Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,343,240

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Thi pháp Truyện Kiều (chương 3-2)

Trần Đình Sử

  • Thứ tư, 19:24 Ngày 24/10/2018
  • 2. Truyện thơ Nôm và Truyện Kiều

    Mặc dù Truyện Kiều thuộc loại truyện thơ Nôm và cũng đã có không ít công trình đề cập tới mối quan hệ giữa Truyện Kiều và truyện thơ Nôm, song cho đến nay, khái niệm thế nào là truyện thơ Nôm vẫn chưa có được một định nghĩa đầy đủ và khoa học.

    Truyện Nôm tuy có từ xưa nhưng khái niệm và thuật ngữ "Truyện Nôm" thì có lẽ phải đến Dương Quảng Hàm mới được gọi là chính thức. Trước đó, trong các sách Việt Hán văn khảo của Bưu Văn Phan Kế Bính và Quốc văn cụ thể của Ưu Thiên Bùi Kỉ không thấy nhắc đến tên gọi thể loại này. Còn Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu đã có chương XV ghi rõ: Các thể văn riêng của ta đã nói đến: truyện, ngâm, hát nói trong đó "các truyện Nôm của ta viết theo hai thể: lục bát và biến thể lục bát", và ông hiểu "truyện là tiểu thuyết viết bằng văn vần…". Đó là định nghĩa sơ lược đầu tiên về truyện Nôm.

    Từ điển văn học tập 2 (1984) mục "Truyện Nôm" hiểu đó là "truyện thơ viết bằng thể lục bát", người ta còn gọi là "truyện thơ lục bát", tiếp đó là dựa vào tình trạng tác giả mà chia ra truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh.

    Tác giả Nguyễn Hồng Phong xem truyện Nôm bình dân là thể loại "tiểu thuyết"(1) tuy còn non kém. Tác giả Cao Huy Đỉnh cũng có quan điểm tương tự(2) xem truyện Nôm bình dân có xu hướng tiểu thuyết hóa. Tác giả Phan Ngọc lại xem Truyện Kiều là tiểu thuyết tâm lý trong ý nghĩa hiện đại.

    Mục "Truyện Nôm" trong Từ điển thuật ngữ văn học do chúng tôi đồng chủ biên (1992) cũng không đưa ra một định nghĩa khác hơn. Định nghĩa khá mở rộng do Đặng Thanh Lê đưa ra trong sách: Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1978). Theo tác giả, truyện Nôm chính là một hình thái của thể loại "Truyện", tức "Tiểu thuyết" trong ý nghĩa cổ xưa của từ này, với hai đặc điểm: (1) Nguồn gốc sự việc xuất phát từ cuộc sống xã hội rộng rãi, và (2) Nội dung đề cập đến những câu chuyện dung tục (bỉ sự) thiếu tính chất "trang nghiêm", "tao nhã" (tr. 66-67). Xét ra đây chỉ là một đặc điểm! Tuy nhiên xét kĩ chưa có truyện Nôm nào “xuất phát từ cuộc sống xã hội rộng rãi”, trái lại hầu hết truyện Nom đều lấy đề tài từ truyện cổ hoặc từ tiểu thuyết Trung Quốc. Đó chỉ mới là cách nhìn thể loại trong tương quan so sánh với truyền thống văn học Đông Bắc Á. Các học giả Nga như B.L. Riptin, N.I. Nicunin đã nhìn truyện Nôm (poema) trong truyền thống truyện thơ gần gũi với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Ở Việt Nam truyện Nôm có thể diễn ca không chỉ truyện cổ tích, thần tích, ngụ ngôn, phật thoại, tiên thoại, sử kí, mà còn diễn ca cả tiểu thuyết chương hồi như Định tình nhân, Kim Vân Kiều truyện, ca bản như Hoa tiên ký, kịch như Tây sương ký. Nó có thể kể một truyện cận đại như U tình lục của Hồ Văn Trung, còn có thể diễn ca một truyện dịch Nhật Bản như Giai nhân kì ngộ. Điều đó chứng tỏ truyện thơ Nôm là một hình thức văn học vừa ổn định vừa linh hoạt, có khả năng đồng hoá lớn, có sức sống lâu bền trong tâm thức người Việt.

    Một vấn đề khác là truyện Nôm gắn với chữ Nôm, thuộc phạm trù văn học viết dân tộc. Năm 1992 Kiều Thu Hoạch cho công bố công trình Truyện Nôm, nguồn gốc và bản chất thể loại(3), trong chương "Thi pháp truyện Nôm" tác giả đã phủ nhận quan niệm xem truyện Nôm bình dân là văn học viết, là thể loại tự sự tiểu thuyết hoá và có xu hướng xem đó là thể loại văn học dân gian, sáng tác theo khuôn hình cốt truyện văn học dân gian, nhân vật nhiều loại tính hơn là cá tính, tác phẩm mang đậm tư duy cổ tích, sử dụng kết cấu có hậu với yếu tố thần kì, các môtíp truyện dân gian được sử dụng phổ biến, ngay ngôn ngữ đối thoại, độc thoại cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của thể loại cổ tích. (tr.133-215)… Truyện Nôm bình dân là sản phẩm sáng tác tập thể và sáng tác để kể miệng là chính.

    Xem thế thì thấy bản chất và đặc trưng thể loại của truyện thơ Nôm nhất là truyện Nôm bình dân đang còn là một vấn đề khoa học, cần được tiếp tục làm sáng tỏ. Thực ra, bản chất văn học viết và bản chất của truyện Nôm bình dân không hề loại trừ nhau. Sự phân tích của tác giả Kiều Thu Hoạch chỉ làm sâu sắc thêm bản chất dân gian của thể loại mà nhiều khi giới nghiên cứu chưa được nhận thức đầy đủ. Và mặt khác các chứng cứ của tác giả cũng không thể bác bỏ được đặc trưng văn học viết của các tác phẩm đó. Vả chăng cho đến nay chưa có truyện Nôm nào được các nhà nghiên cứu văn học dân gian ghi chép bằng phương pháp điền dã, tức là từ một ông bà hát rong nào đó, mà chỉ có các bản phiên âm của một văn bản Nôm nào có trước. Đồng thời, cho dù lý lẽ xác định bản chất sáng tác văn học dân gian hoàn toàn đủ sức thuyết phục, thì đó cũng mới đề cập tới bộ phận truyện Nôm bình dân, vô danh hay khuyết danh. Vẫn còn một bộ phận truyện Nôm có tác giả, bác học nữa được xem là tiểu thuyết. Vậy truyện Nôm là hai thể loại- thể loại truyện kể dân gian và thể loại tiểu thuyết thuộc hai loại hình văn học hay là một thể loại mà hai hình thái thuộc văn học viết? Chúng tôi quan niệm là một thể loại và thiết nghĩ phải tìm hiểu đặc trưng thể loại chung của chúng. Tính dân gian của một bộ phận truyện Nôm chỉ là sản phẩm của ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết. Không có thể loại truyện Nôm thuộc văn học dân gian, bởi vì cái tên Nôm vốn dùng để chỉ thứ chữ ghi chép của chúng.

    Theo chúng tôi, thì truyện Nôm là thể loại ra đời trên cái nền nhu cầu "diễn âm",  "diễn ca", "diễn Nôm" tức là truyền thống tự sự rất phổ biến của xã hội trên cơ sở chữ Nôm, và rất có thể tên gọi truyện Nôm có cội nguồn từ chữ Nôm của nó, nghĩa là có chữ Nôm rồi mới có truyện Nôm, và có chữ Nôm rồi mới có tên gọi truyện Nôm. Câu ca dao "Làm trai biết đánh tổ tôm, uống chè Chính Thái ngâm Nôm Thuý Kiều” có thể ra đời muộn, nhưng cũng cho ta nghĩ đến điều đó. Chúng ta biết thơ phú Nôm đã ra đời từ thời Trần trên cơ sở chữ Nôm đó và để phân biệt ngươi ta gọi nó là phú Nôm. Thơ tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm cũng gọi là thơ Nôm. Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An đều giỏi văn Nôm. Bài văn tế cá sấu của Nguyễn Thuyên không còn nữa, nhưng hiện còn mấy bài phú Nôm đời Trần là: Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo phú. Vịnh hoa yên tử phú và bài Phú dạy con tương truyền của Mạc Đĩnh Chi… Thơ Nôm Hồng Đức Quốc âm thi tập, và sớm nhất là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã đánh dấu trình độ thơ Nôm điêu luyện, độc đáo đương thời. Thơ văn Nôm đã có trước truyện Nôm rất lâu đời rồi mới có truyện Nôm. Cho nên giả thiết về một truyện Nôm truyền miệng, không gắn với văn bản chữ Nôm, với sự hiện diện chữ Nôm, là khó có sức thuyết phục. Ngược lại, mọi thuật ngữ thơ Nôm, phú Nôm, văn Nôm, dịch Nôm, truyện Nôm đều do có chữ Nôm ghi lại  mà thành tên.

    Công cụ chữ Nôm đã làm nảy sinh nhu cầu phiên dịch tác phẩm chữ Hán ra chữ Nôm. Hồ Quý Ly đã dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư ra chữ Nôm để dạy vua nhỏ Trần Thuận Tôn. Đến nay không còn. Khoảng thế kỷ XVI - XVII là thời kỳ phát triển rực rỡ, đa dạng của văn Nôm. Thơ ca Nôm xuất hiện nhiều. Riêng văn xuôi đến nay còn văn bản dịch Nôm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Thế Nghi (thế kỷ XVI), bản in thế kỷ XVIII, bản dịch Cổ Châu lục, bản in thế kỷ XVIII. Có thể xem đó là những bản dịch văn xuôi thuộc loại cổ nhất hiện còn, cách dịch lệ thuộc vào nguyên văn bản chữ Hán mà có người gọi là "dịch đuổi", dịch bám vào nguyên tác. Qua hành văn các bản dịch ta cũng chưa thấy một hình thức văn xuôi chín muồi để chứng tỏ từ thế kỷ XVI ta đã có ngôn ngữ văn học thực sự theo truyền thống Đông Bắc Á.

    Trong khi đó, theo truyền thống Đông Nam Á thì có lối diễn ca, ngữ lục bằng văn vần. Đó là Thiên Nam ngữ lục dài trên 8.000 câu lục bát, Thiên Nam minh giám 936 câu song thất lục bát. Việt sử diễn ca gồm 2.332 câu, phần đầu lục bát, đoạn cuối là song thất lục bát. Tên gọi "diễn ca", "ngữ lục" thể hiện nhu cầu xây dựng văn học viết. Thiên Nam ngữ lục mở đầu bằng câu:

    Trải xem sử ký nước Nam,

    Kính vâng tay mới chép làm nôm na.

    Và kết thúc:                       Truyện này là của xem nhà,

                                         Lấy làm lời đạo nôm na tính tình.

                                              Ta khinh, lẽ thế chẳng khinh,

                                           Ấy vậy ai nấy dễ mình chép nên?

    đã nói rõ nhu cầu chép để xem của người đọc đương thời và tâm thế sáng tác của tác giả.

    Có thể coi đó là tâm thế sáng tác truyện Nôm sau này mà ta có thể tìm thấy ở các truyện Nôm bình dân và bác học:

    - Phòng văn nhân buổi ngồi rồi,

      Học đòi tấp tểnh mấy lời nôm na.

    (Nhị độ mai)

    - Mạnh tay góp nhặt chuyện người,

      Ghi vào một tập xem chơi cũng kỳ.

    (Tuyển phu ngộ phối tân truyện)

    - Thừa nhàn mượn bút chép ghi,

      Phong lưu gọi một truyện kỳ mà chơi.

    (Từ thức)

    - Thư nhàn ngồi tựa hiên mai,

      Trải xem tích cũ truyện ngoài chép chơi.

    (Hoàng Tú tân truyện)

    - Trên am thong thả hội vui

      Tương tư tình nghĩa xem chơi quyển vàng.

    (Phan Trần)

    - Nhân khi thong thả ngâm nga,

      Lời quê ghi chép nôm na mấy lời.

    (Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai)

    - Tóc tơ một chút chẳng sai.

    - Vậy nên làm chuyện đặt vài lời hoa.

      Khi rồi ai muốn ngâm nga,

      Gọi là theo thói nôm na dõi truyền.

    (Trinh Thử)

    - Bút hoa ghi chép tỏ tường.

      Truyện này thong thả thư đường mà xem.

    (Thạch Sanh)

    - Lạm xem câu chuyện Hồng Hoan

      Học đòi chấp chảnh vài hàng nôm na.

    (Hồng Hoan lương sử)

    - Lời quê chấp chảnh nên câu

      Chép là một truyện để sau mua cười.

    (Phù Dung tân truyện)

    Qua những lời mở và kết của một số truyện Nôm trên đây ta có thể nghĩ rằng, trong tâm thức tác giả truyện Nôm, truyện Nôm là một thể loại "diễn ca" với nội hàm như sau: Truyện thơ Nôm là truyện viết ra để đọc, xem hoặc ngâm nga trong thư trai, phòng văn, không phải để ông xẩm kể nơi đầu đường cuối chợ. Không có chữ Nôm thì không thể có truyện Nôm. Đến thời Chúa Trịnh Giang nhu cầu khắc bán càng nhiều, chứng tỏ nhu cầu ngâm, đọc lên cao. Các ông xẩm không dễ đọc được chữ Nôm, vì muốn Nôm giỏi thì trước hết phải giỏi chữ Hán, có thể nói phần lớn các ông hát xẩm chẳng những là mù chữ, và còn mù loà nữa, nói chung họ không cần có bản in gốc để làm gì.

    Có thể xem đây là hình thức văn học viết sơ khai bằng tiếng dân tộc gọi là văn học viết văn vần vì được ghi lại bằng chữ Nôm, nhưng hình thức thể văn là thơ lục bát, một thể thơ vốn là có hình thức truyền miệng. Do đó truyện thơ Nôm chép lại dùng để đọc đã đành, nhưng dùng để kể cũng hoàn toàn được. Mở đầu truyện Lục Vân Tiên Nguyễn đình Chiểu ghi như mở đầu bài kể vè:

    Trước đèn xem truyện Tây Minh

    Gẫm xem hai chữ nhân tình éo le.

    Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,

    Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.

    Đặc điểm này thể hiện trong cấu trúc của truyện Nôm bình dân, vừa có đặc điểm văn viết để xem, vừa có đặc điểm văn kể để nghe. Đặc điểm này vốn có trong nhiều tác phẩm văn viết của Trung Quốc, như Hồng Lâu mộng. Một mặt tác phẩm hầu như không có dấu hiệu gây chú ý đối với người nghe, nhưng mặt khác bố cục kể theo thứ tự sau trước tự nhiên cho người nghe dễ theo dõi, không gây nhầm lẫn. Cũng cần chú ý một điều nữa, truyện Nôm viết để "ngâm nga", một thú chơi nghệ thuật ngôn từ của người Việt. Đó là thể loại để kể, để xem, để ngâm nga giải trí.

    Tuy cũng là diễn ca nhưng truyện thơ Nôm khác hẳn diễn ca lịch sử, Ở đây còn có vấn đề loại hình nội dung thể loại. Nếu diễn ca lịch sử hướng tới các sự tích có tính sử thi trong đời sống dân tộc, thì truyện thơ Nôm là thể loại có nội dung đạo đức, thế sự và đời tư, kể chuyện về tính nết, phẩm chất của các loại người trong xã hội cùng mối quan hệ của các loại người ấy, hoặc số phận, hạnh phúc cá nhân của con người. Không phải ngẫu nhiên mà trong các truyện thơ Nôm không thấy truyện sử thi như Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh… mà chỉ thấy các truyện thế sự như Thạch Sanh, Tấm Cám, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa… Các truyện vay mượn cốt truyện Trung Quốc cũng thuộc phạm trù thế sự, và đời tư như Nhị Độ Mai, Phan Trần, Hoa Tiên, Song Tinh, Truyện Kiều…

    Cần dựa vào loại hình nội dung thể loại để xác định thể loại. Đây là nguyên tắc đã được nhiều tác giả thi pháp học lịch sử chứng minh. Nếu chỉ dựa vào hình thức kể chuyện bằng lục bát hoặc song thất lục bát, có thể quy vào thể loại truyện Nôm cả những câu chuyện thuần tuý tôn giáo như truyện Nam Hải Quan Âm, truyện Công chúa Liễu Hạnh, thiết nghĩ là không phải.

    Đặc điểm của truyện thơ Nôm như một thể loại văn học thể hiện rõ nhất ở chỗ, nó diễn ca truyện cổ tích, nhưng không đồng nhất với truyện cổ tích, nó diễn ca tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa nhưng không phải tiểu thuyết chương hồi! Đối với truyện cổ tích vốn chỉ kể sự việc  thì nó mở rộng nội dung kể sang tả cảnh, tả tình, tả ngôn ngữ nhân vật. Đối với truyện chương hồi Trung Hoa vốn có dung lượng lớn, chi tiết phức tạp thì nó lược bớt đi cho vừa "khuôn khổ" truyện Nôm! Vậy "khuôn khổ" nội tại của thể loại truyện Nôm được thể hiện như thế nào?

    Thử so sánh số câu trong truyện thơ Nôm và số câu trong bản kể văn xuôi của một số truyện cổ tích, có thể thấy truyện thơ Nôm bao giờ cũng có số lượng câu dài gấp 10 lần. Truyện cổ tích ở bảng tính dưới đây do Nguyễn Đổng Chi kể trong Kho tàng truyện Cổ tích Việt Nam.

    Tác phẩm

    Số câu trong truyện kể cổ tích

    Số câu thơ trong truyện

    Nôm tương ứng

    Quan âm thị Kính

    71

    786

    Thạch Sanh

    120

    1812

    Từ Thức

    118

    608

    Tú Uyên

    63

    674

    Dung lượng tăng lên là có nội dung của nó. Con người trong truyện cổ tích nói chung chưa có tâm lí và đời sống tâm lí, hành động nhân vật nhiều khi chưa có thuyết minh lí do cụ thể. Truyện thơ Nôm có nhu cầu cụ thể hoá, chi tiết hoá nhân vật và câu chuyện, đặc biệt là cụ thể hoá hành động, lời nói, ý nghĩ. Truyện Nôm rõ ràng là có nhu cầu làm khác truyện cổ tích cho thành một thể loại mới. Truyện Nôm đã sáng tạo ra lời kể, lời than, lời bình cố định, lời thoại mang nội dung tư tưởng, tâm lý. Nhân vật được khắc hoạ như là những chủ thể có đời sống nội tâm nhất quán. Nhân vật xuất hiện như là những chủ thể với tỷ lệ lời thoại rất cao, thường chiếm từ 30-50% tổng số câu thơ của tác phẩm. Có ý kiến nói rất đúng là truyện Nôm đã có con người cảm nghĩ, nói năng. Truyện Nôm đã tạo điều kiện cho nhân vật được nói và suy nghĩ nhiều hơn, biểu cảm nhiều hơn. Theo M. Bakhtin thì con người nói năng nói chung tự nó chưa phải là thuộc tính của tiểu thuyết. Theo ông, chỉ khi con người nói năng trở thành đối tượng miêu tả, lời nói nhân vật là đối tượng miêu tả thì đó mới là đặc điểm của tiểu thuyết (1). Theo ý kiến này thì không phải truyện Nôm nào cũng có nhu cầu miêu tả nhân vật nói năng, một thuộc tính của tiểu thuyết. Phần nhiều lời nói nhân vật truyện Nôm bình dân là lời diễn chí, tỏ chí, chưa phải lời nói tự nhiên, cho nên chưa phải tiểu thuyết. .

    Nhược điểm của một số nhà nghiên cứu thi pháp truyện Nôm là chỉ chú ý đến các yếu tố cốt truyện, tức là chú ý tới sự kiện, biến cố, mà ít chú ý đến chi tiết và cấu tạo lời văn, mà chỉ như vậy thì khó mà thấy rõ đặc điểm của truyện Nôm bình dân về mặt thể loại, một thể loại khác hẳn truyện cổ tích về nguyên tắc. Tất nhiên về mặt kết cấu đúng là truyện Nôm bề ngoài có phần giống với kết cấu truyện cổ tích là nguyên tắc nhân quả và đơn tuyến. Nhưng truyện Nôm dựa vào cốt truyện tiểu thuyết thì thường là đa tuyến.

    Để làm sáng tỏ đặc trưng thể loại này chúng ta thử phân tích truyện Phạm Tải Ngọc Hoa, một cốt truyện Nôm rất bình dân. Về cốt truyện tác giả sử dụng các mô típ quen thuộc của các truyện cổ  như: Văn nhân tài nữ phải lòng nhau (mà chàng là đấng văn nhân, trượng phu gặp đấng nữ tài), nhất kiến chung tình (Ngọc Hoa thấy Phạm Tải thì yêu ngay), cha mẹ tác thành theo ý con, tiểu nhân phá hoại (Biện Điền tạc tượng Ngọc Hoa dâng vua), vua đắm đuối nữ sắc, bất chấp đạo lý (tuyển gái có chồng vào cung, đầu độc chồng người ta). Ngọc Hoa để tang chồng, đoạn tang thì chết theo chồng. Kiện vua tại Phủ Diêm Vương. Thiên Tào tra sổ, cho quỉ sứ bắt Trang Vương bỏ vạc dầu, cho Phạm Tải và Ngọc Hoa sống lại để Phạm Tải làm vua. Yếu tố kỳ diệu phát huy nhiều chỗ. Cơ chế truyện cổ tích- không gian không cản trở - theo quan niệm của D. Likhachov được sử dụng tối đa: nhân vật chết đi sống lại, Thiên Tào, trần giới, địa ngục thông nhau. Nhưng truyện Nôm có yếu tố văn chương: lời kể đẹp kiêm phân tích, bình luận, lời kể là văn viết, không phải lời khẩu ngữ:

    11.        Tướng công quan đại phú gia

                Xuân thu đỉnh thịnh tên là Thúc Thông

                Chưa ai kế hậu nối dòng

                Đêm ngày phiền muộn trong lòng lo âu

                Trai già bổng nở hạt châu

                Mới hay như ý sở cầu bấy nay

                Sinh ra một gái tốt thay

                Má đào mặt ngọc tóc mây rườm rà

    Tướng công yến ẩm xướng ca

                            Mừng vui cây ngọc nở ra nụ vàng

                            Mai sau hương hoả từ đường

                            Vô nam dụng nữ thế gian cũng đầy

                            Nâng niu vàng ngọc trên tay

                24.        Vàng kia ve vuốt, ngọc này dấu thương.

                Câu 15 kể xen bình luận, câu 16, 21-22 có tính chất nửa trực tiếp, bày tỏ ý nghĩ nhân vật một cách gián tiếp. Nhân vật có biểu hiện tâm lý trong lời nói, hành động:

                171.      Phạm Tải rón rén thưa quì,

                            Ngập ngừng mới giải vân vi tỏ tường.

                            Sơn Tây, Ngọc Tháp là làng,

                            Hai thân sớm đã suối vàng xa chơi…

                Nhân vật có tâm trạng:

                            Ngọc Hoa từ thấy mặt chàng,

                            Cảm thương quân tử nhỡ nhàng đắng cay.

                            Ước ao loan phượng sánh bầy,

                            Để ta nuôi lấy chàng rày kẻo thương.

                            Nghĩ đi nghĩ lại nỗi chàng,

                            Lại sa nước mắt hai hàng như mưa…

    Nhân vật có cá tính, ngôn ngữ riêng, phân biệt được với nhân vật khác:

                Ta là danh giá con nhà,

                Chê ta lấy đứa khật khà bần nhân!

                Tao làm cho Phạm lìa Trần,

                Mới cam lòng dạ bỏ lần chê tao…

    Trang Vương nói với Điện Biền:

                Phán rằng sự thực nhường này,

                Thì tao phong chức cho mày quận công.

                Dù mày cáo dẫn gian phong,

                Thì tao tru diệt tam tông họ mày!

    Rõ ràng truyện Nôm là hình thức tự sự về con người trên cấp độ chủ thể với nhu cầu khắc hoạ tính cách, tâm lý, ý nghĩ, lời nói. Tuy nhiên vấn đề xem truyện thơ Nôm đã là thể loại thuộc loại hình tiểu thuyết chưa, lại cần phải có tiêu chí xem xét cụ thể.

    Để trả lời câu hỏi trên ta có thể dựa vào quan niệm về tiểu thuyết của M. Bakhtin, một quan niệm được nhiều người tán đồng. Nếu xem tiểu thuyết là thể loại "xúc tiếp tối đa với cái hiện tại", nó miêu tả cuộc sống hiện tại, đương thời với người kể, giữa người kể và cuộc sống được kể không còn khoảng cách thời gian, thì hầu hết truyện Nôm đều sử dụng tích cũ và kể như là một truyện quá khứ. "Lại nữa, cái quyết định ở tiểu thuyết là kinh nghiệm, nhận thức và thực tiễn"(2), trong khi đó phần lớn truyện Nôm kể những sự kiện theo niềm tin thẩm mĩ, chứ không phải là kinh nghiệm. Do vậy nó không phải là tiểu thuyết. Nếu xem tiểu thuyết là thể loại miêu tả cuộc sống trong trạng thái mở, chưa hoàn tất, thì kết cục đoàn viên, có hậu của hầu hết truyện Nôm lại là một đặc điểm phi tiểu thuyết, bởi đó là một sự hoàn tất chỉ có trong niềm tin cổ xưa. Một mô hình xã hội "siêu ổn định"! Nếu nhân vật của tiểu thuyết là "con người không đồng nhất với chính nó"(3) thì phần lớn con người trong truyện Nôm đều đồng nhất với loại của mình - loại chính diện, loại phản diện. Do đó truyện Nôm, nhất là truyện Nôm bình dân không phải là thể loại tiểu thuyết như một số người quan niệm. Một đặc điểm quan trọng nữa của tiểu thuyết là nó có nhiều chi tiết phức tạp về cuộc sống, những chi tiết không nhất thiết bám sát vào cốt truyện nhân quả, phục vụ cho cốt truyện. Xét về mặt này, các truyện Nôm bác học, do tước bỏ nhiều chi tiết đi, tước bỏ một cách "tàn nhẫn" (như ý của học giả Phan Ngọc) lại là cách tốt nhất làm cho tác phẩm giảm bớt chất tiểu thuyết! Nên chú ý rằng miêu tả chi tiết đời thường là một thành tựu lớn của văn học tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết có khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực. Do đó không nên một chiều ngợi ca sự cắt bỏ như có người đã làm! Thật vậy, đối với truyện thơ Nôm bác học (của văn nhân) mà cốt truyện mượn từ tiểu thuyết, ca bản của Trung Quốc, thì đáng tiếc là thể loại truyện Nôm lại cắt bớt chi tiết, sự việc. Bởi vì truyện thơ Nôm, với tư cách truyện thơ, nó không thể dung chứa quá nhiều sự việc và chi tiết. Đó là vì với hình thức văn vần lục bát, truyện Nôm không thể kể, tả, thuyết minh tường tận chi tiết, quan hệ, nhân quả của sự việc như văn xuôi được. Ví dụ như thư đồng báo tin dữ cho Kim Trọng: "Ông Hai mất ở Liêu Dương rồi, ông cả đang đi lo quan tài, đang gọi công tử mau mau về nhà bàn việc". Thanh Tâm Tài Nhân đã kể rất khẩu ngữ, mộc mạc lời báo tin của tiểu đồng. Cũng ý đó Nguyễn Du phải diễn đạt khác bằng cách chuyển thuật gián tiếp:

    Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang,

    Đem tin thúc phụ từ đường,

    Bơ vơ lữ thấn, tha hương đề huề.

    Liêu dương cách trở sơn khê,

    Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.

    Đây không còn là lời báo tin thông thường nữa. Một loạt chữ Hán thể hiện thái độ kính trọng, trang nhã. Không phải "ông Hai" chết mà là “thúc phụ từ đường", không phải là chết ở Liêu Dương mà là “lữ thấn, tha hương đề huề”, không phải là ông cả mà là “Xuân đường”. Lại còn những lời biểu cảm: bơ vơ, cách trở sơn khê, thành ra mấy câu thơ chỉ báo được mấy tin chú chết ở Liêu Dương, bố gọi Kim về hộ tang. Chi tiết bố đang vội lo quan tài đã bị tước bỏ, coi là không cần thiết. Thực ra ở góc độ tự sự không thể nói là chi tiết ấy không cần thiết. Nó cần để gây không khí bận rộn, cần người đỡ đần. Kể như Nguyễn Du thì tô đậm cái chết xa nhà thương tâm, song không khí bận rộn thì không còn nữa. Đó là sự khác biệt về thể loại thơ Nôm so với tiểu thuyết chương hồi.

    Để hiểu sự khác biệt giữa truyện Nôm với ca bản Trung Quốc chúng ta còn cần so sánh truyện thơ Nôm Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự với ca bản Hoa Tiên Kí do Tĩnh Tịnh trai bình đính(4). Có thể chắc chắn là Nguyễn Huy Tự sáng tác Truyện Hoa Tiên dựa vào ca bản này, bởi nguyên tác Hán văn gồm 59 đoạn thì truyện của Nguyễn Huy Tự cũng có ngần ấy đoạn. Các nhà nghiên cứu Truyện Hoa Tiên đã xác nhận rằng Nguyễn Huy Tự đã "rút gọn hẳn câu chuyện lại", đã "theo sát cốt truyện của ca bản, theo sát kết cấu của nó, trừ phần cuối cùng"(5). Hãy lấy đoạn "Bái mẫu đăng trình" (Chào mẹ lên đường đi trọ học) mà so thì thấy nguyên tác chữ Hán gồm 46 câu ca, bản truyện của Nguyễn Huy Tự chỉ gồm 20 dòng, ít hơn 26 câu. Nhà làm truyện Nôm đã bỏ bớt các chi tiết cụ thể của tâm tình nhân vật vốn khá mạnh mẽ và quyết liệt như dưới đây, bản dịch nghĩa là của chúng tôi (Các đoạn dịch tiếp theo cũng đều là của chúng tôi, dịch từ ca bản của Tĩnh Tịnh Trai):

    Trên cành chim vui hót chào khách

    Trăm hoa trong khóm toả mùi hương

    Hoa đào từng cánh trôi theo nước

    Để chạnh lòng người thêm xót thương.

    Khi mùa xuân hết hoa rơi rụng

    Dung nhan con người chẳng lâu dài

    Chẳng được phong lưu đời bỏ phí.

    Xem ra khó bì với uyên ương,

    Bên hồ trống mái tựa nhau đứng,

    Thương nhau yêu nhau cùng lứa đôi.

    Ta nghĩ niên hoa mười tám uổng,

    Ai giữ phòng không được suốt đời?

    Ước được một người như Oanh Oanh,

    Thì ta phải học cách Tây Sương.

    Nghe nói Thường Châu nhiều gái đẹp,

    Hồng non trắng mịn khéo điểm trang.

    Những muốn dời vào thành lưu trú

    Phong lưu có lúc toại lòng chăng?

    Chàng Lương Phương Châu muốn có gái đẹp, đã bịa ra một lý do để thưa với mẹ. Nghĩ một đằng, nói một nẻo, nhưng chi tiết này truyện Nôm của Nguyễn Huy Tự cũng bỏ đi. Những chi tiết trong lời mẹ nói cũng tước bớt đi, chỉ giữ ý chính làm cho đoạn văn tương ứng của nhà thơ Việt Nam liền mạch về mặt nhân quả và kín đáo, trung hậu hơn, nhưng cũng nghèo hơn. Nhưng đáng chú ý nhất là lời của Lương Phương Châu ở đây lại không phải là lời thoại, mà lại là lời tự thuật, tự bộc lộ, nó gần như là lời độc thoại nội tâm của người kể chuyện. Câu văn hoặc không có chủ ngữ, hoặc chủ ngữ xưng "ta", "mình". Nhưng ở ca bản nó là lời ca của chủ thể trữ tình. Chuyển sang truyện Nôm, nó chuyển thành lời văn tự sự mới, phân biệt với ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật. Trong ca bản do là lời của chủ thể tự thuật, nên nhiều lời trực tiếp của nhân vật khác được chuyển thành lời thuật gián tiếp. Như đoạn Bái mẫu đăng trình, lời người mẹ được thuật lại một cách gián tiếp, tức là chỉ chuyển ý của người mẹ.

    Lấy đoạn "Kì biên tương ngộ" (gặp nhau bên bàn cờ) mà so thì thấy ca bản gồm 82 câu, còn truyện của Nguyễn Huy Tự chỉ có 48 dòng, ít hơn 34 dòng. Tác giả truyện Nôm đã bỏ bớt các chi tiết tả đồ vật trong phòng như lư đồng đốt hương, tranh bạc, ngọc địch, chim trĩ trên hồ, các chi tiết tả cảnh, tả tình cảm, ý muốn mạnh mẽ của nhân vật Lương Phương Châu được thể hiện qua lời tự thuật, độc thoại:

    Trên hồ cầu sơn đỏ thông vườn trong

    Lại thấy một dải sóng nước dợn ánh trăng

    Hai bờ thuỳ dương đối nhau múa

    Thuyền hái sen buộc bên bờ liễu

    Cá bơi dệt sóng thành tấm gấm trên mặt nước lăn tăn.

    Bóng mây phản chiếu mờ mờ sáng.

    Cất bước qua cầu tới gần thuỷ các,

    Tựa lan can đùa với hoa đại thơm,

    Vin cành muốn hái cành đẫm sương,

    Muốn lay cành khua động cho chim bay cuồng.

    Đỗ quyên hót như khóc trăng lặn,

    Hoàng điểu kêu thêm não lòng người.

    Lung linh sáng một vành trăng,

    Cành hoa chúm chím toả hơi áo lụa.

    Qua chiếc cầu nhỏ tới khúc đường quanh

    Quả mai xanh xanh rụng hai bên lối.

    Chim công từng đôi dạo dưới trăng,

    Chim vẹt trong lồng vàng kêu tha thiết,

    Trước mặt cả một bầu khí xuân,

    Muôn lá hoa đào trồng thành hai hàng.

    Những ước đào nguyên đều có lối,

    Tiểu sinh tự muốn làm ngư lang.

    Bước về phía tây vườn hồng hạnh

    Chỉ thấy mơn mởn hoa ngát hương.

    Xanh um vườn cỏ dường lạc lối,

    Tường vi thấp thoáng ló đầu tường.

    Hoa đẹp chẳng lòng nào dừng ngắm.

    Nhẹ nhàng chuyển bước đến phòng văn…

    So với văn trong ca bản như đoạn này, rõ ràng tự sự của Truyện Hoa Tiên ít chi tiết hơn, ý nghĩ, hành động, cảnh vật mơ hồ hơn. Rõ ràng ở đây cũng như trong Truyện Kiều các tác giả truyện Nôm đã cắt bỏ "tàn nhẫn" các chi tiết như Phan Ngọc nhận xét. Nếu trong Truyện Kiều Nguyễn Du cắt bỏ các chi tiết mưu mẹo, thì ở Truyện Hoa Tiên Nguyễn Huy Tự đã cắt bỏ bớt các chi tiết tả cảnh, tả tình cảm, tả trạng thái vô thức thầm kín của nhân vật vốn mang đậm bản sắc Trung Quốc, nhằm tạo ra một nhân vật Việt Nam hơn. Ngoài ra việc bỏ bớt chi tiết còn có một nội dung khác nữa. Một số nhà nghiên cứu Việt Nam, khi so sánh truyện Nôm với nguyên tác chữ Hán mà nó sử dụng, thường nói một cách đầy tự hào rằng tác giả truyện Nôm đã tước bỏ "nhiều chi tiết rườm rà, không cần thiết", "nhiều chi tiết, sự việc thừa thãi" của nguyên tác chữ Hán. Thiết nghĩ nói như vậy là không đúng, bởi chúng cần thiết và không hề thừa thải đối với nguyên tác. Sở dĩ bớt đi là vì khuôn khổ, mức độ cụ thể của truyện thơ Nôm thấp hơn, hay nói cách khác, tư duy của truyện Nôm chưa nắm bắt kịp, chưa đạt đến tư duy tiểu thuyết. Việc cắt bớt chi tiết cũng không phải do cá tính của một ai đó, mà là do khuôn khổ cần thiết của thể loại. Một là ngôn từ thơ, văn vần không tiện lợi cho việc trần thuật sự việc một cách chi tiết, nhất là văn Nôm thời đó. Hai là dung lượng truyện thơ Nôm nói chung là không dài. Do đó theo chúng tôi, truyện Nôm có một mức độ tự sự của nó về chi tiết, nó chưa đạt tới trình độ tự sự cụ thể của tiểu thuyết, mà mức độ cụ thể bị hạn chế thì tính cá thể hoá cũng bị giới hạn theo.

    Nhà nghiên cứu văn học Nga A.Chicherin phân biệt thể loại truyện vừa (повесть) trong văn học Nga với thể loại tiểu thuyết (рoман) đã nhận xét rằng, điều làm cho tiểu thuyết khác với truyện vừa, truyện trung đại, "tiểu thuyết đoản thiên" (novell) như Câu chuyện mười ngày của Boccaxiô là ở chỗ trong các truyện ấy, cốt truyện đóng vai trò chủ yếu cùng với nhân vật. Mọi yếu tố của tác phẩm được tổ chức sát với sự vận động của cốt truyện và tính cách, hầu như không có gì thừa, tất cả đều nằm trọn trong các mối liên hệ nhân quả. Lời nói của nhân vật cũng chỉ là một khâu thúc đẩy cốt truyện phát triển, hoặc thắt nút, mở nút. Tiểu thuyết thì không thế. Nó chứa bao nhiêu cái "thừa" so với truyện vừa và truyện ngắn trung đại, mà đó lại là một phần chính yếu trong cấu thành của tiểu thuyết: các suy tư của nhân vật về thế giới và cuộc đời, sự phân tích cụ thể, cặn kẽ các diễn biến trong tình cảm nhân vật, mọi quan hệ, chi tiết hay sự việc trong tiền sử của nhân vật, môi trường, nói chung là về sự tồn tại của con người(6). Xét từ phương diện này, truyện thơ Nôm đúng là loại “truyện vừa” trung đại mà việc cắt bỏ một cách "tàn nhẫn" các chi tiết trong các tiểu thuyết Trung Quốc được dùng làm lam bản chỉ thể hiện sự đi sau của thể loại truyện Nôm so với tư duy tiểu thuyết của Trung Quốc, một thể loại đã thịnh hành vào đời Minh và phát triển rất đa dạng, phong phú; một sự gọt chân cho vừa giầy do tình trạng tư duy đó của truyện Nôm suy cho cùng là bởi ý thức về cá nhân, cá tính con người phát triển chưa đến độ phá vỡ cái khung chật hẹp đó của thể loại. Chẳng hạn trong Truyện Hoa Tiên mặc dù Nguyễn Huy Tự đã tiếp thu một cốt truyện giàu tư tưởng cá nhân, nhưng ông vẫn còn rất dè dặt. Ngay đoạn mở đầu của truyện, đoạn "Hoa tiên đại ý" Nguyễn Huy Tự đã lược bỏ hoặc không nói rõ, nói toạc được cái ý tự do, phóng khoáng của nguyên tác:

    Đời người dại gì mà chịu cảnh thê lương,

    Khi được vui sướng thì hãy cứ vui sướng.

    E ngại gì việc trộm ngọc cắp hương,

    Chỉ cần cả hai đều giữ lòng chung thuỷ,

    Thì tư tình, mật ước có hề chi!

    Từ cổ kẻ có tình nhất định toại tâm nguyện,

    Chỉ cần bền lòng nhẫn nại sẽ thành đôi.

    Sơn thuỷ vô tình còn tụ hội,

    Huống chi đa tình đâu dễ sẽ chia phôi

    Rất có thể nhà văn Việt Nam này không thích khẩu khí ồn ào, mà thích kín đáo, trung hậu, nhưng trong sự dè dặt ấy đã phần nào tự mài mòn bớt sắc cạnh, táo bạo. Tuy nhiên sự tiếp thu nghệ thuật tự sự của ca bản đã đem lại cho nghệ thuật truyện Nôm những đặc sắc mới rất quan trọng chưa từng có mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây.

    Như nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã chỉ ra, truyện thơ Nôm với Truyện Hoa Tiên đã đánh dấu một bước tiến mới trong thể loại. Đó là kể một chuyện tình trai gái thuần tuý, một chuyên trăng gió, "khởi bằng gió trăng, kết bằng gió trăng" như bình luận của Tĩnh Tịnh Trai; đó là gia tăng yếu tố miêu tả phong cảnh và miêu tả tâm trạng nhân vật. Điều này đúng, nhưng cũng xin lưu ý, đó là do việc Nguyễn Huy Tự dùng lam bản là một ca bản - một thể loại tự sự bằng thơ, dùng để ca, đậm phong cách trữ tình, mà phương pháp tự sự ở đó đã rất mới mẻ và đặc sắc. Như ở trên đã có dẫn một vài đoạn mở đầu của ca bản Hoa Tiên Kí, yếu tố tả cảnh được sử dụng khá rộng rãi. Lại do tự sự bằng thơ, trong ca bản việc tự sự theo điểm nhìn của nhân vật chính trở nên phổ biến, tác giả không sử dụng ngôn ngữ tự sự của người thuyết thư với lời kể khẩu ngữ, lời "nói", mà là vận dụng lời thơ. Đoạn văn "Gặp nhau bên bàn cờ" chính là đoạn giới thiệu nhân vật Dao Tiên. Về đoạn này, Tĩnh Tịnh Trai bình: "Dao Tiên xuất hiện ở đây. Ngòi bút phàm tục sẽ mở ra một đoạn khác để kể một hồi, còn tác giả đây chỉ nhân bút mà kể. Dung mạo, trang sức, gia thế, tính danh của Dao Tiên hoặc là tả theo con mắt của Phương Châu, hoặc do Phương Châu có ý mà nghĩ đến, hoặc do từ miệng bà phu nhân mà kể bổ sung, biết bao nhiêu biến hoá"! Như vậy là tác giả ca bản đã kể về nhân vật này thông qua điểm nhìn là con mắt, ý nghĩ, tâm lý của các nhân vật khác, mà không tả trực tiếp từ miệng người kể chuyện, như vậy sinh động hơn rất nhiều. Do bút pháp tâm lý đó mà lời kể đã mang quan điểm, điểm nhìn của nhân vật. Lấy ví dụ đoạn "Lương sinh si tưởng" (Lương sinh suy nghĩ đắm đuối). Nguyên văn là một đoạn độc thoại nội tâm:

    Mắt tiễn đưa gia nhân về vội,

    Chỉ thấy trăng nghiêng cành liễu chiếu quần là!

    Ngân hà mấy chấm sao còn sáng,

    Tiếc ngẩn hương chiều rộn vườn hoa.

    Nhìn cảnh thê lương sao chịu nổi.

    Cất bước về phòng đường thấy xa!

    Nhớ có lúc từng bảo em trai,

    Chớ nói chuyện trước hoa dưới trăng mà thêm khổ.

    Nay vấp phải món nợ oan gia đó,

    Tự nhiên mà nát ruột tan lòng.

    Tìm cách mà làm khách trộm ngọc,

    Trước hoa dù chết có hề gì!

    Về phòng suốt đêm không chợp mắt,

    Một lòng chỉ nghĩ đến kiều nương.

    Dưới đèn nhìn chẳng phải là thêm đẹp,

    Ăn mặc không như gái tầm thường.

    Chỉ giắt một đoá hoa lan xanh,

    Quần sa trắng lồng với quần lụa trắng.

    Áo không dài, mới chấm đầu gối thôi,

    Ngón tay đi cờ rất diệu nghệ.

    Chớ bảo tâm thần ta yếu đuối,

    Cho dù tượng phật cũng say lòng.

    Cô phía bắc mặc áo đen trông cũng đẹp.

    Riêng tình ta chỉ thích cô áo trắng thôi…(7)

    Đoạn này Nguyễn Huy Tự viết khác hẳn, nhưng lời văn vẫn là độc thoại nội tâm trong mười dòng liền:

    Đỉnh trầm thoảng chợt hương nghê

    Chập chờn cơn tỉnh cơn mê trước đình

    Bỗng dưng vương lấy tơ tình

    Này đồ vườn Lãng hay tranh non Bồng

    Người sao ngọc đúc tuyết đông

    Vẻ sao giá chuốt gương trong hệt người.

    Chớ chê dạ khách tơi bời,

    Tượng sành ấy cũng rụng rời chân tay.

    Xiêm huyền bên nọ đối bày,

    Huyền kia tuy lịch bạch này càng tôn.

    Ví chăng bình tước gây khuôn

    Thì chi lắm giống tiêu hồn quấy ai!

    Tình dài thêm bận canh dài,

    Lầu điêu nhẫn chót biên cài bóng đông.

    Vậy là văn độc thoại nội tâm đã từ nguyên tác ca bản chuyển sang truyện Nôm một cách lặng lẽ, tự nhiên, không cần tới lời giới thiệu của người trần thuật như "Lương sinh nghĩ rằng…", "Dao Tiên nghĩ bụng…". Nhưng Nguyễn Huy Tự tiếp thu không triệt để. Nguyên tác biểu hiện ngôi thứ nhất: "Chớ bảo tâm thần ta yếu đuối" thì Nguyễn Huy Tự đổi thành "Chớ chê dạ khách tơi bời…". Từ “ta” chuyển sang “khách” tức là chuyển từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba. Đặc điểm này làm cho thể loại "truyện Nôm" của Nguyễn Huy Tự đã khác hơn nhiều so với "truyện Nôm" của Nguyễn Hữu Hào và truyện Phan Trần. Vũ Đức Phúc nhận xét: "Dù chấp nhận Phan Trần có trước Hoa Tiên, viết rất chững chạc, hơn hẳn nhiều truyện thơ khác, và cũng có chất thơ vượt lên hẳn nhiều truyện thơ đã có thì cũng phải thừa nhận thơ của Phan Trần không hay, tứ thơ thường là thẳng đuột(8). Nhưng Vũ Đức Phúc cũng như một số tác giả khác chỉ nói chất thơ, mà chưa nói tới hình thức lời văn đa chủ thể làm nên chất thơ đó. Và nói rằng cội nguồn câu văn biểu hiện chủ thể ở Truyện Kiều bắt đầu từ các khúc ngâm, rõ ràng là chưa tính đến vai trò của Truyện Hoa tiên chịu ảnh hưởng của ca bản.

    Như vậy, cho đến trước Truyện Kiều của Nguyễn Du, thể loại truyện Nôm đã hình thành từ nhu cầu diễn ca, diễn Nôm để sáng tác thành một thể loại tự sự dân tộc. Truyện Nôm là thể loại có nội dung thế sự, đời tư, không phải thể loại sử thi như diễn ca lịch sử. Khác với cổ tích, truyện Nôm là hình thức tự sự hướng tới khắc hoạ hình ảnh chủ thể con người với đời sống nội tâm, ý nghĩ, lời nói, tư tưởng. Nhưng khác với tiểu thuyết hiện đại, truyện Nôm là thể loại "truyện vừa" trung đại, chỉ kể các sự tích và nhân vật trong quan hệ nhân quả sít sao, chặt chẽ, có hậu. Truyện Nôm nói chung chưa biết đến các chi tiết "thừa" nó cho ta biết về vô thức và trạng thái thế giới bao la xung quanh con người và sự việc. Do đó truyện Nôm chưa phải là tiểu thuyết. Tất nhiên nói như vậy, không phải là ở tác phẩm cụ thể này, nọ, ở phương diện này nọ truyện Nôm không thể đạt tới một kiểu tư duy mới hơn so với các truyện cùng thể loại. Tuy nhiên xem truyện Nôm bình dân có xu hướng tiểu thuyết hoá là hợp lý. Lời văn mang tính chủ quan của điểm nhìn nhân vật trong Hoa Tiên đã làm cho truyện Nôm bác học có được một chất lượng mới đậm chất tiểu thuyết.

    Truyện Hoa Tiên, theo phân tích của Hoàng Xuân Hãn, ra đời trước Truyện Kiều khoảng 40, 50 năm. Theo Đào Duy Anh thì khoảng 30, 40 năm. ảnh hưởng của Truyện Hoa Tiên đối với Truyện Kiều là có thể xác định được, bởi không chỉ có mối quan hệ quê hương, thuộc "văn phái Hồng Sơn" mà còn có thể tìm thấy những câu thơ trong Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự làm nhớ tới những câu Kiều. Chẳng hạn câu: "Thiên nhiên sẵn bức dầy dầy, Mực hoen sá thấm phấn rơi thông giồi" của Nguyễn Huy Tự sẽ làm ta nhớ tới câu của Nguyễn Du: "Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dầy dầy sẵn đúc một toà thiên nhiên". Hoặc câu thơ Nguyễn Huy Tự "Nỗi riêng riêng chạnh đòi nau một mình" làm nhớ tới câu Kiều: "Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình". Nguyễn Huy Tự đã tạo ra hàng loạt từ vựng mà Nguyễn Du sẽ kế thừa, tạo ra hàng loạt thế câu miêu tả, biểu cảm mà Nguyễn Du sẽ hấp thụ. Ngay những chữ "đâu" rất hay trong Truyện Kiều ta cũng thấy có trong Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự.

    - Đàn đâu réo rắt bên tai

    - Lửa đâu chất chở nhường khơi trận hừng.

    - Sầu đâu dở dói biếng rằng,

    Nhủ hoàn khép triện đẩy trăng trả trời.

    Hoặc những câu:

                - Than đâu lãnh lọt màu oanh…

                - Chợt đâu động lũ kinh hoàng…

                - Duyên đâu từ mảng tin đà…

    Chúng làm nhớ tới những câu Kiều:

                Duyên đâu ai dứt tơ đào?

                Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay?

    Hoặc    Người đâu gặp gỡ làm chi…

                Thoắt đâu thấy một tiểu kiều

                Sự đâu chưa kịp đôi hồi…

    Về chương pháp, mở đoạn của Truyện Hoa Tiên thường là tả cảnh thì mở đoạn của Truyện Kiều cũng như vậy, đó là điều ít có ở các truyện Nôm khác. So sánh Truyện Kiều Truyện Hoa Tiên là một đề tài riêng, song nêu ra một vài điều như trên chúng tôi muốn chứng tỏ rằng truyện Nôm trước Truyện Kiều đã có những thành tựu quan trọng mà trực tiếp là thi pháp Truyện Hoa Tiên đã có ảnh hưởng sâu sắc tới thi pháp Truyện Kiều.

    Tóm lại truyện Nôm bình dân nói chung không phải là truyện dân gian truyền miệng, mà là thể loại văn học viết, và cùng với truyện Nôm bác học nói chung chưa phải là tiểu thuyết trong ý nghĩa hiện đại. Truyện Nôm chỉ là loại “truyện vừa” trung đại, có xu hướng tiểu thuyết hoá, đã chuẩn bị dần dần những yếu tố quan trọng để xuất hiện Truyện Kiều, một tiểu thuyết bằng thơ. Truyện Kiều là sản phẩm của văn mạch dân tộc.

    Như vậy xét về nội dung, Truyện Kiều tiếp tục những vấn đề của ngâm khúc và truyện Nôm trước nó, đặc biệt là của Hoa Tiên để thực sự đạt được đỉnh cao của thể loại truyện Nôm. Xét về hình thức Truyện Kiều đã phát triển những nét mới trong thi pháp truyện Nôm và ngâm khúc lên một trình độ cao chưa từng có. Truyện Kiều là sự kết tinh kì diệu các thành tựu nghệ thuật văn học tiếng Việt của thời đại ông.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thi pháp Truyện Kiều. Tác giả: Giáo sư Trần Đình Sử. Xuất bản lần đầu năm 2002. NXB Đại học Sư phạm in lần thứ 8, tháng 10-2018. Tác giả đồng ý để nhà văn Triệu Xuân trích 3 chương, post trên www.trieuxuan.info



    (1) Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam, Tập III. Nxb Văn sử địa, Hà Nội, 1959. Phần Nguyễn Hồng Phong viết, tr.36.

    (2) Cao Huy Đỉnh, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 1974, tr.131.

    (3) Kiều Thu Hoạch, Truyện Nôm, nguồn gốc và bản chất thể loại, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993.

    (1) M.Bakhtin: Những vấn đề văn học mĩ học. M, 1975, tr. 145.

    (2) M.Bakhtin: Sử thi và tiểu thuyết, trong sách Những vấn đề văn học, mĩ học, M, 1975, tr.433.

    (3) M.Bakhtin: Sử thi và tiểu thuyết, trong sách Những vấn đề văn học, mĩ học, M, 1975, tr.433.

    (4) Tú tượng đệ bát bài tử tiên chú, Tĩnh Tịnh trai bình đính. Văn bản Hán văn do PGS. Phạm Tú Châu cung cấp.

    (5) Lại Ngọc Cang trong sách Truyện Hoa Tiên, Lại Ngọc Cang khảo thích và giới thiệu, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1961, tr.12-13.

    (6) Xem A.Chicherin.  Tư tưởng và phong cách. Nxb. Nhà văn xô viết, Matxcơva, 1968.

    (7) Các dẫn chứng về ca bản Hoa Tiên Kí đều lấy từ sách "Tiêu tượng đệ bát tài tử tiên kí, Tĩnh Tịnh Trai bình đính, Trần Đình Sử dịch.

    (8) Vũ Đức Phúc: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Nguyễn Thiện với truyện "Hoa Tiên".

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,343,240

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/