Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,091,188

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thế lực thù địch

Hoàng Minh Tường

  • Thứ năm, 11:59 Ngày 01/04/2021
  • Cùng bạn đọc thân mến! Đây là cuốn sách in ở nước ngoài, không được phát hành trong nước. Bởi thế, thời gian qua, "Thế lực thù địch" gây sự tò mò của người đọc trong nước. Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi post 2 kỳ của phần đầu cuốn sách.

    www.trieuxuan.info

    *

    Sau này, một phóng viên nước ngoài chụp được

    khoảng khắc người biểu tình Khiển Trọc bị đạp vào

    mặt, nhoe nhoét máu, post lên mạng. Lập tức một

    phóng viên của tờ báo Tin buổi chiều tìm Hùng Hổ để

    phỏng vấn về động tác thô bạo vô văn hóa ấy với

    người biểu tình. Sự giống nhau như hai giọt nước của

    hai anh em sinh đôi, khiến người phóng viên nhầm.

    Đáng lẽ phải chú thích ảnh và viết tên nhân vật phỏng

    vấn là Cao Thiện Hùng, thì lại lầm thành Cao Thiện

    Huân. Và từ đó Huân Sói nổi tiếng với câu nói trứ

    danh, rằng anh ta hoàn toàn không cố ý, rằng người

    biểu tình đã chủ động “va mặt vào chân” anh ta (!)

    Người bị “va mặt vào chân” ấy còn bị nhiều đòn

    chí mạng trong các cuộc biểu tình liên tiếp sau đó nữa.

    Cuộc nào gã cũng xông đi đầu, lăn xả che chắn cho

    các vị cao tuổi và phụ nữ. Cuộc biểu tình gần đây nhất

    nhằm ủng hộ nông dân Văn Giang, Khiển Trọc đang

    gào đả đảo bọn ăn đất, bọn tham nhũng, bọn lợi ích

    nhóm thì bị một đòn ngầm ngang thân, lăn quay ra

    đường. Xe cứu thương đưa Khiển Trọc vào bệnh viện,

    phát hiện ra gã gãy hai xương sườn trái.

    Mối thâm thù với lực lượng chống biểu tình

    luôn thường trực trong Khiển, và bây giờ, gặp Y, lại

    bùng phát. Câu nói của Khiển Trọc đầy vẻ khiêu

    khích, nhưng y không chấp. Nhân đây y cũng muốn tỏ

    sự thân thiện họ hàng.

    - Gặp anh ở cuộc hội thảo, tôi trông anh quen

    quen, sau mới biết tôi có họ với anh về bên ngoại.

    - Cụ nội cậu gọi cụ ngoại tôi là chị họ. Xa rồi.

    Súng đại bác bắn còn chưa tới. Chúng ta cứ coi nhau

    như người cùng làng Động là được rồi. Tôi nói để cậu

    biết, cụ Nhãn bố chú Viễn mà có mệnh hệ gì là do bọn

    kiêu binh làng Phí cả đấy. Chúng nó khốn nạn lắm.

    Giả vờ tổ chức họp đại hội cựu chiến binh để hạ nhục

    ông cụ. Thực chất là một cuộc đánh hội đồng …

    Đánh hội đồng? Chuyện tày trời vừa xảy ra ở làng

    Phí hay làng Động? Y lách qua mùi hôi nách để vào

    phòng cấp cứu, nhưng bác sĩ ngăn lại.

    - Cho tôi vào, bác sĩ ơi. Tôi là người nhà ông

    Nhãn.

    - Anh thông cảm. Bệnh nhân đang rất nguy kịch

    cần được theo dõi. Đã có con trai bệnh nhân ở trong

    đó rồi.

    Vậy là Viễn đang ở bên bố. Từ phòng hội thảo

    hắn đã về thẳng đây. Y quay ra hỏi chuyện mấy người

    làng Phí về cái vụ “đánh hội đồng” ông Nhãn.

    - Có ai đánh hội đồng đâu anh ơi, nói thế oan cho

    người làng Phí - Một bà trung niên, hình như là em họ

    bố Viễn, trần tình - Thường ngày bác Nhãn nhà tôi có

    bao giờ uống say thế đâu. Chiều hôm qua bỗng dưng

    Hội Cựu chiến binh làng Phí tổ chức liên hoan đón

    nhận cờ thi đua. Nghe nói cấp trên cho tiền. Mỗi suất

    một trăm ngàn, cỗ to lắm. Ông Nhãn vừa bộ đội đánh

    Mỹ, vừa tham gia đánh Tàu, có giấy mời từ ngày hôm

    trước. Cựu chiến binh làng Phí đông nhất xã. Cả bộ

    đội, công an, thanh niên xung phong tới hơn trăm

    người, hai mươi mâm bàn tiệc, kê ba dãy, chật hội

    trường. Trước lúc vào hội nghị, người ta phân phát

    một tờ giấy kín chữ, nói là của anh Viễn, con bác

    Nhãn mới đăng trên báo. Họ bảo mọi người tranh thủ

    đọc, rồi tham gia thảo luận.

    - Bài báo gì hả cô?

    - Y vội hỏi.

    - Thì mãi sáng nay tôi mới được nhìn thấy. Nó

    đây - Người đàn bà lấy trong túi áo đưa cho y một

    tờ giấy in vi tính nhàu nhĩ.

    Y tròn mắt. Thời đại a còng có khác. Chính là bản

    tham luận của Ngô Viễn vừa đọc trong buổi giới thiệu

    sách “Đường về nô lệ”. Trước đó ba ngày, hắn đã cho

    đăng trên Blog Annammit bản tóm tắt giới thiệu tác

    phẩm Đường về nô lệ của Hayek và lời bình của hắn,

    với tựa đề: “Chúng ta đang đi giật lùi đến CNXH”.

    Chỉ vài giờ sau đã có hơn một nghìn like và mấy trăm

    comment.

    - Tôi đọc, nhưng chẳng hiểu ông Nghè Viễn viết

    - Một người đàn ông mặt nhàu nhĩ góp chuyện -

    Tiến sỹ bây giờ tức là ông Nghè ngày xưa đấy anh ạ.

    Mấy ông cán bộ xã thì bảo đây là tài liệu phản động.

    Họ bảo anh Viễn đứng đầu cái nhóm U Nô Bò gì đấy,

    đang vận động thành lập tổ chức, cầm đầu nhóm

    chống Đảng. Họ bảo vợ chồng ông Nhãn không dạy

    bảo được con, dung túng cho nó đi làm giặc… Mà

    nghĩ họ nói cũng phải. Thằng Viễn dại quá. Ông nội

    nó địa chủ, có tội với ông bà nông dân, may mà được

    tha xử bắn. Ông Nhãn muốn lí lịch các con khỏi bị ảnh

    hưởng vì ông nội, đã phải chuộc lỗi bằng cách viết

    đơn bằng máu để đi bộ đội. Đi một lần chưa đủ, đến

    khi Trung Quốc nó tràn sang, hơn ba mươi tuổi rồi, lại

    xung phong đi lần nữa. Thế nên thằng Viễn mới được

    vào đại học, được học lên tiến sĩ. Học được cái chức

    ấy tốn bao nhiêu tiền của hả anh? Các ông ủy ban bảo,

    nhà ông Nhãn phải chất vàng cao như đống rơm mới

    có được cái bằng ấy. Đảng và Nhà nước ưu đãi đến

    thế là cùng. Lại cho đi học tận bên nước ngoài. Ăn

    sung mặc sướng. Người làng Phí, tướng tá cả đống,

    nhưng từ xưa đến giờ chưa ai học cao bằng nó. Rõ

    sướng chẳng biết đường sướng. Chỉ làm cho bố mẹ

    khổ.

    - Khổ thân anh tôi - Bà cô rên rẩm - Tối qua, cả

    làng Phí lên hội trường phỉ nhổ anh Nhãn tôi. Người ta

    bắc loa phóng thanh oang oang loan đi khắp xã. Anh

    Nhãn nghĩ nhục quá, uất quá, trào máu ra thất khiếu…

    - Trời ơi, có phải vậy không cô?

    - Tôi chứng kiến toàn bộ cảnh này - Ông mặt

    nhầu nhĩ khảng định - Chiều qua, người làng Phí, có

    cả người họ Ngô, tranh nhau giành mi-cờ-rô để chửi

    rủa ông Nhãn trong bữa cỗ. Ghê quá. Tôi cứ ngỡ mình

    chứng kiến lại cái đận cải cách ruộng đất. Năm ấy tôi

    mới chỉ năm, sáu tuổi, nhưng nhớ mãi tới bây giờ…

    Lúc đầu, ông Nhãn tự ái định bỏ về. Nhưng người ta

    quây lấy, không cho về, bắt phải ngồi vào bàn tiệc

    phía gần sân khấu. Đầu tiên là ông Vận có con là đại

    tá trại giam. Ông Vận cầm chén rượu đến trước mặt

    ông Nhãn, đe: “Ông không dạy thằng con câm cái

    miệng chó lại, thì chớ có trách. Chính tôi sẽ bảo thằng

    Vấn cho bọn đầu gấu dần cho nhừ tử, rồi bỏ rọ trôi

    sông…” Đến lượt thằng Ban lác, mới đi cai nghiện về,

    dí chén rượu vào mồm ông Nhãn, rồi nhổ phì phì vào

    mặt ông: “Lẽ ra cái xuất đại học và tiến sĩ giấy kia

    phải thuộc về tôi, ông Nhãn ạ. Nhưng thằng Viễn nó

    đã nẫng tay trên, đuổi chúng tôi lên Vị Xuyên đánh

    nhau với anh bạn Đại Hán. Bây giờ tôi thất nghiệp, chỉ

    mong đất nước yên ổn mà làm ăn, thế mà thằng Viễn

    con ông lại kích động lật đổ chính quyền này. Hừ, ông

    không gọi nó về quỳ xuống để tôi dạy cho bài học là

    không xong đâu…” Có tay thương binh xóm Đình,

    uống say quá, không tự chủ nổi, cầm cả chén rượu

    tưới lên đầu ông Nhãn. Khổ thân ông Nhãn quá. Ban

    đầu, ra vẻ bất cần, việc ai nấy chịu, cứ tỉnh bơ uống.

    Sau, uống vì phẫn uất. Đến khi chửi rát quá, ông Nhãn

    xông lên định giành lấy mi-cơ-rô, thì bỗng chếnh

    choáng, gục xuống sàn…

    Y mường tượng ra cảnh đấu tố hội đồng. Trong

    ánh điện nhòe nhoẹt lúc chạng vạng, những gương

    mặt gây gây, tím tái, những ánh mắt đỏ đọc, vằn vện.

    Rượu dốc tràn các ly, trăm phần trăm. Con mồi duy

    nhất cần phải tẩy não trong bữa tiệc máu là Ngô Nhãn.

    Lão còn trong tổ chức thì bằng mọi giá lão phải tuân

    theo tổ chức. Cả cái hội cựu chiến binh làng Phí này,

    hai phần ba là đảng viên, phải tuân thủ nghị quyết của

    chi bộ, quyết cạo cho lão trọc lốc, trắng phớ như lợn

    cạo. Bố không dạy nổi con thì làng dạy bố. Hội Cựu

    chiến binh làng Phí không thể có một hội viên làm ô

    uế danh dự và thành tích bao nhiêu năm. Thà hắn sinh

    ra ở làng Động vô danh tiểu tốt, cả làng làm cốp pha,

    chạy xe ôm kiếm sống ngoài Hà Nội. Đằng này hắn lại

    là đứa con của làng Phí, đơn vị Anh hùng chống Mỹ,

    gần như nhà nào cũng có người tham gia quân đội,

    công an. Một làng cách mạng. Chưa quán triệt được

    truyền thống này thì phải dạy một cách bài bản. Bố

    không dạy nổi con thì cả làng phải dạy… Một cuộc

    đánh hội đồng tinh thần như thế, Chu Du sống lại

    cũng phải hộc máu mồm lần nữa.

    Y phải vào phòng cấp cứu để biết tình trạng ông

    Nhãn lúc này. Vả lại, để Viễn thấy trong cơn hoạn nạn

    của hắn, vẫn có y. Cầm sẵn tấm thẻ đỏ, y đẩy cửa, dí

    vào mặt ông bác sỹ, như một mệnh lệnh.

    Ông Nhãn đang nằm trên giường thở ô xy. Đầu,

    mặt và hai tay ông quấn đầy những dây, ống. Ba màn

    hình chằng chịt những biểu đồ, tín hiệu xanh đỏ. Viễn

    ngồi xế góc giường, mặt mày ủ dột đến nỗi không

    thèm để đến sự xuất hiện của y.

    Lâu lắm rồi y không gặp ông Nhãn, người mà có

    một thời từng là bạn vong niên của y. Bạn thân tới

    mức bất cứ lần nào y đến rủ Viễn đi học hay đi đâu

    đó, nếu thuận tiện là hai bác cháu lại ngồi nói đủ thứ

    chuyện. Ngày ấy, ông Nhãn mới nhận sổ thương binh,

    và những trận địa chốt mà ông từng trấn giữ trên đỉnh

    biên giới Hà Giang vẫn nóng bỏng tiếng súng. Trong

    một trận đánh đẫm máu, giành giật quyết liệt đỉnh Lão

    Sơn, Vị Xuyên, trước sự xâm chiếm của bọn Tàu,

    thượng úy Ngô Nhãn bị văng từ điềm cao 1509 xuống

    khe đá, vỡ xương má, gãy chân phải và nát bả vai bên

    trái, phải đưa gấp về trạm phẫu tiền phương, rồi quân

    y viện 103. Ba tháng điều trị, bốn tháng an dưỡng,

    thượng úy Ngô Nhãn ra quân với thương tật ba mươi

    hai phần trăm, lĩnh phụ cấp một lần và sổ thương binh

    bậc bốn. Cứ mỗi lần gặp ông Nhãn với cái chân phải

    cà nhắc kéo trên mảnh vườn và ao cá trước nhà, trong

    y lại vang lên giai điệu bài hát “Dấu chân tròn” của

    nhạc sỹ Trần Tiến. Thế hệ của ông và bố y là thế hệ

    chiến binh, học hành dang dở, đói cơm rách áo, đạn

    bom ngập trời, vậy mà buông cây súng, lại về với con

    trâu mảnh ruộng, không một lời kêu ca, oán thán. Với

    bố y, cả năm hai bố con không ngồi với nhau chuyện

    trò, tâm sự, nhưng với bố Viễn, y lại có hàng buổi

    được nghe ông kể chuyện về cái thời ông lạc trong

    rừng Miên tưởng chết vì đói và khát, về những đêm

    trinh sát ép mình giữa núi đá tai mèo Vị Xuyên băng

    giá, có lần súyt bị chết cóng. Những chuyện ấy, có khi

    Viễn không biết, nhưng y lại thuộc như những bài học

    cuộc đời…

    Bây giờ, vết thương hai cuộc chiến tranh đã liền

    da, nhưng ông Nhãn lại bị đột quỵ bởi một cuộc chiến

    khác, cuộc chiến không phải do ông gây ra. Ông là

    người bị vạ lây.

    - Tình hình ông cụ sao rồi? - Y hỏi Viễn, nhưng

    lại chăm chắm nhìn vào gương mặt bất động của ông

    Nhãn.

    - Chẳng biết sao nữa… - Viễn nói như thở hắt ra.

    Đúng lúc ấy điện thoại rung. Điện thoại của anh

    Chín. Y đưa tay ra hiệu xin lỗi Viễn, rồi vội vàng lách

    ra ngoài.

    - Alo, cậu đang ở đâu?

    - Dạ, em ở bệnh viện, chỗ ông bố Viễn.

    - Tình hình khó qua nổi phải không? Tội nghiệp...

    Vì con mà mang vạ… Có việc gấp cho cậu đấy. Cậu

    về ngay.

    Chẳng có việc gấp nào ngoài chuyện bố Ngô Viễn

    sẽ ra khỏi bệnh viện này như thế nào. Y biết Chín K sẽ

    nói với y chuyện gì?

    3

    Xóm Trại làng Phí là chỗ của dân ngụ cư. So với

    các họ Cao, họ Vũ, họ Phạm trong làng, dân họ Ngô

    chỉ là thứ tép riu. Thời cụ nội của ông Như, tức kỵ nội

    ông Nhãn, còn bị cấm không được ngồi chiếu việc

    làng. Đến đời bố ông Như, do nghề bốc thuốc có

    phúc, có lộc, họ Ngô mới có tí máu mặt, xây được cái

    nhà thờ họ trên thửa đất hai sào, nơi bố con ông Nhãn

    đang ở bây giờ. Khi xây nhà thờ họ cũng là lúc họ

    Ngô làng Phí truy tìm cội nguồn và lập gia phả. Nghe

    nói gốc tích ở Tả Thanh Oai, bèn tìm về kết nối. Thì

    ra đây là chi thứ dòng họ Ngô Thì, mà thượng tổ là

    Hoàng giáp Ngô Thì Sỹ, cha đẻ của danh nhân Ngô

    Thì Nhậm và là người thứ hai trong Ngô Gia Văn

    phái. Hồi làm Đốc trấn Lạng Sơn, cụ Ngô Thì Sỹ có

    một người thiếp, sinh hạ một người con trai. Sau đó

    Ngô Thì Sỹ bị mất đột ngột, lại gặp thời tao loạn vua

    Lê chúa Trịnh với nạn kiêu binh, mẹ con người thiếp

    lưu tán nhiều nơi, cuối cùng trôi dạt về làng Phí.

    Từ ngày tìm được gia phả và xây nhà thờ họ, dân

    xóm Trại phất lên trông thấy. Đến khi Ngô Viễn đoạt

    được học hàm tiến sĩ văn chương thì ông Nhãn giật

    mình, bởi điềm báo từ thời ông nội đã hoàn toàn ứng

    nghiệm. Có thế chứ.“Trứng rồng lại nở ra rồng/ Liu

    điu lại nở ra dòng liu điu”. Cứ vào Văn miếu Quốc Tử

    Giám mà xem. Tiến sĩ họ Ngô có cả một bồ, chứ họ

    56

    Cao có bói cả tháng cũng không thấy một mống. Ý

    ông Nhãn muốn ám chỉ họ Cao làng Phí. Cả họ đi làm

    công an. Họ Cao lại toàn thông gia với họ Vũ, họ

    Phạm, thế nên cả làng Phí, trừ xóm Trại, đều đi làm

    công an. Sự học không có gì xuất sắc, nhưng tướng tá

    công an làng Phí đông như quân Nguyên.

    Về dòng họ Cao làng Phí, từ thời lập làng đã là

    một trong ba họ khai mở, nhưng lép vế hơn hai họ Vũ,

    họ Phạm, bởi số đinh cứ teo tóp dần. Đến đời ông Cao

    Văn Cộc, do có chuyện đồi bại em trai rình ngủ với

    chị dâu, chuyện bại lộ, anh em đánh lộn nhau, dẫn đến

    trọng thương. Ông em Cao Văn Cù phóng hỏa đốt

    nhà, rồi bỏ làng đi lang bạt. Đến đời chút chít ông Cao

    Văn Cộc, tức là đời thứ năm, ông Cao Văn Ịch là

    trưởng họ, làm nghề cắt tóc dạo. La cà đây đó, ông Ịch

    được tổ chức cộng sản gây dựng thành cơ sở liên lạc.

    Phong trào Việt Minh nổi lên, ông về làng lập chi bộ

    cộng sản đầu tiên trong vùng. Rồi ông thoát ly lên

    Việt Bắc, đổi là Cao Thiện Lịch. Cuộc đổi tên này,

    ngang như việc đổi niên đại, quốc tính với các triều

    vua ngày xưa. Từ đây, tất cả con trai họ Cao làng Phí,

    khi sinh ra đều lấy tên khai sinh Cao Thiện. Hòa bình

    lập lại, ông Cao Thiện Lịch vì tính tình thật thà, mẫn

    cán, được cấp trên tin cậy, nên thăng tiến vù vù. Rồi

    ông lên Trung ương, nắm những chức vụ then chốt.

    Riêng chi họ Cao bỏ làng ra đi, tức ông Cao Văn

    Cù, năm đời sau bỗng dò tìm về làng. Ấy là ông Nhân

    Đức Khánh, hậu duệ đời thứ năm của cụ Cao Văn Cù.

    Thì ra, ông Cù sau khi đốt nhà bỏ làng ra đi, lên tít

    miền thượng du, làm con nuôi một gia đình người

    Mán Đỏ, tức người Dao Đỏ. Người Dao vốn hiếm

    con, nên rất quý người. Họ Cao cắm một nhánh ở chân

    phía tây dãy Tam Đảo, đổi họ theo bố nuôi người Dao

    và có họ tên là Bàn Ích Cù. Đến khi Việt Minh nổi lên,

    ông Bàn Sinh Cần, con ông Bàn Tiến Cận, cháu ông

    Bàn Tài Cung, chắt ông Bàn Ích Cù… trở thành đội

    viên Cứu quốc quân, được tổ chức đặt cho tên mới là

    Nhân Đức Khánh. Rồi cách mạng thành công, nhớ về

    cội nguồn, ông Nhân Đức Khánh trở về tìm gốc gác ở

    làng Phí. Rất may, gia phả họ Cao vẫn còn giữ tên

    Cao Văn Cù. Và Bàn Sinh Cần, tức Nhân Đức Khánh

    lấy lại họ cũ, là Cao Đức Khánh. Họ Cao trở thành họ

    có truyền thống cách mạng, có chiến công, vai vế nhất

    trong làng, có hai ông họ Cao là Cao Thiện Lịch và

    Cao Đức Khánh đều làm quan to cách mạng. Từ đây,

    họ Cao làng Phí chia ra hai chi, chi trưởng Cao Thiện

    và chi thứ Cao Đức.

    Dường như họ Cao đã đến thời kỳ phát, kịch phát

    chứ không phải phát thường. Do có hai vị tiền bối dẫn

    dắt, cả họ Cao đều vào ngành công an, cả hai chi

    trưởng, chi thứ đều phát tích về ngành công an.

    Thời kỳ đầu hòa bình, khi đất nước cần người

    trấn giữ những nơi đầu sóng ngọn gió, đảm trách

    những nhiệm vụ bí mật, hiểm nguy, canh cho giấc ngủ

    của dân, giữ cho địa bàn trong sạch, yên lành, quyền

    rơm vạ đá, mà chẳng có chút đãi đằng đặc biệt, chẳng

    chút màu mỡ riêu cua gì, việc tuyền người vào ngành

    công an rất khó khăn. Để làm gương, ông Cao Thiện

    Lịch phải về quê vận động con cháu, họ hàng nội

    ngoại đầu quân theo ông, gánh vác công việc với ông.

    Nhiều người đi làm quản giáo ở các trại tù chốn rừng

    xanh núi đỏ, được dăm bữa nửa tháng, chê nghề cai tù

    coi ngục thất đức, kéo nhau bỏ về quê hết. Ông Lịch

    lại về làng thuyết phục, dỗ dành mãi, họ mới trở về

    nhiệm sở.

    Nhưng rồi thế gian biến cải. Những năm gần đây,

    sắc phục áo vàng, áo xanh lá cây càng nhiều hấp dẫn.

    Đại học chuyên ngành Công an từ chỗ cử tuyển, giờ

    phải qua thi tuyển quốc gia, điểm số đầu vào cao hơn

    cả Y khoa, Bách khoa, Ngoại thương… Con cháu họ

    Cao hầu hết theo nghề ông Lịch, rồi các họ khác ở

    làng Phí, có quan hệ nội ngoại, thông gia với họ Cao

    cũng tới tấp xin vào ngành, thi vào các trường đại học

    của ngành, làm các việc thuộc ngành: lái xe, cảnh vệ,

    trại giam, hộ khẩu, an ninh, cảnh sát, chữa cháy, điều

    tra, môi trường, báo chí, truyền hình, văn công… từ

    Nam chí Bắc, từ miền núi đến miền xuôi, nơi nào

    cũng là con em họ hàng tướng Lịch. Chạy quá tốc độ,

    uống rượu bia gây va quệt, nhấc điện thoại lên, lập tức

    có người làng Phí ứng cứu. Đâm xe trên đường, dù

    chết người, một cú điện thoại cho anh em họ hàng là

    giải quyết êm ru. Hồi tướng Cao Thiện Lịch từ trần,

    riêng hoa viếng của con em làng Phí đã lên tới gần

    sáu trăm vòng. Họ Cao đề xuất với các cụ cao niên

    đúc tượng tướng Cao Thiện Lịch đặt tại khám thờ

    trong đình, phối thờ cùng Thành hoàng làng. Tết vừa

    rồi, họp đồng hương họ Cao làng Phí tại thành phố,

    thống kê sơ bộ, tướng quân đội có hai vị, tướng công

    an có chín vị, thiếu tướng Chủ tịch thành phố một vị,

    nếu kể trung tướng Huỳnh Thi Ka và thiếu tướng Đào

    Nguyên San con rể họ Cao, thì tổng số là mười một.

    Hàng tá thì vô thiên lủng. Riêng số đại tá hưởng lương

    tướng cũng hai mươi tám vị.

    Nói thêm về chi thứ ông Cao Đức Khánh. Tuy

    không phát triển rầm rộ như chi trưởng, nhưng cũng

    có nhiều người giữ những chức vụ vai vế trong ngành.

    Cho đến đời Cao Đức Chuông, con trung tá Cao Đức

    Kha, cháu nội đại tá Cao Đức Khánh, thì bỗng nhiên

    làng Phí có một nhân vật kiệt hiệt, tuổi trẻ tài cao.

    Ông Cao Đức Kha đặt tên con là Chuông để nhớ

    công lao bố mình là Khánh. Có Khánh thì phải có

    Chuông. Chuông khánh còn chẳng ăn ai… Dân gian

    thường nói thế. Thì nay thử xem chuông khánh họ Cao

    làng Phí có ăn ai không? Ông Cao Đức Kha ngầm kỳ

    vọng vào thằng con trai rạch trời rơi xuống của mình.

    Cao Đức Chuông trưởng thành từ đội trọng án

    cảnh sát hình sự thành phố. Dường như tất cả tinh hoa

    bản lĩnh phẩm chất của ngành công an cách mạng của

    cả họ Cao làng Phí đã được tập trung và nhân lên ở

    con người trẻ tuổi này. Trong vòng mười năm, từ một

    trinh sát phá án đầy bản lĩnh, gai góc và thần diệu,

    Cao Đức Chuông được phong vượt cấp hai lần, được

    phong anh hùng lực lượng võ trang, được tặng nhiều

    huân chương chiến công, được phong hàm thiếu

    tướng. Và thật thần kỳ, chưa ngồi nóng ghế giám đốc

    công an hai năm, Chuông đã nhảy vượt cấp lên chủ

    tịch thành phố.

    Cả làng Phí, từ thượng cổ, chưa ai có bước phát

    triển công danh sự nghiệp thần kỳ ngoạn mục như

    vậy.

    ***

    Trái ngược hẳn với làng Phí, làng Động bên cạnh,

    bói mãi mới có một ông trung tá chống Mỹ về hưu là

    Nguyễn Hải Trung. Chẳng phải làng Động ít người đi

    bộ đội. Kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ làng

    Động “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu

    một người”. Liệt sỹ cũng chiếm nửa nghĩa trang xã.

    Nhưng làng Động không có mả làm quan. Hết động vi

    binh lại tĩnh vi dân, buông cây súng lại về đi cày. Xưa

    làng Động có nghề thợ xẻ, con trai mười lăm tuổi, vừa

    vỡ giọng đã lên rừng xanh núi đỏ cút kít cả năm, đàn

    bà con gái ở nhà cày bừa cấy gặt, leo nóc nhà nhoay

    nhoáy để dọi chỗ giột, lợp mái gianh… Rồi dạy con,

    hầu bố mẹ chồng, tất tật. Ngày ba tháng tám nhàn rỗi

    thì vào Đanh Xuyên, Chợ Vài, xa hơn thì ngược

    Chồng Mâm, Chợ Giời, mua nứa, mua dang về làm

    thừng, lấy mo tre, nứa bán cho làng Chuông làm nón.

    Sau này, nghề cưa xẻ được cơ khí hóa, hạ cây, cưa

    ngang cưa dọc đều bằng máy, đàn ông thất nghiệp. Cả

    làng Động lại kéo nhau ra Hà Nội làm nghề cốp pha

    và chạy xe ôm. Mười người xe ôm ở Hà Nội có một

    người làng Động. Từ ngày nảy sinh ra hãng Grap, cứ

    thấy mũ bảo hiểm màu xanh nõn chuối chạy trên phố

    y rằng một nửa là dân làng Động.

    Bây giờ, người ta quen gọi làng Phí là làng Công

    An, làng Động là làng Xe Ôm.

    Xóm Trại kẹt giữa làng Động và làng Phí. Giống

    như cái miếng thịt thừa kẹp giữa hai đùi non mỹ nữ,

    đấy là cách ví von đầy hình tượng của ông nhà văn

    người trong xóm. Không làm công an, cũng chẳng xe

    ôm, người họ Ngô chỉ lo học gạo. Thì may, nảy nòi

    được ông tiến sĩ folklore Ngô Viễn và hai đứa em

    trong họ, một đang làm master ở Đại học Paris VII,

    một đứa đang là chuyên gia phần mềm ở thung lũng

    Silicon, Hoa Kỳ. Đặc biệt, họ Ngô xóm Trại có một

    nhà văn, tầm cỡ Trung ương hẳn hoi. Cuốn tiểu thuyết

    “Vùng gió quẩn” của ông được giải thưởng Văn học

    Ức Trai, được chuyển thể thành phim truyền hình 38

    tập. Đó là nhà văn Ngô Thời Bá, ông chú họ của Viễn,

    giáo viên Sử trường cấp ba Thượng Sơn.

    Thành tích đột khởi về văn hóa này khiến ông

    trưởng họ Ngô Nhãn ngầm dương dương tự đắc. Cho

    nên, sau mấy vụ mô hình vườn ao chuồng của ông

    thắng lớn, khi nghe tin thượng tá Cao Thiện Nghệ giao

    bán ngôi nhà giả cổ giữa làng vừa khánh thành với giá

    rẻ đến bất ngờ, ông liền xoắn lấy ngay. Ai cũng bảo

    Cao Thiện Nghệ vừa bán vừa cho mới có giá ấy. Năm

    gian nhà gỗ lim Nghệ An đỏ au, lại thêm căn nhà

    ngang hai tầng, tầng trên hai phòng ngủ, tầng dưới

    phòng khách, phòng ăn, bếp, toilet hiện đại như khách

    sạn, trên tổng diện tích ba trăm mét vuông, mà giá chỉ

    bằng cái xe ô tô cà tàng bẩy chỗ. Thì ra người bán vừa

    có lộc lớn. Cao Thiện Nghệ mới được thăng hàm đại

    tá, lại được bổ nhiệm giám thị khu trại giam T17, một

    đại nông - công trường vùng Bình Nguyên, được cấp

    hẳn một căn biệt thự do tù nhân làm tặng giám thị tiền

    nhiệm, được quyền đưa cả gia đình bố mẹ, vợ con vào.

    Lộc lớn thế, nên ngài tân đại tá vừa bán vừa cho, cũng

    phải. Vả lại, làng Phí giờ khối nhà bỏ hoang. Biết

    vậy, ông Nhãn liền tỏ vẻ chê ỏng chê eo, để Cao Thiện

    Nghệ phải bớt cho ông năm mươi triệu. Mua căn nhà

    giữa làng này, ông Nhãn muốn tỏ cho họ Cao biết họ

    Ngô của ông giờ cũng chẳng phải tép riu. Ông nhường

    căn nhà xóm Trại cho Ngô Viễn, con trai trưởng, sau

    này thờ phụng dòng tộc. Vợ chồng ông và cô con gái

    út tật nguyền vào ở nhà mới, để giữ phần cho anh thứ

    hai Ngô Việt đang làm ăn trong Sài Gòn.

    Nhưng sự đời, của rẻ là của ôi. Từ ngày dọn về

    ngôi nhà mới, ông Nhãn như cua chui vào rọ. Hệt như

    cái cứ điểm Điện Biên Phủ giữa lòng Mường Thanh,

    quay phải họ Cao, rẽ trái họ Cao, “tứ bề thọ địch”.

    Nhất cử nhất động của vợ chồng ông đều bị kiểm soát,

    bởi xung quanh nhà ông san sát những ngôi nhà cao

    tầng của những tướng tá về hưu, dẫu đang có biệt thự

    ở Hà Nội và khắp các tỉnh thành cả nước, nhưng vẫn

    xây nhà ở quê cho bố mẹ, ông bà và để làm nơi về giỗ

    chạp, tết nhất. Từ khi Ngô Viễn mở trang mạng Blog

    Annammit, nhà ông Nhãn khác nào cái ống nhổ giữa

    làng hứng trọn những lời chửi rủa.

    Buổi chiều liên hoan Hội cựu chiến binh, cũng là

    lúc nước đổ tràn ly. Ông Nhãn gục ngã trên bục hội

    trường khi chỉ kịp nói: “Các người đừng đổ oan cho

    thằng con tôi…”

    ***

    Qua ba ngày cấp cứu, ông Ngô Nhãn tắt thở tại

    bệnh viện.

    Blog Annammit đăng thông báo tin buồn, kí tên

    trưởng nam Ngô Viễn và xin cáo lỗi đóng cửa trang

    mạng cho tới khi thích hợp.

    Y là thằng bạn học đầu tiên gặp Ngô Viễn khi

    hắn đang ôm đầu ngồi gục trước nhà xác. Viễn suy

    sụp thảm hại. Trên vầng trán bướng bỉnh của hắn bỗng

    63

    xuất hiện một mớ tóc bạc. Vừa chạm tay vào vai Viễn,

    hắn bỗng chồm dậy, nhìn y xa lạ, rồi túm lấy hai vai y,

    rung lắc mãi:

    - Mày nói đi, thầy tao có tội gì?

    Trong khoảng khắc ấy, y như thể đại diện cho

    những thế lực, những mưu mô dẫn đến cái chết của bố

    Viễn. Không tự dưng mà ông Nhãn đột quỵ. Đạn bom,

    chết chóc suốt hai cuộc chiến tranh chống Mỹ, chống

    Tàu đâu có giết nổi ông. Đến như chất độc da cam len

    lỏi vào người ông, buộc ông sinh ra đứa con gái tật

    nguyền để đeo bám vợ chồng ông cho tới chết, nhưng

    ông vẫn vượt qua được. Vậy mà bây giờ ông chết vì

    lời khích bác, phỉ nhổ của người làng Phí… Hu

    hu…Viễn đổ gục vào người y, khóc như một đứa trẻ.

    Chưa bao giờ y thấy thương Viễn như lúc ấy. Y như

    thấy mình có lỗi. Nếu y có mặt trong cái buổi chiều

    nghiệt ngã vừa rồi, giữa hàng chục cựu binh làng Phí

    mặt tím tái vì rượu, hừng hực như chảo lửa, tai âm âm

    những tiếng nói “Công an nhân dân còn Đảng còn

    mình”, “Hãy giữ lấy chế độ, giữ lấy cái sổ hưu”…, thì

    y cũng không buông tha ông Nhãn. Tội của ông Nhãn

    là không dạy được thằng con trai. Nó đang rắp tâm

    làm một cuộc tạo phản.

    Lỗi của y là không khuyên can được bạn. Để có

    được cái bằng tiến sỹ, để giành được một xuất viện sỹ

    tại một Viện nghiên cứu hàng đầu quốc gia, đâu phải

    chuyện dễ như đứng dưới gốc khế cầm sẵn túi ba gang

    hứng vàng của chim đại bàng? Y học hành có kém gì

    Viễn, mà còn trầy trật mong kiếm cái bằng thạc sỹ báo

    chí cũng không xong. Hắn có phúc, có mả ông tổ táng

    hàm rồng thì phải biết giữ mình, làm rạng danh cho

    dòng tộc chứ. Bậc tiền bối của Viễn, Tiến sĩ Ngô Thì

    Nhậm, nếu không theo Tây Sơn, chắc hẳn sự nghiệp

    ngoại giao, quân sự, văn chương của ông không thể

    hùng vĩ đến vậy. Cái thói ngông nghênh ta đây kẻ sỹ,

    theo voi ăn bã mía của Viễn, là nguyên nhân dẫn đến

    cái chết của cha hắn. Giỏi giang như Trần Huỳnh Duy

    Thức, Lê Công Định, kiêu ngạo như Cù Huy Hà Vũ,

    Lê Quốc Quân, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh mà cuối

    cùng cũng phải vào nhà đá bóc lịch. Đến như tướng

    Trần Độ, văn võ song toàn, đại tướng Võ Nguyên

    Giáp cũng quí mến, cảm phục mà còn ra bã, thì lũ tép

    mại như hắn là cái thá gì? Lịch sử đã an bài rồi. Chủ

    nghĩa Xã hội là xu thế tất yếu không thể đảo ngược.

    Đảng Cộng Sản là đại diện duy nhất lãnh đạo đất

    nước, không thế lực nào có thể thay thế. Trứng chọi

    đá, ích gì? Đã không dưới một lần y nói với Viễn

    những điều gan ruột ấy, mà lần nào hắn cũng phát

    khùng, mắng y té tát. Và cho đến bây giờ, hắn vẫn

    không chịu hiểu. Thầy tao có tội gì? Chừng nào hắn

    còn chưa vứt câu hỏi lố bịch và ngu xuẩn ấy ra khỏi

    đầu thì căn bệnh vĩ cuồng của hắn vẫn hết thuốc chữa.

    - Thôi, đừng dằn vặt nữa - Y an ủi bạn - Không ai

    thay được số phận. Bây giờ là lúc mày phải tỉnh táo để

    lo hậu sự cho ông cụ. Tao không hiểu mày nghĩ thế

    nào mà không tổ chức tang lễ tại bệnh viện. Ở đó dịch

    vụ hoàn hảo, lại thuận tiện khi đưa cụ ra đài hoàn vũ.

    Mai Thy, như một cái bóng, đứng cạnh hai đứa tự

    lúc nào. Nàng ý tứ dúi vào tay y một mẩu giấy. Y biết

    nàng đang muốn giấu chồng một điều gì.

    - Em cũng bàn với anh Viễn thế, nhưng nhà em

    không nghe…

    Viễn trừng mắt dữ tợn:

    - Không bàn bạc gì nữa. Chờ xe dịch vụ đưa ông

    cụ về nhà. Em về trước đi. Nói với chú Bá và mọi

    người lo thu xếp để chiều nay liệm thầy…

    Vậy là kế hoạch lại thay đổi. Anh Chín K quả

    quyết tang lễ phải tổ chức tại bệnh viện. Đích thân anh

    đã điện cho lãnh đạo Tỉnh và giám đốc bệnh viện, giao

    nhiệm vụ. Nhưng giờ đành phải thực hiện phương án

    hai như y đã đề xuất, tức là tổ chức tang lễ tại xóm

    Trại. Đây là kế hoạch đột xuất mà đích thân tướng

    Huỳnh Thi Ka vừa chủ trì cuộc họp gấp để lên phương

    án triển khai. Y là người trực tiếp chỉ đạo và phải chịu

    toàn bộ trách nhiệm giữ gìn an ninh tuyệt đối cho đám

    tang. Anh Chín nhấn mạnh: Đám tang bố Viễn sẽ là cơ

    hội cho bọn Rận chủ tập hợp, là cái cớ để các thế lực

    thù địch tìm cách chống phá. Không được để cho kẻ

    xấu lợi dụng, kích động. Không được để xảy ra bất cứ

    hành động quá khích hoặc tuyên truyền xuyên tạc nào.

    Có một trục trặc ngoài dự kiến của y. Khi xe của

    bệnh viện đưa thi hài ông Ngô Nhãn về làng, một toán

    các ông già, không phải người họ Cao, mà người các

    họ Phạm, họ Vũ, họ Nguyễn, họ Bùi, chắn ngang

    đường. Họ tuyên bố xanh rờn: Không được đưa người

    chết về nhà, mà phải đưa về cầu quán ở cuối làng, nơi

    đặt tạm thi thể những người chết đường chết chợ, chết

    vì tai nạn, chết ở bệnh viện. Tục lệ của làng từ cổ xưa

    vẫn vậy.

    Người già họ Ngô, rồi cả nhà văn Ngô Thời Bá,

    cả đích thân trưởng nam Ngô Viễn chỉ thiếu nước quỳ

    lạy mà vẫn không xoay chuyển được các ông già. Đến

    lúc này thì y phải xuất chưởng. Y gặp bí thư và chủ

    tịch xã đề nghị giải cứu, rằng đây là chủ trương của

    lãnh đạo từ Trung ương, hãy để gia đình đưa ông Ngô

    Nhãn về nhà để làm tang lễ, như nguyện vọng của họ.

    Cả hai vợ chồng Ngô Viễn cùng đến trước y nói

    lời cảm tạ. Viễn vừa nói vừa khóc: “Hãy cho vợ chồng

    tôi lạy sống ông một lạy”. Y nắm tay hai vợ chồng,

    nghẹn ngào: “Hãy cho tao được làm con của thầy, ít ra

    là trong hôm nay”.

    Rồi y nói riêng với Mai Thy: “Đọc mảnh giấy,

    anh nhận ngay ra ý muốn của Quỳnh Thy. Anh coi

    như một mệnh lệnh. Ngày mai Ngô Việt sẽ về đến

    nhà, kịp chịu tang bố. Em nói để anh Viễn yên tâm

    nhé”.

    Lễ viếng ông Ngô Nhãn tại nhà riêng ở xóm Trại

    làng Phí sẽ bắt đầu từ tám giờ sáng đến hai giờ chiều.

    Lễ tang sẽ tổ chức ngay sau đó, cho đến khi hạ huyệt

    tại nghĩa trang của làng. Điều khó khăn và chớ trêu

    nhất của y là cùng lúc đóng hai vai: vừa là bạn chí

    thân của Viễn, giúp hắn tiếp khách và tổ chức tang lễ,

    vừa là đặc phái viên của Bộ, trưởng ban an ninh tang

    lễ, có mật hiệu là Ban TL2. Y xin với họ Ngô cho y

    được chứt khăn trắng chở ông Nhãn. Ban đầu, Ngô

    Viễn không nhận, nhưng sau đành phải chiều y.

    Hội đồng họ Ngô định quàn ông Nhãn tại nhà ba

    ngày để chờ anh con thứ hai Ngô Việt, chờ họ hàng

    nội ngoại, anh em bạn bè tề tựu đông đủ trước khi tiễn

    đưa ông Nhãn ra đồng, nhưng trước sức ép của chính

    quyền địa phương, lí do để đảm bảo vệ sinh môi

    trường và giữ gìn phong tục truyền thống, Ngô Viễn

    phải chấp nhận tổ chức đám ma nhanh gọn trong một

    ngày. Vậy là cho đến trước giờ viếng ông Ngô Nhãn,

    y chỉ có vỏn vẹn mười tám giờ đồng hồ để triển khai

    toàn bộ phương án an ninh. Theo nhận định của Ban

    TL2, đây là cơ hội để Ngô Viễn tập hợp bọn Việt Tân,

    các trí thức dân chủ bạn bè hắn, các tù nhân lương tâm

    và đám quần chúng lâu nay vẫn theo Viễn xuống

    đường biểu tình. Rất có thể, nhiều nhân vật cộm cán,

    nhiều phần tử chống đối sẽ kéo nhau tụ tập để biểu

    dương lực lượng, tuyên truyền xuyên tạc. Sẽ xuất hiện

    băng rôn khẩu hiệu, băng tang với những thông tin

    chống phá Đảng và Nhà nước.

    Tại Hà Nội, đội quân canh me, tiếng lóng gọi là

    “bánh canh” được lệnh khẩn cấp mật phục trước nhà

    hơn sáu mươi phần tử trong danh sách sổ đen. Không

    để bất cứ ai thân thiết với Ngô Viễn dời khỏi nhà

    trong ngày diễn ra tang lễ bố Viễn. Liên lạc với các

    tỉnh, nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, xem có

    cá nhân, tổ chức nào bay ra dự đám tang thì tìm mọi

    cách ngăn chặn.

    Về phía địa phương, lực lượng tăng cường của

    Bộ, của tỉnh phối hợp với huyện và xã chốt chặn các

    ngả đường về xóm Trại. Các quầy bán hoa, khi thấy

    có người mua hoa tang khả nghi phải báo ngay với lực

    lượng an ninh. Không viết băng tang có dòng chữ “Vô

    cùng thương tiếc”. Tốt nhất là vận động các quầy bán

    hoa ở thị trấn phố huyện và chợ Phí nghỉ bán hàng

    một ngày.

    Tướng Huỳnh Thi Ka điện cho y: “Đây là dịp mở

    đường nhân ái để kéo Ngô Viễn trở về với chúng ta,

    cũng là dịp không cho các thế lực thù địch ngóc đầu

    dậy. Đồng chí phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về an

    ninh đám tang này. Thành phố đã điều hai xe bus và

    một xe cứu thương túc trực để hỗ trợ. Phần tử nào

    chống đối hoặc gây rối, phải xử lí ngay”.

    ***

    Đám tang thuê dịch vụ trọn gói từ A đến Z, bao

    gồm phông bạt, bàn ghế, phường bát âm, đội tiêu binh,

    kiệu phú y, kiệu nhà đòn, quần áo xô, khăn chở, cờ

    phướn, hương hoa, vv… Bạt lớn căng kín khoảng sân

    rộng. Linh cữu quàn ở giữa nhà, bài vị đặt trên chiếc

    kiệu ngoài hiên, phía trên căng tấm băng đen, hàng

    chữ trắng: “Vô cùng thương tiếc cụ Ngô Nhãn”. Cạnh

    bàn bài vị, một chiếc gậy tre, một mũ rơm và bộ áo xô,

    phần của anh con trai thứ Ngô Việt vẫn để sẵn chờ

    chủ. Người làng Phí lâu nay vẫn tưởng Ngô Việt vào

    làm ăn trong Sài Gòn, chỉ duy nhất vợ chồng Viễn và

    ông Nhãn khi sống, biết Ngô Việt đã dính vào đường

    dây vận chuyển ma túy và đang bị giam giữ cải tạo.

    Việc giải quyết cho Việt về chịu tang bố là bất khả thi,

    nhưng nếu có ý kiến của tướng Huỳnh Thi Ka thì vẫn

    có hy vọng.

    Khi đội bát âm mười hai người, đồng phục trắng

    có dây tua, ngù vai vàng, mũ kê-pi như đội quân nhạc,

    tấu lên khúc lưu thủy ai oán, thì đột ngột có mấy

    người, quần áo xanh bộ đội, mặt mũi phừng phừng

    hùng hổ tiến vào.

    - Gia chủ đâu rồi, anh Ngô Viễn đâu rồi?

    Nhà văn Ngô Thời Bá, đầu quấn khăn trắng đang

    cùng đứa cháu buộc hai cây chuối non trước kiệu, vội

    quay lại.

    - Dạ, chúng tôi đây, ôi, xin có lời chào ông Hiều,

    ông Ngũ, ông Ruyện, ông Vạn…Quí hóa quá. Mời các

    ông vào trong nhà xơi nước, chúng tôi sẵn sàng được

    hầu chuyện.

    - Ông là chú họ tá ơ, nhà văn thơ Ngô Thời Bá,

    chúng tôi còn lạ gì - Ông Hiều cao gầy, râu tóc lơ phơ

    mặc bộ đồ lính nhàu nhĩ đeo huân chương đầy ngực,

    gạt tay - Bảo anh Viễn trai trưởng ra đây, hội cựu

    chiến binh chúng tôi có vấn đề cần trao đổi.

    Ngô Viễn, đầu đội nùn rơm, áo xô, dây chuối thắt

    ngang lưng, cùng Mai Thy chân đất áo xô, đầu úp bồ

    đài, từ phía linh cữu đi ra.

    - Dạ, chào các cụ. Chúng cháu xin nghe đây ạ.

    Ông Vạn phủi tay khi có người kéo chiếc ghế

    nhôm mời ngồi:

    - Hội cựu chiến binh chúng tôi đề nghị gia đình

    thay băng khẩu hiệu kia. Không thể để “Vô cùng

    thương tiếc” được. Ông Nhãn chết vì bệnh chứ có chết

    ở chiến trường đâu mà bắt chúng tôi thương tiếc. Mà

    ai vô cùng, hử? Làng xóm thương tình cho mang quan

    tài vào nhà là đã trái tục lệ lắm rồi. Giờ lại nống lên,

    bắt chúng tôi thương tiếc. Hớ hớ… Lạ đời.

    Ông Ruyện thấp lùn hùa theo:

    - Phải bỏ cái băng tang kia xuống. Ngứa mắt lắm.

    Ông Ngũ cụt, phất cái ống tay áo dặt dẹo.

    - Chỉ đề: “Đám tang ông Ngô Nhãn” là đủ. Không

    cần vô cùng thương tiếc. Hồi đám tang ông Trần Độ ở

    Hà Nội cũng làm như thế. Đến vòng hoa của Đại

    tướng Võ Nguyên Giáp muốn đề vô cùng thương tiếc

    cũng phải gỡ bỏ nữa là. So với tướng Trần Độ thì ông

    thượng úy về hưu Ngô Nhãn không là cái thá gì nhé.

    Ông Trần Độ phản bội Đảng, không được ai thương

    tiếc. Ông Nhãn không dạy nổi con, cũng hùa theo

    phản bội Đảng, làm sao còn được chúng tôi thương

    tiếc.

    Mai Thy liếc thấy người Viễn run bắn lên, mặt

    Viễn tím đen, mắt đỏ đọc như con trâu đực sắp vào

    cuộc chọi, vội bấm mạnh tay chồng, không cho hắn

    nói.

    Nhà văn Ngô Thời Bá nhoẻn cười:

    - Cám ơn các ông đã dạy bảo. Gia chủ xin ghi

    nhận thịnh tình. Giờ thì mời các ông lại nhà - Đoạn

    ông nhà văn hai tay chống nạnh, hất hàm, rồi dõng dạc

    ra lệnh - Con cháu họ Ngô đâu, tiễn khách!

    Đám thanh niên lực lưỡng, khăn trắng ngang đầu,

    ngoan ngoãn nhưng kiên quyết thực thi nhiệm vụ. Chỉ

    thiếu lấy lá chuối lót tay. Mấy ông cựu binh chẳng còn

    cơn cớ gì để gây gổ, bực bội rút lui.

    Kèn trống lại tấu lên. Lần lượt con cháu, họ hàng,

    thông gia, bạn hữu mang vòng hoa, đồ lễ vào viếng.

    Bỗng ngoài đường có tiếng cãi cọ, xô xát. Hình

    như có cuộc ẩu đả. Y biết, đội an ninh bắt đầu làm

    nhiệm vụ. Máy điện thoại cùng lúc réo liên hồi. Tiếng

    đại úy Thắng: “Báo cáo anh, bọn dân chủ đến rất

    đông. Các vòng hoa đều đeo băng rôn”. Liền đó là tin

    nhắn của Tuẫn Chiết da: “Cậu cho người dẹp ngay

    bọn Việt Tân”. Vậy là Tuẫn Chiết da đang trà trộn

    trong mấy đoàn khách từ chiếc xe mười sáu chỗ và

    năm chiếc xe con, vừa bị ách lại.

    Từ các ngõ xóm, đội quân xe ôm làng Động túa

    ra. Khiển Trọc cầm đầu, tay khua khoắng chỉ huy và

    luôn mồm quát tháo vào điện thoại. Hai hôm nay,

    cánh xe ôm làng Động nghỉ việc, kéo nhau về làng

    hết. Đám tang người xóm Trại làng Phí, nhưng cánh

    xe ôm làng Động lại coi như người làng mình. Phía

    các ngõ đối diện, đội quân “bánh canh” làng Phí ngoài

    Hà Nội, “lực lượng 47” làng Phí ở các nơi cũng kéo cả

    về làng. Hai đội quân giáp mặt nhau dọc trục ngõ vào

    nhà tang lễ. Đội quân xe ôm lao đến, đón các vòng

    hoa tang từ những chiếc xe của khách. Một loạt vòng

    hoa đeo băng rôn đen, chữ trắng: Hội Lương tâm, Hội

    anh em dân chủ, Văn bút độc lập, Hội nhà báo độc

    lập, Hội nông dân đòi ruộng đất, Hội anh em Kito

    hữu, Hội phản đối đường lưỡi bò, Vì môi trường xanh,

    Hội phản đối Formosa, Hội cựu binh chống bành

    trướng, Những người bạn của Blog Annammit, Nông

    dân Văn Giang, Đại diện nông dân Đồng Tâm… Trời

    ơi, thoáng nhìn y đã vã hết mồ hôi. Không gỡ bỏ các

    băng chữ kia thì y sẽ bị gỡ bỏ hết sao vạch, bị tống

    vào tù. Đời y sẽ đi tong. Y dằn giọng vào máy bộ đàm.

    Tổng huy động các mũi tiến công. Cuộc giằng co

    quyết liệt giữa lực lượng an ninh và đám khách đến

    viếng, thực chất là cuộc giằng co giữa hai làng Động

    và Phí. Cánh xe ôm làng Động làm sao đọ sức được

    với đám “bánh canh”, “lực lượng 47”? Vài vòng hoa

    bị văng tung tóe. Cuối cùng thì các băng chữ cũng

    phải gỡ bỏ.

    Điều Y thực sự bất ngờ là trong đám đi ô tô, có

    nhiều nhân vật trong sổ đen, bị giám sát không được

    đi khỏi nơi cư trú. Với những phần tử này, thành phố

    đã lập các tổ chốt chặn, nhân viên an ninh mặc thường

    phục, được hưởng thêm phụ cấp, canh giữ 24/24 giờ.

    Thanh niên họ Cao làng Phí được tuyển dụng vào lực

    lượng này khá đông, ngoài nhiệm vụ “bánh canh” còn

    có thêm nhiệm vụ dư luận viên (lực lượng 47), hằng

    ngày lên mạng phản bác lại các luận điểm xuyên tạc.

    Những ngày dự đoán có biểu tình, thì nhanh chóng

    triển khai quanh tượng đài Vua Lý Thái Tổ, tượng đài

    Lê Nin, trước Nhà Hát Lớn… để phá người tụ tập và

    giúp lực lượng cảnh sát hốt họ lên trại Lộc Hà. Chỉ

    huy lực lượng 47 là đại úy Cao Thiện Hùng, em sinh

    đôi với trung tá Cao Thiện Huân. Chính Hùng đã có

    sáng kiến vận động một số người trong câu lạc bộ

    nhảy đầm ra chiếm lĩnh không gian trước tượng Vua

    Lý mỗi khi thấy có dấu hiệu biểu tình để cản các “thế

    lực thù địch” tụ tập. Sáng kiến “văn hóa” này đã được

    tướng Chín K đánh giá rất cao, được biểu dương và

    Hùng được thăng hàm thiếu tá vượt thời hạn một

    năm. Rồi chính Hùng lại được phân công đặc trách lực

    lượng “canh me” toàn thành phố. Mấy nhân vật cộm

    cán kia đã được lực lượng “canh me” của Hùng chăm

    sóc từ hôm trước, mà sao lại có thể lọt lưới về đây?

    Cái bọn Rận chủ này như có phép biến hóa của Tôn

    Ngộ Không, như có ba đầu sáu tay, canh me đến thế

    mà chúng vẫn kéo về đây được. Y điện ngay cho Chín

    K. “Dạ thưa anh, các phần tử có mặt trong buổi giới

    thiệu sách Đường về nô lệ đều xuất hiện tại đây. Dạ,

    có cả giáo sư Ngô Đức Thọ, Chu Hảo, Nguyễn Huệ

    Chi, Nguyễn Quang A, Nguyễn Thanh Giang, Dương

    Danh Dy, Phạm Toàn, Nguyễn Đăng Quang và một

    loạt các chủ trang mạng Bà Đầm Xòe, Tễu Blog, Bauxite, Anh Ba Sàm… Dạ, rất khó kiểm soát ạ. Tuy nhiên

    tất cả các vòng hoa có ghi tên các đoàn thể, cá nhân…

    đều đã bị thu lại hết ạ.”

    Qua điện thoại, y biết anh Chín rất thất vọng về y.

    Hãy tống hết bọn chúng lên xe bus đưa về trại Lộc Hà.

    Nhưng y không thể làm theo lệnh anh được. Đám tang

    tướng Trần Độ ở tầm quốc gia, trong khuôn viên nhà

    tang lễ quốc gia với sự tham dự của hàng trăm tướng

    lĩnh về hưu, hàng trăm trí thức tên tuổi và hàng nghìn

    người mến mộ, phải làm quyết liệt để răn đe, để ngăn

    chặn bạo loạn. Thậm chí vòng hoa của đại tướng Võ

    Nguyên Giáp cũng phải xử lí. Nhưng đây là một vùng

    quê. Đám tang ông Ngô Nhãn cũng chỉ bó hẹp mấy

    thôn trong xã. Xưa nay không chỉ “hôn nhân, điền

    thổ” mà cả “tang gia, điền thổ” cũng “vạn cổ chi thù”.

    Làm căng quá, án mạng như chơi.

    - Gay rồi anh ơi, bọn xe ôm làng Động ra tay rồi -

    Tiếng cậu Thắng phụ trách an ninh huyện thở hổn hển

    trong máy.

    Y tức tốc rẽ đám đông ngoài cổng để vào sân tang

    lễ.

    Hầu như tất cả dân xe ôm và cốp pha làng Động

    đang làm ăn ngoài Hà Nội, người nào cũng mặc quần

    áo xanh công nhân, đầu chứt khăn tang trắng, đứng

    thành ba hàng ngang trước bài vị ông Nhãn, do Khiển

    Trọc dẫn đầu. Có mấy người mà y nhẵn mặt trong

    những cuộc biểu tình ở Hồ Gươm, hôm nay mặc cả

    áo phông phản đối đường lưỡi bò, phản đối Formosa

    đến viếng. Ôi, gì thế kia? Y không tin ở mắt mình.

    Hầu như tất cả băng tang trên những vòng hoa viếng

    mà đội quân của y đã bóc khỏi các vòng hoa, thì như

    có phép lạ, bỗng được những người xe ôm làng Động

    gom hết lại, giang hai tay căng ra trước linh cữu. Sau

    này y mới hay, đó là nhờ sự ranh ma của đám trẻ con

    xóm Trại. Chúng đã đánh cắp những dải băng tang

    trao hết cho Khiển Trọc. Vô hình chung, giữa xóm

    Trại, làng Phí, bỗng có một màn trình diễn ấn tượng

    của các lực lượng dân chủ…

    Màn trình diễn này nhanh chóng được các máy

    điện thoại, các máy ghi hình chớp lấy.

    Y hoảng hốt như chính mình vừa làm một điều gì

    khủng khiếp, định rút điện thoại gọi cho Chín K,

    nhưng chợt nghĩ lại, đành phó mặc.

    ***

    Rồi cao trào của vở diễn cũng đến.

    Sự trùng hợp ngẫu nhiên hay sự nhắc lại trớ trêu

    giữa hai đám tang cách nhau hơn một thập kỷ. Dường

    như một phiên bản, nhỏ hơn, đã được lặp lại. Khác

    chăng là một đám tang tầm cỡ quốc gia tổ chức tại

    Hà Nội và một đám tang của một thường dân ở một

    vùng quê ít người biết tới. Y nhớ như in đám tang

    trung tướng Trần Độ mà y được tham dự với nhiệm vụ

    một sĩ quan an ninh khoác áo dân sự. Hôm ấy, y trà

    trộn vào đám trí thức máu mặt để nhận diện và nắm

    bắt tình hình.

    Lách qua đám đông trùng trùng, qua tầng tầng

    quân phục xếp hàng tề chỉnh, y cố tìm một vị trí gần

    linh cữu nhất. Bản nhạc Hồn tử sĩ như từ những cánh

    rừng xa Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn vang lên. Cả

    ngàn người im phắc đứng tưởng niệm người quá cố. Y

    thấy vòng hoa của đại tướng Võ Nguyên Giáp từng bị

    chặn lại ngoài cổng, bỗng được ai đó lén đặt bên quan

    tài, vẫn có dòng chữ Vô cùng thương tiếc không bị gỡ

    bỏ.

    Ông Chánh văn phòng, nơi trung tướng Trần Độ

    từng làm Phó Chủ tịch Quốc hội, lên đọc điếu văn.

    Giọng ông trầm bổng, hùng hồn khi đọc công lao vị

    tướng tài ba, nhà văn hóa tiên phong… Nhưng càng về

    cuối, giọng ông càng nhỏ lại. Hình như hàng nghìn

    cặp mắt đồng chí đồng bào trong nhà tang lễ, hàng

    trăm máy ghi âm ghi hình đang chĩa vào ông với một

    năng lượng cộng hưởng nghìn độ, khiến mồ hôi ông

    tóa ra, đọng từng giọt lớn trên mặt. Và ở đoạn cuối,

    ông không giữ được bình tĩnh, giọng ông lắp bắp, như

    bị hụt hơi: “…Tiếc rằng cuối đời, đồng chí đã phạm

    những sai lầm…”

    Ngay khi ông Chánh văn phòng vừa dứt lời,

    những âm thanh ầm ầm chuyển động trong dòng

    người từ ngoài khoảng sân rộng, dội vào phía trong

    nhà tang lễ. Những âm thanh lớn dần, rồi vỡ ra, tựa

    như tiếng gầm thét của một cơn địa chấn, một đợt

    sóng thần ập vào bờ: Kéo thằng Chánh văn phòng

    xuống. Đập chết nó đi. Ai cho phép nó xúc phạm

    tướng quân Trần Độ? Quân ăn cháo đái bát. Đồ gắp

    lửa bỏ tay người. Xé nát cái bản điếu văn chó má ấy

    đi… Những tiếng gào. Tiếng nức nở. Tiếng la hét.

    Chúng tao là lính đại đoàn 312 đây. Lính chiến Điện

    Biên Phủ thứ thiệt đây. Chúng mày đã gặp lính Mặt

    trận giải phóng của tướng Trần Độ chưa? Bọn tao bộ

    đội Tây Nguyên. Chúng tao ở chiến trường Lào và

    Campuchia. Còn đây là thế hệ thiếu úy viết văn, bạn

    lính và bạn văn chương của nhà văn Trần Độ…

    Không khí nhà tang lễ như trước cuộc tạo sơn. Và

    rồi bão tố nổi lên khi con trai cả tướng Trần Độ giật

    lấy micro: “Chúng tôi không công nhận lời điếu văn

    vừa đọc…” Hàng loạt tướng tá, cựu chiến binh, huân

    chương đỏ trĩu hai thân áo phía trước, từng là đồng đội

    vào sinh ra tử của tướng Trần Độ khắp các chiến

    trường chống Pháp, chống Mỹ, chống Polpot, chống

    Trung cộng, cố chen lấn bao vây người vừa đọc điếu

    văn. Bỗng tiếng ai đó gầm lên, đanh sắc, như khẩu

    lệnh xung phong: “Các đồng chí, làm nhiệm vụ!”.

    Tiểu đoàn cảnh sát cơ động xuất hiện. Mũ phòng độc,

    khiên, giáp, roi điện, giày đinh… lừ lừ tiến như đội

    quân robot. Nếu không có sự can thiệp và giải thoát

    kịp thời của đơn vị tinh nhuệ này, ông chánh văn

    phòng rất có thể đã thành một đống rẻ rách bầy

    nhầy…

    Đám tang ông Ngô Nhãn, với cấp độ nhỏ hơn

    nhiều, lại ở một xó làng khuất nẻo, vậy mà y thấy hầu

    như nó được sao chép nguyên xi từ đám tang của

    tướng Trần Độ hơn mười năm trước. Không hiểu ai đã

    chỉ đạo? Chắc anh Chín cũng không có thời giờ để

    nghĩ tới chuyện này. Nhưng rõ ràng là có bài bản, chứ

    không phải ngẫu nhiên. Ông trưởng thôn làng Phí có

    cho ngậm sâm cũng không dám tự tiện đọc điếu văn

    phê phán, kết tội người chết trước anh em họ hàng và

    bàn dân thiên hạ… Và lần này, tiến sỹ Ngô Viễn, con

    trai cả của ông Ngô Nhãn, cũng không còn giữ được

    bình tĩnh nữa. Đang ở tư thế hai tay chỗng gậy, đầu

    cúi gập, Viễn bỗng vung gậy, nhoài người cướp micro,

    gào lên nức nở: “Tôi phản đối, không công nhận lời

    điếu văn của ông trưởng thôn về thầy tôi. Các người

    đã gây ra cái chết này, giờ các người lại lên mặt dạy

    đời. Thầy ơi, con có tội với Thầy…”

    Đám chú bác anh em họ Ngô xóm Trại nổi giận

    xung thiên. Mấy ông già râu tóc bạc trắng chỉ tay đòi

    bắt trói người vừa đọc điếu văn, dám bịa tạc bêu riếu

    người họ Ngô.

    An ninh lập tức nhảy vào can thiệp. Người ta giải

    cứu ông trưởng thôn ra ngoài. Ông đại diện Hội người

    cao tuổi xã phải dàn hòa. Rằng đáng lẽ phải đọc cái

    điếu văn do các cụ soạn. Ông trưởng thôn chủ quan, tự

    ý soạn thảo, chưa thông qua chi bộ…

    4

    Đúng cái lúc nháo nhào gây cấn của đám tang, y

    bỗng nhận ra Quỳnh Thy. Nàng đến muộn và tỏ ra có

    lỗi với mọi người. Trong bộ đồ đen rất hợp với làn da

    trắng, càng buồn càng tôn vẻ đài các sang trọng. Đi

    cùng nàng là một người đàn ông cao gầy, mái tóc

    bồng bềnh lẫn những sợi bạc. Đó là Luật sư Vũ Duy,

    mới ở tù ra.

    Cặp vợ chồng họ dường như là những khách

    viếng cuối cùng, trước khi lễ di quan tiến hành. Không

    tiện bộc lộ tình cảm nhiều, chị em Quỳnh, Mai ôm lấy

    nhau khóc thầm, còn Duy chỉ siết mạnh bàn tay Viễn,

    thay cho mọi lời an ủi.

    Y chờ đợi, chờ đến thắt lòng, một ánh mắt của

    Quỳnh. Chỉ một ánh mắt của nàng thôi, y sẽ được

    thanh thản, được hóa giải, tựa như ánh mắt Đức Mẹ

    đồng trinh, ban cho con chiên một ơn phước ngập

    tràn. Cái mảnh giấy Mai Thy dúi vào tay y lúc gặp

    nhau trước nhà xác bệnh viện, vẫn còn trong túi áo y.

    “Chị Quỳnh em nhờ anh làm cách nào đưa chú Việt về

    chịu tang thầy em. Anh Viễn và gia đình sẽ mãi mãi

    biết ơn anh”. Rất có thể mảnh giấy ấy chẳng dính líu

    gì đến Quỳnh, mà chỉ là ý muốn của Mai hoặc Viễn.

    Nhưng đó là mệnh lệnh tối cao. Với Quỳnh, nếu nàng

    bảo nhảy vào lửa, y cũng không từ. Và y đã làm tất cả

    để Việt được về chịu tang bố. Y biết, Việt đang cải tạo

    giam giữ tại trại T7. Tội Việt có liên quan đến tàng trữ

    và vận chuyển ma túy, lẽ ra phải tù bẩy năm, nhưng y

    đã làm mọi cách để Việt không thành án, chỉ phải

    giam giữ cải tạo. Đưa Việt kịp về chịu tang ông Ngô

    Nhãn, không có ý kiến của anh Chín, và không phải là

    y, chỉ có trời mới làm được.

    Thấy ánh mắt Quỳnh dừng ở vành mũ rơm và cây

    gậy chưa có chủ vẫn đặt cạnh ban thờ bài vị người quá

    cố, tim y bỗng giật thót. Y cũng đang đợi Ngô Việt. Y

    đã làm tất cả từ khi nhận được chỉ thị của nàng. Một

    giờ trước, y nhận thông tin Việt đã được áp tải về đến

    ga Nội Bài.

    Y đến bên Quỳnh, chờ một ánh mắt. Rất muốn

    nói với nàng rằng Ngô Việt đang trên đường về,

    nhưng nàng chỉ nhìn đi đâu đó. Hình như Quỳnh cố

    tình lảng tránh y. Những nỗi đau mà y đã gây cho

    nàng, suốt bao năm, vẫn còn tấy thương.

    - Chúc mừng anh đã trở về - Y chủ động bắt tay

    Vũ Duy - Bận quá, chưa đến thăm anh được. Hình

    như sức khỏe anh còn tốt hơn mấy năm trước.

    - Tôi khỏe hơn mà - Duy nháy mắt với y - Tôi

    phải cám ơn nhà tù của chúng ta. Một ngày ở tù sướng

    hơn nghìn thu ở ngoài, đấy ạ.

    Vẫn giọng điệu hóm hỉnh đầy giễu cợt ấy. Vẫn

    ánh mắt ma mãnh như nhìn thấu tim gan người đối

    thoại, Duy còn sắc sảo lợi hại hơn cả ngày xưa.

    ***

    Cái ngày xưa ấy, gần hai mươi năm, mà có lúc

    tưởng như xa lắc. Ngày ấy y yêu Quỳnh Thy đến thề

    non hẹn biển. Hai cặp tình nhân,Y và nàng, Ngô Viễn

    và Mai Thy như đôi cặp bài trùng lí tưởng nhất thế

    gian.

    Hai chị em nhà ấy thật lạ. Tuy hai nhưng mà một.

    Khác nhau ở vẻ bề ngoài, Quỳnh cao mảnh, đoan

    trang, quí phái, Mai mỡ màng, đậm đà, nhưng lại nhí

    nhảnh, tinh quái ngầm. Sự khác biệt bên ngoài không

    làm họ đối nghịch những phẩm cách bên trong, cứ như

    giữa hai người là một chiếc bình thông nhau như trong

    định luật của Pascal. Nhưng về độ thật thà, thơ ngây,

    có lẽ cô chị vẫn nhỉnh hơn. Lần nào đi chơi với y về,

    Mai cũng bắt nọn Quỳnh, buộc nàng thật thà khai báo,

    nhưng đố Quỳnh biết được mẩu tin gì về tình yêu của

    Mai và Viễn. Khi biết tin y sẽ chuyển đến làm việc ở

    một vài tờ báo với danh nghĩa vừa là nhà báo vừa là

    người của an ninh cài cắm, Mai đã cực lực phản đối.

    “Thà trắng phớ là một Giave, quân hàm phù hiệu hẳn

    hoi, cho thanh thiên bạch nhật thiên hạ đều biết. Đằng

    này giả vờ làm nhà báo để dò la, thám thính, cái kiểu

    lập lờ hai mặt ấy mà chị chấp nhật được, thì em thực

    sự Lu-thơ-kinh đấy - Mai đã nói thẳng với Quỳnh,

    trước mặt Viễn - Cả anh Viễn nữa, anh nghĩ gì về ông

    anh cọc chèo tương lai, khi ông ấy nẫng tay trên người

    mà anh đang thầm yêu trộm nhớ nhưng chưa kịp thổ

    lộ?”

    Mãi sau này, khi Quỳnh và y chia tay nhau, Mai

    mới nói lại điều ấy với y. Nói như nhổ vào mặt y,

    thẳng thừng, cay độc. Đắng lắm mà y không thể nào

    thanh minh được. Chính y cũng tin như định mệnh đã

    sắp đặt rằng sẽ có đám cưới hai chị em ruột với hai

    thằng bạn cùng quê diễn ra cùng thời điểm, cùng địa

    điểm, mà cả hai cặp tình nhân đều dệt ước mộng này

    từ những năm ngồi trên ghế giảng đường đại học.

    Nhưng sự đời luôn là một bài toán biến số có n

    nghiệm. Đến khi yên ổn nghề nghiệp rồi, sau tiểu đăng

    khoa sẽ đến đại đăng khoa, thì vấn đề hôn nhân với y

    trở nên cực kỳ nan giải. Cơ quan y, thậm chí lãnh đạo

    Tổng cục, trực tiếp can thiệp vào cuộc hôn nhân của y.

    Chủ nghĩa lí lịch vẫn như ngày xưa, cứ như còn đang

    trong thời kỳ Cải cách Ruộng đất. Phải trong sạch ba

    đời. Càng chức vụ cao, vị trí quan trọng, làm trong

    lĩnh vực tuyên giáo… càng phải rà soát kỹ. Lí lịch gia

    đình Quỳnh Thy lại quá phức tạp. Cụ nội nàng là quan

    triều Nguyễn, có khuynh hướng hòa hảo với Pháp để

    khai mở dân trí. Bố đẻ nàng, dịch giả, nhà báo Phạm

    Thanh Lâm, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ,

    từng là Đại tá, Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Chiến

    tranh, sau bị bắt giam vì tội chống Đảng. Ông là dịch

    giả nhiều tác phẩm triết học và văn học của Jean Paul

    Sartre và Albert Camus.

    Hồi y yêu Quỳnh, ông bố vợ tương lai từng nói

    với Viễn và y: Tính từ vụ Nhân văn Giai phẩm, trong

    số hơn một trăm nhà hoạt động dân chủ tiêu biểu của

    nước Việt Nam thời hiện đại, có hai nhà dân chủ khai

    sáng mà lịch sử sẽ phải vinh danh, đó là giáo sư

    Hoàng Minh Chính và trung tướng Trần Độ. Tầm vóc

    của họ đã vượt quá tầm thời đại. Họ là hai Con Người

    viết hoa thời cộng sản.

    Cảm phục nhân cách và trí tuệ của Hoàng Minh

    Chính, dịch giả Phạm Thanh Lâm đã tự nguyện là

    người học trò, người cộng sự trung thành của ông, và

    đã bị liên đới, bị tù không án và quản thúc sáu năm.

    Khi mãn hạn, ông tiếp tục tham gia ban biên tập tạp

    chí Tổ Quốc, một tạp chí cổ xúy dân chủ, không được

    phép lưu hành.

    Vào năm thứ ba đại học báo chí, để chuần bị cho

    luận văn “Vai trò của báo chí trong việc chống lại quá

    trình tự diễn biến”, y đã nhờ Viễn đưa tới gặp ông

    Hoàng Minh Chính. Trước khi đi, Viễn đã thao thao

    về ông ta, như một mẫu người cộng sản đích thực:

    -Tao phải nói cho mày biết sơ lược con người mà

    mày sắp đến gặp. Ông Hoàng Minh Chính tên thật là

    Trần Ngọc Nghiêm. Sinh trưởng trong một gia đình

    nho học ở Nam Định. Năm 1936, mới mười bốn tuổi

    đã tham gia phong trào dân chủ bình dân, viết báo, in

    truyền đơn, áp phích chống thực dân đế quốc. Năm

    1940 được kết nạp vào Đảng Cộng Sản. Bị Pháp bắt

    đưa đi tù Sơn La, rồi tổ chức vượt ngục trước ngày

    cướp chính quyền. Tháng 12 năm 1946 được giao

    thành lập Đội quyết tử quân, với khẩu hiệu “Quyết tử

    cho Tổ quốc quyết sinh”, đội quân này đã đột kích sân

    bay Gia Lâm áp Tết năm 1947, gây chấn động cả

    nước. Sau đó, ông được cử làm Tổng thư kí Hội Liên

    hiệp Thanh Niên Việt Nam, Tổng thư kí Đảng Dân

    Chủ Việt Nam. Những năm 1957 - 1960 được cử đi

    học trường Đảng cao cấp Liên Xô. Về nước, được giữ

    các chức vụ: Thứ trưởng Giáo Dục, Phó giám đốc

    trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Phó chủ nhiệm Ủy ban

    Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng viện Triết

    học… Từ năm 1964, chỉ vì không tán thành Nghị

    quyết IX, không chấp nhận đường lối thân Trung

    Quốc mà bị ông Lê Đức Thọ khép tội Xét lại, bị tù 5

    năm, rồi sau đó, từ năm 1981, tiếp tục bị tù 6 năm.

    Lần bị bỏ tù thứ ba, 12 tháng, là việc kiến nghị đòi xóa

    bỏ điều 4 trong Hiến pháp. Đây là lần duy nhất ông

    được đem ra xử tại tòa. Bản cáo trạng ngày 8 tháng 11

    năm 1995 ghi: “Ngày 26 tháng 11 năm 1993, Trần

    Ngọc Nghiêm mang 12 loại tài liệu (trong đó có tài

    liệu đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp đã được Quốc hội

    nước CHXHCNVN cơ quan đại diện cho ý chí của

    nhân dân thông qua ngày 15-4-1992), đi photo để

    phát tán thì bị công an phường Lê Đại Hành quận Hai

    Bà Trưng, Hà Nội phát hiện, lập biên bản thu giữ. Từ

    năm 1994 và trong những tháng đầu năm 1995, Trần

    Ngọc Nghiêm đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận để

    trả lời phỏng vấn người nước ngoài, như Italya, Pháp,

    Hoa Kỳ, Ba Lan, đều được ghi lại trên băng catset…”

    Cuộc đời ông Hoàng Minh Chính là một chuỗi năm

    tháng chiến đấu không mệt mỏi vì một nước Việt độc

    lập, tự do, dân chủ. Hoàng Minh Chính đã một lần

    thuộc biên chế nhà tù Thực dân Pháp, ba lần nhà tù

    Cộng sản, tổng cộng hơn 20 năm tù đày và quản thúc.

    Lần đầu tiên gặp Hoàng Minh Chính, y cảm thấy

    chờn chợn. Vầng trán cao, gương mặt khắc khổ, đặc

    biệt đôi mắt rất sáng khi nói chuyện cứ nhìn xoáy vào

    người đối diện. Ở con người này ẩn chứa sự bung phá

    ngoài khuôn khổ. Với một quá khứ lẫy lừng như thế,

    giống như Nguyễn Hữu Đang, Vũ Đình Huỳnh, Trần

    Độ, Văn Cao, những người đồng hương Nam Định,

    Thái Bình…, các ông chỉ cần ngậm miệng ăn tiền,

    rung đùi mà hưởng phú quí suốt đời, rồi bàn giao cho

    con cháu. Bao nhiêu năm tù đày nhà tù thực dân đế

    quốc rồi, hà cớ gì lại muốn chui đầu vào rọ? Nghe ông

    Hoàng Minh Chính nói, y càng nhận ra cái sự “tự diễn

    biến” của ông đang đi rất xa.

    Một lần khác, khi y và Quỳnh đi chơi đâu đó về,

    thấy dịch giả Phạm Thanh Lâm đang tiếp chuyện ông

    Hoàng Minh Chính và mấy người bạn. Quỳnh nháy

    mắt và dắt y vào gian trong để leo cầu thang lên căn

    phòng của hai chị em nàng. Hôm ấy, mấy ông già

    đang bàn nhau một câu chuyện tày đình: Ông Hoàng

    Minh Chính sẽ viết đơn xin khôi phục lại Đảng Dân

    Chủ mà ông từng là Tổng thư ký. Nhân dịp này bọn

    ông, những trí thức từng tham gia cách mạng từ trước

    năm 1945, sẽ ký chung lá đơn đề nghị bỏ điều 4 ra

    khỏi Hiến pháp. “Chúng ta sẽ không nhắm mắt nổi, sẽ

    có tội với Cụ Hồ và các bậc tiền bối cách mạng khi

    chúng ta xuống gặp họ dưới ấy - giọng ông Hoàng

    Minh Chính nghẹn ngào - Già rồi, ai cũng phải chết,

    nhưng chúng ta không thể buông xuôi để bọn tiếm

    quyền cuộc cách mạng này tọa hưởng kỳ thành, giả vờ

    giương cao lá cờ đỏ sao vàng để bán nước cho Đại

    Hán, để tham nhũng quyền lực, chính sách, đất đai,

    công sản… Chúng đâu còn là đảng Cộng Sản? Chúng

    là một nhóm lợi ích. Chúng cấm tự do báo chỉ vì sợ

    báo chí nói lên sự thật. Chúng cấm lập hội vì sợ phải

    chia sẻ quyền lực, cấm biểu tình vì sợ tiếng nói phản

    biện, sợ dân chúng lật đổ ngai vàng cộng sản…”

    Chỉ nghe những lời sang sảng từ dưới nhà vọng

    lên mà mồ hôi y đã vã ra như tắm. Chân y run không

    đững vững khi Quỳnh kéo tay y: “Chuồn thôi anh”.

    Với lý lịch nhà Quỳnh đen kịt như thế, buộc y

    đứng trước sự lựa chọn: Hoặc cưới Quỳnh và ra khỏi

    ngành, hoặc là ở lại ngành và chia tay nàng.

    ***

    Cuộc chia tay với Quỳnh còn khó hơn cuộc đoạn

    tuyệt của con nghiện với ma túy. Mấy tháng trời y lẩn

    trốn, khóa máy, thay sim điện thoại để Quỳnh không

    tìm thấy. Y vật vã với chính mình. Có những ngày y

    muốn chết. Y đi lang thang vô định ở bãi sông. Khẩu

    K54 đã lên nòng. Chỉ đưa lên thái dương và ấn cò. Y

    đã viết sẵn một lá thư tuyệt mệnh. Cho Quỳnh. Xin

    nàng nghìn lần tha thứ cho sự hèn nhát của y.

    Nhưng rồi y nghĩ lại. Chết vì tình là đại hèn

    nhát. Tìm cách khác đi. Hay là y ra khỏi ngành? Khối

    anh tuột xích đấy thôi. Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh là

    một ví dụ. Bạn học cùng khóa với toàn tướng tá, có vị

    đang ngấp nghé ghế bộ trưởng. Bố Vinh là ông

    Nguyễn Hữu Khiếu, từng ủy viên trung ương, đại sứ

    đặc mệnh toàn quyền tại Liên Xô, cả nhà cách mạng

    nòi, chỉ cần ngoan ngoãn một chút, Vinh còn trên cả

    tướng. Thế mà rồi đang trung tá, sắp thăng thượng tá,

    thậm chí đại tá, chẳng ai chèn ép, Nguyễn Hữu Vinh

    tự nguyện xin ra khỏi ngành, lập một công ty thám tử

    để kiếm sống, rồi “tự diễn biến”, tự lập một Website

    Ba Sàm lừng lẫy.

    Không dám nói với ai, nhưng trong thâm tâm, Ba

    Sàm là thần tượng của y về nhân cách, lẽ sống. Y đã

    chép trong sổ tay cả một đoạn dài về tâm sự của Ba

    Sàm, trong chính trang mạng Thông tấn xã vỉa hè, với

    một tựa đề rất hóm hỉnh: TỰ DIỄN BIẾN:

    … “Bao nhiêu năm sống giữa chốn “cung đình”,

    “nằm trong chăn”, hưởng sung sướng nhất những khi

    người dân khốn khổ nhất, ngộ ra bao điều phi lý, bao

    nghịch cảnh.

    Gần 30 năm, từ thơ ấu cho tới khi bước vào đời,

    thành “người của đảng”, BS được sống cùng gia đình

    trong một ngôi biệt thự của nhà nước giữa phố Phan

    Đình Phùng, Hà Nội, nơi mấy năm nay ông Thủ

    Tướng đương nhiệm đang ở.

    Khi người dân miền Bắc hầu như không biết đến

    hương vị bơ, sữa, thì mỗi sáng hắn tản bộ vài bước

    qua số 2 Hoàng Diệu, kế bên dinh thự của TBT Lê

    Duẩn, để mua những chai sữa tươi còn nóng hổi,

    những thỏi bơ, pa-tê, ổ bánh mì thơm phức.

    Hàng tuần, cứ tối thứ Tư và thứ Bảy, hắn cùng

    đám trẻ con ông cháu cha lại được tụ tập xem phim ở

    số 4 Nguyễn Cảnh Chân cùng người lớn, là các ông

    trong BCT, BCHTW như Lê Đức Thọ, Trường Chinh,

    Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng.

    Kỷ niệm duy nhất với Bác Hồ là một tối Trung thu

    khi hắn lên 5. Trẻ con mấy cơ quan Đảng tập trung

    trong hội trường số 10 Nguyễn Cảnh Chân. Cả lũ

    được chụp ảnh chung với Bác, hắn được đứng bên.

    Sắp chụp thì bị mẹ định lôi xuống, xin phép chải lại

    mớ tóc bù xù. Bác gạt đi, bảo: “Không cần đâu! Cứ

    để thế cho nó tự nhiên”. Vậy là ấn tượng chút ít về

    Bác Hồ qua cái vụ đó. Bác mất, bố hắn tập trung cả

    nhà lại thông báo. Có mỗi ông anh thứ hai khóc.

    Những chuyện chính trị của người lớn, sách, tài

    liệu của giới lãnh đạo ít ai được tiếp xúc, tuy còn nhỏ,

    nhưng tò mò, hắn cũng được nghe lỏm, đọc lén không

    ít. Ví như món “Tài liệu tham khảo đặc biệt” của

    TTXVN, mà lâu nay đăng lại trên Blog này, đã có từ

    khi hắn biết chữ. Vẫn thứ giấy đen thui, vẫn màu mực,

    lối trình bày đó. Nội dung vẫn là đăng lại, dịch chọn

    lọc từ đài, báo nước ngoài. Những năm 1960, loại này

    có chữ “Mật-Không phổ biến”, chỉ cấp bộ thứ trưởng

    trở lên được cung cấp, sau này thêm cấp vụ, cục. Rồi

    khoảng cuối 1990 thì bán tự do. Dù thế nào thì những

    tài liệu này cũng đã giúp hắn “tự diễn biến” kha khá

    trong bao nhiêu năm “theo đảng”.

    Những thông tin ít nhiều về chế độ cộng sản kỳ

    quái của Mao cũng đến dần. Các đàn anh đàn chị học

    trường thiếu sinh quân sơ tán ở Quế Lâm, Trung Quốc

    về kể cho nghe những cảnh chém giết lẫn nhau giữa

    các phe phái. Ghê rợn!

    Còn bên kia đường, nơi nay là trụ sở Viện Quản

    lý kinh tế TW và các dinh thự công vụ lần lượt cho các

    vị TBT, BCT ở, là toàn bộ các cơ quan ngoại giao của

    Trung Quốc. Tối tối lại vọng ra những bài sặc mùi

    sùng bái cá nhân Mao, như Đông phương hồng, Ra

    khơi nhờ tay lái vững.

    Hình như tất cả những thứ đó cứ tích tụ dần một

    thái độ căm ghét chế độ Mao ngu muội, tàn ác, lờ mờ

    cảm giác về chính xã hội mà hắn đang sống. Một hôm,

    thó trong tủ sách của bố cuốn “Bàn về mâu thuẫn”

    của Mao, dở ra, hắn nhổ vào mặt Mao một bãi nước

    bọt, cho bõ ghét.

    ….

    “Chiến tranh phá hoại”- tức những năm Mỹ ném

    bom miền Bắc đã đem BS rời chốn “lầu son gác tía”

    để tới với cuộc sống bần hàn của người nông dân;

    điều tưởng như sự thiệt thòi, mà sau này càng ngày

    hắn càng thấy may mắn, tự hào, khi không được như

    các anh chị và bọn trẻ trong khu, người học trường

    thiếu sinh quân, đứa thì “trốn” sơ tán bằng cách tạm

    lánh ra học các trường ở ngoại thành Hà Nội.

    Chăn trâu cắt cỏ, giã gạo, xay lúa, nuôi gà vịt…

    cũng biết mùi cả.

    Có những điều kỳ lạ mà có lẽ không sách báo nào

    viết ra, nhưng để lại cho hắn những ấn tượng và dấu

    hỏi khó giải.

    1975. Về quê ngoại, Huế. Quá nhiều điều làm BS

    kinh ngạc, từ đời sống “phồn vinh giả tạo” được cán

    bộ, bộ đội, trong đó có cả hắn, cuống cuồng rinh ra

    Bắc, cho tới thái độ chính trị của người dân. Câu cửa

    miệng chua xót: “Miền Bắc nhận hàng, miền Nam

    nhận họ”. Hắn còn thay mặt gia đình nhận một khoản

    tiền các cậu, dì bán mảnh ruộng cuối cùng của ông

    ngoại chia cho.

    Lạ là khác với những gì hắn vẫn được tuyên

    truyền, sao trong đó người ta toàn gọi Ngô Đình Diệm

    là “ông” với thái độ kính nể? Rồi cao điểm là trong

    một cuộc cãi vã với thằng hàng xóm để bênh vực chế

    độ XHCN tươi đẹp, hắn đã bị bẽ mặt. Không thể tin

    được câu chuyện lần đầu tiên nghe, như tiếng sét

    ngang tai, về vụ thảm sát Mậu Thân 1968. Hỏi bà dì,

    hóa ra có thật. Sau này, tất cả những gì tương tự nghe

    được lúc đó càng rõ hơn.

    ……

    Khi ra làm việc, trong nhiều năm liền hắn được

    tiếp xúc hàng ngày với các cựu sĩ quan, quan chức

    trong chế độ Sài Gòn bị giam giữ để gọi là “học tập

    cải tạo” trong khắp các trại từ Nam chí Bắc, ăn dầm

    nằm dề những Vĩnh Quang, Ba Sao, Trại 5 Thanh

    Hóa, Trại 2 Nghệ An, Bình Điền, Z30D … đủ cả.

    Nhiều điều mà trong chiến tranh hắn nghe được qua

    đài báo, sách vở về họ hoàn toàn trái ngược với

    những con người thật hắn thấy. Không thể kể hết, mà

    chỉ tóm lược bằng hình ảnh trớ trêu: những cán bộ

    chiến sĩ cảnh sát nghèo khó, ít học, quá thiếu hiểu biết

    lại đang “giáo dục, cải tạo” cho nhiều kẻ thù cũ

    không những được học hành cẩn thận, mà còn có nền

    tảng văn hóa, nhân cách đáng nể. Bao nhiêu con

    người với những bộ óc tài ba đã bị phung phí. Thế

    nhưng tất cả họ phải chịu cùng cảnh “ông tù, cháu

    tội”. Tiếc là các “ông” không dám, không biết học hỏi

    từ các “cháu”. Riêng “ông” BS thì không sợ, tranh

    thủ mọi nơi mọi lúc, tâm niệm học lóm được càng

    nhiều càng tốt.

    Suốt 10 năm liền, trước và tiếp sau thời phát động

    “Đổi mới”, do điều kiện công việc, hắn được tiếp xúc

    hàng ngày với nhiều thương gia, trí thức người Việt ở

    nước ngoài trở về. Với một xã hội vẫn còn khép kín thì

    đó quả là cả một “thế giới” khác, họ đã đem theo

    những thông tin, lối sống, cách tư duy khác hẳn với

    một chế độ “bao cấp” cả về kinh tế lẫn tư tưởng mà

    hắn đang sống.

    ………

    Hắn được “mở mắt” thêm nhiều nữa, đương

    nhiên, nói như các bác tuyên giáo “kiên định lập

    trường”, hắn “tự diễn biến”. Rồi thêm một thứ “diễn

    biến” khác là hắn đã liều bỏ không biết bao thời gian

    và tiền túi để lọ mọ học tiếng Anh và vi tính từ lúc mọi

    người còn coi là thứ xa lạ.

    Có lẽ vì vậy mà chỉ vài năm sau khi thành “người

    của đảng”, hắn đã muốn đảng phải đổi … màu.”

    Những dòng ghi chép của Ba Sàm nguy hiểm quá,

    phải xé ngay, không nên để lại dấu vết.

    Nhưng Ba Sàm khiến y hoang mang. Người trong

    chăn thì muốn chui ra. Còn y lại thích chui đầu vào…

    Y quyết định xin ra khỏi ngành để cưới Quỳnh.

    Đang định làm đơn, thì có điện của anh Chín:

    “Anh muốn em về làm trợ lý cho anh. Anh rất cần em

    lúc này. Suy nghĩ rồi đến chỗ anh, ta bàn”.

    Đó là thời điểm anh Chín vừa thăng hàm. Chỉ cần

    một sao nữa, chân thứ trưởng chắc trong tầm tay. Anh

    Chín lên, sẽ kéo y lên. Một câu của anh Chín, làm

    xoay chuyển hẳn cuộc đời y.

    Y quay ngoắt một trăm tám mươi độ.

    Thế rồi Cao Thu Loan ào đến như một cơn bão.

    Loan gặp y đúng hôm hai đứa cùng đến chỗ anh Chín.

    Định mệnh chăng? Không phải. Đấy là sự sắp đặt của

    tổ chức. Anh Chín và các đồng chí trong cơ quan đã

    sắp đặt giúp y, đưa đến cho y một người đẹp để xóa đi

    một giai nhân.

    ***

    Cuộc chia tay lần cuối, y đã vào vai Sở Khanh

    trên cả tuyệt vời.

    - Em còn nhớ lần chúng mình xem phim Người

    thứ 41 không? - Y đã nói với Quỳnh trong buổi trưa

    hai đứa nằm với nhau ở khách sạn Bông Trang bên hồ

    Đại Lải - Khi trên hoang đảo chỉ còn nữ Hồng quân

    Maryutka và trung úy Bạch vệ Govorukha thì họ là

    cặp tình nhân hạnh phúc nhất thế gian. Không có gì

    chia lìa được họ, kể cả ông trời, kể cả động đất, núi

    lửa, sóng thần. Họ dâng hiến cho nhau đến tận cùng.

    Họ chỉ biết có nhau…

    - Cho đến khi con tàu trắng hiện ra ở đường chân

    trời - Quỳnh như đọc được y nghĩ của y, tiếp câu

    chuyện - Govorukha biết chính xác đó là con tàu của

    phe Bạch vệ chứ không phải của Hồng quân…

    - Và họ đã trở về hiện thực, một hiện thực trần

    trụi, đau đớn. Khi chàng trung úy Bạch vệ muốn chạy

    ra với con tàu thì con người giai cấp trong nàng

    Maryutka vụt hiện. Thế rồi súng đã nổ. Người nữ

    Hồng quân thà giết người tình chứ không thể phản bội

    lý tưởng…

    - Và bây giờ anh cũng vậy… Anh phải đi theo

    tiếng gọi lý tưởng của anh - Quỳnh cười chua chát

    nhưng nước mắt lại tràn trên má.

    Suốt từ đó, Quỳnh hoàn toàn vô cảm. Thực ra, lúc

    y đưa Quỳnh đến đây, nàng đã lầm tưởng tình yêu của

    nàng còn có cơ vớt vát. Nhưng khi y nhắc đến Người

    thứ 41 thì hết thật rồi. Nàng phó mặc. Nàng bất cần.

    Còn y thì rõ ràng là một kẻ thực dụng và tận hưởng.

    Nghĩ đến tấm thân ngà ngọc, kiệt tác của tạo hóa mà

    khó khăn lắm, sau bao lần y giận dỗi, dằn hắt, cầu

    xin… nàng mới tự nguyện dâng hiến cho y, thì từ hôm

    nay, không, có thể từ sau hôm nay, sẽ vĩnh viễn không

    thuộc về y nữa. Y bỗng thấy nuối tiếc một cách xa xót,

    đau đớn. Và, y hối hả chiếm hữu, tận hưởng đến cùng

    kiệt. Y như con kền kền đang rỉa xác con mồi giữa

    thảo nguyên, trong khi vẳng từ trên cao, lao xao một

    đàn kền kền lạ đang kéo đến. Không. Không thể giành

    phần cho kẻ khác, khi chỉ còn một lần này…

    Cuộc “tát ao” vớt vát ấy, là sự đốn mạt nhất của y

    mà suốt bao năm sau y không dám nhìn mặt Quỳnh.

    ***

    Những ngày sau, nhiều việc xảy ra dồn dập quá.

    Y theo đoàn doanh nhân do một vị thứ trưởng bộ

    Thương Mại dẫn đầu, có Thu Loan làm phiên dịch,

    bay sang Nga để tìm kiếm đầu tư.

    Sau này, nghe Viễn và Mai Thy nói, những ngày

    ấy mọi người tưởng Quỳnh Thy mắc bệnh tâm thần.

    Quỳnh đi lang thang suốt đêm. Đi suốt cả tuần. Mẹ và

    Mai đi trình báo công an và nhờ người đăng thông báo

    trên đài, trên ti vi.

    Nhưng rồi, Quỳnh Thy cũng trở về nhà. Cùng về

    với nàng có một anh chàng tiếng tăm đang nổi như

    cồn trong giới truyền thông: Luật sư Vũ Duy, người

    đang cùng với Trần Huỳnh Duy Thức và hai người

    bạn cuả anh ta đang làm những việc động trời.

    Vũ Duy là ai?

    Đã quyết định dứt bỏ Quỳnh Thy rồi, nhưng khi

    thấy một gã trai khác đang muốn thế chỗ mình, y

    không chịu nổi.

    Và y không phải tốn công tìm kiếm. Hồ sơ an

    ninh đã cho y biết tất cả.

    Ngày ấy, ở Sài Gòn đang nổi lên bộ ba trí thức

    trẻ: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công

    Định. Nếu Thức và Long là hai nhà kỹ trị, ngay từ

    ngày còn ngồi trên giảng đường Đại học Bách khoa

    Sài Gòn đã là những sinh viên xuất sắc, thần tượng

    của giới trẻ, thì Lê Công Định lại học trường Đại học

    Luật Sài Gòn. Là một luật sư trẻ có chính kiến và uy

    tín chuyên môn, vừa ra trường Định đã tham gia Đoàn

    luật sư thành phố, sau đó tu nghiệp ở Pháp và Mỹ. Họ

    kết thân với nhau thành bộ ba, rồi sau đó thêm Vũ

    Duy, đại học Luật Hà Nội, thành bộ tứ. Định và Duy

    gặp và thân nhau khi hai người cùng gặp nhau ở nhiều

    vụ án oan sai mà thủ ác là các nhóm lợi ích cấu kết với

    thế lực cầm quyền để cướp đất và hại người lương

    thiện. Trần Huỳnh Duy Thức kiếm sống từ việc sản

    xuất ống thụt cầu tiêu. Rồi mở cửa hàng đánh máy

    thuê, photocopy và bán đĩa mềm. Có chút vốn, Thức

    và Long lập một cửa hàng kinh doanh máy tính nhỏ.

    Nhờ tiếp cận thị trường, Thức đã nhập được công

    nghệ rồi nhập linh kiện rời, lắp ráp thủ công thành

    những chiếc máy vi tính mang nhãn hiệu Duy Việt.

    Sản phẩm máy tính cá nhân của Thức và Long đã

    chiếm lĩnh thị phần lớn không chỉ ở Sài Gòn mà đã lan

    ra Hà Nội và các tỉnh phía bắc. Thế rồi cuộc khởi

    nghiệp của các nhà trí thức trẻ bật khởi khi Duy Việt

    đã tiên phong đưa vào thị trường Việt Nam công nghệ

    truy cập digital thay cho công nghệ analog. Đến giữa

    năm 2002, từ Sài Gòn, EIS.Inc Duy Việt đã vươn sang

    Singapore và San Jose, Hoa Kỳ. Họ mua lại được

    công ty Mligo Solution, rồi mua tiếp công ty Volp

    (giao thức internet), để rồi về Việt Nam thành lập Cty

    Global EIS và Cty OCI với hàng trăm nhà khoa học và

    nhân viên lành nghề. Tại Singapore, One-Connection

    của Trần Huỳnh Duy Thức nhanh chóng nổi lên thành

    một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên môi trường

    internet toàn cầu và đã ký được nhiều hợp đồng với

    nhiều hãng viễn thông quốc tế, như Mỹ, Nga,

    Malayxia… Báo chí trong nước tung hô EIS và OCI

    và coi là niểm tự hào của công nghệ thông tin Việt

    Nam. Kênh truyền hình Channel Asia phát đi thông

    điệp: “Qne-Connection từ Việt Nam thách thức các

    dịch vụ viễn thông truyền thống…” Khi ấy, Trần

    Huỳnh Duy Thức đã có tuyên bố cũng là tự trao sứ

    mệnh cho mình: “Tiến công mạnh mẽ vào thị trường

    công nghệ thông tin quốc tế, chuyển tri thức Việt Nam

    thành những giá trị cao trong nền kinh tế tri thức thế

    giới.”

    Bước khởi nghiệp ấy, nếu được khích lệ, được tự

    do phát triển, chắc chắn sẽ đưa công nghệ thông tin

    Việt Nam lên tầm thế giới, chẳng thua kém gì những

    Google, Facebook, YouTube sau này.

    Nhưng bộ ba Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng

    Long, Lê Công Định, không dừng lại ở việc phát triển

    công nghệ và làm giàu. Những năm lăn lộn với giới

    trẻ, với tầng lớp thợ thuyền bình dân, lại được tiếp cận

    với văn minh thế giới, họ nhận ra sự tụt hậu của Việt

    Nam là không thể tránh khỏi. Trong thời đại công

    nghệ 4.0, mọi nỗ lực phát triển xã hội sẽ chỉ là con số

    không, nếu chủ thuyết phát triển của Việt Nam vẫn là

    Chủ nghĩa Mac-Lênin sáo rỗng lỗi thời. Ẩn sau thứ

    chủ nghĩa ngoại lai độc hại ấy là những nhóm lợi ích

    khoác áo cộng sản để tham nhũng và đục khoét. Đủ

    mọi thứ tham nhũng, từ tham nhũng quyền lực, tham

    nhũng chính sách, tham nhũng lòng tin, đến tham

    nhũng đất đai, của cải, tiền bạc, tài nguyên môi

    trường… Thể chế tham nhũng này càng được chống

    lưng và bảo vệ bởi thế lực Đại Hán muốn thâu tóm,

    xóa sổ Việt Nam và độc chiếm thế giới. Cứu cánh duy

    nhất giúp Việt Nam thoát khỏi tình cảnh hiện thời là

    xóa bỏ chủ thuyết cộng sản, tạo một cuộc chấn hưng

    đất nước, một cuộc cách mạng toàn diện, thiết lập một

    Nhà nước pháp quyền, một nền Kinh tế thị trường và

    và một Xã hội dân sự. Đó chính là khát vọng của

    nhiều trí thức trẻ, mà tiêu biểu là Trần Huỳnh Duy

    Thức. Với bút danh Trần Đông Chấn, đêm đêm Thức

    viết trên blog của mình những tạp bút bàn về đủ mọi

    lĩnh vực kinh tế, đầu tư, chứng khoán, văn hóa, môi

    trường, quản lí xã hội, đạo đức, lối sống… Anh vạch

    ra cái cơ chế mafia ở Việt Nam: “Họ không hình thành

    nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi

    có mặt ở tất cả mọi nơi, từ cơ quan đảng đến nhà

    nước, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa

    phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp.

    Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được

    cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và

    đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Họ

    không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh

    tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ,

    dự luật của quốc hội và các quyết định của chính

    quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ

    hay cấp tiến… Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở

    đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế

    lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng

    sinh và vì những kế hoạch dài hơn.” Quả là những đúc

    kết tinh tế và những cảnh báo vĩ mô. Rồi, với trách

    nhiệm chủ biên, Thức đã cùng hai người bạn viết

    chung cuốn sách lớn: CON ĐƯỜNG VIỆT NAM hơn

    nghìn trang, như một cương lĩnh mà họ muốn được

    Đảng, Nhà nước cùng Nhân dân tranh luận, bàn thảo

    để tìm ra giải pháp tối ưu cho đường hướng chấn hưng

    nước Việt. “Làm sao để Việt Nam phát triển bền

    vững, nhanh chóng thành một nước dân chủ thịnh

    vượng? Làm sao lí tưởng “làm theo năng lực hưởng

    theo nhu cầu” trở thành thực tế? Làm sao để Việt

    Nam không bị biến thành một dạng nô lệ kiểu mới

    trong thời đại toàn cầu hóa? Vì sao Việt Nam đã đổi

    mới và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong

    hơn 23 năm qua nhưng vẫn còn là nước nghèo?...”

    Cuốn sách toàn đặt ra những câu hỏi hiền lành,

    nghiêm túc, đầy trách nhiệm công dân, đầy trăn trở lo

    toan về tương lai dân tộc.

    Người đồng hành phía bắc của Thức, Long, Định

    lúc này là Vũ Duy. Sau chuyến đi tu nghiệp ở Đại học

    Harvard, Hoa Kỳ với Lê Công Định, Duy cùng em trai

    Vũ Lợi về Hà Nội thành lập công ty Tin học Ứng dụng

    Lửa Việt, một thành viên của tập đoàn Duy Việt. Duy

    tham gia viết trên Blog Trần Đông Chấn nhiều bài về

    quyền con người, thể chế dân chủ, về tự do sáng tạo

    đối với trí thức. Nhưng khi bộ ba Thức – Long – Định

    chuẩn bị xuất bản công trình Giải pháp Con đường

    Việt Nam, với nhiều chuyên mục, từ đánh giá tình hình

    kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước, phân tích hiện

    trạng xu thế khu vực và thế giới, đề ra những giải

    pháp, bước đi, những thay đổi cần thiết trong mọi lĩnh

    98

    vực, ngõ hầu xây dựng một nước Việt Nam cường

    thịnh theo con đường cải cách dân chủ và hội nhập, thì

    Vũ Duy lại tuyên bố đứng ngoài. Ba người bạn của

    Duy sinh trưởng ở phía Nam, vùng đất của “những

    người mang gươm đi mở cõi”, có tính cách phóng

    khoáng, khai phóng, lãng mạn, thậm chí bất cần đời.

    Duy sinh đẻ ở Bắc Hà, vùng đất căn bản của người

    Việt, với một nghìn năm Bắc thuộc và hơn một nghìn

    năm vật vã để tồn tại và phát triển, cái miền đất mà có

    người lãnh đạo hiện nay tự cho là “người miền Bắc,có

    lý luận(!)”Duy không tán thành cách đi của nhóm

    Trần Huỳnh Duy Thức. Đó là cái cách tự giơ đầu cho

    Đảng chặt. Mấy chục năm nay, từ khi chuyên chính vô

    sản thiết lập trên lãnh thổ này, không một tổ chức nào,

    một cá nhân nào manh nha muốn thoát ra khỏi sự lãnh

    đạo của Đảng, muốn kiến lập một chủ thuyết mới (chứ

    đừng nói đến tổ chức mới), lại có thể tồn tại được quá

    ba ngày(!)

    Quả nhiên, ngay sau khi công trình Giải pháp con

    đường Việt Nam vừa tung lên mạng, ngày 24 tháng 5

    năm 2009, Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt. Tiếp đó,

    ngày 4 tháng 6, Lê Thăng Long bị bắt. Chín ngày sau,

    ngày 13 tháng 6, Lê Công Định bị bắt.

    Có ai đó than trên facebook: Người ta đã phá tan

    những giấc mơ đẹp, những hoài bão lớn lao mà thánh

    thiện.

    Bộ ba trí thức trẻ dấn thân ấy sau đó bị một án

    phạt rất nặng, mỗi người hơn chục năm tù. Phiên tòa

    phúc thẩm ngày 11 tháng 5 năm 2010, Trần Huỳnh

    Duy Thức đã bị kết án 16 năm tù và 5 năm quản chế,

    với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân

    dân” theo điều 79 bộ luật hình sự.

    Vũ Duy có quý nhân phù trợ. Không hiểu sao

    chiếc còng số tám vẫn chưa đụng đến hắn?

    5

    Hai tuần du hí Nga với Cao Thu Loan, cuộc đời Y

    đã rẽ một ngả khác. Đoàn thương mại Việt Nam có kí

    kết được gì, tìm được đối tác nào, y không quan tâm.

    Với y, chuyến đi ấy hình như chỉ dành riêng cho

    chuyện tình tang giữa y và cô con gái rượu của thượng

    tướng Cao Thiện Căn, khi ấy đang là Tổng Cục trưởng

    Tổng cục IV.

    - Nhờ chị Vân, em mới biết anh là người làng

    Động cùng xã - Thu Loan chủ động bắt chuyện với y

    khi hai đứa cùng ngồi hàng ghế cuối cùng trên chiếc

    Boeing 707 của hãng Aeroflot.

    Ban đầu y thấy khó chịu, ngồi dãn ra. Y nhớ

    Quỳnh Thy. Vẫn không sao dứt khỏi hình bóng nàng.

    - Buồn cười ghê, mang tiếng là người làng Phí mà

    đến năm lớp mười em mới biết con bò khác con trâu.

    Tại vì em sinh ra và lớn lên ở Hà Nội chứ có ở làng

    Phí ngày nào? Con bò vàng, con trâu đen, đúng không

    anh? Mà anh ơi, buồn cười lắm nhé, hồi thầy giáo sinh

    vật dạy về bộ móng guốc, em xung phong lên bảng

    nói con trâu có hai hàm răng rất khỏe nên nhai cỏ suốt

    ngày…

    - Thì sao? Chẳng lẽ răng nó sún hết?

    - Đấy nhé. Tưởng anh chuyên gia nông nghiệp,

    hóa ra cũng lơ tơ mơ hơn cả em. Đố anh, trâu có mấy

    hàm răng?

    - Xúc phạm nghiêm trọng người nhà quê rồi đấy.

    Hai hàm chứ chả nhẽ ba hàm à?

    Loan cười hinh hích rồi rúc đầu vào nách y. Cái

    mùi nách của trai làng Động hình như đã mê hoặc cô

    nàng.

    - Ới dân làng Động nửa mùa ơi, sai không có hàm

    nhai. Con trâu chỉ có một hàm răng dưới thôi, nỡm

    ạ…

    Loan xoay hẳn người, nhìn y đắm đuối, rồi lùa

    bàn tay mềm mại vào ống tay áo y, vuốt lên cánh tay.

    Trong khi y còn đang sững sờ vì con trâu chỉ có một

    hàm răng dưới, thì bàn tay Loan đã luồn từ trên xuống,

    chà xát vào lòng bàn tay y, nóng sực. Chợt nhớ cái lần

    xem kịch Hà My của tôi với Quỳnh và Viễn. Cũng bàn

    tay mềm mát nằm gọn trong tay nhau… Nhưng lần ấy

    là do y chủ động muốn giành giật người đẹp từ Viễn,

    còn bây giờ thì ngược lại, Loan đang dẫn dụ y vào

    cuộc chu du thế giới. Quả là rất khác lạ giữa yêu và

    được yêu. Với Quỳnh, suốt từ cái buổi tối Hà My của

    tôi ấy là tình yêu gần như đơn phương của y. Dường

    như chưa bao giờ Quỳnh yêu y hết mình, cháy hết

    mình, tận hiến hết mình. Trong tình yêu với y, nàng

    vẫn dè sẻn, dè chừng một cái gì đó, vẫn cất giấu trong

    đáy tim một bảo vật. Trong khi yêu y, nhiều lúc

    Quỳnh như mất hồn, lơ đãng nhớ nhung đâu đó, như

    vẫn luôn dành một góc nào đó cho Viễn, hay cho ai

    đó, mà chưa bao giờ dâng hiến cho y đến giọt cuối

    cùng. Nhiều lần hai cặp Mai - Viễn, Quỳnh - Y cùng

    đi chơi với nhau, bỗng nhiên Quỳnh khó chịu với Mai

    một cách vô cớ, hoặc như y là nguyên nhân gây cho

    chị em nàng những khác biệt này nọ… Bây giờ, với

    Loan, là một tình cảm khác hẳn. Trái ngược hẳn với

    Quỳnh, Loan không hề giấu ánh mắt đắm đuối nồng

    nàn mỗi lần nhìn y. Khi lên máy bay, Loan chủ động

    xếp cho cả đoàn lên ngồi khoang VIP, còn hai đứa

    ngồi tách biệt, lẫn giữa những người khách Tây xa lạ.

    Để nàng công khai chăm sóc, chiều chuộng, nũng nịu,

    thậm chí sở hữu y.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thế lực thù địch. Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường. NXB Les Éditions de La Frémillerie. Bordeaux. 2020.

    Mục lục: 1 2

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,091,188

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/