Lý luận phê bình văn học
16.08.2018
Nhiều tác giả
Những bài viết về thơ Đỗ Nam Cao


Thơ Đỗ Nam Cao - Nùi rơm ngun ngút cháy


Hoài Anh


Đọc thơ không giống như uống nước cho đỡ khát chỉ cần nước sạch, mà giống như uống rượu phải thưởng thức được hương vị từng loại rượu khác nhau. Có loại rượu ngon, đắt tiền, mà tôi không thể uống nổi vì không hợp với khẩu vị của tôi. Cho nên tôi không bình thơ của một nhà thơ nào đó không nhất định là thơ của nhà thơ đó không hay, mà bởi vì không hợp với cái tạng của tôi. Khi tôi viết về thơ của Đỗ Nam Cao đầu tiên là bởi vì cái “gu” thơ của anh và tôi hợp nhau, tôi chỉ trình bày cách hiểu của tôi về thơ của anh mà không bắt buộc mọi bạn đọc phải đồng ý với tôi. Làm như vậy có khác gì tôi uống rượu hộ bạn rồi bảo bạn phải tin rằng rượu đó ngon. Muốn thưởng thức thơ của Đỗ Nam Cao, bạn phải tự mình đọc lấy như người tự uống một loại rượu nào vậy.


Tuy hợp nhau về “gu” thơ nhưng sở thích về rượu của tôi với Đỗ Nam Cao lại rất khác nhau. Ngồi với nhau trong những quán bia, tôi chỉ uống cầm chừng vì còn phải tỉnh táo để về viết lách nuôi con hay về sau trông cháu nội. Hồi hai con còn nhỏ, có lần tôi nể bạn uống say sực nhớ đến giờ đón con từ nhà trẻ về, khi tới nhà trẻ thì đã quá giờ, hai cháu đang lẫm chẫm bước ngang qua đường giữa lúc xe cộ ào ào chạy qua, nếu tôi không kịp lao ra giữa đường cặp mỗi đứa trong một tay như cắp gà chạy ù về nhà không bao giờ dám uống say nữa. Nhưng đời sống của gia đình Đỗ Nam Cao ổn định hơn tôi, nên anh có thể thỏa sức uống đến say. Khi ngà ngà say, anh thường ghi vội thơ anh vừa “xuất thần” trên một mảnh giấy nhỏ xong đưa ngay cho tôi không cần chép lại. Tôi nhớ Pautốpxki kể chuyện Bagrítxki thường viết thơ trên những vỏ bao thuốc lá, sau đó đánh mất những vỏ bao thuốc lá đó cũng không lấy làm tiếc cho lắm. Còn tôi thì trân trọng giữ những mẩu thơ của Cao đưa tặng, hôm nay hú họa vốc ra một vài “mảnh tiên” đó đem ra trình với bạn đọc.


               HẠ


Đầu hạ mưa lộc bàng

gái làng nhây nhẩy búp


Vú săn sắt rạch dòng

cá rô don ngược nước


 


Đâu những mùa hạ trước


Như những ngày không vui


          7-6-2002


 


            TUYỆT TÌNH


Thôi đừng nói

câm họng và nuốt ực


Em không trôi


Hoa phượng nổ trong đầu


Mùa hạ nóng


Tiếng ve sầu rít rịt

cưa cùn cùn nhay nhứt mãi không thôi


Ừ hết thật hết thật rồi Phượng nhỉ


Mà vẫn mà máu nhi nhỉ chưa khô


Đất nứt nẻ há miệng chờ chớp giật


Mây sũng buồn ồ ạt đổ cơn mưa


12-6-2002


 


Qua đó, tôi thấy Cao làm thơ bằng linh cảm và trực giác, vọt ra từ nguồn suối của nội tâm trong một khoảnh khắc thời gian nhất định, rồi viết ngay ra giấy không cần sửa chữa gì nhiều. Thơ giống như điện tâm đồ của Cao ở nơi này lúc này.


Gotterfield trong bài “Bàn về thơ trữ tình”, từng miêu tả quá trình sản sinh một bài thơ: “Đầu tiên là một manh động sáng tác mơ hồ, một cái không biết nói ra sao. Thứ hai là ngôn ngữ, từ vựng trong tay tác giả có, cung cấp cho ông ta chi phối, ông ta có thể sắp đặt, có thể chế ngự, ông ta thông hiểu từ vựng của mình… Thứ ba là ông ta có một đường dây, có thể dẫn dắt ông ta ra khỏi mối quan hệ đối địch của hai cực, mà còn chắc chắn có thể dẫn dắt ông ta ra khỏi. Bởi vì – hiện giờ mê hồn trận đã đến: một bài thơ còn chưa bắt đầu làm thì đã hoàn thành, tác giả chỉ là còn chưa biết câu chữ của nó. Thơ một khi hoàn thành thì không thể trái với bộ mặt vốn có của nó”. Các bạn để ý hai bài thơ trên của Đỗ Nam Cao đều viết trong một cơn xung động sáng tác trong khi đất trời đang có một cơn xung động: mùa hạ nóng sắp đổ ra một cơn mưa, dù đó là mưa lộc bàng đầu hạ hay là mưa rào ồ ạt cuối hạ. Tôi nhớ đến ý của nhóm Xuân Thu Nhã Tập: Âm Dương rung động thì có Sáng Tạo, thì có Thơ. Mưa bão chẳng phải là kết quả của Âm Dương rung động hay sao? Từ hiện tượng vũ trụ đó, đã tạo nên Một manh động sáng tác mơ hồ, một cái chưa biết nói ra sao. Khi linh cảm tới, Đỗ Nam Cao đã đủ sức sắp đặt, chi phối ngôn ngữ, từ vựng của mình. Bạn hãy chú ý đến những câu: Gái làng nhây nhẩy búp, Vú săn sắt rạch dòng, Cá rô don ngược nước (Hạ), Tiếng ve sầu rít rịt, cưa cùn cùn nhay nhứt mãi không thôi. Ừ hết thật hết thật rồi Phượng nhỉ, Mà vẫn mà máu nhi nhỉ chưa khô (Tuyệt tình). Những câu này nằm trong từ vựng riêng có của Đỗ Nam Cao, anh đã đủ sức chế ngự được ngôn ngữ như người trị được con ngựa bất kham. Cuối cùng, Đỗ Nam Cao có được một đường dây, có thể dẫn dắt anh ra khỏi mối quan hệ đối địch của hai cực: Đâu những mùa hạ trước, Ngửa tay hứng mưa rào, Những hột to và nặng, Như những ngày không vui, từ cảm giác không gian chuyển sang cảm giác thời gian thật là bất ngờ! Ý thơ như lộc bàng nhú lên sau mưa dần dần trổ thành búp là cả bài thơ. Thơ lãng mạn chỉ miêu tả không gian trên một mặt phẳng (Thí dụ câu thơ của Lưu Trọng Lư: Ta say sưa ngựa cũng tần ngần. Trời cao xuống thấp núi gần nên xa), không tạo được cảm giác không gian trên một khối hình cầu như trong thơ hiện đại.


Trong bài “Văn học và nghệ thuật”, Mary Gaiser viết: “Đối với Lessing, lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình giới hạn ở vật thể trong không gian, mà lĩnh vực của thơ lại bao gồm vận động trong thời gian.


Trong đại bộ phận sáng tác và hội họa hiện đại, nguyên lý cảm giác thẩm mỹ Lessing đã thảo luận vẫn là thích dụng, nhưng có một số nhà văn hiện đại sử dụng dòng ý thức, khi sáng tạo một hình thức kể chuyện mới, nhận thức được nguyên lý của cảm giác không gian. Trong văn học ngày nay, hình thức không gian phổ biến giống như trong nghệ thuật tạo hình. Joseph Frank khi nghiên cứu hình thức không gian trong văn học hiện đại nói!”. Văn học hiện đại do T.S Eliot, Pound, Proust và James Joyce làm nhà văn đại biểu, chính đang phát triển theo phương hướng hình thức không gian. Đó tức là nói, độc giả phần nhiều trong một khoảnh khắc thời gian từ quan niệm không gian để lý giải tác phẩm của họ, mà không phải là đem tác phẩm coi là một xếp hàng thứ tự. Phương pháp cảm giác giống như phương pháp trong nghệ thuật tạo hình mà Lessing miêu tả, nhưng đối tượng của cảm giác lại khác nhau.


Ông Frank chỉ ra, độc giả không phải là từng trang từng trang, một hành động tiếp một hành động hình thành một ấn tượng hoàn chỉnh đối với tác phẩm của những nhà văn anh ta đề cập đến, mà là dựa vào biện pháp tham chiếu kiểu phản xạ (“reflexive refrence”), tức độc giả khi đọc xong tác phẩm, đem mọi cái nhắc đến trong tác phẩm ghép lại với nhau, đối với cái mà nhà thơ hoặc nhà tiểu thuyết thông qua hình thức không gian hoàn thành, có được một bức tranh hoàn chỉnh. Nhất là thi ca “lấy lô-gích không gian làm cơ sở, thứ lô-gích đó yêu cầu độc giả toàn diện điều chỉnh lại thái độ của mình đối với ngôn ngữ”. Độc giả cần phải đem mảnh đoạn cô lập ở bề mặt và từng nhóm từ vựng một, và một tình cảnh ám thị, tập trung trong thơ liên hệ với nhau, tổ chức thành một chỉnh thể. Nguyên lý tham chiếu kiểu phản xạ là một khái niệm cơ bản trong thơ hiện đại, mà còn đem thí nghiệm giống nhau trong thơ hiện đại và tiểu thuyết hiện đại liên hệ với nhau”.


Nhạc – thi sĩ Stefan Wolpe trong bài thơ trình diễn kết hợp ứng tác thơ với nhạc đĩa hát, Dada, viết:


Tôi đã học hỏi được rằng mọi sự đều sẵn có ngay trong tầm suy nghĩ của con người, rằng nếu không nhờ trí óc của con người, thì các sự vật chỉ nằm kề cận nhau như thế, như những cảnh trí vui mắt của vũ trụ.


Các sự vật là những mảnh rời rạc và vô ích khủng khiếp(cô đơn và vô vọng khủng khiếp).


Điều đó khiến chúng ám ảnh ta.


Và chừng nào chúng còn toát ra vẻ ám ảnh, chừng đó chúng còn hữu dụng.


Nhưng chúng mãi mãi toát ra vẻ ám ảnh.


Đó là chiều rộng vô hạn của các sự vật.


… Trí óc đã mở rộng những cái nhìn về thế giới bằng cách nối liền mọi thứ vào mọi thứ.
Như cái nhìn của Thượng Đế (xin thử mượn nhãn quan thần học) đã nối liền mọi thứ vào mọi thứ.


Giờ đây, khi tất cả những sự cách tân cực đoan, tận gốc rễ.
như những sự bất ngờ, như những điều đầy nghịch lý, như những vị trí tương phản cực độ, như những việc gây hoảng hốt, như những sự vật đồng hiện, như những sự vật bất liên hệ, khi những thứ này trở bên những thành tố khả dụng của công việc hàng ngày của một người viết nhạc, thì trí tuệ, khối óc sáng tạo sử dụng chúng theo một cách thế hữu lý nhất ngay trong tất cả khả tính tương tác nội tại của chúng để nối kết của sự vật vào nhau một cách đầy ý nghĩa…


(Stefan Wolpe ứng khẩu một bài thơ ngắn:


Vầng trăng đến trong tầm tay tôi với,


rồi một vỏ hến vô danh đâu đó dưới đáy biển Địa Trung


có thể tìm đường đến với những nốt nhạc này, hàng ngày tôi đang viết)


Đây là một loại xuất thần mang thi tính, những sự chuyển dịch mang thi tính,
trong đó, các sự vật di chuyển về mọi phương hướng, từ mọi phương hướng,
bất cứ nơi đâu.


Những biên giới đã biến mất (đây chính là điều những người Dada cố gắng làm biến mất) nhưng biên giới đã biến mất và nghệ thuật đã dạt đến sự vô hạn,
đã trở nên quyến rũ cao độ thêm lần nữa ….


                                                   (K. D dịch)


Mời các bạn đọc bài thơ “Mưa rơi” của Đỗ Nam Cao:


Em đẹp và điếu xì gà


Chiều mưa ngà ngà trên đường Trương Định


Rượu ngon và bạn bè ngon


Cùng một ly uống xoay tròn


 


Tôi ngồi và tôi ngẫm ngợi


Chuyện người vời vợi lẫn với chuyện ma


Rượu ngon và điếu xì gà


Em đẹp và mưa bay qua


 


Tôi ngồi và tôi buồn bã


Mặt đường là chã mặt bàn lai rai


Bạn tôi và tiếng thở dài


Rượu vừa uống hết nửa chai


Một chai rồi chai chai nữa


Chuyện đời như lửa chuyện mình như sương


Ngực nặng và bàn tay run


Lạnh và mưa cũng mau hơn


Cũng lại một chiều mưa nhưng không phải ở quán Cây Trúc đường Lê Quý Đôn mà ở quán rượu trên đường Trương Định (nơi tôi thường nhâm nhi ba xị đế với họa sĩ Nguyễn Sáng, khi tôi không có tiền mà thấy Nguyễn Sáng ngồi trong đó liền quay mặt và rảo bước đi nhanh cho anh không nhìn thấy). Lần này tôi và Cao uống rượu tây và hút xì gà. Cao đã nối kết được:


những sự vật đồng hiện: Rượu ngon và điếu xì gà


những sự vật bất liên hệ: Mặt đường lã chã mặt đường lai rai


những việc gây hoảng hốt: Chuyện người vời vợi lẫn với chuyện ma


những vị trí tương phản cực độ: Chuyện đời như lửa chuyện mình như sương


những sự bất ngờ: Em đẹp và mưa bay qua


Tản Đà vị tửu tiên từng nói: “Đồ ăn ngon, giờ ăn ngon, người cùng ăn không ngon không ngon”. Uống rượu mà “rượu ngon và bạn bè ngon” thì còn gì thú vị cho bằng. Nhưng đã có tửu lại phải có sắc, rượu ngà ngà, mà nhìn thấy một cô gái đẹp dưới màn mưa đi qua, sao không ngây ngất men tình. Khi nghe chuyện đời sôi động, ngẫm đến chuyện mình thì lòng thấy nguội lạnh. Hiện tượng tâm sinh lý của cá nhân (Ngực nặng và bàn tay run) hòa nhịp với hiện tượng vũ trụ (Lạnh và mưa cũng mau hơn), con người chỉ là một tiểu ngã trong cái đại ngã là vũ trụ, do đó mà càng thêm ngấm cái ý vị “chuyện đời như lửa chuyện mình như sương”, ở đây hiện tượng vũ trụ (lửa, sương) lại song hành với hiện tượng của đời mình. Đây cũng lại là một cách nối kết giữa không gian và thời gian qua cảm giác không gian (mặt đường lã chã mặt bàn lai rai). Hình tượng Em đẹp và mưa bay qua, là một biểu tượng hoàn chỉnh theo nguyên lý tham chiếu kiểu phản xạ”.


Yêu cầu cao nhất của người làm thơ là hạn chế sự trói buộc của thời không, đi đến siêu việt thời không. Bài Thu vĩnh viễn của Đỗ Nam Cao đã cố gắng đi theo hướng đó:


Hà Nội chiều này lòng nhao nhác nhớ


Đường sấu mùa thu xanh tận cuối đời


Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc


Đẹp ướt mi ai hè phố mùa thu


 


Nâng chén men say nhẹ mảnh lá chiều


Gió bỗng phiêu diêu kìa ai đứng lại


Một cô áo vàng trong cõi thu riêng


Bóng ngả dài theo mùa thu vĩnh viễn


“Đường sấu mùa thu xanh tận cuối đời" không gian và thời gian đã hòa làm một để có chung một màu xanh. Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc, thiên nhiên và con người đã hòa làm một để có trạng thái rơm rớm khóc (người khóc trời cũng khóc như cái lẽ “thiên nhiên tương dữ” của Đông phương. Những câu thơ đẹp mà siêu thoát đọc lên cứ nhẹ như không: Đẹp ướt mi ai hè phố mùa thu, Đang chén men say nhẹ mảnh lá phiêu, có được phiêu diêu của không gian hòa vào cái lắng đọng của thời gian vào mùa thu trong một cõi-thu (danh từ kép kết hợp giữa thời – không). Cuối cùng bài thơ để lại một ấn tượng mạnh mẽ qua hình ảnh “Một cô áo vàng trong cõi thu riêng, Bóng ngã dài theo mùa thu vĩnh viễn”, đây là một thứ “màu vàng xao xuyến” trong ảnh Intoret mà J. P Sartre nói, hay như trong tranh “Mùa thu vàng” của Levitan. Ở đây thơ đã dùng nguyên lý cảm giác không gian như trong nghệ thuật tạo hình.


Trước tôi cứ nghĩ uống rượu say thì thần trí không được sáng suốt, không làm được những câu thơ khắc họa tinh tư tưởng thâm trầm, nhưng về sau tôi biết rằng không phải như thế. Trong bài “Địa vị của nghệ thuật trong triết học văn hóa”, Ernst Cassieer viết: “Trong một trong những trứ tác sớm nhất của Nietzsche “Bi kịch ra đời từ tinh thần âm nhạc” ông đề xuất khiêu chiến đối với khái niệm của các nhà cổ điển chủ nghĩa vĩ đại thế kỷ 18. Ông luận chứng rằng, cái chúng ta nhìn thấy trong nghệ thuật Cổ Hy Lạp quyết không là lý tưởng của Winclelman. Chúng ta một cách tốn công trong Eschyle, Sophocles, và Buripides tìm kiếm sự đơn thuần cao quý, vĩ đại của yên lặng”. Cái vĩ đại của bi kịch Hy Lạp là ở chiều sâu của tình tự phóng túng không bị ràng buộc và trạng thái căng thẳng cực độ. Bi kịch Hy Lạp là sản vật của sùng bái Tửu thần (Dyonyssos); sức mạnh của nó là một thứ sức mạnh cuồng phóng. Nhưng chỉ có sùng bái Tửu thần không thể sản sinh ra kịch Hy Lạp. Sức mạnh của Tửu thần có được cân bằng với sức mạnh của thần mặt trời (Apollon), khuynh hướng cơ bản đó là bản chất của mỗi một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại. Nghệ thuật vĩ đại của tất cả mọi thời đại đều đến từ thẩm thấu lẫn nhau của hai sức mạnh đối lập - đến từ xung đột cuồng phóng và trạng thái tinh thần của mộng ảo. Cái đó cũng tồn tại ở đối lập giữa trạng thái nằm mơ và trạng thái say rựơu. Hai trạng thái đó trong tự thân chúng ta phóng thích ra toàn bộ dạng thức của sức mạnh nghệ thuật. Nhưng những sức mạnh mà mỗi một trạng thái phóng thích ra là loại khác nhau. Mơ cấp cho chúng ta sức mạnh của ảo tưởng, sức mạnh của liên tưởng, sức mạnh của thơ; say lại cấp cho chúng ta sức mạnh của phóng túng không bị ràng buộc, sức mạnh của nhiệt tình mạnh mẽ, sức mạnh của ca múa cuồng loạn. Trong thứ lý luận bắt nguồn từ tâm lý học của nghệ thuật, thậm chí ngay cả một đặc trưng cơ bản nhất của nghệ thuật cũng biến mất. Bởi vì linh cảm của nhà nghệ thuật quyết không phải là say mèm, tưởng tượng của nhà nghệ thuật cũng không phải là mộng tưởng hoặc ảo giác. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật đều lấy một kết cấu thống nhất làm đặc trưng. Chúng ta không thể dựa vào đem nó quy vào hai thứ trạng thái khác nhau để thuyết minh thứ thống nhất đó, trạng thái giống như mộng ảo và say khướt hoàn toàn là cái tán loạn mà vô trật tự. Chúng ta không thể đem cái mơ hồ bất định kết hợp làm một chỉnh thể có kết cấu”.


Bài Rượu thủy tinh của Đỗ Nam Cao viết:


Những ý nghĩ đi chầm chậm đi trên mặt bàn


Nhịp tim theo cùng chậm


Một nỗi buồn trĩu nặng


Đọng trong đáy ly vừa cạn


 


Chuyện tình qua


Thấm thía


Anh bóp nát chiếc ly vụn rơi từng mãnh vỡ


Rượu dốc thẳng từ chai vào cổ


 


Anh quấn lấy em như tã lót quấn con riêng em vừa nở


Biển cuồng điên vật vã bãi bờ


 


Mai kia anh có thể thờ ơ


Chưa chừng cũng chẳng đến mai kia


Em đã mất


ai nhặt gom mảnh vụn chiếc ly


 


Ai hốt lên rượu nỗi buồn đã chảy


Đã trộn lẫn thủy tinh cùng rượu ấy


Ở đây lại là sự nối kết giữa những điều đầy nghịch lý: rượu thủy tinh. Anh bóp nát chiếc ly vụn rơi từng mãnh vỡ (sự tan vỡ) và Anh quấn lấy em như tã lót quấn con riêng em vừa nở (sự gắn bó), và cuối cùng là sự gắn lại những mảnh vỡ trong trái tim con người (Ai hốt lên rượu nỗi buồn để chảy, Đã trộn lẫn thủy tinh cùng rượu ấy). Nghịch lý hơn cả là chỉ có say mới có thể viết được những câu thơ cuồng phóng như thế, nhưng ở đây càng say thì lại càng tỉnh, càng thấm thía sự đời, khác với Tản Đà “khi say quên cả cái hình phù du”. Rượu thủy tinh biến thành một danh từ kép, đã tạo nên một biểu tượng hoàn chỉnh, kết hợp làm một chỉnh thể có kết cấu.


Đỗ Nam Cao cũng có khi mơ ngược về thời thơ ấu như một giấc mơ ban ngày: trong bài Tuổi thơ, anh viết:


Tuổi thơ là khi mẹ


Là trời trong ổ rơm


Bà nội cắt cuống nhau


Cha chôn ngoài bụi ruối


Chờ cháu ngày rụng rốn


Bà ngoại hơ lá trầu


 


Tuổi thơ ăn cơm mớm


Cá khô bồi trong tro


Tập lẫy trên chõng tre


Tập bò qua ngưỡng cửa


Tập đi ngoài đầu ngõ


Thênh thênh thênh gió đồng


 


Tuổi thơ tay vọc đất


Đất nhét đầy móng tay


Đánh khăng rồi đánh đáo


Đánh cù bắn bi ve


Sáng trăng chui đống rạ


Rủ nhau chơi trốn tìm


 


Đêm rúc vào nách bố


Tay mẹ gãi trên lưng


Nằm nghiêng mò vú mẹ


Vú mẹ teo tóp rồi


Nằm ngửa miệng he hé


Uống ngọt ngào lời ru


 


Trưa hè nghe tiếng ve


Đầu que dính nhựa mít


Đội nắng bắt chuồn chuồn


Cởi truồng tắm ao sen


Mài mại rĩa bìu dái


Lên bờ ù té chạy


Con bé nào ngó ngây


Đến đây là đủ “chất” rồi, nếu kể thêm nữa thì sẽ đi đến chỗ “sơn cùng thủy tận”. Bất ngờ tác giả đã mở ra một hướng đi mới khiến mọi người phải suy nghĩ về sự ngắn ngủi của đời người và trách nhiệm làm người.


Và cứ thế tuổi thơ


Ngày sau thành chồng vợ


Ngày sau làm cha mẹ


Ngày sau lên ông bà


Tuổi thơ là mãi mãi


Mãi mãi còn tuổi thơ 


Chất hồn nhiên và chất trầm tư ở đây hòa quyện với nhau một cách nhuần nhuyễn như nước hòa với sữa.


Không chỉ mơ về tuổi thơ của mình, Đỗ Nam Cao còn mơ về quê hương của người bạn: liệt sĩ Vũ Dũng hy sinh tại thành cổ Quảng Trị 1972 trong bài Trăng ngà (đăng báo Thanh niên ngày 1-8-2004):


Ẩn khuất đâu đây đầu làng cuối xóm


Dưới bếp hay trên nhà


Bên âm ẩm mùi đống rạ


Con trâu già đứng nhai rơm


 


Có tiếng quẫy


Soi mói cành sung bói cá


Bờ ao đỏ nhói con chuồn


Ẩn khuất đâu đây Dũng ẩn


Lẫn vào đêm trốn tìm


 


Nghe thấy thì thầm trai gái


Trong bụi chuối quả vàng lập lòe đom đóm


Trên cánh đồng mùa màng ngờm ngợp


Người người í ới say mê


Đòn gánh uốn cong deo dẻo


Lúa nằng nặng ngực gái quê


 


Nơi con dốc ngày ngày lững thững


Dũng khuya sớm đi về


Thăm thẳm thuyền từ Kẽm Trống


Vạt cỏ bờ đê vang động


Ba bờ sông ngẩn ngơ


 


Dũng ngồi nghe mãi câu hò


Ẩn khuất đâu đây rút ruột


Nỗi đau nghèn nghẹn miên man


Niềm vui hiếm hoi giấu nhẹm


Bao nhiêu thăng trầm có Dũng sẻ chia


 


Kìa như chênh chênh mái rạ


Dũng ơi đâu đây bàng bạc trăng ngà


Tất cả bài thơ thâu gồm trong hai chữ Ẩn khuất. Cảnh vật nông thôn ẩn khuất sau mái nhà đống rạ, con chuồn ẩn khuất sau rặng cây, đom đóm ẩn khuất sau quả vàng, trai gái thì thần ẩn khuất sau bụi chuối, ngực gái quê ẩn khuất sau gánh lúa, thuyền ẩn khuất sau bờ đê, không chỉ nỗi đau mà niềm vui cũng ẩn khuất trong lòng Dũng, ẩn khuất đâu đây Dũng ẩn, lẫn vào đêm trốn tìm tưởng chừng sự của Dũng cũng chỉ là sự tạm thời ẩn khuất của Dũng vào bóng đêm mà thôi. Cuối cùng trăng ngà trà rượu ẩn khuất sau mái rạ, lúc này nhô lên soi sáng cảnh vật, soi sáng tấm lòng của Dũng đối với quê hương, cũng soi sáng tấm lòng của tác giả đối với người bạn thân đã qua đời. Trăng ngà là một vệt màu quý trên bức tranh sám hối của thôn quê, cũng là “điểm trời sáng” của toàn thể bài thơ.


Không chỉ mơ về quá khứ trong hiện tại, Đỗ Nam Cao còn mơ về quá khứ nghìn xưa của dân tộc. Trong bài thơ dài Hỡi cô cắt cỏ (trích đăng phụ bản thơ báo Văn Nghệ tháng 12 năm 2004), anh đã viết về vùng quê Hà Tây của anh. Khác với Về Kinh Bắc của nhà thơ Hoàng Cầm viết về vùng quê Bắc Ninh, Đỗ Nam Cao đã dựng lên nhân vật bản thân nhà thơ đối thoại với một cô cắt cỏ của thần Tản Viên để nói lên quá khứ nghìn năm của quê hương, của dân tộc, toàn bài cũng làm theo các thể thơ dân tộc truyền thống với hình ảnh, ngôn ngữ đậm đà chất dân tộc nhưng vang lên âm hưởng hiện đại.


... Thì em xỉnh em xinh


Em xinh em đứng một mình được a


Tim tím hoa cà


Biêng biếc tầm xuân


Muốn tình gửi má bồ quân


Gửi môi quả nhót gửi chân cửa chùa


Hỡi em Tấm của ngày xưa


Hỡi cô thôn nữ nắng mưa tảo tần


Tứ thời cái áo tứ thân


Hỡi cô cắt cỏ của thần Tản Viên


Này riêng cái yếm hoa hiên


Thì quên đi nhé bạc tiền quên đi


Sợi rơm thơm lỗ chim ri


Ổ rơm vàng nói lên gì hỡi cô


Tôi đi bắt ốc mò cua


Móc mò gãy cả lưng chưa thấy nàng


Em về chết chú kiến càng


Động tĩnh kiếm vội vàng đi mất rồi


Để bà mãi mãi son môi


Để ông mãi ống bình vôi củ hành


Nếu trong sử thi thần thoại Mùa xuân của Olympia của nhà thơ Thụy Sĩ Carl Spitteler (Nobel văn học 1919) trong khi miêu tả sự tranh giành của các thần trên núi Olympia trong thần thoại ngôi vua của chư thần, xen vào chuyện tình yêu giữa nữ thần Rừng Carledusa và người phàm Miras với tình cảm cháy bỏng như của con người hiện đại, thì trong Hỡi cô cắt cỏ, Đỗ Nam Cao cũng miêu tả chuyện tình yêu của công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử:


Thời thôi về bãi Tự Nhiên


Để em tắm để thánh hiền lòi ra


Con vua cũng thể đàn bà


Dẫu chàng đánh dặm vưỡng là đàn ông


Ôi Tiên Dung hỡi Tiên Dung


Giọt phù sa mẹ sông Hồng đẻ đau


Đất trời đã gả trầu cau


Thiếp chàng duyên nợ từ đâu hỡi thần


Hoa thơm ong chích bướm vần


Phải duyên đôi lứa còn ngần ngại sao


Sông dài bãi rộng trời cao


Màn em đã mắc em vào động tiên


Cực xinh cái núm đồng tiền


Hỡi cô cắt cỏ chiếc liềm của ai


Cười lên trăng đã hoa nhài


Yếm em nõn thế lược cài vào đâu…


Hội xuân trống động mái đình


Chân du đã nhún đã tình lả lơi


Vút lên chóng cả mặt trời


Cho bay đi hết chuyện đời đảo điên


Bay đi cái túi không tiền


Vuông khăn dải yếm cũng liền bay đi


Chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung ca ngợi tình yêu không phân biệt giai cấp là một chuyện tình đặc sắc hiếm có của Việt Nam và cả thế giới. Câu Để em tắm để thánh hiền lòi ra, phê phán sắc bén thói trọng giàu khinh nghèo và quan niệm tình yêu môn đăng hộ đối của một xã hội phong kiến, sự phê phán ở đây còn được thể hiện qua từ ngữ, khiến người ta liên tưởng đến những câu thơ Hồ Xuân Hương: Thuyền từ cũng muốn sang Tây Trúc, Trái gió cho nên phải lộn lèo, Hay Đầu sư há phải gì bà cốt, Lá ngọ con ong bé cái lầm; chuỗi chữ như Để em tắm để thánh hiền lòi ra, cũng thâm như vậy. Câu Hội xuân trống động mái đình, Chân du đã nhún đã tình lả lơi, khiến người ta liên tưởng đến câu thơ trong Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện: Mà nay bóng cả cành dài, đã sương đã khói đã vài năm nay. Người ta thường nói: Đu khiến người ta nhìn thấy chóng mặt, đằng này Đỗ Nam Cao viết: Vút lên chóng cả mặt trời, thì đã nâng hình tượng từ cái tầm vi mô đến tầm vĩ mô mang cảm thức vũ trụ, phù hợp với tầm hùng vĩ của sử thi thần thoại.


Trong đời thường, Đỗ Nam Cao cũng có cách sử dụng từ đắc địa như thế. Như trong bài Điệu lý:


Bắt đầu là có chuyện nói thầm


Mắt em nhìn rất lý


Ôi cái giàn hoa mưa rét lâm tâm


Cái mùi rơm ngun ngút lửa thâu đêm


 


Tình yêu bắt đầu là như thế


Em với anh đã có gì đâu


Thế mà ngày ngày rất mau


Thế mà đêm đêm rất lâu


 


Thế mà người người bỗng khác


Ai ai dáng cũng ưa nhìn


Trên đời bao nhiêu điệu lý


Mắt em bắt hết ý tình


 


Lý gì thì em thích nhất


Hay là cái lý chi chi


Yêu nhau mà chưa dám ngỏ


Thế thì về với anh đi


Chữ trong Điệu đồng âm với chữ trong lẽ, cho nên nói Mắt em nhìn rất lý, có thể hiểu là lẳng người đang hát điệu , cũng có thể là nhìn rất có lý. Lý có nhiều điệu: Lý cây bông, lý cây chanh, lý con cua… Đỗ Nam Cao viết Lý gì thì em thích nhất, Hay là cái lý chi chi, Chi chi lại ngụ ý cái chuyện khó nói trong tình yêu. Tác giả kết: Yêu nhau mà chưa dám ngỏ, Thế thì về với anh đi, đó chưa hẳn đã là cái Lý đương nhiên nhưng nghe rất lý… thú!


Chế Lan Viên có câu thơ: Tuổi năm mươi tình yêu như lửa đỏ. Nhưng bên ngoài trong vẫn trắng như không. Đỗ Nam Cao lại thể hiện tình yêu đó một cách kín đáo mà tinh tế: Tình yêu bắt đầu là như thế, Em với anh đã có gì đâu, Thế mà ngày ngày rất mau, Thế là đêm đêm rất lâu, Thế mà người người bỗng khác, Ai ai dáng cũng ưa nhìn… Câu thơ đã diễn tả được tâm lý của người đang yêu khiến người ta nhớ đến câu thơ trong Truyện Kiều: Sầu đông càng lắc càng đầy, Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.


Tấm lòng của Đỗ Nam Cao như Cái mùi ngun ngút lửa thâu đêm, chỉ cần ngọn gió của tình cảm là cháy bùng lên thành ngọn lửa. Như anh đã tự bạch trong bài Thơ tôi: Mượt mà mướt mà cỏ ấu, Đắng cay giấu dưới tầng sâu, Bùn nâu đội đầu mầm thóc, Thơ tôi phát khóc, Mỗi khi chực cười, Thơ tôi lộn đầu xuống đất, Giơ chân lên đỡ sao trời… Thơ tôi đã từng hứng khởi, đã từng hát khúc hùng ca, Tôi bay lướt đỉnh hào khí, Trường Sơn ngút ngàn phù sa…


Là một chiến sĩ tình nguyện vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu ngay giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, vẫn tin vào sự thành thật của mình đối với Tổ quốc và Nhân dân, Đỗ Nam Cao không ngần ngại nói về những hy sinh gian khổ, đau thương mất mát. Sau chiến tranh, trở lại quê nhà anh nhìn thấy:


Quê hương ôi rơm với rạ


Mẹ cha vách bùn cột tre


 


Thưa con vâng đã về nhà


Nhà vẫn nhà nghèo cuối xóm


Đình chùa chợ quán vắng teo


Ao làng tim tím hoa bèo


 


Khăn nheo vú mẹ úp mặt


Vẹt mòn guốc võng ngang nhà


Nhạt mọt vì kèo rỉ rả


Sáo diều thả rừng trâu già


 


Trai làng già mau trước tuổi


Gái làng đành gái già thôi


Ông cụ ngủ với ông cụ


Bà cụ ru rú cù nhau


 


Làng ngủ bờ tre kẽo kẹt


Nhằm trăng gà khuya gáy vang


 


Giật thót người nghe tiếng sấm


Mùa đông mái rạ mủn rồi


 


Mủn rồi những lời sáo rỗng


Chớp lòe sấm của cha ông


Mủn rồi thẩn thơ vớ vẩn


Tinh tình tinh tính nhịp vần


Thơ tôi đòn hai đầu nhọn


Vừa gánh gồng vừa xuyên đâm…


Qua bài Nhà thơ của một màu, kính tặng nhà thơ Hữu Loan, Đỗ Nam Cao đã nói lên tính chất quyết liệt của thơ mình: Người giữ lửa/ Mùi rơm ngun ngún cháy/ Có một chiều mưa nào chạnh thấy/ Móng cụt cũng bảy màu/ Đi tận cũng màu ấy.


Trong bài Thế là vắng, tưởng nhớ Trần Vũ Mai, Đỗ Nam Cao viết: Thế là nắng/ Một người/ Thế là hên/ Sẽ thoát/ Những nhỉ nhằng yêu ghét/ Sẽ thoát nhỉ nhằng yêu ghét được chăng?


Thơ Đỗ Nam Cao là chất dính, nối kết những yêu ghét của đời anh. Thu/ Chín chuối trứng cút/ Cởi áo chấm cốm dính/ Cốm dính tôi/ Dính/ Ô lá sen xòe trên tay người/ Cốm non dẻo ơi díu dan hết rồi/ Mà sao không kêu lên một lời (“Dính” trong tập thơ “Dính” (NXB Hội Nhà Văn, 2000).


Tôi nghĩ thơ anh giống như chất nhựa cây mít dùng để dính những con chuồn chuồn ngô tin rằng tôi không phải là con chuồn chuồn cuối cùng dính vào thơ nhiều chất dính của anh.


HA.


 


NỖI BUỒN ĐÃ CHÁY                                                  


Phan Trung Hoài


Tôi nhận được tin nhà thơ Đỗ Nam Cao mất đột ngột vào ngày 8/11/2011 đúng vào khi tôi đang chuẩn bị vào làm việc trong Trại tạm giam Thanh Xuân (T.16) Hà Nội với một khách hàng. Cái chết của một cựu chiến binh ở Ban Văn nghệ Trung ương cục miền Nam, không chỉ là mất mát của gia đình và bạn bè thân thiết thương quý ông, mà còn để lại trong tôi một món nợ tinh thần khi quyển Bút ký luật sư (tập 2) có phần quan trọng viết về ông và gia đình, vẫn ngổn ngang chưa hoàn tất…


Vụ án hình sự xảy ra tại Công ty Lương thực thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến trách nhiệm của bà Trần Thu Hồng, vợ ông, với bao dư vị cay đắng mà người chồng, những đứa con trong gia đình phải gánh chịu. Kể từ ngày 23/11/1991 bà Trần Thu Hồng bị bắt tạm giam, tôi thật sự bất ngờ khi được tiếp xúc với ông, bởi tôi không hình dung được một người vốn dĩ vẩn vơ với thơ thẩn lại có một ý chí, sức mạnh khủng khiếp đến thế ! Trong thời gian bà Hồng bị bắt buộc điều trị một thứ bệnh trong tâm tưởng, để một bên những day dứt và điều tiếng thị phi xung quanh vụ án, ông kiên trì “chữa bệnh” cho vợ bằng tình yêu thương không bến không bờ. Cứ mỗi buổi chiều về, ông xin được đưa bà Hồng đi bộ trong khuôn viên Trung tâm, dìu bà đi cả những khi cơ thể có biểu hiện “ngấm thuốc” như run tay chân, cứng người… Là một luật sư bào chữa cho bà Hồng tham gia trong giai đoạn cực kỳ khó khăn, trong khi tình trạng bệnh tật của bà Hồng chưa được kết luận rõ ràng, phác đồ điều trị chưa có những tiến triển theo hướng tích cực, tôi cảm nhận nỗi thống khổ của ông kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Nhìn dáng ông khắc khổ mỗi lần đến Văn phòng, tôi không khỏi chạnh lòng, tự ý thức phải làm một điều gì đó. Các kiến nghị mạnh mẽ về tội danh và xem xét lại việc điều trị bắt buộc đã được tôi liên tiếp gửi đi đến các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan giám định pháp y tâm thần Trung ương…


 


Cứ mỗi lần gặp nhau, tôi và ông Đỗ Nam Cao có những lúc cũng như muốn “hét” lên, vì có ở trong hoàn cảnh này, mới thấu hiểu được những thiếu thốn về vật chất, miếng cơm, manh áo không thể sánh được với những áp lực về tinh thần, những nỗi đau nhân tính. Tôi cũng chỉ là một con người bình thường, với những tâm trạng yêu, ghét, có thể đúng, sai, nhưng nỗi đau chắc không thể khác biệt. Đôi khi, nhìn dòng thời gian tố tụng trôi đi rất chậm, tôi mời ông về nhà, lắng nghe ông đọc thơ. Có nhiều đêm, nâng ly rượu trên tay, giọng ông bất chợt cất lên… Hà Nội chiều nay lòng nhao nhác nhớ/ Đường sấu mùa thu xanh tận cuối trời/ Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc/ Đẹp ướt mi ai hè phố mùa thu/ Nâng chén men say nhẹ mảnh lá chiều/ Gió bỗng phiêu diêu kìa ai đứng lại/ Một cô áo vàng trong cõi thu riêng…


Có chút rượu vào, giọng đọc thơ ông lúc nghe như tự cõi xa xăm nào, khi cuồn cuộn như lửa cháy: Những ý nghĩ đi chầm chậm trên mặt bàn/ Nhịp tim theo cùng chậm/ Một nỗi buồn trĩu nặng/ Đọng trong đáy ly vừa cạn/ Chuyện tình qua/ Thấm thía/ Anh bóp nát chiếc ly vụn rơi từng mảnh vỡ/ Rượu dốc thẳng từ chai vào cổ…/ Em đã mất ai nhặt gom mảnh vụn/ Chiếc ly/ Ai hốt lên rượu nỗi buồn đã cháy/ Đã trộn lẫn thủy tinh cùng rượu ấy… Nhìn ông đặt chiếc ly rượu thủy tinh trên bàn nghiêng nghiêng, tôi cảm tưởng như chiếc ly sắp vỡ, như có sự tan vỡ niềm tin từ bên trong. Trời khi ấy bỗng chuyển mưa giữa đêm mùa hạ, gió thốc giật xoáy trên những mái nhà, trước khi sấm sét nổi lên ầm ầm. Những hạt mưa bắt chéo không gian, ào ào, mãnh liệt. Bụi mưa che mờ ánh đèn heo hắt, khuôn mặt ông trông mờ ảo, như lên đồng. Ông ví thơ mình như “khổ qua mướp đắng”, xù xì gai góc sầu riêng, như mái tóc rậm bết lại như chưa từng một lần được tắm gội. Trong ánh chớp của cơn mưa đêm, tôi cảm thấy gai ốc nổi khắp người, hình dung những bước chân chầm chậm của bà Hồng đi bên cạnh ông trong khu vườn mỗi đêm ở Trung tâm điều trị, những bước chân như ý nghĩ trôi đi chầm chậm…


Sau khi song hành cùng vợ chồng ông  cho đến khi kết thúc vụ án vào năm 2003, gia đình ông được đoàn tụ, xum họp, tôi được diện kiến nhiều lần với ông trong một khu vườn hình thang được bài trí như miệt vườn Nam Bộ men theo bờ sông cạnh chân cầu Thạnh Lộc. Ông chính là một trong những người đọc và góp ý cho tôi về bản thảo “Bút ký luật sư” (tập I), cung cấp tư liệu, hình ảnh cho câu chuyện tiếp theo tôi đang viết về vụ án của bà Trần Thu Hồng. Ông lục tìm trong giá sách lấy ra tập thơ “Dính” do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2000, và ký tặng tôi một tập trường ca mới còn ở dạng bản thảo. Trông ông khi đó thanh thản lạ lùng, dường như không có điều gì trong cuộc đời có thể làm ông đau khổ hơn được nữa. Được nói chuyện với ông, tôi cảm nhận thơ văn là một điều gì đó thật đặc biệt, khi tưởng chừng ta chạm vào được “mạch” kết nối giữa tâm hồn đồng điệu với thiên nhiên, con người, thì cũng chính là khi nó có thể vuột mất. Có những lúc, cảm xúc chợt bùng cháy dữ dội, đến mức những dòng chảy của ngôn từ ào ạt tuôn ra, nhưng thật khó nắm giữ chúng. Sự tích tụ những cảm xúc như vậy đôi khi làm cho nhà thơ đau đớn, vật vã.


Ở nơi xa không kịp về viếng hương hồn ông, tôi bất chợt nhớ lại lời ông nói với tôi đã hơn mười lăm năm trước, hình dung về cái chết không ai cưỡng lại được: “Có những lúc tôi muốn một lần đập vỡ, và một lần thử chết, để xem ai sẽ khóc thương mình…”. Đỗ Nam Cao ơi, xin một lần khóc ông, như để khóc thương cho một con người lặng thầm cày bừa trên cánh đồng chữ nghĩa gieo mầm văn chương làm thành những bản trường ca ẩn mình trong những câu đồng dao tuổi ấu thơ ngân nga ngoài cánh đồng. Và nỗi buồn này đã cháy đến hư không…


 


 


 


 


 


 


KHÚC REQUIEM CHO ĐỖ NAM CAO


Trần Nghi Hoàng


 


1


Có những ngưởi, thơ viết không nhiều, nhưng nhất định là thi sĩ chân chính. Đỗ Nam Cao là một trong những người ấy. Anh còn là thi sĩ cực kỳ lãng mạn sót lại giữa chúng ta. Hay bởi vì anh sống đã rất “thơ” nên không cần phải viết nhiều thơ? Kết bạn cùng nhau gần bốn năm, qua Nguyễn Thụy Kha. Nhưng chỉ nửa năm gần đây trước ngày anh mất (Đỗ Nam Cao mất lúc 10 giờ 45 ngày 8 tháng 11 năm 2011), tôi và anh mới thực sự gần gũi thân thiết nhau.


Đó là những ngày tháng Đỗ Nam Cao rời Sàigòn ra Đà Nẵng rồi vào Hội An lang thang làng tre xóm trúc cùng tôi. Anh muốn tìm mua một vạt đất nhỏ ven sông, để cất một căn nhà sàn nằm làm thơ. Đỗ Nam Cao còn hứa cho tôi một căn phòng nhỏ trong căn nhà đó.


 


2


Đó là những sáng đèo nhau từ chợ Tân An qua khắp cùng các nẻo phố đến chợ Hội An chỉ để tìm mấy đẵn khoai mì củ nhỏ bằng ngón tay cái… những chiều Rừng Tre Bờ Kè hai thằng ngồi lặng, nhìn mải miết ngọn ráng cuối ngày chiếu rực An Hội mây trũng lưới trời sóng sánh nghiêng ly, cười ha hả miệng… Con cá 18 kg vừa bắt được từ dưới sông Thu Bồn vỡ òa niềm vui của cặp vợ chồng người dân chài và trong anh và trong tôi. Đó là những tối từ Trần Bình Trọng Đà Nẵng nhà anh hai thằng rủ nhau tản bộ ra bờ sông Hàn phanh ngực đón gió rồi về mở chai rượu thuốc đối ẩm thâu đêm. Hay trong căn nhà nhỏ tôi thuê ở Hôi An giữa tù mù mưa khuya tôi hỏi giờ mình uống chai nào Tây hay Ta anh cười lớn “Biết chết liền”… Tôi khui chai Dewar’s 12 Đà Linh tặng từ năm trước rồi ôm trái xòai tượng KP mua để lại, rồi hai thằng kéo nhau ra quán Trạng Nguyên…


Những cuộc rượu chân Nam đá chân Bắc tôi và Đỗ Nam Cao đã uống từ hàng quán sang trọng ra tới hè phố Sàigòn cùng Nguyễn Thụy Kha… nửa khuya về sáng ba thằng ôm vai nhau vửa đi vừa nói những chuyện trên trời dưới đất mà cực vui… Cuộc sống và nỗi buồn như một thứ âm hồn bất tán… Chỉ còn những cuộc vui cùng bằng hữu và rượu… Đỗ Nam Cao có lần viết:


Em đẹp và điếu xì gà


Chiều mưa ngà ngà trên đường Trương Định


Rượu ngon và bạn bè ngon


Cùng một ly uống xoay tròn


 


Tôi ngồi và tôi ngẫm ngợi


Chuyện người vời vợi lẫn với chuyện ma


Rượu ngon và điếu xì gà


Em đẹp và mưa bay qua


 


Tôi ngồi và tôi buồn bã


Mặt đường lã chã mặt bàn lai rai


Bạn tôi và tiếng thở dài


Rượu vừa uống hết nửa chai


 


Một chai rồi chai chai nữa


Chuyện đời như lửa chuyện mình như sương


Ngực nặng và bàn tay run


Lạnh và mưa cũng mau hơn


(Đỗ Nam Cao -Mưa Rơi)


Phải rồi! Chỉ còn rượu ngon và bạn bè ngon. Cho dù ngực nặng và bàn tay run. Lạnh và mưa cũng mau hơn.


 


3


Cả đời Đỗ Nam Cao bị ám ảnh bởi cô cắt cỏ trong truyền thuyết huyền thoại về cuộc gặp gỡ kỳ lạ với Thánh Tản Viên. Ám ảnh đó mang anh đi càng lúc cáng xa như một ảo vọng… liên quan tới cỏ. Đỗ Nam Cao đọc tôi nghe giữa hai ly rượu:


Đêm thủ thỉ thầm thì nói chuyện cùng tôi


Bằng giọng gió và mầu đêm đậm đặc


Nào thấy gì đâu chỉ nghe tim đập


Đêm Trảng Cỏ phập phồng, xa xôi…


(Đêm Trảng Cỏ)


Đỗ Nam Cao nằm giữa Trảng Cỏ nghe đêm thì thầm hay anh đang nghe “Cô Cắt Cỏ” về  quanh quất đâu đó nói chuyện cùng anh…. Vốn rất hiếm khi làm thơ lục bát, Đỗ Nam Cao lai viết trường ca “Cô Cắt Cỏ” bằng thơ lục bát.


Thôi thì về bãi Tự Nhiên


Cho em tắm để thánh hiên lòi ra


Con vua cũng thể đàn bà


Dẫu chàng đánh dậm vưỡn là đàn ông


………..


(Đỗ Nam Cao – Hỡi Cô Cắt Cỏ)


Và:


Thảo thong thả cỏ


Sương nhỏ giọt đê


No nê diều gió


Kìa con nghé ngọ


Ngó ngó nghiêng nghiêng


Ngọn khói láng giềng


Leo theo giàn mướp


Sang nhà hàng xóm


Thơm mùi cá kho


………….


(Đỗ Nam Cao – Thảo)


Thảo thong thả cò… chưa thấy ai nâng niu “cỏ” như Đỗ Nam Cao! Với anh, cò có hồn và đã lắm phen chuyện trò tâm đắc cùng anh.


 


4


Rồi Lê Quân từ Sàigòn bay ra Đà Nẵng để cùng nhau quay phim tài liệu như đã hẹn. Thì ra Đỗ Nam Cao đã đi tiền đạo để lấy địa hình. Thế là ùa nhau lên xe. Mỹ Sơn nắng lóa trập trùng tôi đã đi mấy lần nên ngại ngần ngồi lại cái băng gỗ đầu ngõ vào Thánh Địa cùng anh Vũ Ngọc Quang và Đỗ Nam Cao. Lê Quân một mình vác 61 kg dụng cụ quay phim phom phom phóng vào khu tháp cổ. Ngồi một lúc, Đỗ Nam Cao như chạnh lòng vì thấy Lê Quân một mình xoay sở, anh đứng lên nói:


“Đễ tôi vào xem không chừng thằng Quân nắng quá nó bị xỉu bất tử cũng nên”.


Sau Mỹ Sơn là Trà Kiệu kinh đô cũ của Champa… rồi về Hội An lấy cảnh phố cổ…


Tôi kéo mọi người ra Bờ Kè Rừng Tre… Đặt mua một con gà mái tơ đang cục tác, nhờ anh Tấn chủ quán cà phê làm thịi nấu cháo và trộn gỏi để nhậu… Lê Quân mải miết với con sông Thu Bồn và rừng tre… sóng nhấp nhô, tiếng ghe máy xập xình… Tôi nói:


“Ngồi đây buổi chiều tối, nghe tiếng một con ghe máy xình xịch thật là buồn…”


Lúc Lê Quân quay chùa Cầu… tôi và Đỗ Nam Cao có nhiệm vụ đốt nến chỗ hai vị thần khỉ… cho có chút ánh sáng để lên phim… Khi ra bờ song Hòai, Lê Quân lấy được cảnh Đỗ Nam Cao và tôi ngồi uống bia trong ánh sáng ngọn đèn dầu tù mù của đêm rằm Hội An tắt điện. Đêm đó về Đà Nẵng, trong phòng một khách sạn, xem lại những thước phim quay trong ngày, tới cảnh này, một cảnh như của cõi âm chập chờn ảo mộng, Lê Quân kêu lên:


“Đèn không hắt bóng! Đây là cảnh để đời. Hai thi sĩ già uống ruợu bên bờ sông khuya…”.


 


5


Cuối tháng 5 tôi bị tai biến vào nằm bệnh viện Thái Bình Dương. Đỗ Nam Cao từ Đà Nẵng vô Hội An thăm. Anh về lại Đà Nẵng nhưng ngày nào cũng điện thọai hỏi sức khỏe và diễn tiến bệnh trạng tôi cho tới khi tôi xuất viện về nhà điều trị vẫn thế. Bẵng đi ba ngày không thấy anh gọi. Tôi bỗng nghe lo lắng trong lòng. KP cô bạn nói anh thử gọi anh Cao xem sao. Tôi gọi. Anh nói mấy hôm nay anh cũng vô bệnh viện C Đà Nẵng vì bị viêm dây thần kinh mắt…. Sau đó, anh lại vào Hội An chơi với tôi. Anh than dạo này anh cũng cảm thấy mệt mỏi. Tôi thì bác sĩ đã cấm rượu, chỉ còn được uống tí vang và bia lai rai… Anh đèo tôi ra bờ Bờ Kè Rừng Tre… Hai thằng kêu hai chai bia, ngồi hơn ba tiếng đồng hồ uống vẫn không hết…. Anh cười:


“Mẹ! Vậy là tàn đời hai bạo chúa rồi! Uống hơn ba tiếng đồng hồ, mỗi thằng không cân nỗi một chai bia…”


Anh nói có mang theo cuống Thiền Uyển Tập Anh tặng tôi nhưng còn cần dùng mấy hôm rồi sẽ mang vào… Nhưng anh không bao giờ vào Hội An với tôi nữa…. Mấy hôm sau anh điện thọai nói có việc gấp phải về Sàigòn, giải quyết xong sẽ ra lại… Cuốn Thiền Uyển Tập Anh và tập thơ Dính của anh đã đưa cho cháu Phương, con gái anh đang ở Đà Nẵng. Tôi có ra Đà Nẵng thì cháu đưa cho… Hay nếu cháu có dịp vào Hội An sẽ mang cho tôi….


 


6


Đỗ Nam Cao sẽ không ra Đà Nẵng, sẽ không vô Hội An lang thang Bờ Kè Xóm Trúc hay Mỹ Sơn Trà Kiệu với tôi nữa…. mấy ngày sau tôi gọi vô hỏi thăm thì anh đã vào nằm bệnh viện…. Bao nhiêu dự tính cùng nhau chưa thực hiện! Anh hứa sẽ đưa tôi đi tới những vùng quê có những miếu đền lịch sử ngòai Bắc… Anh nói:


“Thằng Kha nó bận lắm, chả đưa ông đi được đâu… Gặp nó chỉ có ngồi uống rượu. Tôi sẽ đưa ông đi….”


Anh đã từng lo tôi sẽ bỏ đi trước anh lần tôi bị tai biến… Nhưng anh đã chen ngang dành đi trước tôi, anh nói vì anh lớn tuổi hơn tôi. Bác sĩ cấm kệ bác sĩ, tôi rót hai ly này mình cạn cùng nhau…. Hê hê thương mến lắm khổ lắm Đỗ Nam Cao nhé…


Hội An 15 tháng 11 – 2011


 


ĐỖ NAM CAO - NGƯỜI THƠ NHÂN HẬU


Nguyễn Thông


Đúng phiên làm việc đêm, bất chợt đọc bài của nhà thơ Thanh Thảo trên trang văn nghệ báo Thanh Niên, tôi mới biết anh Đỗ Nam Cao đã ra đi. Anh mất lúc hơn 10 giờ rưỡi sáng 8.11 sau mấy tháng trị bệnh gan.


Với anh Cao, tôi có một vài kỷ niệm khó quên.


Khi anh Cao tốt nghiệp năm 1970 thì tôi vẫn chưa vào trường (mãi năm 72 mới nhập học), tuy nhiên vẫn được anh coi là bạn đồng môn Ngữ văn- Tổng hợp. Anh vào Nam năm 71, sau giải phóng ở lại Sài Gòn công tác luôn chứ không chuyển về Bắc như nhiều bạn bè khác. Có ai đó bảo vì thế mà một người vào sinh ra tử như anh, bao năm lăn lóc trong rừng dưới đạn bom, từ R ra nhưng vẫn không thành ông nọ bà kia, quan này chức nọ. Riêng tôi thì nghĩ anh vốn chả ham chức tước, quan quyền bởi bản chất anh là con người văn nghệ. Trước sau bao năm, thỉnh thoảng gặp anh, thấy anh vẫn thế.


Năm 1977 tôi cầm tờ quyết định vào miền Nam nhận việc. Gần như cùng vào một ngày với tôi là bạn Lưu Văn Trường tốt nghiệp khoa Sử, Tổng hợp, hai thằng giờ về cùng một trường, Dự bị ĐH TP.HCM. Một bậc đàn anh vốn dân Tổng hợp trải qua đời lính, anh Nguyễn Cao Cấp đang dạy ở đây. Anh Cấp học cùng anh Cao vì thế tụi tôi được làm quen luôn với bậc trưởng thượng Đỗ Nam Cao. Anh Cao thương tụi tôi thầy giáo mà sống khổ sở, nhai toàn bo bo, đôi khi kêu anh Cấp và hai đứa về nhà, căn nhà nhỏ của vợ chồng anh lúc ấy trên đường Lê Thánh Tôn, gần sau chợ Bến Thành, để cải thiện, ăn tươi cho đỡ thèm.


Bà xã anh Cao là chị Trần Thu Hồng. Chị tham gia phong trào sinh viên-học sinh Đà Nẵng, bị bắt đày ra Côn Đảo, án tù rất nặng, giải phóng 75 mới được thả. Chị Hồng đẹp lắm, tù tội thế mà vẫn cứ đẹp, anh mê là phải. Chị có người em gái đẹp chẳng kém tên Tuyết, cực xinh, anh Cao định làm mối cho thầy Trường, anh Trường nhà mình cũng thích, chả hiểu sao không thành. Có lẽ lúc ấy mấy đứa giáo nghèo tụi tôi trông hốc hác hom hem quá, như ma đói, dễ gì lọt mắt cô Tuyết.


Những năm 80, chị Hồng nổi tiếng là người kinh doanh năng động, một trưởng phòng, rồi giám đốc đơn vị hàng đầu của Công ty lương thực TP.HCM do bà Ba Thi quản lý. Rồi giữa cái thời buổi hỗn quân hỗn quan, giá trị mù mờ, đúng sai lộn xộn, bà Ba Thi bị mất chức, chị Hồng vướng vào vụ án kinh tế, vô phúc đáo tụng đình, chịu lao lý. Nhà cửa bị niêm phong. Hồi đó tôi đã xin nghỉ dạy, làm thuê cho một công ty Hồng Kông liên doanh với X.28 quân đội, hằng ngày ra ăn cơm bụi ngay trước cửa căn nhà 3 tầng khóa im ỉm dán giấy niêm phong của vợ chồng anh trước cổng X.28 trên đường Nguyễn Oanh, Gò Vấp. Có lúc gặp anh đứng thẫn thờ trước cửa, về sau cũng không hỏi anh có đòi lại được căn nhà đó hay chưa.


Những năm 77-78 đói dài đói rạc, anh Nguyễn Cao Cấp bày cách kiếm tiền lương thiện. Nhà anh Cấp lúc bấy giờ chuyển từ KTX trường về khu tập thể sát chợ Phạm Thế Hiển, Q.8, vốn là khu gia binh quân đội Sài Gòn. Anh tìm nhận ở đâu chả biết, lôi về các băng vải hoặc tấm tôn, mua sơn, cọ, rồi kéo tôi, thầy Trường, cả anh Lê Xuân Đố bên đài phát thanh nữa, về làm. Mấy anh em bò lê bò toài kẻ kẻ vẽ vẽ, chổng mông chổng tĩ lên, mỗi cái khẩu hiệu được mấy đồng bạc. Anh Đố vừa quẹt sơn vừa đọc thơ nghe cảm khái lắm. Vậy mà cũng chả được bao lâu, hết việc lại đói triền miên. Có hôm anh Cao đến chơi, nhìn mấy anh em cởi trần, gầy gò giơ xương làm toát mồ hôi, anh lắc đầu ái ngại, thì thầm gì đó với anh Cấp anh Đố. Sau trả tiền công cho hai đứa tôi, anh Cấp đưa nhiều hơn hẳn phần của các anh.


Anh Đỗ Nam Cao dáng nghệ sĩ lắm, ăn mặc bụi bụi, thường áo jeans hoặc bỏ áo ngoài quần, dường như không thích gò bó se sua. Đôi mắt có đuôi, lúc nào cũng như cười, nói thì thật nhỏ nhẹ, chả giận ai bao giờ. Từ hồi tôi về báo Thanh Niên càng thường được gặp anh bởi anh chơi với các sếp nhà mình. Suốt bao năm, số báo tết âm lịch nào (báo xuân) cũng có thơ anh. Anh em gặp nhau chốc nhát nhưng anh tỉ mẩn hỏi thăm chuyện nhà chuyện cửa, chuyện gia đình vợ con thật tình cảm. Có một dạo vợ chồng anh mở cái nhà hàng ăn uống, anh đưa địa chỉ bảo em thỉnh thoảng rủ bạn bè đến đó ăn cho vui. Tôi chưa kịp thực hiện được điều này bởi tiền nong thật ra không dư dả gì, cứ lần lữa kéo dài thì thời gian sau anh báo tin đã đóng cửa vì làm ăn khó quá. Cứ nghĩ, một người văn nghệ như anh thì làm sao kinh doanh nhà hàng ăn uống xô bồ được. Cũng như anh Nguyễn Duy ấy, một thời cháo vịt ngon nổi tiếng (bởi anh Duy là tay đầu bếp có hạng, nhất là đánh tiết canh vịt, gỏi vịt) nhưng chủ yếu anh em văn nghệ đến ăn cho vui, lấy chỗ tụ bạ bàn chuyện văn chương chứ mấy ai khách ngoài, dẹp tiệm khó tránh khỏi.


Nhớ đến anh Cao, trong trí nhớ, tâm thức tôi luôn hiện lên một con người - nhà thơ nhân hậu, nghĩa tình. Thương anh biết mấy.


9.11.2011


 


Đ Ã “Đ Ỏ NẤC LÊN”R ỒI, ƠI ĐỖ NAM CAO


    Đỗ Quang Hạnh


1.


Tôi được gặp Đỗ Nam Cao hơi muộn. Và cũng ít có dịp gặp nhau. Nhưng mới gặp đã thành thân quý. Đỗ Nam Cao có duyên lạ lung. Có những người vẻ như dễ gần, nhưng tẻ nhạt. Có người ai cũng thích, cuộc rượu nào cũng muốn có mặt, như một món mồi quen miệng, người bạn ấy nói khéo như chân tình, biết mọi cung bậc làm hài lòng tất cả. Có những người văn chương cũng hay, tài năng nghệ thuật rất khá, lúc nào cũng như một thứ “vedette”, khi thì cao đạo, khi ban phát, ỡm ờ… Có kẻ cứ túm tóc nhấc mình lên, tự giễu nhại cái chất quê mùa của mình rất cố ý, như con nhím khi nào cũng xù lông, để tỏ ra mình là thứ người – nhà quê – đương đại uyên bác. Chơi với nhà thơ cũng rất mệt, nhiều nhà thơ ồn ào, lắm lời quá.


    Đỗ Nam Cao hoàn toàn khác. Anh cứ hồn nhiên “Cho chân vào cái cối đời”, mặc “Mùa đến rồi mùa đi/Thì có gì là lạ”… Ít nhất bề ngoài của anh là như thế.


 


2.


Phải thừa nhận Nguyễn Thụy Kha chơi nhiều, giao du rộng. Tôi hay nói đùa anh như loài cá mè ăn tạp, nhưng tôi biết ơn anh vì qua anh, tôi được gặp nhiều bè bạn đáng yêu, đáng quý. Đỗ Nam Cao là một trong những người như thế. Tôi gặp Đỗ Nam Cao lần đầu tiên có lẽ là vào năm 1997 ở Sài Gòn. Khi ấy, tôi vào cả tháng, nằm ở Văn phòng Thường trú báo Lao Động ở 120 Nam Kỳ Khởi Nghĩa để làm chương trình ca nhạc “Một thập kỷ tình khúc”. Nguyễn Thụy Kha cũng vào với tư cách cố vấn cho chương trình. Gần như suốt ngày đêm trong căn phòng khách nhỏ của tôi đầy bạn bè, rượu chè, đàn hát. Nguyễn Thụy Kha đưa Đỗ Nam Cao đến chơi vài lần.  Sau này mỗi khi ra Hà Nội, anh đến cái phòng Nguyễn Thụy Kha thuê làm văn phòng ở 59 Tràng Thi thì tôi lại có mặt, không kể những lần gặp nhau ở chỗ Tạp chí “Văn hiến VN” của anh Nguyễn Thế Khoa thuê ở phố Chân Cầm.


    Tôi được uống rượu với Đỗ Nam Cao cũng không ít. Nhưng không nói chuyện thơ phú gì, chỉ nhớ Tết nào đó Nguyễn Thụy Kha chép thơ Đỗ Nam Cao gửi tôi để in báo xuân Lao Động. Thế nhưng sau này, anh luôn nhắc đến lần uống rượu cuối tháng 11 năm 2007 ở ngõ Cấm Chỉ, quán của cô bạn Mai Hoa. Gặp Nguyễn Thụy Kha ở Sài Gòn, anh cũng kể lại, đến nỗi lúc anh ở Đà Nẵng vài tháng trước khi về Sài Gòn rồi mất, gọi điện cho nhau, anh cười sảng khoái nói về bữa rượu ấy. Thì ra, trong hàng ngàn lần uống với bè bạn, Đỗ Nam Cao không hề quên hết, luôn cố tìm và lưu giữ một kỷ niệm nào đó, về ai đó… Tôi cũng không quên bữa rượu ấy. Đó là mốt sáng đã bắt đầu se se lạnh. Tôi vừa bay từ Caracas (Venezuela) qua ngả Paris về Hà Nội, có đem theo chai rượu rum ngon bậc nhất của Cuba mua ở La Habana, tha lôi qua mấy nước, mấy chặng bay. Vừa về sân bay, tôi đã gọi Nguyễn Thụy Kha. Anh reo lên: “Gặp luôn đi, 10 giờ sáng nhé, có Đỗ Nam Cao ra đấy…”. Chỉ thế thôi mà Đỗ Nam Cao luôn nhớ, nhắc mãi… Cứ nghĩ thế, là tôi lại nghẹn ngào thương nhớ anh.


 


3. Tôi chưa bao giờ hỏi anh, tại sao đang từ tên cha mẹ đặt là Đỗ Sơn Cao, anh lại đổi thành Đỗ Nam Cao cho nó khổ cả đời? Sau này qua bè bạn, tôi mới hiểu về cuộc đời anh hơn. Nghĩ cho cùng dù cái tên thế nào cũng không quan trọng bằng số phận: “Nghĩ cho cùng ta làm sao cưỡng được/Cả bầu trời dông gió đến ghê chưa/Em với anh sót còn tia nắng cuối/Sẽ tắt và biến mất trong mưa…”.


   Con người lúc nào cũng hay cười ngỡ như vô tư, vui vẻ ấy lại luôn tự như thầm để vượt lên, để sống: “Sẽ còn đau đớn nữa/Sẽ còn mất mát hơn…”.


    Dù bữa rượu rum Cuba Đỗ Nam Cao cùng chúng tôi uống vào cuối buổi sáng, đầu ban trưa cái ngày se lạnh ấy, làm chúng tôi thêm nhớ nhau; nhưng những câu thơ này khiến tôi còn nhớ hơn: “Chợt nắng/Nắng hoàng hôn/Chiếc lá bàng nhuốm lửa/Đỏ nấc lên…


    “Đỏ nấc lên”, câu thơ hay, nhưng buồn quá. Như cuộc đời Đỗ Nam Cao, luôn “nhuốm lửa”, và “Đỏ nấc lên”…


* Những câu thơ trích trong bài viết đều của nhà thơ Đỗ Nam Cao


  


THÌ TÌNH YÊU CHƯA THỂ ĐÃ YÊN NẰM


Nguyễn Thế Khoa


 


Rồi anh sẽ yên nằm dưới cỏ


Thì tình yêu chưa thể đã yên nằm


                                 Đô Nam Cao


 


1


Thế là tôi đã không thể làm kịp tập thơ của Đỗ Nam Cao để anh được đọc trước khi đi xa. Mọi việc diễn quá nhanh. Đầu tháng 9, được tin Cao lâm trọng bệnh phải vào điều trị ở bệnh viện Chợ Rẫy, từ Quảng Ngãi, nhà thơ Thanh Thảo đã điện hối thúc tôi cố gắng làm kịp tập thơ cho Cao, đừng để phải hối hận như trường hợp nhà thơ Chim Trăng, đến khi mất vẫn chưa thể nhìn thấy tập thơ mà bạn bè định làm cho ông. Ở Hà Nội, các nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Thị Hồng gặp tôi cũng nhắc phải gấp gấp lên. Nhà thơ Nguyễn Hoa, Trưởng ban hội viên Hội Nhà văn VN, nói Hội Nhà văn sẽ tài trợ ở mức cao nhất cho việc in tập thơ Đô Nam Cao. Bạn bè thân quen ai cũng biết Cao là một tài thơ độc đáo, thơ Cao rất nhiều, rất hay nhưng được công bố rất ít. Tuy vậy, tập hợp đầy đủ thơ Cao không dễ. Nhiều trường hợp, Cao ngẫu hứng, thơ chợt đến, anh chép tặng ngay bạn bè mà không hề lưu giữ bản thảo. Biết tôi đang làm tập thơ cho Cao, bạn bè đã gửi đến hơn 20 bài thơ như thế. Sau hơn 2 tháng, tập bản thảo “Đỗ Nam Cao – Thơ” vừa được tôi sơ bộ hoàn thành với non 150 bài thơ và trường ca “Hỡi cô cắt cỏ” thì từ TPHCM, Vũ Ân Thi điện ra báo tin: Đỗ Nam Cao đã vĩnh viễn ra đi vào 10h45 ngày 8/11/2011. Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Thị Hồng trích giới thiệu ngay tập bản thảo trên các trang mạng Hội Nhà văn VN, Lê Thiếu Nhơn và Trần Nhương. Còn tôi thì bay vào TPHCM đặt tập bản thảo in vi tính lên bàn thờ Cao ở 12B Nguyễn Thị Huỳnh, quỳ lạy bạn, mong bạn tha thứ cho sự chậm trễ bất khả khảng…


 


2


Cao và tôi cùng học khóa 12 khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng với Bế Kiến Quốc, Nguyễn Thị Kim Cúc, Vũ Ân Thi, Lê Quang Trang, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Hiếu, Vũ Dũng, Nguyễn Nguyên Bình, Trần Bảo Hưng, Nguyễn Hữu Hùng... Năm 1970, vừa tốt nghiệp chúng tôi cùng xung phong đi chiến trường và được đưa về khóa IV Trường Bồi dưỡng viết văn trẻ Hội Nhà văn VN, khóa đào tạo nhà văn nhà báo cho chiến trường miền Nam. Tháng 4/1971, chúng tôi chia tay nhau, Cao và Lê Quang Trang, Vũ Ân Thi, Trần Thị Thắng, Hà Phương, Phạm Quang Nghị, Phan Xuân Biên, Trần Đức Cường…đi chiến trường Nam Bộ còn tôi thì về Khu 5 với Nguyễn Trí Huân, Trần Vũ Mai, Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Đoàn Tử Diễn, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Đức Hạt... Năm 1975,  gặp nhau tại TPHCM sau ngày đại thắng, Cao đã có tập thơ “Những cánh cò lửa” (Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng), in chung với người bạn khóa IV Nguyễn Khắc Thuần. Đọc tập thơ, tôi biết trong 4 năm ở chiến trường Nam Bộ, Cao đã đến Đồng Tháp Mười, rồi về trụ bám khá lâu ở vùng chiến sự ác liệt nhất, vùng ven Sài Gòn với những địa danh nổi tiếng: Lộc Ninh, Bến Cát, Trảng Bàng, Củ Chi…Hơn 20 bài thơ của Cao trong tập như các ký sự thơ về những cảnh sắc, những con người, những khoảng khắc không thể nào quên mà anh đã gặp trong những năm tháng sống và chiến đấu ở đây: “Qua sông Sài Gòn”, “Đêm trảng cỏ”,  ‘Màu xanh vùng ven”, “Cô gái thợ cày, “Tiếng xay lúa trong đêm”, “Ớt Trảng Bàng”, “Gặp người bắn “cá rô” ở Củ Chi”, “Đêm đột ấp”, “Những chiếc lá và cái tổ chim”, “Trăng địa hình”, “Hương sầu riêng”, “Con sinh ở rừng”, “Những căn hầm bí mật”…Thơ Cao đã ghi lại được nhiều nét bình dị và kỳ vĩ của chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ và rực cháy ngọn lửa của lý tưởng cách mạng. “Những cánh cò lửa”, bài thơ hay nhất trong tập thơ, phần nào nói lên điều ấy: “Ô! Con cò, con cò bay/Con cò mà bỗng mê say lạ lùng/Xa trông như đốm lửa bùng/Cánh con cò cháy rực vùng trời cao…/Xuồng đi mây ửng ngọn sào/Tôi mang đôi cánh lửa vào tiền phương”.


Cùng với “Những cánh cò lửa”, Cao giới thiệu với tôi bạn gái của anh, Trần Thu Hồng. Gặp người con gái xứ Quảng tuổi 20 nhỏ nhắn, xinh đẹp và sắc sảo này, tôi không ngờ chị từng là biệt động thành Đà Nẵng, tù binh nhiều năm trời ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Cao gặp Hồng mùa xuân năm 1973 tại Lộc Ninh trong chuyến anh đi viết về những tù binh Côn Đảo vừa được trao trả tại đây. Hồng là nhân vật của Cao và một tình yêu đẹp đã nảy sinh giữa họ, một mối tình sẽ tạo nên hạnh phúc lớn cùng bất hạnh khủng khiếp trong cuộc đời Cao…


 


3


Mãi đến 25 năm sau “Những cánh cò lửa”, Đỗ Nam Cao mới cho in tập thơ riêng đầu tiên của mình, tập thơ “Dính” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2000). Một phần tư thế kỷ cho một tập thơ 48 bài. Quá ít. Nhưng lại…quá hay. “Dính” là cuộc trò chuyện của Đỗ Nam Cao với chính mình về “chuyện đời như lửa chuyện mình như sương”, về nỗi ân hận “Ta quên mình đã có một thời/Đã đốt hết một thời lên thành lửa/Trong xác lá phủ dầy ai biết nữa/Hương tro còn ngần ngận ở đâu đâu”, về một thời đây biến động, đảo lộn“Cái thời mình như xiếc leo dây/Thăng bằng là tột cùng bản lĩnh/Trọng tâm rơi di động khôn lường/Khôn hồn thì đừng rơi lộn xuống”, cái thời của những “Linh cảm không tốt lành/Mùa thu này khó nhận biết/Nắng gió khác đi/Các cô gái khác đi”, cái thời mà mỗi buổi sáng thức dậy đã nghe “Báo đây báo đây như hát/Những hung tin”“Chuyện người vời vợi lẫn với chuyện ma”. “Dính” trĩu nặng cô đơn, buồn đau, tan vỡ, tuyệt vọng nhưng cũng thăm thẳm tình yêu, hy vọng, là một chuỗi liên tục những “tắt ngấm”“bừng sáng”, tiếng thét và sự câm lặng “Bất chợt hét toáng lên/Bất chợt ngồi lẳng lặng/Cuộc cãi lộn với chính mình dai dẳng/Như lửa thiêu như rượu đốt chính mình”. Đây là tập thơ của một tâm hồn trong trẻo nhân hậu, vô cùng nhạy cảm với những cái đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc đời, nhất là những cái đẹp nhỏ nhoi bình dị, mong manh, dễ tan biến, dễ bị chà đạp, dễ bị khuất lẩp quên lãng với những lời thơ lung linh hư ảo run rẩy vụt sáng lên từ tiềm thức, trực giác của một tài thơ độc đáo bất ngờ.


Cần phải nói rằng hầu hết những bài thơ trong “Dính” ra đời trong những tháng năm Đỗ Nam Cao chìm ngập trong sự đỗ vỡ của tình yêu và bi kịch gia đình. Từ một cán bộ tổ chức Đảng của quận I, Trần Thu Hồng chuyển về Công ty Lương thực TPHCM, nắm giữ vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước được coi là điển hình của thời kỳ đầu đổi mới, trở thành một doanh nhân xuất nhập khẩu nổi tiếng, được khắp nơi săn đón chào mời. Tuy vậy khi doanh nghiệp này lâm vào khó khăn, đứng trước nguy cơ sụp đổ, như một con tốt thí, Trần Thu Hồng bị quy nhiều trọng tội, bị bắt giam. Cơn chấn động tinh thần quá sức chịu đựng khiến chị chìm sâu vào căn bệnh tâm thần phân liệt. Vụ án Trần Thu Hồng kéo dài hơn 10 năm trời và trong khoảng thời gian dằng dặc này, Đỗ Nam Cao đã luôn theo khắp các bệnh viện trại giam trong nam ngoài bắc để chăm sóc vợ. Luật sư Phan Trung Hoài, người nhận bảo vệ quyền lợi cho Hồng trong vụ án, kể rằng khi chứng kiến Đỗ Nam Cao để một bên những day dứt và điều tiếng thị phi xung quanh vụ án, kiên trì theo sát “chữa bệnh” cho vợ bằng tình yêu thương không bến không bờ, ông thực sự bất ngờ vì không hình dung nổi một người vốn dĩ vẩn vơ với thơ thẩn như anh lại có một ý chí, sức mạnh khủng khiếp để đương đầu với nỗi thống khổ kéo dài đến thế. Sau hơn 10 năm, Trần Thu Hồng được pháp luật minh oan, được trả lại mọi quyền lợi chính đáng nhưng tình yêu của Đỗ Nam Cao mới giúp chị nghị lực sống để vượt qua kiếp nạn lớn của cuộc đời. Trong “Dính”, Đô Nam Cao đã hơn một lần nói đến “Cái nùi rơm ngun ngút lửa thâu đêm”. Cái “nùi rơm” ấy chính là tình yêu thầm lặng, khoan dung, bền bỉ như một thứ xạ hương đã giúp Đỗ Nam Cao tỏa sáng trong đời và tỏa sáng trong thơ...


 


4


Trong “Dính”, Đỗ Nam Cao đã bắt đầu nói đến một sự trở về “Thơ tôi đã từng hứng khởi/Đã từng hát khúc hùng ca/Tôi bay lướt đỉnh hào khí/Trường Sơn ngút ngàn mù xa/Để rồi từ từ đáp hạ/Đậu trên đỉnh mái nhà ta/Quê hương ôi rơm với rạ/Mẹ cha vách bùn cột tre”. Trong những tháng ngày tuyệt vọng nhất của cuộc đời, Cao đã tìm thấy niềm an ủi, sự bình tâm trong hình ảnh con cò của làng quê “Thương cò cò đứng một chân/ Đứng một chân cò mỏi gân không cò/Thương mưa dáng bước lò dò/Thương nắng nứt ruộng cò hò khàn hơi/Đẹp như mộng ở lưng trời/Cò bay rát rạt mặt người ngửa lên”, trong mùi ngô nướng thơm lừng trên những hè phố Hà Nội “Ô ngô lên thắm bãi bồi/Người ơi nhớ nhé mai rồi bẻ ngô/Để thơm hè phố xửa xưa/Lửa than hồng quạt vào mưa lạ lùng”, trước lũy tre làng trầm tĩnh và vững chãi “Nhìn vào bờ tre tĩnh lặng/Bình tâm giông bão đời mình/…Những tưởng thôi về thăm khổ/ Giờ đi lòng bớt nguy nan”…Và sau “Dính”, thơ Đỗ Nam Cao là cuộc trở về trọn vẹn với làng quê Việt, với truyền thống nhân văn, văn hóa Việt ngàn năm, một cuộc trở về thật hào hứng, say đắm “Áo xanh áo đỏ cào cào/Bay trong hương lúa giã chào làng quê/Nhà cao phố rộng tôi về/Thương con săn sắt ngủ mê giếng chùa”, mà cũng thật trân trọng, thiêng liêng Làng ơi/Cúi lạy thành hoàng/Cho con được phép khẽ khàng vào quê. Và anh liên tiếp có những “Về”, “Ở làng Đại Phùng”, “Ngõ nhà em”, “Cốm”, “Thăng Long”, “Ngồi bên sông Hồng”, “Yên Tử”, “Chiều Hồng Hạc”, “Quan họ phố”…rồi trường ca “Hỡi cô cắt cỏ”.


Từ năm 2002 đến 2010, năm nào vào mùa xuân Đỗ Nam Cao cũng từ TPHCM ra Bắc, miệt mài rong ruổi khắp các lễ hội xứ Đoài, Sơn Nam Thượng, Kinh Bắc, Đền Hùng…Khi ở với tôi tại tòa soạn tạp chí Văn hiến VN ở phố Chân Cầm, Hà Nội, Cao thường nói với tôi chuyện anh phát hiện ra một cô cắt cỏ được thờ bên Thánh Tản ở đền Dội và truyền thuyết về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Thánh Tản và cô cắt cỏ anh nghe được tại đền Và. Cao cũng nhiều lần giục tôi cùng đến thăm đền Chử Đồng Tử ở Hưng Yên và bãi Tự Nhiên giữa sông Hồng thuộc địa phận Thường Tín, Hà Tây cũ. Với ai đó, những truyền thuyết về Thánh Tản với cô cắt cỏ và mối tình Chủ Đồng Tử - Tiên Dung giữa bãi sông Hồng có lẽ đã rất cũ. Nhưng với Đỗ Nam Cao, khi đắm mình vào không gian văn hóa cội nguồn dân tộc, anh đã cảm nhận được ở chúng nhiều điều mới mẻ. Và những truyền thuyết này đã trở thành “âm hình chủ đạo” cho trường ca “Hỡi cô cắt cỏ” của Đỗ Nam Cao, một tác phẩm thơ “không thể hay hơn” như nhận xét đầy hạnh phúc của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha.


Quả thật, khó có thể viết hay hơn những dòng thơ Đỗ Nam Cao viết về mối tình Chử Đồng Tử - Tiên Dung: Thì thôi về bãi Tự Nhiên/Để em tắm để thánh hiền lòi ra/Con vua cũng thể đàn bà/Dẫu chàng đánh dậm vưỡn là đàn ông/Ôi Tiên Dung hỡi Tiên Dung/Giọt phù sa mẹ sông Hồng đẻ đau…/Sông dài bãi rộng trời cao/Màn anh đã mắc em vào động tiên” hay những dòng thơ về cô cắt cỏ: “Tứ thời cái áo tứ thân/Hỡi cô cắt cỏ của thần Tản Viên/Còn riêng cái yếm hoa hiên/Thì quên đi nhé bạc tiền quên đi…/Cười lên trăng đã hoa nhài/Yếm em nõn thế lược cài vào đâu”. Cũng khó có thể viết hay hơn Đỗ Nam Cao về tiếng chày giã gạo ban đêm: “Tiếng chầy thình thịch đêm đêm/Tiếng kêu con vạc kêu mềm bờ ao…/Chợt nghe như tiếng thở dài/Cối khuya ngừng giã gạo ai trắng rồi”, về nhịp đu bay bổng của hội làng mùa xuân: “Hội xuân trống động mái đình/Chân đu đã nhún đã tình lả lơi/Vút lên chóng cả mặt trời/Cho bay đi hết chuyện đời đảo điên/Bay đi cái túi không tiền/Vuông khăn dải yếm chiếc liềm bay đi” hay về sự hoan hỉ ngả nghiêng kỳ lạ của hội Giã La: “Hội giã La hãy mau mau/Mau chân kẻo chậm/Mau tay/Tay ải tay ai/Tay nắm cổ tay/Tay lần giải yếm/Cởi ra hội hè/Nhè nhẹ thôi/Nhẹ/Ngực e ấp ngực/Rất mực thần tiên/Đuốc đèn chợt sáng bừng lên/Trai hoan hỉ gái ngả nghiêng/Rõ hiền”.


Luật sư Phan Trung Hoài cảm nhận “Hơi cô cắt cỏ” là bản trường ca ẩn mình trong những câu đồng dao tuổi ấu thơ ngân nga ngoài cánh đồng.


Đúng là “Hỡi cô cắt cỏ” nhiều khi như những khúc đồng dao ngộ nghĩnh tươi vui của con trẻ: “Thôi sao được/Anh đánh cược/Chiếc lược sừng trâu/Một xâu lá bưởi/Một chuỗi hạt cườm/…Một keo đánh vật/Nếu anh thua thật/Anh mất yếm đào/Yếm xanh yếm trắng yếm nào/Một đàn cào cào/Một ao củ ấu/Một đấu tám xoan/Một rằng ngoan hai rằng ngoan/Đòng đong cân cấn khoan khoan mại cờ” nhưng cuối cùng lại là những lời ru đau đáu nỗi niềm của người mẹ: “À ơi ơi hỡi à/Thằng cuội ngồi gốc cây đa/Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời/Sao không gọi mẹ cuội ơi/Sao không gọi cái yếm sồi xửa xưa/Mẹ còn ăn bát riêu cua/Thì thừa sữa lạ nuôi vua mọi thời”…


 


5


Lưu Trọng Văn kể với tôi rằng khi bệnh viện Chợ Rẫy trả Đỗ Nam Cao về nhà, ở 12B Nguyễn Thị Hùỳnh, Phú Nhuận, TPHCM, Văn đến thăm thấy Cao đã rất yếu, nói rất khó khăn. Biết trong Cao lúc nào cũng đầy ắp thơ, muốn Cao vui, Văn hỏi Cao có thơ mới không, đọc cho nghe, Cao nhoẻn cười và gắng sức đọc: “Có không trong cõi vĩnh hằng/Có cô cắt cỏ với trăng lưỡi liềm/Có không trong cõi thần tiên/Rượu ngon lại uống bạn hiền lại chơi/Chỉ còn sờ sợ chút thôi/Có thơ không để tôi rơi xuống trần”. Văn rùng mình nhận ra đây là những lời cuối cùng Cao dành cho thơ và bè bạn nên ghi lại ngay. Khi nghe Lưu Trọng Văn đọc lại bài thơ này tại một khách sạn ở TPHCM 3 ngày sau khi Cao mất, cả Lê Quân, Nguyễn Thụy Kha, Lê Xuân Đố và tôi đều bật khóc. Đỗ Nam Cao là vậy, trọn đời Cao đã sống vói “cô cắt cỏ với trăng lưỡi liềm” với thơ với bạn và trước lúc đĩ xa, điều “sờ sợ” duy nhất của Cao vẫn là rồi có thể sẽ không còn trăng lưỡi liềm, cô cắt cỏ, không còn bạn, còn thơ. Lê Quân nói rằng suốt mấy ngày nay anh không thể làm được bất cứ việc gì, trái tim anh như bị ai thò tay vào vò nát. Người nghệ sĩ đa tài, cựu chiến binh chống Mỹ, ông chủ của một doanh nghiệp sơn nổi tiếng, một kênh truyền hình và hai tờ báo nghệ thuật với 7000 nhân viên, con người được coi là rắn như thép này mỗi khi nhắc đến Cao đều rưng rưng nước mắt. Với Lê Quân, tuy mới chơi với Cao gần 3 năm nay, nhưng Cao là một người bạn không thể có lần thứ hai trong đời, một người bạn trong như ánh sáng. Tôi chợt nhớ những câu thơ Cao: “Ừ như thế có lần tôi thầm nhắc/Ôi bạn bè sao gió cũng lưa thưa/…Ừ như thế có lần tôi bật khóc/Bạn bè ơi bạn bè ở đâu đâu/Ở đâu đâu tìm nhau về tí với”. Cao ơi! Bạn bè đã nghe được tiếng gọi của Cao và đã tìm về cùng Cao. Một con người khát bạn như Cao, khát thơ như Cao thì dù ở cõi tạm hay cõi vĩnh hằng cũng sẽ có đủ bạn và thơ. Ở cõi bên kía, những người anh, những bạn thơ thân thiết của Cao, các anh Văn Cao, Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Trần Vũ Mai sẽ rất vui mừng khi được đón Cao. Ở cõi bên này, dù Thanh Thảo quả quyết thơ Cao sẽ còn ở lại rất lâu, nhưng bạn bè vẫn không tin Cao đã mãi mãi đi xa, bới như Nguyễn Thị Hồng: “Không thể nào/Có ngày/Thăng Long/Biền biệt/Bạn!...”. Tôi lại thấy, như lời hẹn, mùa đông này, Cao lại ra Hà Nội để đưa tôi về làng Lịm của anh, về quê hương Lê Quân bên dòng sông Luộc và trở lại đền Hùng. Cao vẫn nói anh còn nợ những nơi này, mỗi nơi một bản trường ca. Vâng, Cao đã trở về cùng tôi, cùng bạn bè với với nụ cười như khóc và câu nói cửa miệng quen thuộc, đặc sản Đỗ Nam Cao: “Thương mến lắm”, “khổ lắm”


 


Nguồn: Đỗ Nam Cao – Thơ. NXB Hội Nhà văn, 02-2012.


www.trieuxuan.info


trieuxuan.info