Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập45,818,335

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin

Aleksey Nikolayevich Tolstoy

  • Thứ ba, 22:36 Ngày 30/03/2021
  • 111

    Giờ đây, Garin đang tin tưởng điều hành công việc theo bản kế hoạch tìm thấy trong các ghi chép và nhật ký của Manxép.

    Các gàu múc đã qua lớp mắcma mạnh. Ở đáy giếng mỏ vang lên tiếng ầm ầm của đại dương ngầm dưới đất đang sôi sục. Thành giếng vốn đã được làm lạnh cứng tới một độ dày ba mươi mét và tạo thành một khối trụ hết sức vững chắc, vẫn rung lên và bị rung chuyển dữ đội đến nỗi phải tung mọi lực lượng vào việc làm lạnh cứng nhiều hơn nữa. Các máy nâng bắt đầu chuyển lên mặt đất sắt, kền và Ôlivin.

    Bắt đầu xảy ra những hiện tượng kỳ lạ. Khi đất đá trong lòng đất được chuyển theo những băng tải bằng thép và phao ra ngoài biển thì phát sáng. Hiện tượng đó mạnh lên suốt mấy ngày đêm. Cuối cùng, những khối lớn nào nước, nào đá, cát và một phần cầu phao nổ tung, bay vọt lên không trung. Tiếng nổ mãnh liệt đến nỗi như một trận cuồng phong quét sạch các lán gỗ của công nhân và một đợt sóng dữ dội ập lên đảo, suýt tràn ngập giếng mỏ.

    Người ta phải chuyển thứ nham thạch đó lên các sà lan và nhận chìm nó ở ngoài khơi xa, nơi đó lại tiếp tục phát sáng và phát nổ. Việc này được giải thích là do các hiện tượng chưa từng biết của sự phân rã nguyên tử của nguyên tố M.

    Một hiện tượng không kém phần lạ lùng khác xảy ra ở đáy giếng. Những dụng cụ đo từ tính mà mới đây thôi vẫn đứng ở vạch số không thì nay bỗng cho thấy một trường từ cực mạnh. Kim các dụng cụ đo vọt lên mức cao nhất.

    Garin hầu như không ra khỏi giếng mỏ. Chỉ đến bây giờ y mới bắt đầu hiểu toàn bộ sự điên rồ của công việc y đang làm. Niềm an ủi đối với y chỉ là những tin tức từ chiếc”Aridôna”gửi về. Vào một đêm, chiếc du thuyền ấy, sau khi đã lại bắt đầu ngang dọc trên mặt biển dưới cờ cướp biển, đã xông vào cảng Menbuốc[1], đốt cháy các kho chứa hàng để báo tin về sự hiện diện của mình và đòi năm triệu bảng Anh. Bộ máy phát tia còn quét sạch một đại lộ trên bờ biển nhằm đe dọa. Trong vài giờ, thành phố trở nên vắng ngắt, các ngân hàng đem tiền ra nộp. Khi rời khỏi cảng, chiếc”Aridôna”bị một tàu tuần biển Anh bắt gặp. Chiếc tàu Anh nổ súng. Chiếc”Aridôna”bị đạn pháo bắn thủng một lỗ phía trên đường mớn nước, liền phản công và tiêu diệt chiếc tàu Anh. Cuộc chiến đấu do Dôia chỉ huy từ đỉnh tháp có đặt bộ máy phát tia khủng khiếp.

    Tin tức này làm Garin vui hẳn lên. Trong thời gian qua, y bắt đầu có những ý nghĩ u ám. Nhỡ Manxép tính toán sai thì sao? Hệt như trong ngôi nhà hẻo lánh ở khu vực Pêtơrôgrátxcaia trước kia, bộ óc mệt mỏi của y tìm kiếm những khả năng thoát thân nếu công việc đào giếng mỏ bị thất bại.

    Ngày hai mươi lăm tháng tư, Garin quan sát thấy một hiện tượng khác thường. Từ phía trên, từ chiếc phễu thu khí, thủy ngân chảy ra. Đành phải ngừng hoạt động của các bộ máy phát tia và giảm việc làm đông cứng ở đáy giếng mỏ. Các gầu múc đã đi qua lớp nham thạch Ôlivin và bây giờ đang múc thủy ngân nguyên chất. Theo bảng tuần hoàn Menđêlêép thì sau thủy ngân là kim loại tali. Còn vàng (nguyên tử lượng là 197,2 và số thứ tự là 79) thì nằm trên thủy ngân trong bảng đó.

    Vậy là không có vàng - tai họa khủng khiếp đó chỉ có hai người hiểu được, đó là Garin và kỹ sư Sêphe. Lão Manxép khốn kiếp kia đã tính lầm.

    Garin cúi đầu. Y chờ đợi mọi chuyện, nhưng không chờ đợi một kết thúc như vậy... Sêphe bối rối giơ tay ra, ngửa bàn tay lên bắt những giọt thủy ngân chảy từ phễu xuống. Đột nhiên y nắm lấy khuỷu tay Garin và lôi tới cầu thang chênh chếch. Khi cả hai đã lên trên, ngồi vào thang máy và bỏ mũ chụp bằng cao su ra thì Sêphe giậm giậm đôi giày nặng trịch. Khuôn mặt xương xẩu của y rạng rỡ niềm vui.

    - Đó là vàng chứ còn gì nữa! - y vừa cười vang vừa kêu lên, - Chúng ta thật ngốc nghếch... Vàng và thủy ngân sôi bên cạnh nhau. Và do đó, đây là vàng thủy ngân! Ông hãy nhìn xem! - Sêphe mở bàn tay ra, trên đó có những hạt nhỏ lấp lánh, - Trong thủy ngân có ánh vàng, có tới chín mươi phần trăm vàng nguyên chất!

    112

    Vàng cứ từ dưới đất trào lên như dầu mỏ. Công việc đào sâu thêm giếng mỏ tạm đình lại. Những hệ thống gia cố tạm thời giếng mỏ được gỡ bỏ đi. Thay vào đó người ta hạ xuống suốt chiều sâu của giếng những hình trụ bằng thép mà bên trong là hệ thống ống làm mát.

    Từ giếng mỏ đến mạn Đông - Bắc, một đường ống dẫn thủy ngân được khẩn trương xây dựng. Ở cánh trái lâu đài là nơi tiếp giáp với chân ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia lớn, người ta xây lò và lắp đặt những lò nổi bằng sứ để làm vàng bốc hơi.

    Garin dự tính là trong thời gian đầu sẽ đưa sản lượng vàng một ngày đêm lên tới 160 tấn, tức là lên tới một triệu đô la một ngày đêm.

    Chiếc”Aridôna”được lệnh trở về đảo. Dôla đánh điện chúc mừng và tuyên bố qua đài phát thanh cho toàn thế giới biết là sẽ ngừng những cuộc tiến công kẻ cướp trên Thái Bình Dương.

    113

    Một ít lâu trước khi khai mạc cuộc hội nghị ở Oasinhtơn, có năm chiếc tàu xuyên đại dương đi vào cảng Xan Phranxixcô. Năm chiếc tàu này trương cờ Hà Lan và thả neo cạnh bờ biển, giữa hàng nghìn chiếc tàu buôn, tương tự, trong cái vịnh rộng đầy khói và chói chang nắng hè.

    Các thuyền trưởng lên bờ. Mọi việc đều đúng phép tắc. Các thủy thủ phơi quần áo lót và cọ rửa boong tàu. Các viên chức hải quan chỉ hơi ngạc nhiên về hàng hóa trên các con tàu treo cờ Hà Lan này. Nhưng họ được giải thích rằng những thỏi kim loại màu vàng được đúc thành từng khối năm cân này chính là vàng được chở đến để bán.

    Các viên chức hải quan cười giễu khi nghe thấy câu nói đùa ngộ nghĩnh như vậy.

    - Thế các ông bán vàng theo giá nào?

    - Bán theo giá thành, - các thuyền phó trả lời. (Trên tất cả năm chiếc tàu đều diễn ra cuộc đối thoại hệt như vậy).

    - Cụ thể là bao nhiêu?

    - Hai đô la rưỡi một cân.

    - Các ông tính giá vàng của mình hơi thấp đấy.

    - Chúng tôi bán rẻ thôi, hàng nhiều lắm, - các viên thuyền phó vừa ngậm tẩu thuốc vừa trả lời.

    Các viên chức hải quan liền ghi vào sổ.”Hàng hóa là những thỏi kim loại màu vàng được gọi là vàng ", rồi cười giễu, bỏ đi. Nhưng chẳng có gì đáng cười cả.

    Hai ngày sau, ở Xan Phranxixcô, trên các tờ báo buổi sáng, trong bản tin cáo thị, trên các tờ áp phích màu trắng chen màu vàng dán đầy trên các cột quảng cáo, và ngay trên các hè phố cũng thấy viết bằng phấn bản thông báo sau:

    “Kỹ sư Piốt Garin coi cuộc chiến tranh dành độc lập cho đảo Vàng đã chấm dứt và rất lấy làm ân hận về những thiệt hại mà đối thủ phải chịu đựng. Để mở đầu những quan hệ buôn bán hòa bình, kỹ sư Garin bày tỏ lòng kính trọng đối với dân chúng Mỹ và đem đến cho họ năm con tàu chất đầy vàng mười. Những thỏi vàng năm cân được đem bán với giá là hai đô la rưỡi một cân. Những ai muốn mua xin hãy đến các quầy thuốc lá, các quầy hóa chất, các cửa hàng sữa, các quán báo và các em bé đánh giày, v. v... Tôi cam đoan đó là vàng thật, và tôi có trong tay một số lượng vàng vô tận. Xin gửi các bạn lời chào kính trọng. Garin”

    Dĩ nhiên, không một ai tin những lời quảng cáo ngu ngốc đó. Đa số những người được ủy thác đều đem giấu những thỏi vàng đó đi. Nhưng cả thành phố bắt đầu nói đến Piốt Garin, tên cướp biển và tên khốn kiếp kỳ lạ này lại làm xáo động cuộc sống yên ổn của những người lương thiện. Các báo buổi tối đòi phải hành quyết Garin. Vào lúc sáu giờ tối, những đám người nhàn rỗi kéo ra cảng, tổ chức những cuộc họp chớp nhoáng và ra quyết nghị - đánh đắm đội tàu của Garin và treo cổ các thủy thủ trên cột đèn. Cảnh sát phải vất vả lắm mới kìm giữ được các đám đông.

    Trong lúc đó, các nhà chức trách ở cảng cũng tiến hành điều tra. Tất cả giấy tờ trên năm chiếc tàu đều hợp lệ, bởi vì chủ nhân là một công ty vận tải Hà Lan nổi tiếng. Song chính quyền đòi phải cấm việc buôn bán những thỏi kim loại màu vàng đã gây náo động trong nhân dân. Nhưng không một viên chức nào đứng vững nổi trước sự cám dỗ khi mỗi người được đút vào túi hai thỏi vàng. Người ta thử bằng răng, xem xét màu sắc, trọng lượng, và đều xác nhận đấy là vàng thật. Vấn đề bán đành để ngỏ, tạm thời lờ ỉm đi.

    Khắp ba mươi hai tòa soạn báo hàng ngày đều có những thủy thủ vác đến một bao đựng thứ thỏi kim loại bí ẩn kia. Họ chỉ nói:”Xin biếu các ông” Các biên tập viên phẫn nộ, kêu la một cách khủng khiếp. Thợ kim hoàn được triệu đến. Người ta đề nghị những biện pháp đẫm máu chống lại thái độ trắng trợn của Pie Hary. Nhưng các thỏi đó đã biến mất tiêu khỏi ba mươi hai tòa soạn.

    Trong đêm đó, các thỏi vàng được đem vứt lung tung ngay trên các hè phố. Đến chín giờ sáng, các hiệu cắt tóc và các quầy thuốc lá đều treo biển:”Ở đây bán vàng mười với hai đô la rưỡi một cân”

    Dân chúng kinh hoàng.

    Điều tệ hại nhất là không ai hiểu người ta bán vàng với giá hai đô la rưỡi một cân để làm gì. Nhưng không mua là dại. Trong thành phố bắt đầu diễn ra những cảnh xô đẩy và náo loạn.

    Hàng nghìn người đứng trước năm chiếc tàu ngoài biển và hét to:”Vàng, vàng, vàng...”Vàng được đem bán ngay trên các cầu tàu. Xe điện và xe điện ngầm ngừng chạy. Trong các văn phòng và các cơ quan chính phủ xảy ra tình trạng hỗn loạn, viên chức vứt bỏ công việc, chạy khắp các quầy thuốc lá hỏi mua vàng. Các kho và các cửa hàng đóng cửa, các viên quản lý chạy tứ tung, trộm cắp tha hồ hoành hành trong thành phố.

    Có tin đồn là dường như số vàng chở đến để đem bán chỉ có hạn và sẽ không có tàu nào chở đến nữa.

    Đến ngày thứ ba, khắp các hang cùng ngõ hẻm của nước Mỹ đều lên cơn sốt vàng. Các tuyến đường sắt chở sang phía Tây những kẻ mưu tìm hạnh phúc đầy xúc động, hoang mang, nghi ngờ và kích động. Phải đánh nhau mới lên được các toa. Ai cũng bối rối, ngơ ngác trong làn sóng ngu ngốc đó của con người. Từ Oasinhtơn gửi đến một cách muộn mằn mệnh lệnh của chính phủ:”Dùng lực lượng cảnh sát ngăn chặn dân chúng đến những con tàu chất đầy thứ kim loại gọi là vàng, bắt giữ các thuyền trưởng và thủy thủ, niêm phong các con tàu” Mệnh lệnh được thi hành.

    Những đám người phẫn nộ đổ đến mưu tìm hạnh phúc từ các nơi trong nước, những kẻ đã bỏ việc làm, nhiệm sở để tràn ngập vùng ven biển nóng nực của Xan Phranxixcô, nơi tất cả những thứ gì ăn được đều bị ngốn sạch, - những kẻ hung dữ đó chọc thủng các hàng rào cảnh sát, điên cuồng đánh lộn nhau bằng súng lục, bằng dao, bằng răng, và đã ném một số lớn cảnh sát xuống biển, giải phóng đoàn thủy thủ trên các con tàu của Garin, sau đó tổ chức việc xếp hàng có vũ trang để nhận vàng.

    Thêm ba con tàu nữa đến từ đảo Vàng, cần cẩu bốc dỡ ngay những hòm vàng lên bờ và chất thành từng đống. Cảnh đó chứa đựng một nỗi kinh hoàng không sao tả xiết. Những người đứng xếp hàng run lên khi nhìn những kho tàng lấp lánh ngay trên mặt đường.

    Vào lúc đó, đám nhân viên của Garin đã kết thúc việc lắp đặt những hệ thống loa phóng thanh ngoài phố tại những thành phố lớn. Vào ngày thứ bảy, khi dân chúng các thành phố đã hoàn tất công việc và đổ ra ngoài phố thì khắp nước Mỹ vang lên một giọng nói to, âm sắc lạ tai nhưng hết sức tự tin:

    “Hỡi dân chúng Mỹ! Người đang nói chuyện với các bạn là kỹ sư Garin, kẻ đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị đem ra để hù dọa trẻ con. Hỡi dân chúng Mỹ, ta đã phạm nhiều trọng tội nhưng tất cả những việc làm đó đều giúp ta đạt đến một mục đích: đó là hạnh phúc của nhân loại. Ta đã chiếm cứ một mảnh đất, một hòn đảo nhỏ bé để tại đó thực hiện đến cùng một công việc lớn lao chưa từng có. Ta quyết định xâm nhập vào lòng đất, vào các lớp vàng chưa một ai động đến. Tại độ sâu tám cây số, giếng mỏ đã đi vào một lớp vàng vô tận sôi sùng sục. Hỡi dân chúng Mỹ! Mỗi người đều có quyền buôn bán những gì người đó có. Ta đề nghị các người mua thứ hàng hóa của ta, đó là vàng. Ta chỉ lấy lãi 10 xu một đô la, với giá là hai đô la rưỡi một cân vàng. Như vậy là rất ít ỏi. nhưng tại sao ta lại bị cấm đem bán thứ hàng hóa của ta? Đâu là quyền tự do buôn bán của các người. Chính phủ các người đã chà đạp lên những cơ sở thiêng liêng của tự do và tiến bộ. Ta sẵn sàng bồi thường chiến phí. Ta sẽ trả lại cho các quốc gia, các công ty và tư nhân tất cả số tiền mà chiếc”Aridôna”đã tịch thu trên các con tàu và trong các nhà băng trong thời gian chiến tranh. Ta chỉ yêu cầu một điều thôi là hãy để ta được tự do buôn bán vàng. Chính phủ các người cấm ta làm việc đó và ra lệnh bắt giữ tàu của ta. Ta nguyện sẽ bảo vệ toàn bộ dân chúng Mỹ”

    Ngay đêm đó, các loa phóng thanh đều bị dỡ bỏ. Chính phủ kêu gọi đến lý trí của nhân dân:

    "... dù những điều mà kỹ sư Garin, tên kẻ cướp khét tiếng xuất thân từ Nga Xô, vừa nói qua loa phóng thanh có là đúng chăng nữa thì vẫn cần lấp đi các giếng mỏ trên đảo Vàng, vẫn cần loại trừ khả năng có nguồn trữ lượng vàng vô tận. Cái thước đo lao động, hạnh phúc và cuộc sống sẽ ra sao nếu vàng sẽ được múc lên như đất sét? Nhân loại nhất định sẽ trở về những thời kỳ mông muội, trở về chế độ buôn bán vật đổi vật, trở về tình trạng dã man và hỗn loạn. Kỹ sư Garin là một tên khiêu khích bất trị, là tay sai của quỷ sứ. Mục tiêu của y là làm mất giá đồng đôla. Nhưng nhất định y sẽ không đạt được mục đích đó... "

    Chính phủ cố vẽ ra một bức tranh thảm hại nếu hủy bỏ hệ thống kim bản vị. Nhưng những kẻ biết lý lẽ thật ít ỏi, khắp nước Mỹ đã phát điên. Sinh hoạt trong các thành phố khác cũng đình trệ như ở Xan Phranxixcô. Các đoàn tàu hỏa và hàng triệu ô tô để sang phía Tây. Càng gần đến bờ biển Thái Bình Dương thì thực phẩm càng đắt đỏ. Không có phương tiện chuyên chở thực phẩm. Những kẻ tìm kiếm hạnh phúc bị đói lả, tiến công các cửa hàng ăn uống. Ở Xan Phranxixcô người chết đói nằm la liệt trên đường phố.

    Tại các ga lớn và trên các giao điểm đường sắt, ngổn ngang những xác chết khi các đoàn tàu bị tiến công. Trên các con đường, trên các đường hẻm qua núi, qua rừng, chạy ngược lại về phía Tây, nườm nượp những toán người cõng các bị vàng trên lưng. Những kẻ chậm chân lập tức bị dân chúng địa phương và các toán cướp giết chết.

    Bắt đầu cuộc săn đuổi những kẻ chở vàng, thậm chí họ bị cả máy bay tiến công.

    Rốt cuộc, chính phủ phải thi hành những biện pháp gắt gao. Hạ nghị viện thông qua các đạo luật tổng động viên những người từ mười bảy đến bốn lăm tuổi, ai trốn tránh sẽ bị đưa ra tòa án binh. Trong các khu phố nghèo ở Niu Yoóc, hàng trăm người đã bị bắn chết. Binh lính xuất hiện tại các nhà ga, nào bắt bớ, nào bắn chỉ thiên, nào bắn vào dân chúng. Nhưng các đoàn tàu vẫn đầy ắp. Các công ty đường sắt tư nhân thấy tốt hơn là cứ phớt lờ mệnh lệnh của chính phủ.

    Thêm năm chiếc tàu nữa của Garin đến Xan Phranxixcô và chiếc”Aridôna”-”mối đe dọa của biển cả”- bỏ neo ngay ngoài khơi với đầy vẻ lộng lẫy, khắp vịnh đều nhìn thấy. Hai bộ máy phóng tia khủng khiếp của nó bảo vệ các con tàu bốc dỡ hàng.

    Ngày khai mạc hội nghị Oasinhtơn đã đến trong hoàn cảnh như vậy. Một tháng trước đây, nước Mỹ sở hữu một nửa số vàng của toàn thế giới. Giờ đây, dù nói gì thì nói, vốn vàng của nước Mỹ bị đánh giá rẻ đi đúng hai trăm năm mươi lần. Dù vất vả, dù bị những tổn thất ghê gớm hay đổ mất nhiều máu chăng nữa - những việc đó vẫn có thể chịu đựng được. Nhưng nhỡ cái gã điên rồ khốn kiếp Garin lại nảy ra ý định bán vàng với giá hai đô la một cân thì sao? Các vị thượng nghị sĩ và dân biểu cao niên đi đi lại lại ngoài hành lang với cặp mắt trắng nhợt vì kinh hoàng. Các ông vua công nghiệp và tài chính Mỹ hoang mang khiếp đảm.

    “Đúng là một thảm họa của thế giới, một thảm họa còn tồi tệ hơn việc va phải sao chổi”

    “Cái gã kỹ sư Garin này là ai nhỉ? - người ta hỏi - Thực ra thì y cần cái gì nhỉ? Làm khánh kiệt đất nước này chăng? Ngu xuẩn? Khó hiểu... Y muốn đạt được mục đích gì? Muốn trở thành nhà độc tài chắc? Xin cứ việc, nếu y là người giàu có nhất thế giới. Suy đến cùng thì chúng ta cũng đã chán ngấy cái chế độ dân chủ này rồi... Đâu đâu trong nước cũng xảy ra tình trạng hỗn loạn, cướp bóc, lộn xộn, cứ để một tên độc tài có bàn tay sắt điều hành đất nước còn tốt hơn. "

    Khi biết tin là đích thân Garin sẽ đến dự phiên họp, dân chúng kéo đến hội nghị đông đến nỗi nhiều người đánh đu trên hàng cột và các ô cửa sổ. Đoàn chủ tịch xuất hiện, ngồi vào ghế, nhưng im lặng, chờ đợi. Cuối cùng, chủ tọa hội nghị bắt đầu nói, nhưng mọi người trong phòng đều quay về phía cửa ra vào màu trắng có nạm vàng. Cửa mở toang. Một người đàn ông bước vào. Y nhỏ nhắn, mặt tái nhợt khác thường, bộ râu dê đen sì, cặp mắt màu sẫm thâm quầng, mặc chiếc vettông bình thường màu xám, đeo cà vạt kiểu con bướm màu đỏ, đi đôi giày nâu, đế cao, bàn tay trái cầm đôi găng mới.

    Y đứng lại, hít một hơi thật sâu. Y thoáng gật đầu rồi nhanh nhẹn bước lên diễn đàn. Y vươn thẳng người. Râu y vểnh lên. Y gạt bình nước về phía mép bàn, (Trong phòng chỉ nghe thấy tiếng nước sóng sánh, - yên tĩnh như vậy đó)

    Bằng một giọng cao, âm sắc rất chướng tai, y lên tiếng:

    - Thưa quý vị... Tôi là Garin... Tôi đã đem vàng đến cho thế giới.

    Cả phòng rung chuyển trong tiếng hoan hô. Mọi người nhất tề đứng dậy và đồng thanh hét lớn.

    - Ngài Garin muôn năm!... Nhà độc tài muôn năm.

    Bên ngoài, một đám đông hàng triệu người vừa giậm chân theo nhịp vừa hò hét:

    - Vàng!... Vàng!... Vàng!....

    114

    Chiếc”Aridôna”vừa trở lại đảo Vàng. Gianxen báo cáo với Dôia về tình hình hội nghị Oasinhton. Dôia vẫn nằm trên giường, giữa một đống gối viền đăng ten. Phòng ngủ mờ mờ tối sực nức mùi hoa từ ngoài vườn tràn vào. Một cô gái đang sửa móng bàn tay phải của ả. Ả cầm trong tay trái một chiếc gương nhỏ và vừa nói chuyện vừa bực bội ngắm nghía mình trong gương.

    - Nhưng ông Gianxen ạ, Garin phát điên rồi, - ả bảo Gianxen, - sao lại làm vàng mất giá nhỉ?... Anh ấy muốn trở thành nhà độc tài của lũ khố rách áo ôm chắc?

    Gianxen liếc nhìn vẻ lộng lẫy của căn phòng ngủ vừa trần thiết xong rồi đáp:

    - Thưa bà, khi tạm biệt tôi, ông Garin bảo tôi nói với bà là bà chớ lo lắng. Ông ấy không đi chệch một bước nào so với kế hoạch đã dự định. Nhờ đánh đổ được vàng, ông ấy đã chiến thắng. Tuần sau, thượng nghị viện sẽ suy tôn ông ấy là nhà độc tài. Khi đó ông ấy sẽ nâng giá vàng lên.

    - Bằng cách nào, tôi không hiểu đấy.

    - Ông ấy sẽ ban bố đạo luật cấm nhập vàng và bán vàng. Sau một tháng, vàng sẽ tăng đến giá cũ. Số vàng bán ra không nhiều lắm đâu. Những lời đồn đại nhiều hơn.

    - Thế giếng mỏ?

    - Giếng mỏ sẽ bị phá hủy.

    Dôia cau mày, châm thuốc hút.

    - Tôi chẳng hiểu gì hết.

    - Số lượng vàng phải được hạn chế, nếu không nó sẽ mất hết giá trị. Dĩ nhiên, trước khi phá hủy giếng mỏ, sẽ phải khai thác một số lượng vàng như thế nào để ông Garin có được trong tay hơn một nửa số vàng trên thế giới.

    - Tuyệt lắm... nhưng họ sẽ bỏ bao nhiêu tiền cho triều đình của ta, cho những kế hoạch huyễn hoặc của ta. Ta cần nhiều, cần nhiều lắm đấy.

    - Ông Garin đề nghị bà lập bản quyết toán đi. Rồi bà sẽ được cấp bao nhiêu tùy ý...

    Rồi Gianxen nói bằng một giọng van vỉ:

    - Thưa bà Lamôlơ, suốt cả tháng qua tôi không được gặp bà. Lúc này bà vẫn còn được thoải mái. Ta hãy ra biển đi. Chiếc”Aridôma”đã sửa sang lại rồi. Tôi muốn được cùng bà đứng trên cầu chỉ huy, dưới các vì sao.

    - Tôi không biết, Gianxen ạ, tôi không biết, - Dôia đáp - Đôi khi tôi bắt đầu cảm thấy rằng người ta chỉ hạnh phúc khi săn đuổi hạnh phúc. Và khi hồi tưởng lại nữa... Nhưng đó là vào những giây phút mệt mỏi... Rồi sẽ đến lúc tôi trở về với ông, ông Gianxen ạ... Tôi biết là ông sẽ nhẫn nại chờ tôi... nhưng nếu tôi không trở về thì niềm mơ ước và nỗi nhớ tôi chẳng lẽ lại không phải là hạnh phúc ư?... Gianxen, ông Gianxen yêu quí, tôi biết làm gì bây giờ?... Tôi phải bay vào chốn tưởng tượng huy hoàng của tôi cho tới khi tim tôi ngừng đập...

    115

    Tại ngôi nhà nhỏ màu trắng trên bờ một vùng biển hẻo lánh của đảo Vàng, suốt đêm diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Senga đọc lời hiệu triệu do anh vừa vội vã soạn thảo:

    “Hỡi nhân dân lao động toàn thế giới! Các bạn đều đã biết quy mô và hậu quả của cơn kinh hoàng đang bao trùm nước Mỹ sau khi những con tầu chất đầy vàng của Garin cập bến San Phranxixcô.

    Chủ nghĩa tư bản bắt đầu lung lay, vàng bị mất giá, tất cả các loại tiền đều rối loạn, bọn tư bản chẳng có gì để trả công cho những kẻ làm thuê cho chúng: cảnh sát, các đội quân càn quét, bọn khiêu khích... Bóng dáng của cuộc cách mạng vô sản đã hiện lên rõ rệt.

    Nhưng kỹ sư Garin, kẻ đã nện một đòn choáng váng vào chủ nghĩa tư bản, không hề muốn rằng hậu quả những hành động phiêu lưu của y lại là cách mạng.

    Garin đang đi tới nắm chính quyền. Trên đường đi của y, y đang bẻ gãy sự kháng cự của bọn tư bản là những kẻ hiểu chưa thật rõ rằng Garin là thứ vũ khí mới trong cuộc đấu tranh với cách mạng vô sản...

    Chẳng mấy nữa, Garin sẽ thỏa thuận được với bọn trùm tư bản.

    Chúng sẽ suy tôn y là nhà độc tài và lãnh tụ. Y sẽ giữ cho y một số vàng trên thế giới rồi sẽ ra lệnh lấp giếng mỏ trên đảo Vàng để hạn chế số lượng vàng.

    Y sẽ cùng bọn trùm tư bản bóc lột toàn thể nhân loại và biến mọi người thành nô lệ.

    Hỡi anh chị em lao động trên toàn thế giới! Giờ chiến đấu quyết định đã điểm. ủy ban cách mạng của đảo Vàng tuyên bố như vậy. ủy ban tuyên bố rằng đảo Vàng cùng giếng mỏ và tất cả các bộ máy phát tia đều chuyển vào tay những người khởi nghĩa khắp thế giới. Từ nay, những nguồn vàng vô tận sẽ nằm trong tay nhân dân lao động.

    Garin cùng bè lũ của y sẽ chống cự điên cuồng. Chúng ta chuyển sang tiến công càng nhanh thì thắng lợi càng bảo đảm”

    Không phải mọi ủy viên ủy ban cách mạng đều tán thành lời hiệu triệu này. Một số người do dự, chưa hoàn toàn tin tưởng. Nhưng Senga nói với họ:

    - Cách mạng là chiến lược cao nhất. Mà chiến lược là khoa học để chiến thắng. Chiến thắng chỉ thuộc vào những ai táo bạo; những ai nắm được chủ động. Thắng lợi của chúng ta là chắc chắn vì toàn thể nhân dân lao động khắp thế giới đều muốn chiến thắng, và chúng ta là đội tiên phong của họ. Những người Bônsêvích nói như vậy. Mà những người Bônsêvích thì không biết đến thất bại.

    Nghe thấy những lời lẽ ấy, một anh thanh niên cao lớn, mắt xanh, từ nãy đến giờ vẫn im lặng, nay rút chiếc tẩu ra khỏi miệng.

    - Đủ rồi, - anh nói bằng một giọng trầm đặc. - Bàn cãi mãi thế là đủ rồi! Bắt tay vào việc đi, các bạn!...

    [1] Một hải cảng ở Úc - N. D.

    Chương 27

    116

    Người hầu phòng tóc bạc, cao lớn, mặc chế phục nhẹ nhàng bước vào phòng, đặt tách nước sôcôla và đĩa bích quy lên chiếc bàn kê ở đầu giường rồi khẽ khàng vén rèm cửa sổ. Garin mở mắt ra:

    - Đưa thuốc lá đây.

    Y không thể bỏ được cái thói quen đặc Nga là hút thuốc lúc đói này, mặc dù y biết rằng giới thượng lưu Mỹ đang theo dõi từng bước đi, từng cử động, từng lời nói của y và sẽ thấy việc hút thuốc lúc đói này là dấu hiệu không được đẹp đẽ lắm.

    Trong những bài tiểu phẩm hàng ngày, toàn bộ báo chí Mỹ đều hoàn toàn biện minh cho quá khứ của Piốt Garin. Nếu trước đây y có uống rượu thì đó là do sự bắt buộc, còn trong thực tế thì y là kẻ thù của rượu; tất cả các báo đều khẳng định rằng công việc yêu thích của y và bà Lamôlơ trong lúc nghỉ ngơi là đọc một số chương ưa thích trong Thánh Kinh; một vài hành động tàn ác của y (biến cố ở Vinlơ Đavrê, vụ phá hủy các nhà máy hóa chất, việc đánh chìm đội tàu chiến Mỹ) được giải thích hoặc là một sự ngẫu nhiên tai hại, hoặc là do sử dụng bất cẩn bộ máy phát tia, nhưng dù sao thì con người vĩ đại ấy vẫn thành thật và ân hận sâu sắc về những hành động đó, vẫn sẵn sàng bước vào giáo đường để rửa sạch những tội lỗi ngẫu nhiên phạm phải (giữa nhà thờ Tin lành và nhà thờ Cơ Đốc đã bùng lên cuộc xung đột nhằm tranh thủ Piốt Garin), và cuối cùng, y được tâng bốc là từ nhỏ đã ham mê ít nhất là mười môn thể thao.

    Sau khi hút một điếu thuốc to bự. Garin liếc nhìn ly nước sôcôla. Nếu như vào trước kia, khi y bị coi là tên khốn kiếp và ăn cướp, thì y đã đòi nước sôđa và rượu cônhắc rồi, nhưng nhà độc tài của nửa thế giới không thể được phép uống cônhắc từ sáng sớm!

    Y nhăn mặt tợp một ngụm nước sôcôla. Người hầu phòng vẫn đứng ở cửa với vẻ buồn bã trang trọng, nay khẽ hỏi:

    - Ngài có cho phép thư ký riêng vào gặp không ạ?

    Garin uể oải ngồi dậy, khoác bộ pigiama lụa. - Được.

    Viên thư ký riêng bước vào, cúi chào nhà độc tài ba lần - ở cửa, ở giữa đường và khi đến cạnh giường. Y chúc nhà độc tài một buổi sáng tốt lành rồi hơi liếc nhìn chiếc ghế.

    - Ông ngồi xuống đi, - Garin ngáp mạnh đến nỗi răng kêu lách cách rồi nói.

    Viên thư ký riêng ngồi xuống. Y được coi là con người thanh nhã nhất Tân Thế Giới và theo Garin thì y được bọn trùm tài chính cử đến để dò xét.

    - Có gì mới không? - Garin hỏi. - Giá vàng thế nào?

    - Đang lên ạ.

    - Lên chậm lắm phải không?

    Viên thư ký rầu rĩ dướn mày:

    - Vâng, chậm lắm.

    - Bọn khốn nạn!

    Garin xỏ chân vào đôi ủng bằng gấm và đi đi lại lại trên lớp thảm trắng.

    - Bọn khốn kiếp, bọn ngu xuẩn! - y nhắc lại, - Việc giá vàng lên chậm chứng tỏ mọi người chưa tin vào tôi. Chưa tin vào tôi! Ông hiểu chứ? Tôi sẽ ban sắc lệnh cấm bán tự do các thỏi vàng, kẻ nào vi phạm sẽ bị tử hình. Ông ghi đi:”Từ hôm nay thượng viện quyết định..."

    Sau khi xong việc đó, y hút điếu thuốc thứ hai và vứt đầu mẩu thuốc lá vào tách sôcôla uống dở. Rồi y hỏi:

    - Còn gì mới nữa không? Không phát hiện được vụ mưu sát nào nhằm vào tôi hay sao?

    - Tối qua và lúc bảy giờ sáng hôm nay cảnh sát đã khám phá ra hai vụ mưu sát ngài.

    - Tốt lắm. Cho công bố ngay trên báo. Chúng là ai vậy? Tôi hy vọng là chính dân chúng đã thanh toán những tên khốn kiếp ấy rồi chứ?

    - Tối qua, trong công viên trước cửa lâu đài, đã phát hiện thấy một gã thanh niên có vẻ như công nhân và trong túi tìm thấy hai cái êcu sắt, mỗi cái nặng năm trăm gam. Thật đáng tiếc lúc đó đã muộn, công viên rất vắng vẻ, và chỉ một vài người qua lại được biết là có kẻ định mưu sát nhà độc tài mà họ tôn thờ nên họ đã nện cho tên khốn kiếp một trận. Hắn đã bị bắt.

    - Những người qua lại đó là dân chúng hay nhân viên mật vụ?

    Mí mắt viên thư ký động đậy, y hơi nhếch miệng cười - nụ cười độc nhất vô nhị trong khắp Bắc Mỹ:

    - Thưa ngài, dĩ nhiên đấy là dân chúng rồi, đấy là những thương gia trung thực, hết lòng với ngài.

    - Tìm biết ngay họ tên những thương gia ấy, - Garin ra lệnh, - và công bố trên báo lời biết ơn nồng nhiệt của tôi. Kẻ mưu sát phải bị xét xử thật nghiêm khắc theo pháp luật. Sau khi kết án, tôi sẽ khoan hồng cho hắn.

    - Vụ mưu sát thứ hai cũng xảy ra trong công viên, - viên thư ký nói tiếp, - cảnh sát phát hiện thấy một phụ nữ nhìn qua cửa sổ vào phòng ngủ của ngài. Trong người mụ ta tìm thấy một khẩu súng lục nhỏ.

    - Còn trẻ chứ?

    - Mụ ta năm mươi ba tuổi.

    - Thế dân chúng phản ứng ra sao?

    - Dân chúng chỉ giật mũ mụ ta, bẻ gẫy ô và giẫm nát túi xách. Sở dĩ họ phản ứng tương đối yếu ớt như vậy là vì lúc đó trời quá sớm, mụ ta trông thật thảm hại và ngã ngất ngay lập tức khi nhìn thấy đám đông dân chúng bừng bừng nổi giận.

    - Cấp hộ chiếu cho con quạ già ấy và tống cổ ra khỏi nước Mỹ. Chuyện này không nên đăng trên báo. Còn gì nữa?

    Lúc chín giờ kém năm, Garin tắm hương sen rồi phó thác cho một người thợ cạo lừng danh và bốn nữ phụ tá của ông ta - hai cô gái tóc vàng và hai cô gái lai - sửa sang đầu tóc, râu ria, móng chân, móng tay cho y. Y phải kiên nhẫn lắm mới chịu nổi đến cuối thủ tục này, một thủ tục mà sáng nào y cũng phải theo và được báo chí nói đến như là”một khắc sau khi tắm”của y. Chẳng làm thế nào được.

    Sau đó, y sang phòng thay quần áo. Tại đây, hai gia nhân và viên hầu phòng giàu kinh nghiệm đã chờ sẵn y cùng bít tất, sơ mi, giày và nhiều thứ khác. Hôm nay, y chọn bộ comlê nâu có chấm sáng. Báo chí viết rằng một trong những tài năng kỳ diệu nhất của nhà độc tài là nghệ thuật chọn cà vạt. Garin vừa rủa thầm vừa chọn chiếc cà vạt sặc sỡ như lông công.

    Khi sang phòng ăn - một căn phòng bài trí theo phong cách trung thế kỷ, - Garin thầm nghĩ:

    “Không thể chịu nổi lâu thế này được. Thật quỷ quái, chúng không còn cho ta được tự do gì nữa. "

    Trong lúc ăn sáng (lại vẫn không có một giọt rượu nào), nhà độc tài phải xem các thư từ gửi đến. Khoảng ba trăm lá thư đã chờ sẵn Garin. Vừa nhai những món ăn dành cho các vận động viên và những kẻ đức hạnh, y lấy hú họa những tấm phong bì kêu sột soạt. Y dùng nĩa bẩn mở phong bì ra và thoáng đưa mắt đọc qua:

    “Trái tim em đập mạnh, bàn tay em run rẩy khi viết những dòng chữ này... Ngài sẽ nghĩ gì về em? Trời ơi! Em yêu ngài. Em yêu ngài ngay từ giây phút được nhìn thấy chân dung ngài trên báo. Em trẻ trung. Gia đình em là gia đình danh giá”

    Các bức thư thường kèm thêm ảnh. Những tấm ảnh (trong một tháng số lượng ảnh đã lên tới vài nghìn chiếc) các cô gái miệng to, tóc dày, cặp mắt thơ ngây và cái mũi ngốc nghếch ấy khiến Garin cảm thấy chán ngán đến phát khiếp.

    Y đã đi qua một con đường nhanh đến chóng mặt từ đảo Crextôpxki tới Oasinhtơn, từ căn phòng lạnh lẽo trong căn nhà hẻo lánh ở khu vực Pêtơrôgrátxcaia đến chiếc ghế chủ tọa mạ vàng ở thượng viện Hoa Kỳ, nơi mà hai mươi phút nữa y sẽ phải đến. Y đã làm cả thế giới phải kinh hoàng, đã chiếm hữu một kho vàng vô tận trong lòng đất, đã giành được quyền lực tầm cỡ thế giới, - y đã làm mọi việc ấy để rồi sa vào bẫy của một cuộc sống tầm thường tẻ nhạt nhất.

    - Thật tởm!

    Y vứt khăn ăn đi, gõ tay liên tục vào bàn. Không thể nghĩ ra được gì hết. Chẳng có gì để vươn đến nữa. Y đã leo tới đỉnh cao nhất. Đã trở thành nhà độc tài. Chẳng lẽ lại đòi tước hiệu hoàng đế ư? Y sẽ càng khốn khổ thêm. Cuốn gói ư? Nhưng đi đâu? Và để làm gì? Đến với Dôia ư? Chà, Dôia! Giữa ả và y đã đứt đoạn một cái gì đó chủ yếu nhất, xuất hiện vào một đêm ẩm ướt, ấm áp, tại một nhà trọ ở Vinlơ Đavrê. Khi ấy, giữa tiếng lá xào xạc ngoài cửa sổ, đã nảy sinh ý tưởng ngông cuồng và toàn bộ chuyến phiêu lưu của Garin. Khi ấy, y tràn ngập niềm hân hoan tiến công. Khi ấy, thật dễ dàng nói rằng:”Anh sẽ ném thế giới xuống chân em” Và nay, y đã chiến thắng. Thế giới đã nằm dưới chân y. Vậy mà y, vị chúa tể của thế giới, lại phải ăn món cháo nhạt thếch, phải vừa ngáp dài vừa nhìn những khuôn mặt ngốc nghếch trên các tấm ảnh.

    Y quay lại hai người hầu đang kính cẩn đứng cạnh cửa. Cả hai lập tức bước tới, một người cúi chào với vẻ dò hỏi, người kia lên tiếng.

    - Xe của ngài đã sẵn sàng.

    *

    Nhà độc tài bước ngạo nghễ vào thượng viện. Y ngồi xuống chiếc ghế bành mạ vàng, nói sang sảng mấy câu qui định sẵn để khai mạc phiên họp. Lông mày y dướn lên, khuôn mặt lộ vẻ cương nghị. Hàng chục bộ máy chụp ảnh và quay phim chĩa vào y giây phút này.

    Hôm nay, thượng viện vinh dự được trao cho nhà độc tài tước hiệu: huân tước xứ Uên (Anh), tử tước xứ Napplơ (Ý), bá tước xứ Saclơroa (Bỉ), nam tước xứ Muynhaoden (Đức) và đồng hoàng đế Đại Nga. Còn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - thật đáng tiếc, đấy là nước dân chủ nên không có tước hiệu - thì trao cho nhà độc tài danh hiệu”Bidơman ôphogốt”có nghĩa là”Người được thượng đế ân sủng. "

    Garin cảm ơn. Y sẽ rất sung sướng nếu được nhổ toẹt vào những gã đầu hói béo phị đang ngồi trước mặt y. Nhưng y hiểu rằng y sẽ không nhổ toẹt mà sẽ đứng dậy cảm ơn.

    Từ thượng viện, y đi thẳng đến chỗ dự tiệc.

    Ngoài phố, xe của nhà độc tài được dân chúng reo hò chào đón. Nhưng nếu nhìn kỹ thì đấy chỉ là những đám cảnh sát và viên chức cải trang. Chà, nếu Garin không sinh ra ở nước Nga, nếu y không trải qua cách mạng thì chắc hẳn chuyến diễu phố giữa những tiếng tung hô nay sẽ làm y hết sức thích thú. Nhưng y đã từng trải rồi. Y giận dữ:”Trò rẻ tiền, rẻ tiền, câm họng đi, chẳng có gì đáng sung sướng hết!” Y xuống xe cạnh cổng tòa thị chính và hàng chục bàn tay phụ nữ (con gái các ông vua dầu mỏ, đường sắt, đồ hộp,... ) tung hoa lên người y.

    Lúc bước lên thang, y gửi những chiếc hôn gió hết sang phải lại sang trái. Trong phòng, âm nhạc nổi lên chào mừng con người được thượng đế ân sủng. Y ngồi xuống, tất cả ngồi xuống theo. Bàn ăn trải khăn trắng tinh, kê thành hình chữ”п”[1] sặc sỡ hoa và lấp lánh pha lê. Cạnh mỗi bộ đồ ăn là mười một con dao bằng bạc và mười một chiếc dĩa to, nhỏ khác nhau (không kể thìa, và các thứ khác). Phải cẩn thận để không lầm lẫn khi dùng các loại dao và dĩa.

    Garin giận dữ nghiến răng kèn kẹt: quí tộc gì cái bọn này! Trong số hai trăm người ngồi quanh bàn ăn thì ba phần tư chuyên buôn bán cá mòi ngoài phố! Nhưng mọi cặp mắt đều hướng vào nhà độc tài và y buộc mình phải cư xử thật mẫu mực.

    Sau bữa tiệc, y đi ngay về nhà.

    Tại tiền sảnh lâu đài, y quẳng can và mũ xuống sàn khiến đám người hầu kinh hoàng nhảy bổ đến nhặt lên, rồi y đút sâu hai tay vào túi quần, giận dữ vểnh râu, bước theo lớp thảm lộng lẫy. Viên thư ký riêng đã chờ sẵn trong phòng làm việc của y.

    - Vào bảy giờ tối, tại câu lạc bộ”Paxiphích”sẽ tổ chức buổi chiêu đãi có hòa nhạc giao hưởng để chào mừng ngài.

    - Được, - Garin đáp. - Còn gì nữa không?

    - Còn vào mười một giờ hôm nay sẽ có vũ hội tại căn phòng trắng của khách sạn”Inđiana”để chào mừng.

    - Gọi điện đến cả hai nơi đó bảo là ta bị ốm vì ăn quá nhiều cua tại tòa thị chính.

    - Nhưng tôi e rằng việc giả ốm sẽ còn gây nhiều phiền nhiễu hơn nữa: cả thành phố sẽ lập tức đến vấn an ngài. Ngoài ra, lại còn các tay săn tin cho báo chí. Họ sẽ tìm mọi cách vào đây bằng được, dù có phải chui qua đường ống bằng đá chăng nữa.

    - Ông nói có lý. Ta sẽ đi vậy, - Garin bấm chuông. - Chuẩn bị buồng tắm, quần áo buổi tối, mũ miện và huân chương cho ta.

    Garin ngồi vào bàn (bên trái là máy thu tiếng, bên phải là điện thoại, trước mặt là micro). Y lấy một mảnh giấy trắng, chấm bút vào mực và đột nhiên trầm ngâm suy nghĩ.

    “Dôia, - y bắt đầu viết bằng tiếng Nga, nét chữ to và rắn rỏi, - chỉ có em là người duy nhất hiểu được ta đang đóng vai một thằng ngốc như thế nào. "

    Lúc tám giờ kém mười lăm, Garin vội vã bước lại gần bàn. Y mặc lễ phục, đeo huân chương, đeo sao và một dải băng ngoài áo gilê.

    Những tín hiệu dồn dập của chiếc máy thu bao giờ cũng bắt sẵn làn sóng điện của đảo Vàng. Y đeo ống nghe. Giọng Dôia rõ ràng nhưng mất hết sức sống, như từ một hành tinh khác vọng đến, nhắc đi nhắc lại bằng tiếng Nga:

    - Garin, chúng ta nguy mất... Garin, chúng ta nguy mất... Khởi nghĩa ở đảo Vàng. Bộ máy phát tia chính đã bị chiếm... Gianxen đang ở chỗ em. Nếu may mắn thì em và Gianxen sẽ chạy trốn trên chiếc”Aridôna”

    Giọng nói đứt quãng. Garin đứng bên bàn, để nguyên ống nghe. Viên thư ký riêng cầm sẵn mũ và can của Garin, đứng chờ cạnh cửa. Và chiếc máy thu lại đã bắt đầu phát tín hiệu. Nhưng một giọng khác, một giọng đàn ông, mạnh mẽ, cất tiếng nói bằng tiếng Anh:

    “Hỡi nhân dân lao động toàn thế giới! Các bạn đều đã biết quy mô và hậu quả của cơn kinh hoàng đang bao trùm nước Mỹ... "

    Sau khi nghe hết lời kêu gọi của Senga, Garin gỡ ống nghe. Y thong thả, nhếch mép cười, châm thuốc hút. Rồi y rút trong ngăn kéo ra một tập giấy bạc một trăm đô la cùng một bộ máy mạ kền hình khẩu súng lục nòng to: đây là bộ máy phát tia bỏ túi, phát minh mới nhất của y. Y cau mày ra hiệu gọi viên thư ký riêng lại gần.

    - Ra lệnh chuẩn bị ngay một chiếc xe đường trường.

    Lần đầu tiên trong suốt thời gian ấy, viên thư ký trố mắt, đôi mắt màu nâu, nhìn chòng chọc vào Garin:

    - Nhưng thưa ngài...

    - Im! Truyền đạt ngay lập tức cho tư lệnh thành phố, thống đốc thành phố và giới chức chính quyền là từ bảy giờ sẽ ban hành lệnh giới nghiêm. Phương sách duy nhất để dập tắt rối loạn trong thành phố là thẳng tay bắn hàng loạt.

    Viên thư ký biến mất sau cửa.

    Garin bước lại gần chiếc gương ba mặt. Y đeo huân chương và đeo sao, tái nhợt như hình nhân bằng sáp. Y soi mình hồi lâu trong gương, đột nhiên một mắt y cứ tự nháy nháy đầy giễu cợt.”Chuồn thôi, Garin, chuồn cho thật mau thôi ", - y thầm thì tự nhủ.

    117

    Những biến cố trên đảo Vàng bắt đầu từ tối hai mươi ba tháng sáu. Biển động suốt ngày. Những đám mây dông bão kéo đến từ mạn Tây Nam. Bầu trời như nứt nẻ vì những làn chớp lửa ngoằn ngoèo. Tại cảng, đối diện với lâu đài, chiếc”Aridôna”đơn độc ngả nghiêng trên các đợt sóng.

    Số dân trên đảo giảm đi rõ rệt trong thời gian gần đây. Công việc ở giếng mỏ tạm thời đình lại. Trong số sáu nghìn công nhân, chỉ còn lại ngót năm trăm.

    Bọn cảnh sát chẳng có việc gì làm trên mảnh đất nhỏ bé này. Chúng bắt đầu đâm rượu chè và buồn nhớ những thành phố lớn, những tiệm ăn xa hoa. Chúng xin nghỉ phép, đe dọa sẽ nổi loạn. Nhưng Garin nghiêm khắc ra lệnh: không có nghỉ phép, không có chuyện thôi việc gì hết. Các doanh trại cảnh sát là mục tiêu thường xuyên nhằm vào của bộ máy phát tia chính.

    Trong các doanh trại diễn ra cảnh chơi bời dữ dội. Người ta sát phạt nhau không phải để lấy vàng (vàng chất đống gần đấy đã khiến ai nấy phát ngán đến tận cổ) mà là để lấy vũ khí, những tẩu thuốc đã lâu đời hoặc chai rượu cônhắc lâu năm. Đến tối thì cả doanh trại thường say bí tỉ. Viên tướng Xúpbôtin phải vất vả lắm mới duy trì được một thứ kỷ luật hết sức lỏng lẻo.

    Không một biện pháp nào còn tác dụng. Nhưng chưa bao giờ tình trạng say sưa rượu chè lại ghê gớm như vào ngày dông bão hai mươi ba tháng sáu. Tướng Xúpbôtin quát tháo khản cả giọng, nhưng rồi cũng thây kệ tất và chính y cũng say bí tỉ nốt.

    Trinh sát của ủy ban Cách mạng (chú bé Ivan) thông báo về tình hình tồi tệ của kẻ địch trong các doanh trại. Vào lúc bảy giờ tối, Senga cùng năm người thợ mỏ lực lưỡng đến trạm gác và gây chuyện cãi lộn với hai tên lính gác đang ngà ngà say đứng cạnh giá súng. Hai tên này mất cảnh giác, lại bị tiến công bất ngờ nên lập tức bị tước vũ khí và bị trói gô lại. Senga chiếm được một trăm khẩu súng. Số súng ấy lập tức được phân phát cho anh em công nhân đang nấp sau các bụi cây và bò tới gần từ cột đèn này đến cột đèn khác.

    Một trăm nghĩa quân xông vào các trại lính. Bắt đầu cảnh rối loạn cực kỳ hỗn độn, bọn cảnh sát kháng cự bằng chai, bằng ghế đẩu rồi tạm thời lùi bước, tổ chức lại đội ngũ và bắn trả. Trên các cầu thang, trong các hành lang và trong các buồng ngủ đều diễn ra những trận đánh nhau. Hai bên đánh giáp lá cà. Từ các ô cửa sổ vỡ nát vọng ra những tiếng gào thét man rợ. Bên tiến công tuy ít người (một người phải chọi với năm), nhưng họ đã đánh bọn cảnh sát nhu nhược bằng các dây xích, bằng các nắm đấm nổi đầy chai. Lực lượng tiếp viện chạy đến. Bọn cảnh sát bắt đầu nhảy qua cửa sổ ra ngoài. Một vài chỗ bùng lên các đám cháy, doanh trại ngập trong khói lửa.

    118

    Gianxen chạy qua những căn phòng trống trải, tối tăm của lâu đài. Thỉnh thoảng y hối hả gọi Dôia rồi lắng nghe trong tâm trạng lo lắng đầy kinh hoàng.

    Y chạy xuống dưới, nơi vọng lên tiếng súng và tiếng la hét. Y ngó đầu nhìn vào bên trong khu vườn. Vắng vẻ, không một bóng người. Ở phía đối diện, dưới chiếc cổng vòm quấn dây leo, có nhiều người đang phá cổng. Bà Lamôlơ chạy trốn rồi ư? Hay bị giết chết rồi?

    Y mở hú họa một cánh cửa nào đấy rồi bước vào. Đấy là phòng làm việc của Garin. Trên thảm lăn lóc một chiếc khăn tay vo tròn lại. Gianxen nhặt lên, cảm thấy thơm mùi nước hoa của bà Lamôlơ. Y chợt nhó rằng từ phòng làm việc này có một đường ngầm dẫn đến thang máy của bộ máy phát tia chính nên chắc hẳn quanh đây phải có một cửa bí mật. Dĩ nhiên là khi những phát súng đầu tiên vừa vang lên thì bà Lamôlơ phải lao lên tháp rồi, - làm sao lại không đoán ra ngay như thế nhỉ?

    Y nhìn quanh, tìm cánh cửa bí mật. Nhưng bỗng vang lên tiếng kính vỡ, tiếng chân người và bên kia tường có tiếng lao xao gọi nhau. Những kẻ nổi loạn đã xộc vào lâu đài. Vậy thì bà Lamôlơ đã chậm chân hay sao? Y nhẩy tới cửa và khóa lại, rút súng lục ra. Hình như cả lâu đài đều ngập chìm trong tiếng chân người và những tiếng la hét.

    - Gianxen!

    Đứng trước mặt y là Dôia. Đôi môi nhợt nhạt của ả mấp máy, nhưng y không nghe thấy gì hết. Y thở hổn hển nhìn ả.

    - Chúng ta chết mất, Gianxen, chúng ta chết mất! - ả nhắc lại.

    Ả mặc chiếc áo dài đen. Đôi tay hẹp nắm chắc lại của ả áp vào ngực. Mắt nhớn nhác, ả nói:

    - Thang máy của bộ máy phát tia chính không hoạt động, buồng thang máy ở trên đỉnh. Trên tháp có một người nào đó. Chúng đã từ bên ngoài leo lên theo các thanh xà. Tôi tin rằng đấy là thằng bé Ivan...

    Ả bẻ ngón tay răng rắc, nhìn ra cửa. Lông mày ả nhíu lại. Ngoài cửa, hàng chục bước chân chạy rầm rập. Rồi vang lên tiếng la hét, tiếng súng nổ gấp. Dôia lanh lẹn ngồi vào bàn, mở cầu dao phát tín hiệu.

    - Garin, chúng ta nguy mất. Garin, chúng ta nguy mất, - ả khom người nói vào micro.

    Một phút sau, cửa ra vào rung chuyển dưới những tiếng đấm tay và đạp chân.

    - Mở cửa ra! Mở ngay ra! - nhiều giọng nói quát to.

    Dôia nắm lấy tay Gianxen kéo đến tường và ấn chân vào một vòng hoa văn trang trí ngay sát sàn nhà. Một tấm panen lặng lẽ mở ra. Dôia và Gianxen bước qua lỗ cửa bí mật đó xuống đường ngầm. Tấm panen lại trở về vị trí cũ.

    *

    Ngoài bến, chiếc canô được neo lại bằng xích. Gianxen đút nòng súng lục vào vòng, cố bẻ gẫy khóa. Phía trên, trên hàng hiên, cửa mở toang và một toán người vũ trang xuất hiện. Gianxen vứt súng lục đi, nắm lấy đoạn gốc xích. Bắp thịt y nổi cuồn cuộn, cổ phồng lên, móc cài trên cổ áo đứt phựt. Đột nhiên, động cơ đã mở được kêu ròn rã. Đám người trên hàng hiên chạy theo bậc thang xuống dưới và vừa vung vũ khí vừa hét to:”Dừng lại! Dừng lại!”

    Bằng một nỗ lực cuối cùng, Gianxen giật tung sợi xích, đẩy chiếc ca nô ra xa và bò theo thành ca nô đến chỗ lái.

    Sau khi ngoặc một vòng gấp, chiếc ca nô lao vụt đi. Nhiều phát súng bắn đuổi theo.

    - Thang đâu? Đồ quỷ sứ! - Gianxen quát to trên chiếc ca nô đang bập bềnh bên dưới thành du thuyền”Aridôna” - Thuyền phó đâu? Ngủ chắc? Ta sẽ treo cổ!

    - Tôi đây, thưa thuyền trưởng!

    - Chặt đứt dây cáp! Mở máy động cơ! Tắt đèn đi!

    - Xin tuân lệnh!

    Dôia là người đầu tiên bước lên chiếc”Aridôna” Khom người qua thành tàu, ả thấy Gianxen cố đứng dậy rồi lại ngã xuống, mặt nhăn lại vì đau đớn.

    - Gianxen, ông làm sao thế?

    - Tôi bị thương.

    Bốn thủy thủ nhày xuống canô, dìu Gianxen lên. Y ngã ngất đi và được đưa vào buồng.

    Chiếc”Aridôna”rẽ sóng, phóng hết tốc lực rời khỏi đảo vàng. Viên thuyền phó đảm nhận nhiệm vụ chỉ huy. Dôia đứng trên cầu chỉ huy, cạnh viên thuyền phó, tay bíu chặt vào lan can. Nước chảy từ mặt ả xuống, chiếc áo bó chặt lấy người ả. Ả nhìn ánh hồng mỗi lúc một rực rỡ (các doanh trại bốc cháy) và những làn khói đen cuồn cuộn bốc lên che kín hòn đảo. Nhưng rồi, hình như ả nhận thấy một chuyện gì đó, ả nắm lấy tay áo viên thuyền phó.

    - Quay về mạn Tây - Nam.

    - Có đá ngầm, thưa bà.

    - Im đi, không phải việc của ông!... Luôn luôn cho thuyền chạy ở mạn trái đảo.

    Ả chạy lên chiếc tháp nhỏ có đặt bộ máy phát tia.

    Trên đảo, mãi tít bên trên đám khói lửa, lấp lánh một ngôi sao chói lọi - đấy là bộ máy phát tia chính đang săn lùng chiếc”Aridôna”

    Dôia quyết định chiến đấu, dù sao cũng không tài nào thoát khỏi tia sáng có khả năng khống chế nhiều hải lý đang phát ra từ ngọn tháp kia. Tia sáng lúc đầu lồng lộn trên các ngôi sao rồi chúc xuống đường chân trời, chỉ trong vài giây đã vẽ nên một vòng tròn chu vi bốn cây số. Nhưng giờ đây, nó kiên nhẫn sục sạo khu vực phía Tây đại dương, lướt trên các ngọn sóng, để lại dấu vết là những cột hơi nước nghi ngút.

    Chiếc”Aridôna”chạy hết tốc lực dọc theo đảo Vàng. Nhưng một lần, khi nó cưỡi lên một ngọn sóng thì trên đảo đã nhận thấy nó. Tia sáng trắng chói lóa nhảy nhót quanh nó, lượn ngoằn ngoèo từ trên xuống dưới, xích lại gần, lúc thì đằng sau, lúc thì đằng trước.

    Dôia cảm thấy ngôi sao chói lọi kia như chiếu thẳng vào mặt ả, và à cố hướng nòng bộ máy phát tia vào ngôi sao trên ngọn tháp đằng xa. Động cơ chiếc”Aridôna”gầm rít dữ dội, đuôi thuyền lộ ra, mũi chiếc thuyền bắt đầu chúc xuống, trườn theo lưng sóng. Đúng lúc đó, tia sáng kia bắt được mục tiêu, nó run rẩy như ướm thử rồi không do dự, chiếu thẳng vào thân chiếc du thuyền. Dôia nhắm mắt lại. Chắc hẳn, tất cả những ai có mặt trên boong và chứng kiến cuộc chiến đấu sống mái này, đều thấy tim mình như ngừng đập.

    Khi Dôia mở mắt ra, trước mặt ả là một bức tường nước, là vực thẳm mà chiếc”Aridôna”trượt xuống.”Vẫn chưa chết ", - ả thầm nghĩ. Ả rời tay khỏi bộ máy phát tia và kiệt sức buông thõng tay xuống.

    Khi chiếc”Aridôna”lại cưỡi lên một đợt sóng, ả mới hiểu là tại sao ả thoát chết. Những đám khói lớn, dày đặc, bao phủ cả hòn đảo và ngọn tháp - chắc là các bể chứa dầu bị nổ tung. Sau màn khói như vậy, chiếc”Aridôna”có thể bình tĩnh trốn thoát.

    Chiếc du thuyền tiến về hướng Tây - Bắc. Gió đã yếu đi, nhưng biển vẫn chưa yên hẳn. Mỗi ngày, chiếc”Aridôna”phát đi nhiều lần những tín hiệu qui ước để tìm cách bắt liên lạc với Garin, và hàng chục vạn đài phát thanh trên khắp thế giới nghe thấy giọng nói của Dôia:”Phải làm gì, phải đi đâu bây giờ? Du thuyền đang ở tọa độ như thế này... Chờ mệnh lệnh”

    Những con tàu xuyên đại dương khi bắt được tín hiệu ấy liền vội vã tránh xa địa điểm khủng khiếp, nơi lại xuất hiện chiếc”Aridôna”-”mối đe dọa của biển cả”

    119

    Những đám khói dầu hỏa cháy ngùn ngụt bốc lên, phủ kín đảo Vàng. Sau cơn dông bão là những giờ phút tĩnh mịch, và làn khói đen tỏa lên bầu trời trong trẻo, hắt xuống mặt biển một bóng đen khổng lồ rộng vài cây số.

    Hòn đảo dường như hoang tàn, chỉ ở phía mỏ là những gầu xúc của các máy nâng vẫn không ngừng kêu ken két như thường lệ.

    Sau đó, giữa không khí yên tĩnh bỗng vang lên tiếng nhạc: một điệu hành khúc chậm, trang trọng. Qua màn khói, có thể nhìn thấy khoảng hai trăm người: họ ngẩng đầu bước, nét mặt nghiêm nghị và quả quyết. Phía trước, bốn người khiêng một vật gì đó phủ lá cờ đỏ. Họ trèo lên núi đá, nơi sừng sững ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia chính, và khi đến chân núi thì từ phía trên hạ xuống một bọc dài.

    Đây là thi hài chú Ivan. Em hy sinh hôm qua, trong lúc chiến đấu với chiếc”Aridôna” Sau khi khéo léo trèo lên đỉnh tháp, em mở bộ máy phóng tia chính và sục sạo tìm chiếc”Aridôna”giữa những đợt sóng lớn.

    Sau một hồi tìm kiếm, em bắt được mục tiêu. Em chiếu tia sáng hết đằng trước lại đằng sau chiếc”Aridôna”để điều chỉnh cho chính xác. Đột nhiên, tia sáng từ chiếc”Aridôna”biến thành ngôi sao chói lóa và lấp lánh, đâm vào mắt em. Bị tia sáng xuyên qua người, em ngã vào bộ máy phát tia chính...

    - Ivan yêu quí, em đã hy sinh anh dũng, và em hãy yên giấc nhé, - Senga nói. Anh quỳ xuống trước thi hài chú bé, lật mép lá cờ ra và hôn vào trán em.

    Kèn đồng nổi lên và hai trăm người cất tiếng hát bài”Quốc tế ca”

    Ít lâu sau, một chiếc máy bay bay vụt ra khỏi các cột khói. Nó tăng tốc rồi quay về phía Tây...

    120

    - Thưa ngài, tất cả mệnh lệnh của ngài đã được thực hiện...

    Garin khóa trái cửa ra vào, bước lại gần tủ sách và đưa tay sang bên phải tủ.

    Viên thư ký nhếch mép cười.

    - Nút ấn cửa bí mật ở bên trái kia, thưa ngài...

    Garin thoáng nhìn viên thư ký với vẻ lạ lùng và ấn nút. Chiếc tủ sách lặng lẽ dịch sang bên, để lộ một lối đi hẹp dẫn đến khu phòng bí mật của lâu đài.

    - Xin mời ông, - Garin vừa nói vừa ra hiệu cho viên thư ký đi trước. Mặt viên thư ký tái nhợt đi. Với vẻ lịch thiệp lạnh như băng, Garin giơ khẩu súng lục lên, chĩa vào trán viên thư ký. - Thưa ông thư ký, phục tùng là khôn ngoan hơn...

    [1] Chữ”P”Nga, tức là chữ đầu tên của Piốt Garin - N.D.

    Chương 28

    121

    Cửa phòng thuyền trưởng mở toang. Gianxen nằm trên giường.

    Mong muốn của Gianxen đã được thực hiện - y lại ở giữa đại dương, lại một mình với bà Lamôlơ. Y biết rằng y sắp chết. Suốt mấy ngày nay y vật lộn với cuộc sống - một viên đạn xuyên qua bụng y - và nay, cuối cùng y đã dịu đi. Y nhìn những ngôi sao qua chiếc cửa mở.

    Bỗng một bóng đen che mờ các ngôi sao và Dôia bước vào. Ả cúi xuống hỏi thăm sức khỏe của Gianxen. Y nhấp nháy mí mắt đáp lại, và Dôia hiểu rằng y muốn nói:”Anh rất hạnh phúc, em đang ở bên anh” Khi ngực y giần giật mấy lần để hít không khí, ả ngồi cạnh giường y và ngồi im, không nhúc nhích. Chắc hẳn những ý nghĩ buồn bã đang ám ảnh đầu óc ả.

    - Anh bạn thân mến, anh bạn duy nhất của tôi, - ả khẽ nói với vẻ tuyệt vọng âm thầm, - anh là người duy nhất trên đời này yêu quí tôi. Anh sẽ chết mất... Ôi, lạnh quá...

    Gianxen không trả lời, chỉ có mí mắt động đậy, dường như muốn xác định rằng y đang cảm thấy lạnh dần... Ả nhìn thấy mũi y nhọn lại và miệng y hé ra thành một nụ cười yếu ớt. Khuôn mặt y mới đấy thôi còn hồng hào đầy sức sống thì nay đã tựa như bằng sáp. Ả chờ đợi thêm nhiều phút nữa rồi chạm môi vào tay y. Nhưng y vẫn chưa chết. Y chầm chậm hé mở mắt, mấp máy môi. Dôia cảm thấy như y nói:”Tốt quá..."

    Sau đó, mặt y biến đổi hẳn. Ả quay đi và thận trọng kéo rèm cửa.

    122

    Viên thư ký - con người thanh nhã nhất nước Mỹ - nằm sấp mặt, những ngón tay cứng đờ bám vào thảm: hắn chết ngay tức khắc, không kịp kêu một tiếng. Garin vừa cắn cắn đôi môi run rẩy vừa từ từ đút vào túi khẩu súng lục phát tia. Rồi y bước đến cánh cửa thép thấp lè tè. Y quay trên chiếc đĩa đồng một tập hợp con số mà chỉ riêng y biết - cửa lập tức mở toang. Y vào trong căn phòng kín mít, không có cửa sổ, xây bằng bê tông cốt sắt.

    Đấy là một loại tủ sắt riêng của nhà độc tài. Nhưng ở đấy không có vàng, cũng không có giấy tờ gì hết mà có một thứ quí giá hơn nhiều đối với Garin: một kẻ thứ ba giống hệt y, được y đem theo từ Châu Âu, lúc đầu bí mật giấu ở đảo Vàng rồi ở đây, trong căn phòng bí mật này của lâu đài. Kẻ thứ ba giống hệt y này là nam tước Coócphơ, một dân lưu vong người Nga đã bán mình để lấy một món tiền lớn.

    - Vậy là rốt cuộc ông đã đến, - nam tước Coócphơ thốt lên và lười nhác quay về phía Garin. - Quỷ tha ma bắt ông đi, ông biến đâu vậy?... Ông còn định giam hãm tôi trong cái nhà mồ này bao lâu nữa? Thà tôi chết đói ở Pari còn hơn...

    Garin không đáp, y giật dải băng và quẳng đi bộ lễ phục cùng với mớ huân chương, huy chương.

    - Ông cởi quần áo ra.

    - Để làm gì? - nam tước Coócphơ tò mò hỏi.

    - Đưa quần áo của ông cho tôi.

    - Có chuyện gì thế?

    - Đưa cả hộ chiếu và mọi giấy tờ nữa... Bộ đồ cạo râu của ông đâu?

    Garin ngồi vào chiếc bàn trang điểm. Y không sát xà phòng vào mặt, nhanh chóng cạo râu ria, mặt nhăn lại vì đau đớn.

    - Trong phòng bên cạnh có một người đang nằm. Ông phải nhớ rằng đó là viên thư ký riêng của ông. Nếu hắn bị bắt, ông có thể bảo rằng ông đã phái hắn đi làm một nhiệm vụ bí mật... Ông hiểu chứ?

    - Có chuyện gì đấy ông? - nam tước Coócphơ vừa hỏi to vừa bắt lấy chiếc quần Garin quăng đến.

    - Từ đây tôi sẽ theo lối bí mật vào công viên, đến chỗ chiếc xe của tôi. Ông sẽ giấu viên thư ký vào lò sưởi và sang phòng làm việc của tôi. Sau đó ông lập tức gọi điện cho Rôlinh. Tôi hy vọng là ông nhớ rõ toàn bộ cơ chế nền độc tài của tôi chứ? Đầu tiên là tôi, rồi đến phó thứ nhất của tôi - giám đốc cảnh sát bí mật, rồi đến viên phó thứ hai của tôi - trưởng ban tuyên truyền, rồi đến viên phó thứ ba của tôi - trưởng ban khiêu khích. Rồi đến hội đồng bí mật ba trăm người, đứng đầu là Rôlinh... Ông cởi quần mau lên chứ!... Ông hãy gọi điện cho Rôlinh bảo rằng ông, tức là Piốt Garin, sẽ đứng đầu quân đội và cảnh sát. Ông sẽ phải chiến đấu dữ dội đấy, ông bạn thân mến ạ... Còn tôi thì chuồn đây.

    123

    Khi Garin ngồi một mình trên chiếc xe bịt kín và phóng như bay qua những đường phố trung tâm thì y hiểu ngay rằng y đã bỏ chạy kịp thời. Tại các khu công nhân và các vùng ngoại ô, hàng chục vạn người đổ ra đường... Đây đó đã tung bay những lá cờ cách mạng. Trên các phố xá vội vã dựng lên những chiến lũy bằng ô tô bị lật nhào, bằng đồ đạc ném qua cửa sổ, bằng cột đèn, bằng cánh cửa, bằng chấn song...

    Con mắt giàu kinh nghiệm của Garin nhận thấy công nhân được vũ trang đầy đủ... Trên các xe tải lướt qua các đám đông, chất đầy lựu đạn, và các loại súng... Rõ ràng đây là bàn tay của Senga.

    Giá như trước đây mấy tiếng đồng hồ, hẳn Garin đã cương quyết ra lệnh tung quân đội đàn áp những người khởi nghĩa. Nhưng lúc này y chỉ bực dọc đạp mạnh chân ga. Chiếc xe lao vùn vụt giữa những tiếng hô và những lời nguyền rủa:”Đả đảo tên độc tài! Đả đảo hội đồng ba trăm người! "

    Máy phát tia nằm trong tay Senga. Mọi người đều biết rõ điều đó, những người khởi nghĩa đã tuyên bố ầm lên như vậy. Senga đang lãnh đạo cuộc cách mạng như một người chỉ huy dàn nhạc đang điều khiển bản hợp xướng anh hùng.

    Loa phóng thanh đặt khắp mọi nơi theo lệnh của Garin trước đây, trong thời kỳ bán vàng, nay chống lại chính y, đang loan báo cho toàn thế giới biết về cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ngược với mọi sự chờ đợi của Garin, nam tước Coócphơ, kẻ giống hệt Garin, bắt đầu hành động một cách kiên quyết và thậm chí, còn có kết quả nữa. Những đội quân tinh nhuệ của y tiến công các chiến lũy. Kỵ binh xéo chết nhiều người trên các ngã tư. Những toán quân đặc biệt bẻ gãy các khóa cửa, xông vào nhà các công nhân, thẳng tay bắn giết.

    Nhưng những người khởi nghĩa bền bỉ chiến đấu. Tại các thành phố khác, tại các trung tâm công nghiệp lớn, họ kiên quyết chuyển sang tiến công. Đến trưa thì cả nước đã vùng dậy khởi nghĩa...

    Garin cho xe chạy hết tốc lực, lao băng băng qua các thị trấn, đè chết lợn, gà, chó... Thỉnh thoàng y chỉ dừng lại vài phút để lấy xăng, đổ nước lạnh vào bộ chế hòa khí... Y chạy suốt đêm.

    Vào năm giờ sáng hôm sau, xe y bị nã súng...

    Vào bảy giờ sáng, khi lướt qua một thị trấn nào đó, y nhìn thấy những lá cờ cách mạng và những đám người đang cất tiếng hát...

    Y chạy trốn suốt hôm sau về phía Tây, về phía bờ biển Thái Bình Dương. Lúc tảng sáng, khi tiếp xăng, y nghe thấy giọng nói quen thuộc của Senga phát ra từ loa phóng thanh.

    - Thắng lợi, thắng lợi rồi... Thưa các đồng chí, trong tay tôi là thứ vũ khí ghê gớm của cách mạng - bộ máy phát tia khủng khiếp...

    Garin nghiến răng, không nghe hết, cho xe lao đi tiếp. Lúc mười giờ sáng, y thấy tấm biểu ngữ đầu tiên ở vệ đường với những dòng chữ in đậm:

    "... Các đồng chí... Tên độc tài đã bị bắt sống. Nhưng đó chỉ là kẻ giống hệt Garin... Garin đã trốn mất. Y đang chạy sang phía tây... Các đồng chí, hãy cảnh giác, hãy bắt giữ chiếc xe của tên độc tài... (Ghi rõ đặc điểm). Garin không được phép thoát khỏi tòa án cách mạng...".

    Đến giữa trưa, Garin phát hiện thấy một chiếc mô tô đang đuổi theo. Y không nghe thấy tiếng súng, nhưng cách đầu y mười phân, kính xe bị một viên đạn bắn thủng. Y cảm thấy lạnh gáy. Y dận hết ga, phóng ra sau một quả đồi, ngoắt về phía những ngọn núi rậm rạm cây cối. Một giờ sau, xe y lao vào khe núi. Động cơ bắt đầu trục trặc và im bặt. Garin nhảy ra, vặn tay lái, đẩy xe lăn xuống vực, rồi vất vả lê bước, leo theo triền dốc dựng đứng về phía rừng thông.

    Từ trên cao y nhìn thấy ba chiếc mô tô phóng vùn vụt trên đường cái. Chiếc cuối cùng dừng lại. Một người cởi trần, đeo súng, nhảy khỏi mô tô và cúi người bên vực thẳm, nơi chiếc xe vỡ tan của tên độc tài đang lăn xuống.

    Đến ngày thứ tư, y đã cuốc bộ đến một xóm hẻo lánh ven biển, gần Lốt Angơlét. Tại đây, chiếc khí cầu riêng của y đã chờ sẵn.

    124

    Bình minh bừng dậy trên bầu trời không một gợn mây. Làn hơi nước hồng hồng tỏa lan khắp mặt biển. Garin cúi người qua cửa sổ khí cầu máy, nhìn qua ống nhòm và vất vả lắm mới thấy mặt bên dưới là chiếc du thuyền”Aridôna”nhỏ như một mảnh vỏ sò.

    Chiếc khí cầu máy bắt đầu hạ thấp. Toàn thân nó lấp lánh ánh nắng. Trên du thuyền đã nhận thấy nó và kéo cờ lên. Khi khí cầu máy chạm vào mặt nước thì từ du thuyền có một chiếc xuồng tách ra. Ngồi trên tay lái là Dôia. Garin vất vả mới nhận ra ả - mặt ả hốc hác hẳn đi. Y nhảy xuống xuồng, vừa mỉm cười như không có chuyện gì xảy ra vừa ngồi xuống cạnh Dôia và vỗ vào tay ả.

    - Anh rất mừng được gặp em. Đừng buồn, con mèo nhỏ của anh ạ. Thua keo này ta bày keo khác chứ lo gì... Sao em lại có vẻ thất vọng thế?

    Dôia cau mày quay đi để khỏi nhìn thấy mặt y.

    - Em vừa chôn cất Gianxen xong. Em mệt lắm rồi. Bây giờ em chẳng thiết gì nữa.

    Vầng mặt trời to tướng hiện lên từ chân trời, và sương mù tan đi như một ảo ảnh.

    Dải ánh nắng rộng trải dài, lấp lánh, và trên đó hiện lên đen đen ba chiếc cột buồm nghiêng và mấy ngọn tháp có chấn song bít kín của chiếc”Aridônna”

    - Tắm rửa, ăn sáng và đi ngủ đã - Garin nói.

    125

    Chiếc "Aridônna”quay mũi về phía đảo Vàng. Garin quyết định giáng một đòn vào tận trái tim những người khởi nghĩa, chiếm lấy bộ máy phát tia chính và giếng mỏ. Y tự tin, kiên quyết và vui vẻ - tâm trạng sảng khoái đã trở lại với y.

    Sáng hôm sau, viên thuyền phó chịu trách nhiệm chỉ huy con tàu sau khi Gianxen chết, lo lắng chỉ những đám mây khí quyển. Chúng nhanh chóng kéo đến từ phía Tây, phủ kín bầu trời tại một độ cao chừng mười cây số. Cơn dông và có lẽ là cơn bão biển lớn tiến lại gần.

    Đang miên man suy nghĩ, tính toán, Garin đuổi viên thuyền trưởng đi.

    - Bão biển thì đã sao, chuyện vặt. Tăng tốc độ lên...

    Từ cầu chỉ huy, viên thuyền trưởng rầu rĩ nhìn bầu trời đang phủ đầy mây đen. Y ra lệnh bịt kín các cửa mạn, neo chặt xuồng và tất cả những gì có thể bị cuốn đi.

    Đại dương tối sầm lại. Gió ào đến từng cơn, gầm rít, báo trước cho các thủy thủ về tai họa sắp đến. Biển nổi sóng dữ dội.

    Rồi từ mạn Đông, một đám mây đen lớn, nặng nề, lan dần tới. Những cơn gió trở nên hung dữ hơn, sóng tràn qua boong du thuyền. Sóng nổi lên cao ngất.

    Viên thuyền trưởng bảo Dôia và Garin:

    - Ông bà xuống dưới đi. Mười lăm phút nữa chúng ta sẽ ở trung tâm cơn bão. Các động cơ không cứu nổi chúng ta đâu.

    Cơn bão ập xuống chiếc”Aridôna”với tất cả sự ghê gớm của cơn bão cấp mười một. Chiếc du thuyền bị vùi lấp giữa các cột sóng, nghiêng hẳn đi, đáy lộ ra đến tận sống đuôi, không thể điều khiển được nữa, bị cuốn băng băng theo những vòng của một hình xoắn ốc ngày càng thu hẹp về phía trung tâm cơn bão hay”mắt bão”như các thủy thủ thường gọi.

    Những đám mây đen chạm đến boong du thuyền. Trời tối đen như mực. Thành du thuyền kêu răng rắc. Mọi người phải bám vào bất kỳ thứ gì vớ được để khỏi bị tan xương.

    Chiếc”Aridôna”bị hất tung lên đỉnh các ngọn sóng, lật nghiêng rồi ném xuống vực thẳm. Đột nhiên mặt trời chói lòa hiện ra, trời im gió một thoáng lát, và những đợt sóng trong xanh, lấp lánh như bằng thủy tinh lỏng, cao bằng tòa nhà mười tầng, đập vào nhau, phát ra những tiếng ầm inh tai nhức óc, dường như thần Hải Vương đang giận dữ vỗ tay...

    Đó chính là”mắt bão ", nơi nguy hiểm nhất của cơn bão. Trên boong chiếc”Aridôna ", mọi thứ đều bị cuốn sạch: mấy chiếc xuồng, cả hai ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia, các ống khói và cầu chỉ huy cùng với viên thuyền trưởng...

    Động cơ bị cháy hỏng, tay lái bị gãy.

    - Em không thể chịu nổi nữa, - Dôia rên rỉ.

    - Rồi sẽ kết thúc chứ... Chà, thật ma quỷ! - Garin khàn khàn trả lời.

    Cả hai bị tơi tả, bị đau đớn vì va đập liên tục vào tường, vào bàn ghế, giường tủ. Trán Garin nứt toác. Dôia nằm trên sàn, bíu chặt vào chân chiếc giường bắt chặt bằng vít. Lăn đi lăn lại trên sàn cùng với người là vali, các cuốn sách đổ ra từ trong tủ, gối đệm, cam, bát đĩa vỡ...

    - Garin, em không thể chịu nổi nữa, quăng em xuống biển đi.

    Một cú giật khủng khiếp hất Dôia ra khỏi giường, lăn tròn đi. Garin ngã lộn nhào qua người ả, đập vào cửa.

    Vang lên tiếng răng rắc dữ dội. Nước đổ ào ào xuống. Tiếng người la thét. Căn phòng vỡ làm đôi. Một đợt sóng mạnh cuốn Garin và Dôia đi, ném xuống vực nước ngầu bọt...

    Khi Garin mở mắt ra, cách mũi y mười phân là một con tôm nhỏ ẩn dật, náu một nửa mình trong chiếc vỏ sò óng ánh, đang giương mắt nhìn và ngạc nhiên vẫy vẫy râu. Garin cố gắng lắm mới hiểu :”Vậy là ta sống sót...". Nhưng y hồi lâu vẫn chưa gượng dậy nổi. Y nằm nghiêng trên cát. Tay phải y bị thương. Nhăn mặt vì đau đớn, y cố co chân lại, ngồi dậy.

    Cách không xa là một cây cọ đứng cong tấm thân mảnh dẻ, làn gió mát thổi xào xạc vẫy lá... Garin đứng lên, lảo đảo bước đi. Khắp xung quanh, dù y có nhìn đâu chăng nữa, vẫn chỉ thấy những làn sóng rực rỡ ánh nắng lan đến, ào ào đập vào dải bờ thấp... Vài chục cây cọ tỏa những tàn lá rộng như hình nan quạt trước gió. Rải rác đây đó trên cát là những mảnh gỗ, những thùng hòm, những mảnh vải và dây cáp... Đó là tất cả những gì còn sót lại của chiếc”Aridôna”bị vỡ tan cùng đoàn thủy thủ khi va vào những tảng đá ngầm của đảo san hô.

    Garin khập khiễng đi sâu vào đảo, nơi những chỗ cao hơn phủ đầy các bụi cây thấp và cỏ xanh rờn. Dôia nằm ngửa ở đó, dang hai tay ra. Garin ngồi xuống bên cạnh, không dám đụng vào người ả để khỏi cảm thấy hơi lạnh của cái chết. Nhưng Dôia vẫn sống, mí mắt ả giật giật, đôi môi khô khốc mấp máp.

    Trên hòn đảo san hô này có một hồ nước mưa, tuy hơi mằn mặn nhưng vẫn uống được. Trên các bãi bồi là sò, hến, thủy tức, tôm nhỏ, tóm lại là tất cả những gì mà khi xưa đã dùng làm thức ăn cho người nguyên thủy, lá cọ có thể dùng làm quần áo và vật che nắng ban trưa.

    Hai kẻ trần truồng bị ném lên mảnh đất trơ trụi vẫn có thể sống lay lắt qua ngày... Và chúng bắt đầu sống trên hòn đảo heo hút giữa Thái Bình Dương này. Thậm chí, cũng không hề có hy vọng là một con tàu nào đó chạy qua, nhận thấy chúng và đưa lên tàu nữa.

    Garin chuyên bắt sò hến và dùng áo bắt cá trong hồ nước ngọt. Dôia tìm thấy trong một chiếc hòm bị ném lên bờ từ chiếc”Aridôna”có năm mươi bản cuốn sách in lòe loẹt các bản vẽ hệ thống lâu đài và những khu nhà giải trí trên đảo Vàng. Ở đó cũng có những bản đạo luật và bản qui định nghi thức trong cung của bà Lamôlơ, nữ chúa tể thế giới...

    Suốt ngày này sang ngày khác, dưới bóng lều dựng bằng lá cọ, Dôia lật giở từng trang cuốn sách này, cuốn sách do trí tưởng tượng mãnh liệt của ả thêu dệt nên. Còn lại bốn mươi chín bản đóng bìa cứng bằng da dê và mạ vàng thì Garin dùng làm vách chắn gió.

    Garin và Dôia không trò chuyện gì với nhau hết. Chuyện trò để làm gì? Và về cái gì? Chúng đã suốt đời cô độc và nay rốt cuộc, đã nhận được sự cô độc hoàn toàn.

    Chúng lẫn lộn ngày tháng, rồi không đếm ngày tháng nữa. Mỗi khi bão tố tràn qua đảo thì chiếc hồ nhỏ lại tràn đầy nước mưa mới. Có nhiều tháng ròng rã trời nắng chang chang như thiêu đốt, bầu trời không một gợn mây. Vào những lúc ấy, chúng phải uống thứ nước hôi thối...

    Chắc hẳn là Garin và Dôia vẫn bắt thủy tức và sò hến trên hòn đảo này. Sau khi đã no nê, Dôia lại ngồi giở cuốn sách có in những bản vẽ tuyệt đẹp các lâu đài, nơi pho tượng đá hoa cương tuyệt trần tạc hình ả nổi cao lên giữa các hàng cột đá và các bồn hoa, còn Garin thì chúi đầu vào cát, lấy chiếc áo vét tông cũ nát đắp lên người, khe khẽ ngáy, có lẽ cũng đang mơ thấy những chuyến phiêu lưu kỳ thú.

    Hết.

    Nguồn: Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin. Tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của Alếchxây Nhicôlaiêvich Tônxtôi. Đặng Ngọc Long dịch. NXB Đà Nẵng, 1987.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập45,818,335

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/