – cách tiếp cận tối thượng với những thực tế khắc nghiệt của cuộc sống?

                Mở rộng tâm trí tới sự siêu phàm. Hãy nghĩ về cái chết như một loại ngưỡng cửa mà tất cả chúng ta phải vượt qua. Vì là như vậy, nó đại diện cho bí ẩn tối thượng. Chúng ta không thể tìm ra ngôn từ hoặc khái niệm để diễn tả nó là gì. Chúng ta đối đầu với một cái gì đó thật sự bất khả tri. Không một khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn nào có thể giải quyết câu đố này hoặc diễn đạt nó bằng lời. Con người chúng ta có thể tự đánh lừa mình rằng chúng ta biết hết mọi thứ, nhưng ở ngưỡng cửa này, cuối cùng chúng ta bị bỏ lại, câm lặng và dò dẫm [giữa những điều chưa biết].

                Cuộc đối đầu này với một thứ mà chúng ta không thể biết hoặc diễn đạt bằng lời là cái mà chúng ta sẽ gọi là Sự siêu phàm [Sublime], gốc Latin của từ này có nghĩa là “lên đến ngưỡng”. Sự siêu phàm là bất cứ điều gì vượt quá khả năng của chúng ta đối với những ngôn từ hoặc khái niệm bởi nó quá  rộng lớn, quá mênh mông, quá tối tăm và bí ẩn. Và khi chúng ta đối mặt với những điều như vậy, chúng ta cảm thấy hơi sợ hãi nhưng cũng kinh ngạc và thắc mắc. Chúng ta được nhắc nhở về sự nhỏ bé của mình, về những gì lớn lao hơn và mạnh mẽ hơn ý chí yếu ớt của chúng ta. Cảm nhận được sự siêu phàm là liều thuốc giải độc hoàn hảo đối với sự tự mãn của chúng ta và đối với những mối quan tâm nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày vốn có thể tiêu hao hết năng lượng của chúng ta và khiến chúng ta cảm thấy khá trống rỗng.

                Mô hình cho cảm giác về sự siêu phàm xuất hiện khi chúng ta trầm tư mặc tưởng về cái chết, nhưng chúng ta có thể rèn luyện tâm trí để trải nghiệm nó thông qua những suy nghĩ và hành động khác. Chẳng hạn, khi nhìn lên bầu trời đêm, chúng ta có thể để cho tâm trí cố gắng tìm hiểu sự vô tận của không gian và sự nhỏ bé đáng thương của hành tinh của chúng ta, đang thất lạc trong bóng tối. Chúng ta có thể bắt gặp Sự siêu phàm bằng cách nghĩ về nguồn gốc sự sống trên trái đất, điều này đã xảy ra cách nay bao nhiêu tỷ năm, có lẽ tại một thời điểm cụ thể nào đó, và nó khó xảy ra như thế nào, khi xét tới hàng ngàn yếu tố vốn phải hội tụ cho cuộc thí nghiệm của cuộc sống được bắt đầu trên hành tinh này.

                Một lượng thời gian lớn như thế và nguồn gốc thật sự của cuộc sống vượt quá khả năng khái niệm hóa chúng của chúng ta, và chúng ta chỉ còn lại một cảm giác về Sự siêu phàm. Chúng ta có thể đi xa hơn: Nhiều triệu năm trước, cuộc thí nghiệm về con người bắt đầu khi chúng ta tách ra khỏi những tổ tiên động vật linh trưởng của mình. Nhưng vì thể chất cơ bản yếu ớt và số lượng nhỏ, chúng ta phải liên tục đối mặt với mối đe dọa tuyệt chủng.

                Nếu sự kiện nhiều khả năng xảy ra đó đã xảy ra – như nó đã xảy ra đối với rất nhiều loài, bao gồm cả những chủng tộc người khác nhau – thế giới sẽ có một bước ngoặt rất khác. Trên thực tế, sự gặp gỡ của cha mẹ của chúng ta và sự ra đời của chúng ta đã bị treo trên một loạt các những gặp gỡ ngẫu nhiên vốn cũng có khả năng tương đương để không thể xảy ra. Điều này khiến chúng ta xem sự hiện tồn của chúng ta với tư cách một cá nhân, một điều mà chúng ta xem là lẽ đương nhiên,  như là một sự cố ít có khả năng xảy ra nhất, khi xét tới tất cả các yếu tố tình cờ phải rơi vào đúng vị trí.

                Chúng ta có thể trải nghiệm Sự siêu phàm bằng cách suy ngẫm về những hình thức khác của sự sống. Chúng ta có niềm tin của riêng mình về những gì có thật dựa trên các hệ thống thần kinh và nhận thức của chúng ta, nhưng thực tế của loài dơi, vốn nhận thức thông qua sự định vị bằng tiếng vọng, là một trật tự khác. Chúng cảm nhận được những thứ vượt ra khỏi hệ thống nhận thức của chúng ta. Các yếu tố khác mà chúng ta không thể nhận thức được, các thực tại khác vô hình với chúng ta là gì? (Những khám phá mới nhất trong hầu hết các ngành khoa học sẽ có tác động mở mắt [eye-opening effect] này, và việc đọc những bài viết trong bất kỳ tạp chí khoa học phổ biến nào thường sẽ mang lại một vài suy nghĩ siêu phàm.)

                Chúng ta cũng có thể tiếp xúc với những địa điểm trên hành tinh này,  nơi tất cả các điểm la bàn thông thường của chúng ta đang bị tranh giành – một nền văn hóa cực kỳ khác biệt hoặc một số cảnh quan nơi yếu tố con người có vẻ đặc biệt nhỏ bé, chẳng hạn biển cả, một vùng tuyết mênh mông, một ngọn núi đặc biệt to lớn. Khi trực tiếp đối mặt với những thứ khiến cho chúng ta trở nên nhỏ bé, chúng ta buộc phải đảo ngược nhận thức thông thường của mình, trong đó chúng ta là trung tâm và thước đo của tất cả mọi thứ.

                Khi đối mặt với Sự siêu phàm, chúng ta cảm nhận được một cơn rùng mình chấn động, một sự mường tượng trước chính bản thân cái chết, một cái gì đó quá lớn lao đối với tâm trí của chúng ta. Và trong một khoảnh khắc, nó khiến chúng ta thoát khỏi sự tự mãn và giải thoát chúng ta khỏi sự kềm kẹp giống như cái chết của thói quen và sự tầm thường nhạt nhẽo.

                Cuối cùng, hãy suy nghĩ về triết lý này trong phạm vi sau: Kể từ khi bắt đầu của ý thức của con người, nhận thức về cái chết của chúng ta đã làm cho chúng ta khiếp sợ. Sự khủng bố này đã định hình những niềm tin của chúng ta, những tôn giáo của chúng ta, những thể chế của chúng ta, và rất nhiều hành vi của chúng ta, theo những cách thức mà chúng ta không thể nhìn thấy hoặc hiểu được. Con người chúng ta đã trở thành nô lệ cho những nỗi sợ hãi và những sự lảng tránh của chúng ta.

                Khi chúng ta xoay ngược vấn đề này lại, nhận thức rõ hơn về cái chết của mình, chúng ta trải nghiệm một hương vị tự do thật sự. Chúng ta không còn cảm thấy cần phải hạn chế những gì chúng ta nghĩ và làm, để làm cho cuộc sống trở nên có thể dự đoán được. Chúng ta có thể táo bạo hơn mà không cảm thấy e sợ những hậu quả. Chúng ta có thể thoát khỏi mọi ảo tưởng và sự nghiện ngập mà chúng ta sử dụng để làm tê liệt sự lo lắng của mình. Chúng ta có thể hoàn toàn tận tâm với công việc, với những mối quan hệ và với tất cả các hành động của chúng ta. Và một khi đã trải nghiệm một số khía cạnh của sự tự do này, chúng ta sẽ muốn khám phá thêm và mở rộng những khả năng của chúng ta trong phạm vi mà thời gian cho phép chúng ta.

    Chúng ta hãy tống khứ sự xa lạ khỏi cái chết, đi tới chỗ biết nó, trở nên quen thuộc với nó. Chúng ta hãy thường xuyên nghĩ tới cái chết hơn bất cứ điều gì khác. Ở mỗi khoảnh khắc, chúng ta hãy hình dung nó trong trí tưởng tượng của mình với tất cả các khía cạnh của nó

    …Không thể chắc chắn cái chết đang chờ chúng ta ở nơi nào; chúng ta hãy chờ đợi nó ở mọi nơi. Dự tính trước về cái chết là dự tính trước về sự tự do.

    …Kẻ đã học được cách để chết không hề học cách để trở thành một tên nô lệ. Việc biết cách để chết giải thoát chúng ta khỏi mọi sự khuất phục và câu thúc. - Michel de Montaigne.

    Hết.

    (Chương kết)

    Nguồn: Những quy luật của bản chất con người. Tác giả: Robert Greene. Nguyễn Thành Nhân dịch. NXB Trẻ 2020. Sách chuẩn bị tái bản lần thứ 3.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập41,576,325

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/