Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,091,929

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Que diêm thứ tám

Văn Biển

  • Thứ hai, 15:34 Ngày 22/02/2021
  • 76.

    NHỮNG NIỀM VUI BẤT NGỜ XẢY RA Ở PHÒNG THƯỜNG TRỰC

    Cụ Thường trực đưa tờ giấy cho mụ béo: Đây bà cầm lấy.

    Mụ béo mừng quá: Xong rồi ạ? Ngập ngừng một chút.

    Thế bà còn muốn gì nữa?

    Con không phải đứa tham lam đâu bố ạ. Có điều bố giải quyết công việc gọn quá làm cho con có hơi sửng sốt. Phải chi việc này trên kia mèn lắm các ông ấy cũng chém mấy trăm cây. Trời đất! Được trở lại trên ấy đâu phải chuyện đùa. Thậm chí cả vài nghìn cây họ cũng chơi. Con đội ơn bố nghìn lần. Tới người đàn bà gầy yếu đang đứng buồn ở một góc. Em nhường cho chị lên chuyến này là phải lắm. Trên đấy đang đẩy mạnh doanh nghiệp tư nhân, nghe đâu các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước vỡ nợ. Đứa vào tù, đứa ôm tiền tỷ chạy trốn. Tiền chùa không ăn, không phá có mà dại. Còn đồng tiền trong tay chị biết sinh sôi nảy nở. Tiền biết đẻ ra tiền. Chị làm ăn phát đạt sẽ không quên em đâu. Tối nào chị cũng nhớ thắp hương cho em. Đừng giận chị cái bữa nọ. Tính chị thế. Nói xong rồi quên ngay. Tới chỗ cụ Triết nhân. Cụ ạ, giá mà cụ lên ngồi trên kia, ở ngã ba ngã tư, chỗ đông người qua lại, những lời của cụ sẽ ích lợi cho mọi người biết mấy. Và nếu cụ kiêm thêm nghề bấm số nữa thì con tin cụ không đủ sức mà đếm bạc. Con tính thế này, cụ lên trên đó, con sẽ kiếm chỗ cho cụ ngồi. Chắc cụ chẳng có con cháu gì đâu. Cơm nước con hầu. Cơm bưng nước rót hẳn hoi. Tiền kiếm được chia đôi.

    Ta mà lên ngồi trên kia, giữa nơi đô hội thì một là công an sẽ hốt ta vô bót, hoặc đưa ta vô nhà thương điên. Hai là lời ta nói sẽ tan ngay vào trong tiếng ồn ào xe cộ, chìm lẫn trong bụi bặm phố phường đông đúc. Ta chọn nơi này ngồi là có ý nghĩa của nó.

    Mụ béo vẻ thất vọng: Ý nghĩa tới mấy mà không ra tiền thì cũng coi như con số không cụ ạ.

    Cái chết là một bài học lớn nhất mà mỗi đời người chỉ được học có một lần. Do đó những người trở lên trên đó bao giờ cũng sống tốt hơn lần trước. Và những lời khuyên nhủ của ta sẽ có ích hơn. Ta chọn nơi này ngồi là có ý nghĩa vậy.

    Cụ Thường trực nói với Đông vừa vào: Việc của anh tôi đã giải quyết xong rồi.

    Đông mừng rỡ: Phải nói cụ là người tốt nhất mà cháu đã gặp.

    Tôi không thích nghe ai hát về mình đâu.

    Giải quyết công việc nhanh như cụ dễ có mấy người.

    Giả dụ tôi không giải quyết theo yêu cầu của anh thì sao?

    Thì cụ vẫn cứ tốt nhất vì cháu biết cụ không thể làm khác được. Định ôm hôn.

    Thôi, anh để dành sức mà hôn các cô. Lạ thật. Sao người ta thích hôn hít nhau thế nhỉ? Thời tôi, khi trai gái thương nhau nhảy múa trước lửa chán chê rồi đi nằm, chứ không bày trò hôn hôn hít hít như bây giờ.

    Kể ra thời các cụ cũng có cái hay, nên thơ.

    Hay nhiều chứ. Này, chuyện anh nhường cho cô ấy lên trên đó anh đã... tỏ tình với nàng chưa?

    Đông nín cười: Không phải tỏ tình mà trao đổi cụ ạ. Cháu yêu cô ấy. Một tình yêu đơn phương...

    Thôi, tôi lại sắp điên đầu vì các thứ tình yêu và chữ nghĩa của các anh. À, báo cho anh biết, hôm nay có một cái xác rất đẹp của một cô gái, tôi sẽ ưu tiên cho cô bạn của anh.

    Bố tốt ngoài sức tưởng tượng của con.

    Không hiểu tại sao anh lại dễ vui đến vậy. Cứ như trẻ con được kẹo.

    Cụ không biết chứ, mỗi sáng ra đường thấy một bông hoa đẹp hay tình cờ bắt gặp nụ cười một cô gái là cháu đủ vui trọn ngày. Huống hồ gặp việc tốt hay chính mình làm được việc tốt thì đó là một hạnh phúc lớn. Cuộc đời sẽ đẹp lên. Việc làm của bố cũng có ý nghĩa như vậy đấy bố ạ. Nhất định con phải hôn bố một cái. Chưa thấy ai tốt như bố.

    Thôi, tôi xin. Anh cút đi cho tôi làm việc.

    Đông ôm hôn cụ Thường trực: Và cũng chưa thấy ai cổ kính như bố.

    Cụ Thường trực lau má: Hôn với hít, thật chẳng ra làm sao cả.

    Đám bạn bè Đông đang chờ Đông bên ngoài. Vừa trông thấy Đông, cả bọn xúm lại.

    Xong thủ tục rồi hả. Vậy lúc nào lên đường.

    Có phải đi ngay không? Ôi, chúc mừng cậu. Thấy Đông ú ớ, miệng như ngậm hột thị.

    Kìa, làm sao vậy. Mừng quá không nói nổi phải không? Hay xin ở lại với nàng. Có gì thì cứ nói ra.

    Trông bộ dạng thế kia thì mười phần mười là xin ở lại với người đẹp. Trời đất. Không ai điên như cậu. Trên kia thiếu gì giống đó. Nhất là thời a còng này. Nếu lỡ nói với cụ Thường trực rồi thì chạy vô nói lại còn kịp. Kéo Đông vào. Đi với tớ. Cậu không dám nói thì để tớ nói. Bao nhiêu người chờ trăm năm còn chưa được lên. Chết vì đàn bà con gái không phải là đấng nam nhi. Thấy Đông vẫn đứng trơ trơ.

    Kìa, cậu làm sao vậy. Có việc gì đã xảy ra. Hay cụ Thường trực đổi ý. Mà cũng không phải, lúc từ trong phòng chạy ra, mặt mày cậu hớn hở như được bạc mà.

    Chắc chắn có khúc mắc gì đây mới không nói ra được. Bây giờ, hãy trả lời từng câu hỏi của bọn tớ. Từng câu một.

    Cậu vẫn được trở lên trên đó chứ. Đông gật đầu. Thủ tục xong cả rồi chứ? Đông gật đầu một cách bất đắc dĩ.

    Đó không phải là cái gật đầu của một kẻ được trở lên trần thế. Cậu phải trả lời dứt khoát những câu hỏi tiếp theo đây. Vậy bao giờ cậu lên?

    Nhưng cơ mà... mình không... lên.

    Đó, thấy chưa. Đồ mê gái.

    Vậy ra cậu muốn ở dưới này vì nàng à?

    Đông lắc đầu: ... Không.

    Càng nói càng không hiểu. Lên trên đó không lên. Ở lại dưới này với người đẹp cũng không? Chứ lúc nãy trong phòng Thường trực cậu làm việc gì với ông cụ? Mà lại còn ôm hôn ông cụ. Mà buồn cười thật, hôn người đẹp không hôn, đi hôn ông già mấy ngàn tuổi.

    Không hiểu làm sao ngày trước cậu lại có thể chiến đấu dũng cảm ở chiến trường được. Hay cậu không còn là thằng Đông nữa.

    Ô hay, trước sau mình vẫn là thằng Đông cơ mà. Chiến đấu dũng cảm với kẻ thù và yêu một người con gái, hai điều đó có đối địch với nhau đâu. Mà thật ra mình có ở lại cùng nàng đâu. Đông nghĩ cách tốt nhất là nói thật ra với họ. Không thể giấu mãi họ được.

    Vậy cậu xin ở lại đây với ai, không phải với nàng thì với một người đẹp khác à.

    Người đẹp đó là ai. Sao cậu khéo giấu bọn mình thế?

    Mình nhường xuất lên của mình cho người ấy. Đông nói dứt khoát như câu chữ đã chực sẵn từ lâu trong miệng anh, chờ dịp phát ra, đúng chỗ, đúng lúc.

    Các bạn như phát rồ lên: Hả, cái gì? Cậu vừa nói cái gì? Có phải vừa rồi cậu nói mê không đấy. Hay là cậu điên rồi.

    Không điên thì cũng là mê sảng.

    Chẳng điên cũng chẳng mê. Mình đang tỉnh. Nàng lên trên đó với người yêu. Thấy người mình yêu hạnh phúc là mình vui rồi. Chỉ có vậy thôi. Đông nói một hồi rất nhanh, như sợ không còn có dịp để nói.

    Có phải cậu là một nhân vật từ trong cuốn tiểu thuyết lãng mạn từ những năm 30, 40 thế kỷ trước vừa bước ra?

    Mình bị tử thương ở chiến trường biên giới phía Bắc tháng 2 năm 79 về đây. Người còn đầy máu.

    Hay cậu bị một sức ép từ một phía nào đó.

    Không có ai ép mình cả. Nếu có, đó là một tình yêu mãnh liệt. Mọi việc đâu vô đó cả rồi.

    Các bạn sau một hồi sững sờ: Ý kiến nàng thế nào?

    Ý kiến gì? Mình giữ bí mật, nàng sẽ không hay biết vì sao mình được lên. Ông cụ Thường trực đã ô kê với mình chuyện này rồi.

    Bọn mình chịu thua. Lẽ ra cậu phải sinh cách đây trăm năm, cái thời của “Hồn bướm mơ tiên”, “Nửa chừng xuân” hay sau đây ngàn năm nữa. Cậu là một thiên thần lạc lối giữa cõi u minh đầy tội ác dối trá lừa lọc này... Cả bọn xúm lại ôm Đông cảm động. Có người khóc.

    Đông vòng tay ôm các bạn: Cảm ơn các bạn đã hiểu cho mình... Vậy là mình vui rồi.

    Khánh và Nga vừa vào phòng Thường trực, đứng ở một góc.

    Nga nhìn Khánh lắc đầu: Không ai trở lên trên đó mà có bộ mặt đưa đám như anh cả.

    Nếu chuyện xảy tới trước lúc anh gặp em. Còn bây giờ thì...

    Sao anh tham thế? Vừa muốn được vợ lại vừa muốn được cả cuộc đời trên đó. Người ta thường chỉ được chọn một trong hai cái đó thôi.

    Anh bằng lòng đánh đổi tất cả để có em.

    Chuyện anh lên liên quan tới nhiều người, đừng phụ lòng các bác ấy. Đừng lo em dưới này buồn. Em vẫn luôn có tình yêu của anh. Anh tới gặp cụ ấy đi.

    Cụ Thường trực nhác thấy Khánh: Kìa, tôi chờ anh từ sáng tới giờ. Thôi bỏ cái bộ mặt đưa đám kia đi. Không ai trở lên trên đó với bộ dạng thiểu não như anh. Đưa cho Khánh tờ giấy. Thủ tục xong hết cả rồi. Với cụ già Triết nhân. Cụ có lời khuyên nào cho anh chàng này không?

    Vừa rồi anh chữa lại cái cửa cho cụ Thường trực là giỏi rồi, thật đáng khen. Chỉ có điều nhắc anh lên trên ấy chớ có dại xông vô chữa cửa buồng của nhà ai, nhất là buồng của các cặp vợ chồng mới cưới. Có lúc bị ăn đòn. Mọi người cười, cả Khánh và Nga cũng bật cười.

    Cụ Thường trực nói với Khánh: Hôm nay anh sẽ nhập vô xác một anh thanh niên trẻ, đẹp trai. Tiếc anh ta không được khỏe mạnh, sau một trận thập tử nhất sinh.

    Cháu sẽ bắt anh ta hàng ngày tập thể dục. Mỗi ngày đi bộ qua công viên vài lần. Đi bộ hàng ngày như thế có nghĩa là đi ngược chiều tới phía cụ đấy.

    Tôi cũng mong lâu được gặp lại anh. Với Nga. Cô lại đây.

    Nga nói trong nước mắt: Vậy là cụ tước đoạt mất anh chàng tù binh của cháu rồi. Cháu bắt đền cụ đấy.

    Được, tôi sẽ đền cho cô.

    Hằng Nga lắc đầu: Dẫu cụ có thương cháu tới đâu cụ cũng không thể nào đền nổi. Nói khẽ. Đâu phải lúc nào cũng có thể bắt gặp được anh chàng tù binh... như vừa rồi.

    Thôi đừng buồn nữa, cô sửa soạn đi, hôm nay cô cũng lên.

    Cụ đùa cháu làm gì.

    Thủ tục mọi thứ tôi đã làm xong. Đưa cho Nga tờ giấy.

    Trời ơi, lạ lùng quá. Nga dường như không tin mắt mình.

    Chẳng những thế, ta còn chọn cho cô một cái xác thật đẹp. Một cô gái 18, cô sẽ nhập vô xác đó.

    Sao lại có thể có chuyện lạ lùng này hở cụ. Nga nói trong nước mắt.

    Có một người yêu cầu tôi, nhưng lại không muốn cho cô biết.

    Ít ra cháu cần phải có một lời cảm ơn người đó.

    Tôi đã hứa rồi, không thể làm khác được.

    Nga cảm động: Cụ nói giúp với người đó rằng cháu sẽ đáp lại cái ơn đó bằng một đời sống hữu ích. Tới chỗ Khánh. Vậy là chúng mình không xa nhau.

    Khánh chưa hết bàng hoàng: Xác vừa đứng lên, anh sẽ chạy đi tìm em ngay. Có dấu hiệu gì để nhận ra nhau không nhỉ. Anh sẽ vừa chạy vừa gọi tên em khắp phố.

    Người ta sẽ nghĩ anh điên. Em sẽ cài một bông hoa trắng trên mái tóc bên trái. Hoa gì nhỉ. Hoa Huệ anh nhé. Trên đó đang mùa Huệ. Sáng nào em cũng chờ anh trước cửa.

    Anh sẽ tìm cho tới bao giờ gặp em. Họ kéo nhau đi dần ra ngoài cửa.

    Chao ôi, lạ lùng quá. Giá bây giờ không phải đầu thai lên làm người mà làm con bò anh có lên không?

    Anh vẫn lên nếu có em. Chúng ta sẽ gặm cỏ trên sườn đồi chán chê rồi ngước nhìn lên bầu trời xanh thăm thẳm hoặc nằm tắm mình trong ánh nắng xuân, đùa với lũ sáo sậu hay nghe chim sơn ca hót.

    Đó là Con- bò- thi- sĩ- Khánh chứ không phải con bò kéo cày.

    Tất nhiên sau đó anh sẽ kéo cày, còn em rót cho đời những dòng sữa ngọt tươi. Em có bao giờ chú ý đôi mắt bò không? Mắt con trâu cũng vậy. Nó ươn ướt và long lanh mà mắt các con vật khác không có. Có lẽ chúng nó sống ngoài trời nhiều, chỉ ăn cỏ và chịu khó lao động.

    Anh thích cỏ lắm à?

    Em thử nhấm nháp một ngọn cỏ mới bứt lên mà xem. Em sẽ thấy được mùi thơm của đất và hương vị ngọt ngào của thiên nhiên. Sữa bò ngon và bổ có lẽ vì con vật đã chuyển hóa được tất cả đất trời vào trong cơ thể của mình qua ngọn cỏ và qua đôi mắt tròn to ươn ướt mơ mộng của nó.

    Thôi anh đừng làm em chết khát vì bầu trời và đồi cỏ mùa xuân của anh. Lạ lùng quá. Vậy mà lát nữa em sẽ có trước mắt mình mọi thứ. Những thứ mà trước kia mình không để ý tới...

    Cụ Thường trực: Kìa các người sửa soạn đi, giờ này các vị trên kia đang hấp hối. Nhớ đừng đi đâu xa quá, nhỡ gọi không kịp.

    Ai đó: Chưa bao giờ tôi thấy phòng Thường trực vui vẻ như hôm nay. Cụ Thường trực như trẻ ra vài trăm tuổi. Chẳng biết tôi có trẻ ra như các người mình nói không, nhưng thấy hôm nay trời đất bỗng khác, đẹp hơn, tự dưng muốn làm thơ, muốn trở thành... Nhìn xuống dãy ghế như cầu cứu.

    Ai đó: Muốn trở thành thi sĩ cụ ạ.

    Ừ, có lẽ thế đấy. Các vị đừng cười nhé. Lão già cổ quái như tôi mà muốn làm thơ...

    Không khí đang tràn ngập nỗi vui bỗng dưng có tiếng chuông điện thoại. Từ lâu rồi người ta mới nghe tiếng chuông vang lên, như xoáy sâu vào tim, vào óc người. Tiếng chuông cứ vang lên, ngân lên từng hồi một như báo động một tai nạn sắp tới. Cả phòng tự dưng im ắng như đang đón chờ một điều khủng khiếp sắp xảy tới.

    Ai đó giọng run run: Chắc trên trần thế gọi xuống...

    77.

    TẤM BIỂN ĐỎ NHƯ TỪ TRÊN TRỜI RỚT XUỐNG

    Cụ Thường trực lắc đầu: Từ văn phòng Ngọc Hoàng. Như có linh cảm, bàn tay xương xẩu run run cụ nhấc máy áp vào tai. Thưa, phòng Thường trực linh hồn đây ạ. Dạ, tôi đang nghe. Một lát sau ông cụ bỗng nói với giọng hốt hoảng. Xin Ngọc Hoàng nói lại sợ tôi nghe nhầm chăng. Vâng ạ, tôi nghe rõ, vất máy xuống. Trời đất, hay là tai tôi, óc tôi làm sao thế này. Mong sao vừa rồi là tôi nghe nhầm. Ông cụ buông tay cầm. Nó quay quay mấy vòng rồi rơi xuống như một dấu chấm than. Như một lời chấm hết.

    Mọi người nhốn nháo: Có chuyện gì vậy cụ?

    Đừng hỏi, ta không thể nào nói được.

    Chuyện đó có quan hệ tới chúng tôi không?

    Chẳng là chuyện các người thì còn của ai.

    Chẳng còn chuyện gì là ghê gớm đối với chúng tôi cả, giả dụ có bắt linh hồn chúng tôi phải chết đi một lần nữa, hoặc thậm chí bị đày xuống Địa ngục.

    Nếu việc ấy có đi nữa thì đối với loài người cũng chẳng có gì ghê gớm lắm.

    Vậy thì chuyện gì? Cụ cứ nói đi.

    Cụ Thường trực sau một lát: Ngọc Hoàng chỉ thị từ nay cửa biên giới giữa hai cõi này vĩnh viễn đóng. Đây là chỉ thị thứ nhất. Chỉ thị thứ hai ta sẽ báo cho trên ấy hay.

    Vậy là thế nào hở cụ? Cụ hãy bình tĩnh lại đã.

    Cụ Thường trực nói trong hơi thở gấp: Kể từ nay mãi mãi về sau cánh cửa này chỉ mở đón các linh hồn trên đó xuống. Còn việc linh hồn trở lên trên đó sẽ không bao giờ có nữa. Vĩnh viễn khép kín.

    Mọi người ngồi im như người mất hồn, một số như hóa đá.

    Vô lý. Một quyết định hoàn toàn vô lý, bất công. Ai đó thốt lên.

    Ông Tư vào từ lúc nào, chạy tới chộp máy điện thoại: Alô. Cho tôi được nói chuyện với văn phòng Ngọc Hoàng. Văn phòng Ngọc Hoàng đâu? Văn phòng Ngọc Hoàng đâu? Cả phòng như sống lại, hồi hộp, chờ mong.

    Mọi người nhao nhao: Bác trình bày với Ngài là con người cần phải có kiếp thứ hai, thứ ba. Đó là điều an ủi đối với những kẻ kiếp vừa qua chưa được sống. Họ cần phải được trở lên làm lại cuộc đời.

    Ngài hãy tin rằng lần sau con người sẽ sống tốt hơn.

    Đúng đấy, bác cứ trình bày như vậy. Con người cần phải có kiếp thứ hai, thứ ba. Bằng cách đó trái đất sẽ ngày một tốt đẹp hơn. Chắc chắn Ngài sẽ hiểu ra.

    Ông Tư nói vô máy: Alô, văn phòng Ngọc Hoàng đâu. Ngọc Hoàng đâu? Phòng Thường trực những linh hồn không yên đây.

    Cụ Thường trực chợt tỉnh, nói với ông Tư, giọng đứt quãng: Vô ích, điện thoại một chiều, chỉ có nhiệm vụ truyền đi các chỉ thị, các quyết định của Ngọc Hoàng. Ông Tư bỏ máy xuống, đầu cúi gục bước ra ngoài.

    Mọi người nhao nhao: Hay là cụ nghe nhầm chăng. Chứ không thể nào có một quyết định độc đoán tàn nhẫn như vậy được. Không phải mọi linh hồn xuống đây đều nhất thiết trở lên trên đó. Có người xuống tới dưới này họ thở phào nhẹ nhõm coi như vừa trút xong gánh nặng nghìn cân. Nhưng có biết bao nhiêu người công việc chưa xong, cuộc đời dở dang, sự nghiệp chưa thành, chưa hết nợ, họ cần phải được trở lên trên đó.

    Nếu Ngọc Hoàng mà nhìn thấy những bãi đuốc, những ngọn đuốc đêm đêm đi tìm những thứ họ đánh mất trên dương thế, những khát vọng lớn nhỏ của các linh hồn, chắc chắn không bao giờ Ngài có quyết định lạ lùng như vậy.

    Hay là Ngài phán trong một lúc đang say hay trong một cơn phẫn nộ bất thường.

    Cụ Thường trực: Khi có một quyết định như vậy là Ngài có đầy đủ cơ sở. Vừa rồi chỉ là lý lẽ của các người. Còn Ngọc Hoàng cho rằng nếu con người... Bỗng sực nhớ. Đây rồi. Sẵn có máy ghi âm, ta mở cho các người nghe, ông cụ mở máy, từ trong máy phát ra giọng Ngọc Hoàng... “Nếu con người được sống đi sống lại thì kiếp này họ sẽ không bao giờ chịu sống tốt. Họ, ta nói những người hiện đang sống trên đó sẽ không bao giờ chịu hiểu hiện tại luôn luôn là món quà quý nhất thiên nhiên ban tặng không gì so sánh hay thay thế được. Tiếc rằng không phải ai cũng hiểu được điều đó. Hình như họ luôn hẹn ngày mai hoặc là chờ kiếp sau. Điều tốt đẹp sẽ không bao giờ tới nếu những giây phút hiện tại anh không biết sống, không biết giữ gìn, nâng niu bảo vệ cuộc sống của mình và cuộc sống của bao nhiêu kẻ khác. Giờ ta nói tới kho đuốc. Ta rất khó chịu cái ánh sáng ma trơi chập chờn đó. Ta sẽ chỉ thị cho đóng cửa kho đuốc lại. Hãy để cho con người trên đó biết giữ gìn hơn. Hãy tự mình đi tìm những thứ đã đánh mất trên đó, ngay trong lúc còn sống hãy biết giành lấy những gì mình bị cướp, bị tước đoạt. Đừng có ảo tưởng kho đuốc ở cõi âm sẽ trả lại cho các người những thứ đó. Sẽ không bao giờ có. Ta nói lại: Hãy tìm và giành lấy lại bằng tài trí và lòng dũng cảm của mình. Lịch sử nhân loại từng chứng minh điều đó. Ta rất buồn và đau đớn khi phải đưa ra những quyết định này, những gì ta nói vừa rồi không phải là những ý tưởng bất chợt mà kết quả sau những lần gặp gỡ với các cư dân vừa rồi. Ta nhắc lại: Hãy biết sống, dám sống. Hãy biết giữ gìn và giành lấy những gì mình đáng có, đang có và phải có”.

    Máy ghi âm chợt tắt. Phòng chờ bỗng chốc câm lặng như một nấm mộ. Tất cả như hóa đá.

    Chợt ai đó kêu lên thất thanh: Trời, ngoài kia có bao nhiêu người tự tử.

    Những người tự tử vừa vào, có người đang còn cầm chiếc thòng lọng: Vô ích. Không có cách nào bắt linh hồn chết được. Tất cả chúng ta từ nay bị giam cầm vĩnh viễn dưới này. Rồi họ vật vã như điên loạn.

    Cụ Thường trực nói với người chuẩn bị lên: Anh là người may mắn cuối cùng. Sau khi anh bước qua khỏi cánh cửa này là nó sẽ vĩnh viễn đóng kín. Cửa chỉ mở khi có tiếng gõ từ bên ngoài. Với cụ Triết nhân. Cụ có cần dặn anh ta điều gì không?

    Triết nhân: Ta có hàng trăm điều để nói với những linh hồn trở lên trên đó. Ta muốn nói hết với con. Nhưng không kịp nữa và cũng thật là vô ích. Con sẽ không nhớ. Vậy chỉ có một lời ngắn ngủi này. Con thấy rồi đó. Con người sẽ chỉ đi qua trần thế có một lần. Hãy khắc sâu điều đó trong đầu. Ta nói vậy chắc con đủ hiểu.

    Ông cụ Triết nhân đứng dậy, hơi lảo đảo.

    Ai đó chạy tới đỡ, kêu lên: Ông cụ bằng đá.

    Gọi ta là ông già Triết nhân, pho tượng đá, hay cuốn sách cổ cũng đều được. Những điều ta nói lâu nay các người nghe, cũng chẳng có gì mới. Trên kia các người đã sống đã trải qua, đã đọc đâu đó một đôi lần, rồi các người quên đi, không để ý tới. Chỉ có tại đây, chỗ này, sau khi từ giã cõi đời trên kia xuống đây các người mới thấy hết ý nghĩa của nó. Vài giọt nước mắt lăn xuống má. Một chị đứng gần lấy khăn chấm nước mắt cho cụ. Thôi chào bà con.

    Cụ Thường trực: Cụ đi đột ngột quá.

    Ai đó: Cụ đi rồi, ai sẽ thay cụ ngồi lại chỗ này để khuyên các linh hồn mới xuống.

    Không ai đi khuyên một kẻ đã chết rồi. Không có một linh hồn nào lại lẩn thẩn đi hỏi họ sẽ sống như thế nào, ăn ở ra sao. Chợt thấy người cuối cùng vẫn còn nấn ná trong phòng, như chưa muốn đi, ông cụ nói tiếp. Ta nhắn con thêm điều này, kể cũng không thừa. Con có biết ông già bán diêm không?

    Thưa cụ có ạ. Ông cụ bán que diêm số Tám... cho tới nay con vẫn chưa hiểu.

    Vẫn là ý ta nói với con vừa rồi. Nhưng ông cụ có cách nói khác. Con người ta như que diêm số Tám. Tốt xấu cũng chỉ được có một lần. Con là người lên sau cùng. Hãy chuyển lời đó cho người trên ấy.

    Thưa cụ con hiểu.

    Ông cụ Triết nhân chào mọi người rồi từng bước đi ra phía cửa trước. Tấm cửa đá được nâng lên. Người cuối cùng gạt nước mắt chào mọi người rồi đi ra. Mọi người xô lại phía cửa. Nhưng tấm cửa nặng nề sập xuống, vang lên như một tiếng kêu định mệnh. Tất cả xúm lại đẩy. Tấm cửa đá vẫn im lìm, bất động như hàm răng người chết. Nhiều tiếng kêu thét, tiếng đập cửa... Im lặng lúc lâu.

    Khánh, Nga hớt hải chạy tới. Hai người đứng sững lại trước tấm cửa im lìm. Từ lúc nào hiện ra trước mắt họ tấm biển đỏ treo trước cửa. Mọi người cúi đầu xuống như một phút mặc niệm cho mình và cho cả kiếp người vui, buồn, đau khổ, hạnh phúc và...

    Hết.

    VÀI CÂU HỎI PHỤ

    Thế Dũng: Anh có thể kể vài “chuyện vui buồn” quanh kịch bản sân khấu và hai Đoàn kịch thể nghiệm của anh không?

    Nhà văn Văn Biển:

    Như trên tôi đã nói, trong các loại hình nghệ thuật tôi chọn Sân khấu là nơi dấn thân, bày tỏ quan điểm, lập trường của mình. Khác với Đêm Stockhôn, ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp, đứng trong dàn đồng ca hợp xướng thời bấy giờ.

    Một số kịch bản khác sau này dần manh nha những suy tư riêng, không theo truyền thống chung, vượt ra khỏi quỹ đạo hiện thực một nửa. (Mặt tốt được nhân lên, mặt xấu che đi). Sân khấu những thập niên trước có sức mạnh, sức lan tỏa nhanh chóng có hiệu quả ngay lập tức của nó.

    Còn nhớ ở một nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, sau đêm diễn, khán giả ra về và biến thành cuộc biểu tình phản đối chính quyền lúc đó. Nó khác với các loại hình nghệ thuật khác. Cuốn sách dẫu hay tới mấy, người đọc có thể bỏ sách xuống làm việc khác. Còn sân khấu, mọi vấn đề dẫu lớn tới đâu chỉ gói gọn trong vài tiếng đồng hồ. Để gắn chặt khán giả trên ghế, kịch bản cần có mấy yếu tố. Chất thơ để tâm hồn người xem bay lên. Đồng thời phải có chất triết lý để tạo nên sức nặng giữ người xem ở lại. Tất cả những điều đó phải nằm trong cốt truyện, trong tính cách nhân vật và đều được thể hiện qua đối thoại. Đối thoại bấy giờ như một trò chơi ảo thuật tung hứng đầy ấn tượng.

    Bây giờ xin được kể qua vài mẩu chuyện vui quanh các vở diễn hoặc chưa diễn. Trước hết xin được kể về kịch bản đầu tay “Đêm Stockhôn”. Viết xong kịch bản, dò hỏi Giám đốc Nhà hát kịch. Người ta mách, ông Bích Lâm, người to như hộ pháp, ria mép đen như sâu róm, đi chiếc xe máy to (bấy giờ Hà Nội mới có ít xe máy) hay qua lại quảng trường Nhà hát lớn. Tôi kiên trì đón lõng và bắt được đúng người tôi mong.

    - Chắc anh không biết tôi. Tôi có một kịch bản nhờ anh đọc giúp.

    Bích Lâm vui vẻ cầm kịch bản và hẹn một tuần tới nhà tập thể Lê Văn Hưu.

    Tới ngày hẹn, tôi tới gặp Bích Lâm; với tất cả hồi hộp. Giám đốc Nhà hát kiêm đạo diễn (học ở một nước Đông Âu về) tiếp tôi. Câu đầu tiên:

    - Thú thật với anh, đọc kịch bản của anh khoảng ba trang đầu tôi phải dừng lại, tắm gội sạch sẽ và gần như trai giới suốt ba ngày sau đó mới đọc tiếp.

    Đối với tôi lúc ấy quả là lời khen lạ lùng. Đạo diễn hứa sẽ dựng vở. Nhưng chắc có khó khăn gì đó nên vở chỉ phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Các anh bên Hội nhà văn như Tế Hanh, Phạm Hổ đều tỏ ý khen. Lúc tôi đang ở Bulgari, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường trong phái đoàn văn nghệ sĩ miền Nam sang. Gặp tôi ở Hội nhà văn Bulgari, anh bắt tay tôi vui vẻ nói:

    - Cảm ơn, ở rừng nghe “Đêm Stockhôn” của anh, anh em thích lắm.

    Sau đó kịch bản được Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng in năm 1975. Kịch bản anh Bích Lâm sửa chữa đi nhiều với lời văn biền ngẫu đặc sệt giọng miền Nam của thế kỷ trước. Nguyên bản bị lạc mất. Cái được và cái mất của kịch bản đầu tay, nhưng dầu sao nó cũng mở rộng cánh cửa để mình đi vào Thế giới Sân khấu lấp lánh ánh đèn đầy ma lực của ngôn từ và hình ảnh. Một cuộc viễn du đầy thơ mộng và cũng quá nhiều sóng gió và có lẽ kéo dài cho tới suốt đời nếu không có những biến động xã hội. Vài thập kỷ trở lại đây Sân khấu không còn sức hấp dẫn của nó như thời hoàng kim trước đây.

    Sau đây là đoạn trích cuộc phỏng vấn của Hà Mi với tác giả (trong Tạp chí Nha Trang).

    “Tôi gặp Văn Biển trong một ngôi nhà có nhiều cây cảnh. Buổi sáng đầu hè ở Nha Trang bỗng dịu đi trong không khí bạn bè cộng với mùi hương tỏa dưới giàn phong lan đang ra hoa.

    Như đã hẹn trước muốn có một bài giới thiệu về Văn Biển với Sân khấu, tôi vào việc ngay.

    Anh có thể kể ra một vài tác phẩm ưng ý đã được dàn dựng và những vở còn trong ngăn kéo?

    Tác giả cười:

    - Khoảng 5, 6 vở được trình diễn. Sau “Đêm Stockhôn” là “Chuyện cổ Bát Tràng”. Vở được chuyển thể dàn dựng ở Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Đoàn Kim Phụng và một vài đoàn dân ca Trung bộ. Tiếp theo là “Trăn trở” đạo diễn Dương Ngọc Đức dựng cho Nhà hát lớn, “Bất hạnh” ở Hải Phòng và một vài vở nữa. Nhưng những kịch bản còn trong ngăn kéo mới là những kịch bản tâm huyết.

    - Anh có thể giới thiệu một vài vở?

    Trầm ngâm một lát nhà văn nói:

    Trong ngăn kéo còn lại năm, ba kịch bản. Kịch bản nào cũng có “vấn đề”. Chẳng hạn khi tổ chức đọc “Bạch Tuyết mới” ở Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh (thời anh Sáu Lăng còn làm Tổng Thư ký), có một tác giả (tôi nhớ là anh Minh Khoa) phát biểu: “Nhân danh là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi lên án tác giả có cái nhìn đen tối về chế độ”. Khoảng một năm sau, gặp lại ở 5b Võ Văn Tần, Minh Khoa bắt tay tôi, anh nói:

    - Cảm ơn, anh đã báo trước!

    Tôi cũng đưa “Bạch Tuyết mới” cho Bùi Hồng, bạn thân, Tổng biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, người đỡ đẻ “Cô bê 20”. Đọc xong, anh nói thân mật: “Từ ngày “Cô bê 20” tới nay Biển đã khác đi nhiều. Biển có cái nhìn đen tối...”. Tôi cười buồn. Chẳng biết nói sao với bạn. Vài mươi năm sau nhắc lại chuyện này, bạn tôi phân trần: “Ở Biển có cái linh cảm về chính trị”.

    - Trong kịch bản nhà văn viết những gì mà anh em phê phán dữ thế?

    - À..., nhân vật nữ chính là một cô gái đẹp, ăn nhầm miếng táo có tẩm thuốc độc còn sót lại của mụ Hoàng hậu dì ghẻ, ngủ một giấc 50 năm. Lúc thức dậy, nàng bắn nhầm người yêu của mình là nhà bác học ở một thành phố biển. Con trai của Chủ tịch thành phố. Nàng tự mang súng tới nộp cho Công an nhận tội. Hôm mở phiên tòa xử, luật sư biện hộ:

    - “Thưa quý tòa, viên đạn và khẩu súng này, chúng tôi đã giám định kỹ. Nó được chế tạo từ những năm 80, 90 của thập kỷ trước. Tội ác đã được mai phục từ trước đó”. Cô gái đã được xử trắng án. Còn tác giả thì bị... lên án là có cái nhìn lệch lạc.

    Chúng tôi cùng cười cái trớ trêu giữa tác giả và tác phẩm.

    - Còn kịch bản “Thành phố con tàu” nghe đâu cũng bị “mắc cạn”? Tôi hỏi tác giả.

    - Vâng, kịch bản này tôi ngồi viết ở Quy Nhơn, sau một tháng lang thang khắp Bình Định với nhà thơ Thanh Thảo, kịch bản viết về Thành phố như con tàu bị mắc cạn, tất cả thủy thủ đã rời bỏ con tàu. Còn lại kỹ sư thiết kế tàu đánh cá. Anh ta không bỏ đi mà ngủ một giấc dài “trên con tàu thành phố” bị mắc cạn đó. Ba mươi năm sau thức dậy anh chẳng thấy có gì mới, còn người yêu ngày đó đã lấy ông Giám đốc xí nghiệp cá bảo thủ. Thay vào đó bây giờ là con gái của họ, một nữ thủy thủ đẹp thông minh, dũng cảm. Câu chuyện thơ mộng, nhiều tình tiết ly kỳ éo le. Tất cả nhằm nói lên một khát vọng đổi mới.

    - Nghe anh em kháo nhà văn còn có kịch bản “Que diêm thứ Tám” lạ lắm. Chúng tôi gợi chuyện.

    Nhà văn cười:

    - Nếu nói lạ thì có lạ. Toàn câu chuyện của Thế giới bên kia. Chuyện của các linh hồn. Nếu nói không lạ thì cũng không có gì là lạ. Mượn chuyện linh hồn để nói về cõi người, cõi đời. Ở dưới đó có hai linh hồn, một cặp trai tài gái sắc gặp nhau. Họ bị chết oan uổng. Do sự can thiệp của vị Chủ tịch tỉnh vừa xuống dưới này với ông già Thường trực sinh từ thời ông Bành tổ, ngồi gác cửa giữa hai cõi xét duyệt cho đầu thai trở lại dương thế. Lúc hai linh hồn chuẩn bị trở lên thì có chuông điện thoại réo. Ông già Thường trực cầm máy nghe rồi thất vọng vứt ống nghe xuống đất. Chủ tịch chạy tới cầm ngay máy gọi:

    - Alô, alô. Cho gặp văn phòng Ngọc Hoàng. Ông gào mãi, nhưng không có tiếng trả lời. Mãi một lát, ông già Thường trực mới buồn bã nói:

    - Điện thoại một chiều. Rồi ông cụ nói với các linh hồn: Từ nay tấm cửa này chỉ mở cho người ta xuống chứ không còn một ai trở lên trên ấy nữa!

    Văn Biển nói: Điều tôi muốn nói với các bạn là, đời người chỉ có một lần. Hãy sống sao cho có ích. Và cũng muốn nói với các vị lãnh đạo các cấp chính quyền, một phân vuông da thịt trên trần thế quý gấp vạn lần các linh hồn cộng lại...”.

    HÀ MI

    Còn vài kịch bản phát trên Đài hoặc dàn dựng trên Sân khấu cũng gặp khá nhiều trắc trở... vô duyên.

    “Trăn trở” viết về miền Nam sau những ngày giải phóng. Một vở diễn trên trăm đêm. Khi vào Huế đang diễn thì có tang lễ cụ Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước. Ý định đi tiếp vô các tỉnh phía Nam thì Đoàn phải trở ra Bắc. Vở diễn gặp mấy sự cố: Lúc Đoàn đang diễn ở một tỉnh ở đồng bằng (Thái Bình hay Hưng Yên?) thì sau đêm diễn đầu tiên được chỉ thị của Bí thư tỉnh: Vở có vấn đề không được diễn tiếp. Hoàn toàn không có sự trao đổi giữa ông vua con một tỉnh với Ban lãnh đạo Nhà hát! Lúc đang diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội, tác giả ở Vũng Tàu nhận được điện phải ra ngay Hà Nội, vở có vấn đề. Theo chỉ thị của Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Tố Hữu phải sửa ngay: Không được để một nhân vật trong vở nói: “Chủ nghĩa xã hội là xếp hàng cả ngày”. Tác giả cố nín cười cầm bút xóa ngay. “Quả nhà thơ lớn” sống trên mây không biết ngoài “xếp hàng cả ngày”, chủ nghĩa xã hội còn có những biến tướng hay hơn: Xạo hết chỗ nói, xấu hơn cả ngụy, xóa hết chữ nghĩa, xuống hố cả nút... (Tất cả đều phản ảnh phần nào thực trạng xã hội lúc đó và cả sau này. Có cảm giác nhà thơ Tuyên huấn cầm kính hiển vi đi xem kịch.

    Đó là mấy “chuyện vui” về vở diễn “Trăn trở”.

    Xin kể thêm một chút về kịch bản: “Chiếc gương chàng Ngốc” phát trên Đài Truyền hình Trung ương (Kênh 3) sau 30 năm đắp chiếu ngủ trong ngăn kéo.

    Khi được đạo diễn báo tin tối nay phát vở kịch của tác giả trên Đài, tôi hồi hộp ngồi chờ trước màn hình. Gắng ngồi xem 15 phút rồi tắt tivi đi ngủ. Kịch bản không còn là của mình nữa. Từ cái tựa đề “Chiếc gương chàng Ngốc” biến thành “Chỉ tại chiếc gương” ngay từ những phút đầu diễn ra trò lôi kéo rẻ tiền phản cảm, không có trong kịch bản...

    Một hôm gặp nhà văn Nguyễn Quang Thân, bạn tôi nói:

    - Mình xem tivi rồi. Nghe rất thời đại. Vấn đề cũng lớn. Dàn diễn viên cũng rất ấn tượng. Kể ra lâu lắm mới xem được một vở kịch truyền hình như thế. Nhưng đến đoạn kết thì đang chờ một cái kết ngân vang thì uỵch một cái, người xem rớt xuống đường phố. Cái bệnh ảo tưởng do gương thần mà chỉ cần một ông quan “sáng suốt” xử một buổi mà xuôi, cứ y như chuyện ông Dương ông Bằng “ai về nhà nấy” của “Gặp nhau cuối tuần” vậy.

    Tôi kể lại cảm giác tối nọ xem vở diễn của mình trên tivi, nghe xong, bạn nói:

    - Như thế chẳng khác gì gọt chân cho vừa giày! Không những sân khấu mà sách vở cũng thế. Không hiểu sao cứ đến chỗ hay là người ta cắt và sửa cho dở đi. Để rồi thỉnh thoảng lại tổ chức hội thảo đua nhau đọc tham luận phân tích tại sao văn học không hay, sân khấu thì thụt lùi. Nhà văn bị trách đủ điều, nhất là tội “không ngang tầm thời đại”. Sao lạ vậy?

    Văn Biển cười buồn: “Ông hỏi đạo diễn ấy”!

    Bạn tôi alô cho ông Trần Đạo Khánh (Đạo diễn truyền hình), nói với ông chỗ bạn khen và chỗ bạn chê vở kịch. Ông Khánh nói: “Chúng tôi là truyền hình mà. Vở kịch có cao xa gì đi nữa thì cũng phải gò vào khuôn cho an toàn”.

    (Lược trích: “Ông Văn Biển - Người lãng mạn cuối cùng

    của Sân khấu”. Nguyễn Quang Thân - Báo Thể Thao)

    Đó là những chuyện vui buồn quanh các kịch bản. Sau đây là chuyện về 2 Đoàn kịch thể nghiệm:

    Năm 1978, sau khi xin được giấy phép thành lập Đoàn kịch thể nghiệm, anh em bàn nhau tổ chức một bữa tiệc trà, mời các văn nghệ sĩ tới chia vui. Khoảng gần trăm người. Tiệc đang vui, bỗng một vị quan khách đứng lên phát biểu:

    - Tôi lấy làm lạ, tại sao dưới chế độ ta lại có thể có một Đoàn kịch tư nhân như thế này?

    Tác giả câu nói đó chắc nay đã quên rồi nhưng nhiều người còn nhớ đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai của nhà văn hóa lớn Phạm Quỳnh bị chính quyền Huế xử tử hình năm 1945. Nhà văn Nguyễn Quang Thân kể lại. Một hôm có cuộc họp gì đó, tôi hỏi nhạc sĩ Phạm Tuyên tình cờ ngồi một bên. Anh có nhớ làm được bao nhiêu bài hát về Bác Hồ không? Nhạc sĩ ngồi một lát hình như lẩm nhẩm tính thầm rồi lắc đầu: Mình không nhớ hết!

    Câu hỏi của nhạc sĩ Phạm Tuyên lúc đó không có gì lạ. Trong hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa không có nước nào có Đoàn kịch tư nhân.

    Buổi ra mắt đầu tiên của Đoàn là vở Sami, tác giả Nguyễn Khắc Phục, đạo diễn Nguyễn Đức Đọc diễn ở Nhà hát lớn. Cuối buổi diễn tôi ra đứng ở cửa, chào cảm ơn các vị khách ra về. Ông Mai Vi - Vụ trưởng Vụ Tổ chức Bộ Văn hóa (người ký giấy cho phép thành lập Đoàn) dừng lại hỏi tôi: Trình độ chính trị anh ở đâu mà anh cho dựng vở này?

    - Xin lỗi anh, giờ tôi đang bận tiễn khách, anh chờ cho vài hôm tôi sẽ trả lời anh.

    Nhưng tôi khỏi trả lời mà chỉ mấy hôm sau Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã trả lời hộ tôi. Đài cho phát nguyên cả vở diễn tối hôm đó.

    ... Đoàn đang tiếp tục tập vở khác bỗng một hôm nhận được giấy mời gặp ông Trần Độ, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, ông Độ tiếp tôi, lúc đó có thư ký ngồi một bên.

    - Ở trên có ý kiến anh nên giải thể Đoàn kịch... Ông không nói rõ lý do, nhưng quay sang nói với người thư ký. Cậu thử liên hệ với các tổ kịch của các trường Đại học, anh Biển có thể tham gia.

    - Cảm ơn ý định tốt của anh, tôi làm Sân khấu, chắc anh biết, không phải để chơi.

    Thế là kết thúc “cuộc chơi” lần thứ nhất.

    Gần một năm sau, một hôm thư ký của cụ Đồng tới nhà bảo tôi chuẩn bị sáng mai đi với cụ lên Đà Lạt.

    Ngồi trong khoang riêng chuyên cơ lên Đà Lạt, cụ nói với tôi, chú đã làm việc với các anh lãnh đạo trên Lâm Đồng, Biển lên đây hợp tác với Sở Văn hóa thành lập Đoàn kịch. Đối với tôi lúc ấy quả là chuyện quá bất ngờ. Sau một buổi làm việc với Giám đốc Sở Văn hóa, tỉnh bố trí cho nơi ăn ở của diễn viên, sàn tập và 2 triệu (2 triệu lúc đó bằng 2 tỷ bây giờ) nhưng chỉ là trên giấy tờ. Hỏi, đều được trả lời: Ngân hàng chưa giải ngân được. Đành phải lấy tiền nhuận bút “Chuyện cổ Bát Tràng” đang diễn ở Nhà hát Trần Hữu Trang đêm nào cũng đông khách. Số tiền đó dùng cho Đoàn trong việc đón diễn viên, đón đạo diễn, tiền thù lao và trăm thứ bà rằn khác.

    Giờ tới chuyện chọn vở. Chọn trong các kịch bản còn trong ngăn kéo, thấy kịch bản Thành phố con tàu là “hiền” nhất, đầy tính thơ mộng, tình tiết ly kỳ, anh em nhất trí, bèn mời đạo diễn Đoàn Bá từ Sài Gòn lên. Trước lúc tập, đạo diễn nói với các bạn diễn viên:

    - Kịch của Văn Biển chỉ đọc lên nghe cũng sướng tai rồi, khỏi cần dựng. Thế mà khi duyệt (Ban duyệt gồm có Bí thư tỉnh Nguyễn Trung Tín, Chủ tịch tỉnh Tám Cảnh và các quan chức đầu ngành)... tất cả đều im ắng. Có ai đó phát biểu: Vở này khó xơi đấy. Tác giả viết mạnh tay quá.

    Xin mở một dấu ngoặc kể một mẩu chuyện vui. Sau buổi diễn trình duyệt, có người tìm gặp tôi. Đó là chị Hằng Nga kiến trúc sư, con gái ông Trường Chinh, lên Đà Lạt xây dựng sự nghiệp. Chị tới bắt tay tôi, cảm ơn tác giả và nói: “Lâu lắm mới được xem một vở diễn hay”. Sau này chị là một phần da thịt của nhân vật Hằng Nga trong kịch bản và cả trong tiểu thuyết Que diêm thứ Tám. Pho tượng người đàn bà bị trói trong tác phẩm cũng lấy nguyên mẫu từ tác phẩm của chị.

    ... Kịch bản sửa rồi duyệt, rồi sửa. Thậm chí mời một đạo diễn khác từ Hải Phòng lên. Nhưng rốt cục lúc ngồi duyệt các vị quan chức cứ ngồi liếc nhìn như thăm dò ý nhau. Hầu như tất cả đều có nỗi sợ bao trùm lan truyền từ người này sang người kia. Rốt cục vở diễn không được thông qua.

    Nhà báo Thép Mới một lần xem duyệt vở này, bá vai tác giả đi dạo ngoài sân, giọng tâm sự:

    - Đi trước một bước thì được. Dấn thêm nửa bước nữa là toi rồi.

    Thép Mới ra đi đã lâu rồi. Nhà báo không được tận mắt chứng kiến những năm tháng gần đây. Nếu cán bộ, các quan chức “biết sợ” thì không có một xã hội hơn vài chục năm trở lại đây loạn mười hai sứ quân, nếu ai cũng biết sợ thì sẽ không có chuyện phe nhóm, chuyện sân sau, sân trước, chuyện khủng hoảng ở các ngân hàng. Anh không được tận mắt chứng kiến người ta đang thi nhau xâu xé đất nước này. Mạnh ai nấy ăn. Ăn lấy được. Chưa có thời nào trước vành móng ngựa đông nhung nhúc sâu bọ cỡ bự. Toàn những vụ đại án, trọng án, kỳ án.

    Ngoài chức năng giải trí, văn học nghệ thuật còn có chức năng dự báo báo trước những “cơn bão” sẽ tới. Như Nha khí tượng dự báo thời tiết nhưng nó đã không được làm nhiệm vụ đó. Các nhà lãnh đạo Đảng đã biến nó thành một công cụ rẻ tiền tuyên truyền cho đường lối của Đảng.

    Kịch bản Thành phố con tàu và bao nhiêu tác phẩm khác mang tính dự báo phải nằm trong ngăn kéo... Một số tác phẩm của các tác giả tâm huyết khác cũng cùng chung số phận.

    Lúc còn sống nhà văn Nguyễn Quang Thân có nói: Các sách được in trong nước phần lớn không có cuốn nào đáng đọc cả...

    Cuối cùng Đoàn sân khấu thể nghiệm ở Lâm Đồng sau mấy tháng kiên trì bám trụ tới lúc cũng phải nói lời cáo chung.

    Trước mặt tôi hiện lên tấm biển đỏ: ĐƯỜNG NGƯỢC CHIỀU CẤM ĐI!

    Thế Dũng:

    Tôi biết trong ngăn kéo anh còn một số kịch bản đắp chiếu ngủ suốt mấy chục năm nay. Anh có ý định sẽ làm gì hay để nó mai một theo thời gian. Như vậy có lãng phí không.

    Nhà văn Văn Biển:

    Đã có vài kịch bản đang chuyển sang tiểu thuyết hoặc phim truyền hình nhiều tập. Nhưng còn đang dang dở. Bây giờ đang ở ngưỡng cửa 90 chưa biết còn thời gian và sức để làm tiếp không? Nhiều lúc đã thấp thoáng bóng Thần chết đang ngấp nghé ngoài cửa...

    Thế Dũng:

    Câu hỏi này có hơi tò mò một chút. Khi cụ Đồng đưa anh lên Lâm Đồng thành lập Đoàn sân khấu thể nghiệm, sau khi cụ biết Đoàn kịch thể nghiệm ở Hà Nội bị Lê Đức Thọ cấm, anh có hiểu vì sao cụ giúp anh việc này không? Và cụ có ý kiến gì về những kịch bản “có vấn đề” bị đắp chiếu ngủ trong ngăn kéo?

    Nhà văn Văn Biển:

    Câu chuyện hơi dài dòng một chút.

    Có lần ông cụ khuyên mấy anh em tôi: Các cháu không nên dính vào chính trị.

    Tôi hiểu câu nói của cụ có lẽ không phải là né tránh chính trị mà không tham gia vào chính quyền, nơi luôn diễn ra những cuộc tranh giành quyền lợi, quyền lực. Một đấu trường khủng khiếp, thậm chí nhơ bẩn... Chuyện quay lưng lại với chính trị chắc không phải: Con người mở mắt ra là dính tới chính trị. Thậm chí bàng quan, lên núi sống biệt lập, để mặc cái ác lộng hành tác oai, tác quái cũng là một thái độ chính trị. Chắc cụ có đọc câu này của Naponeon: “Thế giới phải đắm chìm trong đau khổ không phải vì tội ác của kẻ xấu mà vì sự im lặng của những người tốt”. Ngoài những kịch bản được dàn dựng, còn lại trong ngăn kéo là những kịch bản “có vấn đề” không nơi nào dám sử dụng. Bạn bè đọc cho là có cái nhìn lệch lạc, đen tối về chế độ. Những “của độc” đó tôi đều đưa cụ đọc. Cụ không lên án, chỉ nói: “Chú thấy không có vấn đề gì”. Tôi biết cụ có cái nhìn rộng rãi về vấn đề này. “Chuyện tử tế” của Trần Văn Thủy bị cấm chiếu, khi xem xong, cụ bảo cho chiếu, càng nhiều càng tốt... Tới khi cụ lẳng lặng giúp tôi lên Lâm Đồng thành lập một sân khấu thể nghiệm khác. Tôi có cảm nghĩ một mặt nào đó chú ngầm “đồng hành” cùng tôi trong công việc chống lại cái xấu, mặt trái của xã hội lúc bấy giờ.

    Tôi thường tự hỏi: Vậy chú là ai trong cái thế giới hỗn mang này? Có một lúc nào đó chú cảm thấy mình đã nhầm đường lạc lối trong khu rừng rậm. Trời về chiều, trong buổi hoàng hôn của cuộc đời không thể tìm thấy lối ra... Sau này, có lúc tôi tự hỏi: Nếu giả sử chú đọc cuốn tiểu thuyết “Que diêm thứ Tám” chú sẽ có phản ứng gì về “đứa cháu nổi loạn”? Tôi nghĩ chú đã đọc kịch bản sân khấu “Que diêm thứ Tám” 50 năm trước chú không lên án, thì nay đọc cuốn tiểu thuyết này chắc chú nghĩ đó là ý kiến, suy nghĩ, cách nhận định của mỗi cá nhân trong tình trạng xã hội trên đà suy thoái mọi mặt. Mỗi người, nhất là các nhà văn đều có bổn phận nói lên những mặt trái của xã hội và báo trước những gì không hay sẽ xảy tới. Đó là thiên chức của người cầm bút. Cụ sẽ nghĩ không bao giờ có sự đồng thuận 100%. Im lặng, làm ngơ là đồng nghĩa với đồng thuận. Đồng thuận giữa một xã hội bát nháo, đồng nghĩa với sự hủy diệt, với sự đầu hàng góp phần tạo nên cái ác. Những ý kiến, những tư tưởng ngược chiều như những dòng chảy, dòng sông góp lại thành con thác, cuốn trôi đi những rác rưởi, những vật cản trên con đường đi của dân tộc thoát khỏi sự hiểm nghèo, có nguy cơ mất nước. (Trích Hồi ức về một người chú).

    Thế Dũng: Cảm ơn về những lời tâm huyết của anh.

     *

    Xin giới thiệu bài viết của nhà văn Đỗ Trường (cho đến nay chúng tôi vẫn chưa gặp nhau) ở Cộng hòa Liên bang Đức (Leipzig). Nhà văn Đỗ Trường dựa vào bản thảo Que Diêm Thứ Tám cách đây sáu năm, NXB Vipen ở Cộng hòa Liên bang Đức hồi đó định in đã lên bìa nhưng vì nhiều lý do tác giả hoãn lại. Cảm thấy bài viết giới thiệu được phần nào nội dung và tác giả nay xin đưa vào cuốn sách, coi như một tư liệu...

    VĂN BIỂN, NGƯỜI VIẾT VĂN THẦM LẶNG

    (Mục chân dung nhà văn - Đỗ Trường)

    Nhắc đến cái tên (dân dã) Văn Biển, có lẽ nhiều người, kể cả trong giới nghiên cứu phê bình không nhớ đến ông. Dù ông là một nhà văn viết nhiều thể loại, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, cho đến kịch bản phim.

    Thật vậy, nhiều người đọc nhớ vanh vách tên nhân vật, với những tác phẩm của ông, ấy vậy mà cái tên tác giả Văn Biển cứ lẫn chìm đâu mất.

    Với tôi, đây là câu hỏi, và những vấn đề đặt ra cho bài viết này. Nhưng có một nhà văn quen thân với Văn Biển bảo: Có lẽ, trước nhất nó thuộc về chính bản thân Văn Biển. Bởi, phải chăng ông luôn trốn chạy nơi thị phi ồn ào, tìm về nẻo trầm khuất? Để rồi, nhân cách, tư tưởng, con người Văn Biển chỉ có thể hình tượng ra từ những nhân vật của ông. (Mà thật ra tác giả nào chẳng gửi nhân cách, tư tưởng vào nhân vật của mình).

    Vì lẽ đó, trước khi viết bài này, tôi tìm đọc về Văn Biển, nhưng (tịnh) không tìm được một bài viết, hoặc phê bình nào về văn thơ và con người ông cho ra tấm ra miếng, ngoài mấy bài báo sơ sài, nhạt thếch.

    Tuy là vậy, nhưng có thể nói, Văn Biển là một trong những nhà văn hàng đầu của Việt Nam viết về mảng văn học thiếu nhi, và hiện thực xã hội.

    Nhà văn Văn Biển họ Phạm, sinh năm 1930 tại Quảng Ngãi. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc, học và trở thành kỹ sư địa chất. Văn Biển là cháu ruột cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và đã có mười bảy năm sống cùng nhà, nên ông hiểu khá rõ về sân khấu cung đình lúc đó. Với sự trải nghiệm ấy, sau này ông đưa vào trang văn một cách rất hiện thực và sinh động. Văn Biển hiện đang sống và viết tại thành phố biển Nha Trang.

    Đọc và đi vào nghiên cứu, ta có thể thấy, ngay từ những năm cuối bảy chín, đầu tám mươi của thế kỷ trước, Văn Biển đã nhận ra sự bế tắc của kinh tế, văn học nghệ thuật hợp tác xã, với cây gậy chỉ đường và độc diễn. Và từ đó, ban kịch tư nhân với Sân khấu thể nghiệm ra đời là một sự sáng tạo, dám đi chệch đường rày của Văn Biển. Dù bị khai tử ngay những ngày đầu chập chững, nhưng nó đã nói lên cái dũng khí cũng như tư tưởng của ông. Và chính những năm tháng dài sống, làm việc ở Đức và châu Âu, nhất là sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, đã làm cho tư tưởng Văn Biển biến chuyển một cách dứt khoát, rõ ràng hơn. Tiểu thuyết Que diêm thứ Tám và hàng loạt truyện ngắn, kịch, thơ viết ở thời kỳ ấy, cũng như sau này của ông đã minh chứng cho điều đó.

    * Từ nhân cách cho đến tư tưởng.

    Văn Biển đến với văn chương một cách tình cờ bằng tập truyện Cô bê 20, sau những năm tháng dài chui hầm, đào mỏ. Cho đến nay, tập truyện này vẫn được giới báo chí đánh giá cao. Tuy nhiên, dù có sử dụng thủ pháp nghệ thuật nhân cách hóa hình tượng nhân vật, nhưng nó vẫn không rũ bỏ hết tính tuyên truyền, cổ động cho hợp xã, hay nông trường tập thể mà nhân vật điển hình là anh hùng nuôi bò Hồ Giáo. Dẫu là thế, nhưng không thể phủ định giá trị nghệ thuật của tác phẩm này. Bởi, ngoài lời văn sinh động, hóm hỉnh và ngộ nghĩnh, nó còn cho ta thấy rõ, tài năng miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật của tác giả.

    Có thể nói, Văn Biển có điểm tựa để bước vào đời vô cùng thuận lợi. Như một lần nhà thơ, Tiến sỹ địa chất Nguyễn Thanh Giang là đồng nghiệp của Văn Biển và cựu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, đã ví von: Nếu Văn Biển muốn, thì có lẽ chức Tổng cục trưởng địa chất, Bộ trưởng và Chủ tịch nước không đến lượt cha con Trần Đức Lương, Trần Tuấn Anh.

    Nhiều người cho rằng, TS Nguyễn Thanh Giang đã quá lời. Nhưng ngẫm nghĩ và nhìn lại chế độ và xã hội này, quả thật sự ví von của TS Nguyễn Thanh Giang không phải không có cơ sở.

    Thật vậy, đọc và nghiên cứu Văn Biển, ta thấy được tính khí khái của ông không chỉ có trên trang sách, mà còn trong cả đời sống thường nhật. Nếu chín năm dài người địa chất ấy đi vào trong lòng đất, để khai thác tài nguyên, thì những năm sau này Văn Biển cũng vẫn là người viết văn thuần túy. Và kể cả những lúc khó khăn và bi đát nhất, ta vẫn thấy, chưa khi nào Văn Biển màng tưởng đến địa vị, danh lợi. Dù nó hoàn toàn trong tầm tay với của ông. Kể cả những năm tháng Văn Biển sống ở Đức mà chúng tôi được nghe, và chứng kiến.

    Tư tưởng tự do và công lý luôn thường trực trong con người Văn Biển. Và người nghệ sĩ ấy như một con ngựa hoang muốn tung lên tìm về một phương trời xa thăm thẳm. Ở nơi đó, chỉ có văn nhân với nắng và gió: “Ôi những ngọn gió bốn mùa ngang dọc/ Lúc nào cũng giúp ta tung bốn vó/ Không có những tấm biển ngáng đường” (Ngựa hoang). Nhưng tấm biển ấy cắt đứt cái khát khao sống, khát khao viết của thi sĩ, văn nhân. Và nỗi đau ấy, dù có được ủ sâu, che đậy, hoặc giả vờ vô tư, nhưng nó cứ như sợi xích, lằn roi quất vào hồn ông. “Tâm Sự Với Chim” là một bài thơ ngũ ngôn như vậy. Nó cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu về đề tài này, được in trong thi tập Tự Cháy của Văn Biển. Cả bài thơ như một lời tự sự, với những hình ảnh so sánh ẩn dụ, cùng những câu hỏi tu từ, Văn Biển đã chỉ ra cái yếu đuối, ươn hèn của văn nhân, của con người. Và từ đó, bật ra lời cảnh tỉnh đến với tất cả chúng ta:

    “Chim ơi sao cứ hót

    Khi mày đang trong tù

    Hay là chim không biết

    Hoặc giả vờ vô tư

    Thật ra tao chỉ khác

    Được chiếc lồng to hơn

    Cứ giả vờ không biết

    Cho mình là tự do

    Những sợi xích vô hình

    Cứ ngày đêm trói chặt...”

    Tuy đứng ngoài danh lợi, nhưng Văn Biển luôn đau đáu về nỗi đau của Tổ quốc của nhân dân. Nhận ra cái ác, cái thối tha, đê hèn của những kẻ thống trị, ông đứng hẳn về lẽ phải, phía con người bị trị:

    “Cái ác lên ngôi

    Ngồi xổm

    Trên đầu Nhân Dân

    Hung hăng théc lác

    Trước kẻ thù đầu cúi gục

    Đất nước đang trên đầu quả trứng

    Chênh vênh

    Mất lúc nào không hay...”

    (Mừng Sinh Nhật Con)

    Không còn dừng lại ở sự tố cáo, lên án, khi đứng trước nguy cơ mất nước cùng với nỗi thống khổ của con người, đã đẩy nhà văn đến mức độ buộc phải hành động và phản kháng. Do vậy, dù bước vào cái ngưỡng của tuổi chín mươi, Văn Biển vẫn nguyện được làm người lính đi đầu:

    “Sức già lọm khọm

    Tuổi sắp 90

    Lặc lè vác trên vai gầy cây Thánh Giá

    Làm người lính

    Diệt trừ cái ác...”

    (Mừng Sinh Nhật Con...)

    Tôi không rõ, Văn Biển đã khi nào là Đảng viên CS hay chưa? Nhưng đọc truyện ngắn “Các-Mác Và Pho Tượng Của Mình” ta có thể thấy, với ông cái học thuyết Mác-Lê ấy đã chết từ lâu rồi. Có chăng cái linh hồn quỷ quái kia còn trụ lại ở thân xác đang thối rữa ấy, chỉ là một thứ tà thuyết trong xã hội đương thời. Có thể nói, đây là một trong những truyện ngắn đầy hình tượng hay nhất của Văn Biển mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Lời văn, câu thoại dứt khoát, ngắn gọn làm cho người đọc bật ra những tiếng cười mỉa mai, chua xót. Không rõ, hai ông nhà văn Quảng Ngãi, Quảng Nam, Văn Biển và Trần Kỳ Trung có quan hệ (huyết thống) gì với nhau hay không? Mà bút pháp, giọng điệu viết truyện ngắn có nét đặc trưng, khá đặc biệt cho tôi những cảm xúc rất giống nhau, khi đọc. Và chúng ta hãy đọc lại đoạn trích về những câu thoại của Karl-Marx và Engel dưới đây, để thấy rõ tư tưởng của nhà văn, cũng như bóc trần bản chất thực sự (lưu manh hóa) của xã hội đương thời:

    “Mác trầm ngâm: ... Ông nhầm đấy. Không còn ai tin đâu. Chả là người ta đang kinh doanh trên xác chết của chúng ta và kinh doanh một cách ngon lành có bài bản. Cũng may bọn chúng chưa mấy ai biết xác chết là ai, gốc gác ra làm sao chứ đừng nói gì tới dân chúng. Cũng có thể họ biết Mác là thằng nào. Điều đó đối với họ không quan trọng. Điều cốt tử là lợi ích trước mắt và lâu dài. Còn nói trên một tỷ người là không đúng. Chỉ có mấy nhóm lợi ích. Họ lừa dối dân và lợi dụng những kẻ ăn theo. Họ là một bầy kền kền sống dựa trên xác chết. Nhưng tội nghiệp lũ kền kền thật, chúng chỉ ăn xác chết. Còn bọn này lợi dụng xác chết ăn những thứ khác kia. Đa số bị chứng cuồng ăn. Ăn không chừa một thứ gì...

    Engel cười mỉa mai: Vậy là xác chết sống lâu hơn học thuyết, nói chính xác hơn là tà thuyết.

    Mác cười: Đôi khi như thế. Chủ nghĩa chết lâu rồi, xác đã phân hủy ươn thối mà vẫn còn được tận dụng dài dài...” (Các-Mác Và Pho Tượng Của Mình).

    Đi sâu vào đọc, nghiên cứu Văn Biển, càng cho tôi thấy cái mênh mông trong thơ văn cũng như nhân cách, con người ông. Một người bị (hay được) ảnh hưởng rất nhiều từ chế độ, đặc biệt trực tiếp từ người chú là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhưng Văn Biển có tư duy, suy nghĩ hoàn toàn độc lập. Cái tư tưởng và hành động ấy, tuy âm thầm, nhưng nó đã tạc dần lên một nhân cách lớn Văn Biển.

    * Tính hiện thực, với những bi hài và ngôn ngữ sân khấu, điện ảnh.

    Có thể nói, Văn Biển là một trong những người thổi luồng gió mới sớm nhất vào những tác phẩm của mình, so với các nhà văn hiện thực đương thời. Đến với kịch bản Que diêm thứ Tám, nhất là khi đã chuyển thành tiểu thuyết cùng tên, thì dường như Văn Biển đã hoàn toàn bốc được con ma xó (đội lốt) văn học đeo bám ra khỏi tâm hồn mình bấy lâu. Cũng cần phải nói thêm, trong văn học sử Việt Nam, thường kịch bản phim, sân khấu được chuyển thể từ tiểu thuyết, truyện ngắn, nhưng ở đây Văn Biển đã làm ngược lại cái lẽ thông thường ấy.

    Trong tiểu thuyết, nhà văn thường chắp nối những tình tiết có thật hoặc hư cấu để xây dựng bối cảnh, nhân vật sao cho đạt đến mức chân thật nhất. Đọc Que diêm thứ Tám, ta có thể thấy, cũng như tiểu thuyết Dạ Tiệc Quỷ của nhà văn Võ Thị Hảo, một lần nữa Văn Biển đi ngược lại lẽ thông thường ấy. Ông đã đưa những sự việc có thật nhất ngoài xã hội vào bức tranh siêu thực của mình. Tại sao lại như vậy? Ta có thể hoàn toàn cắt nghĩa như cuốn Dạ Tiệc Quỷ của Võ Thị Hảo: Phải chăng trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, chỉ đằng sau cái thực hư, ma quỉ chập chờn ấy, Văn Biển mới có thể tung hết bút lực của mình và đẩy bi kịch, hoặc phơi trần sự thật tới cung bậc cao nhất? Đây là thủ pháp nghệ thuật không còn xa lạ với các tác giả Âu - Mỹ, nhưng còn mới lạ với văn chương Việt.

    Có thể nói, Que diêm thứ Tám là một bi kịch lớn của dân tộc. Và mỗi chương, mỗi hồi là những bi kịch nhỏ nằm trong bi kịch lớn ấy. Và đây là một trong những cuốn sách dày dặn, nặng ký nhất theo cả hai nghĩa, mà từ trước đến nay tôi đã được đọc. Cuốn tiểu thuyết này đưa ra, và lý giải nhiều vấn đề có tính thời sự xã hội. Nó phơi bày chân tướng từ giới chóp bu thượng tầng cho đến những người dân đen. Khi viết bài này, tôi đã đọc Que diêm thứ Tám đến lần thứ ba. Có lẽ, nó cũng nặng nhọc không kém thợ cày Văn Biển là bao. Nhưng nó gây cho tôi rất nhiều cảm hứng, bởi ngồn ngồn tài liệu và kiến thức từ nơi Văn Biển.

    Tuy nhiên, cũng như Cò Hồn Xã Nghĩa, (một cuốn tiểu thuyết cũng mượn cõi âm nói về cõi thực) của nhà văn Phạm Thành, Văn Biển hơi bị tham hay ôm đồm nhiều sự kiện, làm cho người đọc cảm giác rất ngon, nhưng hơi bị bội thực. Tôi nghĩ, có lẽ do tuổi tác, sức khỏe, nếu không với tài năng và một kho tài liệu ấy, Văn Biển có thể viết thành hai, ba cuốn sách cũng dày dặn như vậy, là cái chắc.

    Đọc Văn Biển, ta có thể thấy, không chỉ trong tiểu thuyết, mà ngay truyện ngắn của ông cũng đậm nét kịch tính, nặng về đối thoại với những khẩu ngữ hành động. Với đặc điểm này, làm câu văn thoát, sinh động không mang lại cảm giác nặng nề cho người đọc. Và những truyện viết gần đây của Văn Biển thường ít có những lời độc thoại nội tâm nhân vật. Đây là đặc điểm nổi bật, đặc trưng nhất trong văn xuôi của Văn Biển. Đoạn trích dưới đây, cho ta thấy, ngoài sự tàn bạo, lưu manh hóa nhân vật chóp bu Sáu Thọ, mà còn làm sáng tỏ thêm khẩu ngữ hành động đối thoại trong văn xuôi Văn Biển:

    “... Người bị bắt đến lúc còn sống ra tù cũng không biết mình tại sao bị bắt. Thời Trung cổ đen tối bên Châu Âu cũng chưa đến nỗi thế. Sáu Thọ đầu têu trong vụ này. Hắn trở thành tên siêu quyền lực, lấn át cả Chủ tịch nước, Tổng Bí thư Đảng. Sáu Thọ chết sớm. Nghe nói trên mộ hắn ở nghĩa trang Mai Dịch sáng nào cũng có một bọc phân. Sau gia đình lén bốc mộ hắn chuyển đi nơi khác.

    Thú thật với anh Tư. Tôi đang nghĩ nếu gặp được lão Sáu Thọ, tôi túm áo lão hỏi hắn một câu: Tại sao mày ác với đồng chí, đồng đội thế. Mày biết không, loài thú dữ chúng chỉ ăn thịt kẻ khác loài với mình khi nó đói. Còn Sáu Thọ say máu đồng chí mình vì một nhu cầu khác: khoái làm người khác khổ, khoái giết người. Hắn độc ác hơn cả thú dữ dữ nhất trên rừng...” (Que diêm thứ Tám - trang 105).

    Ngay từ ngày đầu tập kết ra Bắc, Văn Biển đã có mười bảy năm chung sống với người chú ruột là đương kim Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Do vậy, ông hiểu khá rõ về cuộc sống, sinh hoạt, thân phận những người đứng đầu Đảng CS và Chính phủ, cũng như sân khấu cung đình lúc đó. Đây là nguồn tư liệu sống rất giá trị, không phải nhà văn nào cũng có được. Với vốn sống, nguồn tư liệu đó, và trải qua những năm tháng dài trắc nghiệm của cuộc sống, đủ để cho Văn Biển nhào nặn ra những tác phẩm có giá trị, độ tin cậy cao. Và cùng với Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Đèn Cù của Trần Đĩnh, có thể nói, Que diêm thứ Tám của Văn Biển đã góp phần làm sáng tỏ thêm chân dung, cuộc sống cũng như thân phận của Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông:

    “... Ông cụ đã nhận phong thánh sớm quá. Ông cụ chưa kịp làm người đã vội làm thánh. Làm người khó hơn chứ. Nếu hồi những năm đầu Cách mạng, Tố Hữu làm cả mấy chục bài thơ ca ngợi ông cụ như một vị cha già dân tộc lúc ông cụ mới ngoài 50, như một vị thánh sống. Ông cụ gọi nhà thơ tới cảm ơn, nhưng nói, chú hãy để cho bác làm người, sống một cuộc sống bình thường. Thế thì sau đó chẳng xảy ra vụ cô Xuân và chị em cô Xuân chết một cách tội nghiệp...” (Que diêm thứ Tám - trang 106).

    Tuy là người chịu nhiều ràng buộc từ gia đình, cũng như của chế độ xã hội, nhưng Văn Biển có cái nhìn về cuộc chiến vừa qua rất khác với các nhà văn cùng thời. Tôi nghĩ, ông có cái nhìn và viết rất công bình. Do vậy, những trang viết của ông, luôn để lại sự trân trọng trong lòng người đọc.

    Khi đọc truyện ngắn “Chuyện Hai Anh Em Trên Bàn Thờ” của Văn Biển chợt làm tôi nhớ đến truyện ký “Chuyện Người Lính Trinh Sát” của nhà văn Phạm Tín An Ninh. Cả hai truyện đều viết về những người lính. Nếu “Chuyện Người Lính Trinh Sát” là nỗi đau của người phụ nữ có chồng, và con ở hai bên chiến tuyến tử trận, thì ở “Chuyện Hai Anh Em Trên Bàn Thờ” ta bắt gặp nỗi đau của người mẹ qua những câu thoại của hai người con cũng ở hai chiến tuyến Bắc - Nam đã tử trận, dù người mẹ ấy hoàn toàn không xuất hiện trong truyện ngắn này. Đây là truyện ngắn điển hình nhất, cho nỗi đau trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn của dân tộc vừa qua. Hiện thực ấy, như một bản luận tội đến những kẻ gây ra cuộc chiến này. Và xin được nhắc lại một câu, tôi đã viết đã khá lâu: Đọc “Chuyện Hai Anh Em Trên Bàn Thờ”, tôi cứ phân vân tự hỏi, nếu có ghi tên người mẹ vào trang sử của cuộc chiến, bà thuộc về những người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa hay là của những anh bộ đội?

    Có phải đó là nỗi đau chung, một nỗi đau khó xóa nhòa. Và đoạn trích dưới đây, Văn Biển sẽ làm rõ thêm cho chúng ta điều đó:

    “Lúc anh đi rồi, mẹ kể nhiều chuyện về anh, chuyện của hai đứa mình. Lúc nào anh cũng nhường nhịn em. Miếng bánh chia đôi, phần lớn anh nhường cho em. Em chỉ mong gặp anh... Nhưng không phải gặp anh trong trường hợp cả hai đứa đều trên bàn thờ.

    Buồn thật.

    Buồn và đau khổ nhất vẫn là mẹ. Mẹ đều thương hai đứa như nhau. Chắc mẹ nghĩ chẳng có thằng nào bên ta, bên địch cả”. (Chuyện Hai Anh Em Trên Bàn Thờ).

    Tiểu thuyết, hay truyện ngắn của Văn Biển thường mang tính thời sự nóng bỏng. Bởi, ông thường lấy những câu chuyện thực, đã hoặc đang diễn ra ngoài xã hội mang vào trang viết của mình. Nội dung câu chuyện bạn đọc thường biết trước, do vậy, nếu nhà văn không có tài dẫn dắt, thắt mở một cách kịch tính, thì truyện trở nên nhạt phèo. “Xin đừng biến nhân dân thành cái sọt rác” là một câu chuyện như vậy. Tuy không nằm trong số truyện ngắn hay của Văn Biển, nhưng với hình tượng so sánh ẩn dụ, ông cho người đọc hiểu rõ giá trị của Đảng hay giá trị sọt rác, thùng phân, để từ hiện thực đó, bật ra những tiếng cười châm biếm, mỉa mai sâu sắc. Đọc truyện này, làm tôi nghĩ đến bút lực của Văn Biển:

    “Bị khai trừ không còn ở trong Đảng thì trở về với dân thường, như mọi người dân bình thường thôi...

    Bác nông dân chờ mọi người yên lặng rồi nói: Tôi muốn nói hai ý. Một là các vị đánh đồng ông ấy với người dân. Ý thứ 2 tôi muốn nói vậy Nhân dân là cái sọt rác à? Cứ đảng viên nào xấu, bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng, cứ làm kiểu đó thì chẳng mấy hồi nhân dân đồng nghĩa với cái sọt rác...

    Các phế thải hữu cơ thì làm phân bón. Giấy lộn, bao bì thì tái chế thành các loại giấy từ giấy vệ sinh cho tới giấy ăn cao cấp. Không cái gì vứt đi cả. Nhưng còn những thứ Đảng thải ra chắc chắn không nằm trong danh mục tái chế được, thì Nhân dân chẳng biết dùng làm gì. Chúng tôi xin đề nghị trả lại cho Đảng”.

    Văn Biển đã mượn câu nói của ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: “Lịch sử đã giao cho các bạn Cuba đứng gác hòa bình ở bán cầu phía Tây và giao cho Việt Nam đứng gác ở đầu bên này bán cầu. Lúc Cuba thức thì Việt Nam ngủ. Lúc Việt Nam ngủ thì các bạn Cuba thức...” để viết nên truyện ngắn “Lịch Sử Là Thằng Nào Mà Ác Thế” khá hay. Tuy có một chút diễu, hề, nhưng nó không chỉ bóc trần cái ngu xuẩn của ông Chủ tịch nước, mà Văn Biển còn phơi bày bản chất của cuộc chiến huynh đệ tương tàn vừa qua. Và ông cũng không ngần ngại nguyền rủa cái thằng lịch sử khốn nạn, những tên đầu têu mua bán chiến tranh ấy:

    “Có phải là thằng lịch sử khốn nạn đó không? ... Thưa cán bộ. Em thật tình không biết lịch sử là thằng nào, mặt mũi, lòng dạ hắn ra sao mà lại giao cho Việt Nam ta toàn những việc chết người... Cán bộ làm ơn chỉ giúp em. Em sẽ thay mặt bà con chơi tay bo với hắn...”.

    Từ đó, Văn Biển cho người đọc thấy rõ bản chất lưu manh của kẻ đứng sau giật dây là giới lãnh đạo Tàu Cộng, cũng như dân trí còn thấp kém của con dân đất Việt, cùng sự ngu muội và nhu nhược của đảng và nhà nước cầm quyền:

    “... Trung Quốc sẽ đánh Mỹ cho tới người Việt Nam cuối cùng. Vậy là thằng Tàu nó khôn hơn mình, nó mượn đất đai Việt Nam, dùng xương máu Việt Nam để đánh Mỹ. Rồi dẫn tới giai đoạn nước rút, nó đi đêm với Mỹ để giải quyết vấn đề Việt Nam. Vậy máu xương con em Việt Nam không bằng lương thực quân trang quân dụng của thằng Tàu à...” (Lịch Sử Là Thằng Nào Mà Ác Thế).

    Cái chết của một chủ thuyết, không chỉ còn trong suy nghĩ, tư tưởng của Văn Biển, mà sự sụp đổ trên toàn thế giới, và cả ở nơi đã sinh ra nó là giá trị dự đoán hiện thực nhất của một nhà văn cần có. Và với tôi, trong suy nghĩ, trong cuộc sống cũng như trong văn thơ, Văn Biển đã làm được điều đó. Bởi, cái chủ thuyết ấy đã chết đi, nhưng còn rơi rớt lại cái tà đạo làm mặt nạ, cái phao cho những bầy kền kền, lợi ích nhóm, đang cỡi lên đầu, lên cổ những người dân lương thiện. Và Văn Biển cho rằng, cái ác không bao giờ chiến thắng, nếu chúng ta biết: “Hãy biết sống, dám sống. Hãy biết giữ gìn và giành lấy những gì mình đáng có, đang có”. (Que diêm thứ Tám - trang 525). Vâng! Và tôi tin chắc chắn những gì ông dự báo, viết ra sẽ trở thành sự thật:

    “Mác: Ta đã đánh trúng vào tính thiện của con người. Một thế giới không còn giai cấp. Xóa bỏ giàu nghèo, quyền tư hữu. Không còn biên giới quốc gia. Lạ thật, thế mà cả nửa thế giới tin theo. Có điều tuổi thọ của nó... Trên thế giới không có chủ nghĩa, học thuyết nào chết yểu như vậy.

    Engel giọng buồn: Sớm muộn gì rồi nhân loại cũng biết ta là ai. Dần dần họ cũng đã biết Mác là kẻ tôn thờ chủ nghĩa vô thần nhưng là đồng minh chí cốt của quỷ Sa tăng. Đuổi thánh thần ra khỏi thiên đường và bản thân mình thay mặt tạo hóa.

    Kể ra ông ngày đó cũng ghê thiệt.

    Khi chiếc mặt nạ rơi xuống... Dầu sao ta cũng không tiếc. Ít ra ta cũng góp phần hủy diệt 1/2 nhân loại, suốt hơn 1/2 thế kỷ. Nhưng nghĩ cho cùng, cái ác không thể nào thắng...” (Các-Mác Và Pho Tượng Của Mình).

    Hơn một lần tôi đã viết, nếu văn thơ không đi thẳng vào đời sống xã hội một cách trung thực nhất, đó chỉ là những trang viết chết. Thật vậy, đọc Văn Biển, cho ta thấy, văn thơ của ông đã hòa vào nhịp thở của cuộc sống và con người. Tư tưởng ấy, ngòi bút ấy đã chọc thẳng vào cái ung nhọt của xã hội đương thời. Và hơn thế nữa, thơ văn ông không chỉ là những lời cảnh báo, mà còn là một lời dự báo.

    Vâng! Nhân cách và thứ văn ấy, chắc chắn phải là thứ văn sống.

    Leipzig ngày 26-6 2017

    Đỗ Trường 

    Sửa lại lần cuối cùng ngày 24/01/2018 - Nha Trang đầu Xuân... An Viên

    Vài lời cuối của tác giả:

    Khi viết tới những dòng cuối cùng của cuốn sách, tôi đã khóc. Xin đừng cười. Hãy thông cảm cho tác giả, sắp bước vào tuổi 90 và cũng sắp tới ngày bước lên chiếc xe tồi tàn của Thần Chết đi vào nơi xa lạ. Và trong tay chẳng có tấm vé khứ hồi... Xin gửi tới các bạn lòng biết ơn nếu tình cờ cuốn sách tới tay bạn và bắt đầu mở ra... Nếu có gì đúng xin hãy chấp nhận. Nếu sai, xin lượng thứ. Dẫu đúng, dẫu sai, tôi đã viết với tất cả tấm lòng và sự cố gắng của mình…

    VB.

    Nguồn: Que diêm thứ tám.Tiểu thuyết của Văn Biển. NXB Người Việt Books, 2018.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,091,929

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/